DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TS. HOÀNG BÁ THỊNH – Bộ môn Xã hội học Giới và Gia đình – Trường Đại học KHXH và NV, ĐHQG Hà Nội

1. Định nghĩa Hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Trong điều 8 (Giải thích từ ngữ) của Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000) có định nghĩa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, như sau:

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b) giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

Trong bài viết này, chúng tôi xem vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở nghĩa thứ nhất của thuật ngữ này, đó là hôn nhân “giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài”, và cũng giới hạn ở phạm vi hẹp hơn nữa: phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài (chứ không xem xét khía cạnh nam giới Việt Nam lấy vợ nước ngoài).

2. Dư luận xã hội và cuộc sống

Thuật ngữ dư luận xã hội (DLXH, tiếng Anh: Public Opinion) là thuật ngữ được dùng nhiều trong đời sống xã hội và trong một số ngành khoa học như xã hội học, tâm lý học xã hội, báo chí v.v.. dư luận xã hội được coi là những trạng thái đặc trưng của ý thức xã hội, tâm trạng xã hội. Có thể hiểu rằng DLXH chính là một thành phần thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội và tính chất của nó bị quy định bởi tính chất các quan hệ kinh tế trong xã hội. Mặc dù vậy, với tư cách là một phần của thượng tầng kiến trúc, DLXH cũng có sự độc lập tương đối với hạ tầng cơ sở. Thí dụ, có những lúc DLXH lại tỏ ra bảo thủ hơn so với sự phát triển của các quan hệ kinh tế trong xã hội, cũng có những lúc nó lại “đi nhanh hơn” so với hạ tầng xã hội.

Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÔNG BÁO VIỆC TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN NÊU TẠI ĐIỂM B MỤC 1 PHẦN II CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 01 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 77/2003/KHXX

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2003

CÔNG VĂN

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÔNG BÁO VIỆC TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN NÊU TẠI ĐIỂM B MỤC 1 PHẦN II CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 01 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà phúc thẩm, Toà dân sự toà án nhân dân tối cao

Ngày 16/4/2003 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình” (gọi tắt là Nghị quyết số 01). Theo hướng dẫn tại điểm b mục 1 Phần II của Nghị quyết số 01 đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu sau ngày 01/01/2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên chết trước và có tranh chấp về thừa kế thì trong khi chưa có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuỳ từng trường hợp mà Toà án xử lý như sau:

– Nếu chưa thụ lý vụ án thì không thụ lý;

– Nếu đã thụ lý vụ án và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 166/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 2001 VỀ VIỆC TÍNH THỜI HẠN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 166/2001/KHXX

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Hà Nội, ngày 14 tháng 12 năm 2001

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 166/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 2001 VỀ VIỆC TÍNH THỜI HẠN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp
– Các đồng chí Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Trong thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương đề nghị hướng dẫn việc tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính theo thủ tục phúc thẩm và kháng nghị các bản án, quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau khi trao đổi ý kiến và có sự thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 3263/KSXXHS ngày 11 tháng 12 năm 2001, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

Continue reading

NGUỒN GỐC CỦA NGHĨA VỤ và phân loại nghĩa vụ

TS. NGÔ HUY CƯƠNG

Có lẽ, một trong những khiếm khuyết lớn nhất của Bộ luật Dân sự 2005 mà có thể làm sai lệch nhận thức của các luật gia Việt Nam hiện nay là các qui định chung về nghĩa vụ, trong đó có vấn đề nguồn gốc và phân loại nghĩa vụ…

I. Nguồn gốc của nghĩa vụ

Luật La Mã đã chỉ ra hai nguồn gốc căn bản của nghĩa vụ. Nói cách khác, nghĩa vụ phát sinh từ hai nguồn gốc. Thứ nhất, hành vi pháp lý hay hợp đồng (obligatio ex contractu), còn được gọi là nguyên nhân hợp pháp. Thứ hai, sự kiện pháp lý hay sự vi phạm (obligatio ex delicto), còn được gọi là nguyên nhân bất hợp pháp. Cách thức phân loại nguồn gốc của nghĩa vụ này đã ảnh hưởng tới các Bộ luật Dân sự của các nước thuộc Họ pháp luật La Mã – Đức.

