BẢY DẤU HIỆU CẢNH BÁO CẦN LƯU Ý ĐỂ ỔN ĐỊNH NỀN TÀI CHÍNH QUỐC GIA

THIẾU TƯỚNG. PHẠM MINH CHÍNH – Tổng cục 5 Bộ CA

TS. VƯƠNG QUÂN HOÀNG – Đại học Tổng hợp Bruxelles (Bỉ)

Nếu nền kinh tế quốc gia là một cơ thể sống, thì hệ thống tài chính là cơ chế tạo, cung cấp và lưu thông máu tới từng tế bào, bộ phận. Thiếu hay thừa đều phát sinh các vấn đề cần giải quyết. Với quá trình chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, liên tục giám sát, kịp thời dự đoán sát thực các dấu hiệu và biến động của thị trường để từ đó xây dựng chính sách điều tiết thị trường tài chính và toàn bộ nền kinh tế một cách hợp lý là việc làm cần thiết bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững, đúng định hướng. Đối với nền tài chính của Việt Nam, hiện đang tồn tại bảy dấu hiệu cảnh báo cần được các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách quan tâm.

1 – Giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước trong hệ thống tài chính

Quyền kiểm soát của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế vốn được xem như yếu tố có tính nhạy cảm. Nhưng những biến đổi của nền kinh tế trong xu thế hội nhập ngày càng sâu sắc và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn đang tạo ra một sắc thái mới, đó chính là tỷ lệ giảm dần của sở hữu nhà nước trong các tổ chức kinh tế. Không chỉ cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất, thương mại quốc doanh, trong lĩnh vực rất trọng yếu là tín dụng – ngân hàng cũng diễn ra xu thế này.

Continue reading

QUẢN LÝ TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN

MAI HOÀNG (Theo: IP Panorama)

Một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả kể từ thời điểm tác phẩm được ra đời nên không cần tiến hành thủ tục gì, như đăng ký hoặc nộp lưu chiểu, để tác phẩm đó có điều kiện được bảo hộ. Bản thân các ý tưởng thì không được bảo hộ mà chỉ bảo hộ cách thức mà chúng được thể hiện.

Bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả là sự bảo hộ pháp lý dành cho chủ sở hữu các quyền đối với một tác phẩm nguyên gốc mà người đó tạo ra. Nó bao gồm hai nhóm quyền chính: các quyền kinh tế và các quyền tinh thần.

Các quyền về kinh tế là các quyền tái bản, phát sóng, biểu diễn trước công chúng, quyền phóng tác, quyền dịch thuật, độc tấu, trình bày trước công chúng, phân phối… Các quyền về tinh thần gồm quyền của tác giả phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hoặc cải biên khác đối với tác phẩm mà có thể gây tổn hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Cả hai nhóm quyền này thuộc về người sáng tạo ra tác phẩm. Tuy nhiên, có một số ít ngoại lệ được thể hiện trong luật bản quyền của các quốc gia. Theo nguyên tắc, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và tối thiểu 50 năm sau khi tác giả qua đời.

Continue reading

TUỔI LAO ĐỘNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TS. TRƯƠNG THỊ THÚY HẰNG – Viện Nghiên cứu con người

Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội nước ta thông qua vào tháng 11 năm 2006 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007. Tại Điều 13 “Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động” đã không đề cập điều kiện hưởng lương hưu và tuổi đời được hưởng lương hưu, cũng chưa đề cập vấn đề tuổi lao động, mặc dù điều kiện hưởng lương hưu và tuổi đời được hưởng lương hưu đã được đưa vào chương II, Điều 11 Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động” của dự thảo Luật Bình đẳng giới và được thảo luận nhiều nhất.

Vậy quy định về tuổi lao động hiện hành đã và đang tác động đến bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác như thế nào; tác động đến phụ nữ như thế nào? Sau một năm gia nhập WTO, nguồn nhân lực được đào tạo, nguồn nhân lực có chất lượng càng trở thành một thách thức lớn. Có một mối liên hệ nào không giữa quy định tuổi lao động hiện nay với thách thức này?