Trước tiên cần tìm hiểu từ “nguồn gốc” để hiểu tại sao các luật gia Việt Nam trước kia thường sử dụng thuật ngữ “nguồn gốc của nghĩa vụ” mà không sử dụng thuật ngữ “căn cứ phát sinh nghĩa vụ” như Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 và như các công trình nghiên cứu của các luật gia Việt Nam hiện nay thường sử dụng. Aristote (triết gia Hy Lạp cổ đại) cho rằng, từ “nguyên nhân” dùng để chỉ nhiều ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn đối với chiếc giường thì “nguyên nhân mục đích” là sự nghỉ ngơi; “nguyên nhân tác thành” là người thợ mộc; “nguyên nhân thể chất” là gỗ; “nguyên nhân mô thể” là hình thức khiến đồ vật là cái giường khác với các loại đồ vật khác. Bởi vậy nói tới “nguồn gốc của nghĩa vụ” là nói tới nguyên nhân tác thành nên nghĩa vụ. Và thuật ngữ này được sử dụng trong Luật La Mã cổ đại[1]. Vậy việc sử dụng thuật ngữ nguồn gốc của nghĩa vụ gần gũi hơn với sự phân biệt giữa nghĩa vụ được tạo lập nên bởi ý chí của đương sự và nghĩa vụ được tạo lập nên bởi ý chí của nhà làm luật.

Continue reading

NGUỒN GỐC CỦA NGHĨA VỤ VÀ PHÂN LOẠI LOẠI NGHĨA VỤ

TS. NGÔ HUY CƯƠNG

Có lẽ, một trong những khiếm khuyết lớn nhất của Bộ luật Dân sự 2005 mà có thể làm sai lệch nhận thức của các luật gia Việt Nam hiện nay là các qui định chung về nghĩa vụ, trong đó có vấn đề nguồn gốc và phân loại nghĩa vụ…

I. Nguồn gốc của nghĩa vụ

Luật La Mã đã chỉ ra hai nguồn gốc căn bản của nghĩa vụ. Nói cách khác, nghĩa vụ phát sinh từ hai nguồn gốc. Thứ nhất, hành vi pháp lý hay hợp đồng (obligatio ex contractu), còn được gọi là nguyên nhân hợp pháp. Thứ hai, sự kiện pháp lý hay sự vi phạm (obligatio ex delicto), còn được gọi là nguyên nhân bất hợp pháp. Cách thức phân loại nguồn gốc của nghĩa vụ này đã ảnh hưởng tới các Bộ luật Dân sự của các nước thuộc Họ pháp luật La Mã – Đức.

Trước tiên cần tìm hiểu từ “nguồn gốc” để hiểu tại sao các luật gia Việt Nam trước kia thường sử dụng thuật ngữ “nguồn gốc của nghĩa vụ” mà không sử dụng thuật ngữ “căn cứ phát sinh nghĩa vụ” như Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 và như các công trình nghiên cứu của các luật gia Việt Nam hiện nay thường sử dụng. Aristote (triết gia Hy Lạp cổ đại) cho rằng, từ “nguyên nhân” dùng để chỉ nhiều ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn đối với chiếc giường thì “nguyên nhân mục đích” là sự nghỉ ngơi; “nguyên nhân tác thành” là người thợ mộc; “nguyên nhân thể chất” là gỗ; “nguyên nhân mô thể” là hình thức khiến đồ vật là cái giường khác với các loại đồ vật khác. Bởi vậy nói tới “nguồn gốc của nghĩa vụ” là nói tới nguyên nhân tác thành nên nghĩa vụ. Và thuật ngữ này được sử dụng trong Luật La Mã cổ đại[1]. Vậy việc sử dụng thuật ngữ nguồn gốc của nghĩa vụ gần gũi hơn với sự phân biệt giữa nghĩa vụ được tạo lập nên bởi ý chí của đương sự và nghĩa vụ được tạo lập nên bởi ý chí của nhà làm luật.

Continue reading