1- Tuổi lao động và tuổi nghỉ hưu

Trong rất nhiều ý kiến chi tiết về tuổi về hưu thì một vấn đề chính lại bị bỏ ngỏ: Về thực chất tuổi nghỉ hưu có gì khác với tuổi lao động?

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 01/2008/TT-BTP HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định khá chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký các sự kiện hộ tịch trên tinh thần không ban hành Thông tư hướng dẫn.

Tuy nhiên, do Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thực hiện việc phân cấp mạnh mẽ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp đăng ký một số sự kiện hộ tịch (mà theo quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch là thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nên khi tiếp nhận nhiều công việc mới, các địa phương đã gặp không ít vướng mắc. Để hướng dẫn rõ hơn các quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, ngày 02/6/2008 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2008/TT-BTP Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

Continue reading

TPHCM: TRANH CHẤP MUA NHÀ CÓ ĐẶT CỌC

THANH TÙNG

Tòa cấp dưới tuyên rõ rành rành nhưng cứ thi hành án là lại bị TAND tối cao hoãn…

Theo ông Vương Quốc Long, ngụ quận Phú Nhuận (TP.HCM), đầu năm 2001, ông thỏa thuận mua căn nhà số 313 Lê Quang Định, quận Tân Bình với giá 460 lượng vàng SJC. Để chắc ăn, ông đặt cọc cho chủ nhà 130 lượng, cam kết là bên nào không thực hiện hợp đồng thì phải đền gấp đôi.

Cầm vàng rồi… “đánh tháo”

Sau đó, điều ông Long lo ngại đã xảy ra khi vợ chồng chủ nhà cầm vàng rồi tuyên bố không bán nhà nữa. Tìm hiểu, lúc này ông Long mới biết căn nhà đã bị Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh kê biên từ trước vì phía chủ nhà vướng vào vụ kiện khác.

Đến nước này, ông Long đề nghị trả nợ thay chủ nhà để chủ nhà lấy giấy tờ nhà về hợp thức hóa việc mua bán nhưng chủ nhà không chịu. Vì thế, ông phải đâm đơn kiện và được TAND quận Bình Thạnh thụ lý. Tháng 12-2001, TAND quận này đã xử sơ thẩm, tuyên hủy hợp đồng mua bán nhà giữa hai bên và buộc chủ nhà phải bồi thường gấp đôi số vàng đặt cọc như cam kết.

Tòa xử xong, ông Long kháng cáo yêu cầu kê biên nhà để đảm bảo thi hành án, còn chủ nhà thì kháng cáo yêu cầu chỉ trả lại 130 lượng vàng đặt cọc chứ không bồi thường. Tháng 6-2002, TAND TP.HCM xử phúc thẩm đã tuyên y án sơ thẩm, cộng thêm phần kê biên nhà theo kháng cáo của ông Long.

Thế rồi, khi Thi hành án quận Bình Thạnh đang giải quyết vụ việc thì giữa tháng 12-2002, VKSND tối cao đã ra công văn yêu cầu hoãn thi hành án trong ba tháng để xem xét vụ án. Sau đó, VKSND tối cao kết luận trong giao dịch mua bán nhà này, lỗi thuộc về phía chủ nhà nên không kháng nghị giám đốc thẩm.

Tháng 5-2003, TAND tối cao cũng vào cuộc, ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án ba tháng nữa để nghiên cứu hồ sơ. Gần hai năm sau, Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Như Bích mới ký kháng nghị giám đốc thẩm và tạm đình chỉ việc thi hành án. Tháng 5-2005, TAND tối cao đã ra quyết định giám đốc thẩm, hủy bản án của TAND TP.HCM, giao hồ sơ cho tòa này xử phúc thẩm lại. Theo TAND tối cao, trong vụ này, hai bên đương sự có lỗi bằng nhau (?). Bị đơn thì không báo cho người mua biết nhà mình đã bị “xích”, còn nguyên đơn thì vội kiện khi thời gian thỏa thuận làm giấy tờ giữa hai bên chưa hết. Vì thế, khi bị đơn không thực hiện việc mua bán nữa thì chỉ phải bồi thường đúng số vàng đặt cọc mà thôi (?).

Lại can thiệp “phút 89”!

Tháng 3-2006, TAND TP đã xử phúc thẩm lại và tuyên y như lần đầu là buộc chủ nhà phải hoàn trả cọc và bồi thường cho ông Long tổng cộng 260 lượng vàng (chủ nhà đã trả được 37 lượng, còn lại 223 lượng).

TAND TP phân tích, hai bên mua bán nhà hoàn toàn tự nguyện và đang ở giai đoạn đặt cọc để đảm bảo hợp đồng. Việc ông Long khởi kiện trước thời hạn giao kết làm giấy tờ là chỉ muốn thực hiện đến cùng hợp đồng do phát hiện chủ nhà cố tình che giấu “số phận bị kê biên” của căn nhà. Hơn nữa, chính chủ nhà không thực hiện đúng cam kết thuê một công ty hợp thức hóa thủ tục mua bán (tại tòa, chủ nhà khai do chi phí đắt quá nên tự làm, dẫn tới hậu quả không làm được.)

Theo Tòa TP, lỗi hoàn toàn thuộc về phía chủ nhà trong việc không thực hiện được hợp đồng. Đến thời điểm diễn ra phiên tòa này, chủ nhà đã được dỡ bỏ lệnh kê biên nhà nên nếu muốn thì việc mua bán giữa hai bên vẫn có thể tiếp tục thực hiện dễ dàng. Nhưng do giá trị căn nhà nay đã khác, chủ nhà tự ý hủy hợp đồng là muốn lợi cho mình thì phải chịu bồi thường như thỏa thuận. (Ông Long còn đề nghị trả thêm 140 lượng vàng, nâng tổng số tiền mua nhà lên 600 lượng vàng mà chủ nhà vẫn không chịu.)

Bản án có hiệu lực pháp luật ngay. Thi hành án quận Bình Thạnh lại vào cuộc và ủy quyền cho Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tổ chức bán đấu giá nhà. Theo dự kiến, sáng 8-1, trung tâm sẽ tổ chức phiên đấu giá. Tuy nhiên, bất ngờ lúc 10 giờ 26 trưa 7-1, Thi hành án quận Bình Thạnh nhận được một bản fax yêu cầu hoãn thi hành án do Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Như Bích ký. Sau đó ngày 10-1, TAND tối cao đã gửi văn bản chính thức qua đường bưu điện yêu cầu hoãn thi hành án trong vòng ba tháng “để xem xét khiếu nại của đương sự”.

Không biết làm sao, ông Long lại phải chờ đợi dù đã gần bảy năm dằng dặc, tiền bồi thường không có mà tiền cọc ông cũng không lấy về được. Ông chua chát: “Không biết rồi sẽ còn bao nhiêu cái “phút 89” nữa với tôi đây!”.

Bà Nguyễn Thị Khoa, Trưởng THA dân sự quận Bình Thạnh:

Cực cho chúng tôi quá!

Sau khi nhận được bản fax yêu cầu hoãn thi hành án trưa ngày 7-1 của TAND tối cao, tôi đã liên lạc và nói chuyện trực tiếp với Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Như Bích để kiểm tra lại. Căn cứ vào khoản 4 Điều 14 Nghị định 173 (quy định về thủ tục thi hành án) thì việc dùng bản fax để yêu cầu tạm dừng thi hành án của TAND tối cao là đúng pháp luật. Tuy nhiên, hoãn ở “phút 89” như thế thì cực cho cơ quan Thi hành án quá, vì ngay trong ngày, chấp hành viên phải sắp xếp làm thủ tục hoãn mọi thứ, rồi tìm cách báo cho khách hàng, hoàn trả hồ sơ…

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/toa-an/view.aspx?news_id=207845

ÁO GIÁP CHỐNG ĐẠN CHO MỌI HỢP ĐỒNG (PHẦN 2)

TRẦN PHƯƠNG MINH (Dịch từ Entrepreneur)

Không có một hợp đồng chuẩn mực nào cho mọi mối quan hệ kinh doanh. Tùy thuộc vào từng giao dịch, chúng ta sẽ cần đến những điều khoản thích hợp. Tuy nhiên, có những điều khoản mẫu cần hiện hữu trong mọi bản hợp đồng nhằm giảm thiểu các rủi ro tranh chấp pháp lý cũng như những hiểu nhầm đáng tiếc đồng thời đảm bảo các quyền pháp lý cần thiết cho doanh nghiệp. Chúng còn được gọi là lớp áo giáp chống đạn cho mọi hợp đồng, hay điều khoản “áo giáp”.

12. Giới hạn Trách nhiệm

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Limit of Liability

In no event shall either party be liable to the other or any third party in contract, tort or otherwise for incidental or consequential damages of any  kind, including, without limitation, punitive or economic damages or lost profits, regardless of whether either party shall be advised, shall have other reason to know or in fact shall know of the possibility.

If one party to this contract causes damages to the other party, the injured party has the right to recover the cost of the damages from the party causing the injury. Damage costs that could be recovered include direct damages, which are damages that are a direct result of what happened, like medical costs or property damage, and indirect damages. Indirect damages are those that are not directly caused by the other party but that are incurred because the party was injured. For example, if Business One manufacturers and delivers a widget with a loose flywheel to Business Two and the flywheel comes off injuring Business Two’s customer, the injury to Business Two’s customer would be direct damages resulting from Business One’s faulty widget. The damage to Business Two’s business reputation from the accident would be indirect damages to Business Two

“.

Giới hạn Trách nhiệm

Không có bất cứ trường hợp nào mà một bên sẽ phải chịu trách nhiệm với bên kia hay với bất cứ bên thứ ba nào trong hợp đồng, khế ước hay bất cứ phương thức nào khác cho các thiệt hại mang tính kết quả hay phụ thêm của bất cứ hình thức nào, bao gồm nhưng giới hạn, các thiệt hại kinh tế hay trừng phạt, không quan tâm tới việc bên nào có được biết, có lý do khác để biết hay trên thực tế biết về khả năng có thể xảy ra.

Nếu một bên gây ra thiệt hại cho bên kia, bên chịu thiệt hại có quyền được bồi thường tất cả các chi phí cho thiệt hại từ bên gây ra thiệt hại. Các chi phí thiệt hại được bồi thường bao gồm các thiệt hại trực tiếp, vốn là những thiệt hại là kết quả trực tiếp từ những gì đã xảy ra, chẳng hạn như chi phí ý tế hay thiệt hại tài sản, và các thiệt hại gián tiếp. Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại không trực tiếp gây ra bởi bên kia nhưng bên bị thiệt hại vẫn phải chịu. Ví dụ, nếu bên A sản xuất và giao một sản phẩm khiếm khuyết tới bên B và sản phẩm đó gây ra thiệt hai cho các khách hàng của bên B thì những thiệt hại mà khách hàng bên B phải chịu là những thiệt hại trực tiếp từ sai sót của bên A. Còn những thiệt hại tới danh tiếng của bên B sẽ là những thiệt hại gián tiếp “.

Điều khoản này có nghĩa rằng bên chịu thiệt hại không thể được bồi thường cho những chi phí của các thiệt hại phái sinh xuất phát từ các thiệt hại trực tiếp. Nó không có tác động lên trách nhiệm của một bên đối với các thiệt hại trực tiếp.

Continue reading