KINH HOÀNG 19 NĂM LÀM DÂU VÀ LÀM VỢ

divorce_lawyer_cincinnati PHAN THỊ ĐIỆP

Tôi sinh ra trong một gia đình tương đối khá giả, cháu ngoại một ông Hội đồng, con gái một sĩ quan cao cấp. Lúc sinh ra, tôi bị thiếu tháng phải nuôi trong lồng kính. Thấy con gái quá yếu ớt, ba tôi rất cưng chiều. Tôi có riêng một bà bảo mẫu người Hoa trông nom, chăm sóc.

Tuy còn bé nhưng ba tôi đã dạy tôi học chữ, học hát, học vẽ, và cho tôi đọc các cuốn truyện văn học thời đó… Cuộc sống của gia đình tôi, mẹ tôi và năm chị em tôi đang êm đềm hạnh phúc thì ba tôi mất vào năm Mậu Thân, lúc đó tôi mới lên 9 tuổi.

Những biến động của thời cuộc cùng những khó khăn của một gia đình không còn người trụ cột, gia đình tôi sa sút dần. Mẹ tôi thì còn quá trẻ và đẹp, nhưng bà đã cắn răng chịu đựng ở vậy tần tảo nuôi con.

Chúng tôi từ giã cuộc sống nhung lụa và nếm trải tất cả những nỗi cơ cực, đắng cay của cảnh mẹ góa con côi. Lúc đó, năm chị em tôi, đứa bé nhất mới 2 tháng tuổi, tôi phải thay mẹ trông em và được bà con xóm làng phong cho là người mẹ trẻ nhất trần gian.

Giải phóng miền Nam, gia đình tôi cũng như tất cả nhân dân miền Nam tưng bừng đón chào đoàn quân giải phóng. Tôi đã 16 tuổi, người thấp bé nhưng nhanh nhẹn và chịu khó, lại có chút văn hóa nên được các chú cho vào làm văn thư ở ủy ban xã.

Hồi ấy đi làm không có lương mà nhà tôi lại đông em nên các chú giới thiệu tôi đến làm việc ở một trại nghiên cứu giống cây ăn quả. Năm 19 tuổi, tôi xin vào làm ở xí nghiệp chế biến gỗ. Từ nhà đến xí nghiệp gần 3 cây số, ngày ngày tôi phải đi bộ đến cơ quan.

Trước cổng cơ quan có một bãi đất trống khá rộng, hằng ngày có một đám thanh niên, thiếu niên đá banh ở đó. Thế rồi có một anh chàng ngày ngày lẽo đẽo theo tôi mỗi khi tan ca. Anh theo tôi tới tận ngõ rồi đứng đó nhìn vào nhà.

Mấy lần như thế, mẹ tôi phải bảo em tôi ra mời anh ta vào nhà và chúng tôi quen nhau. Anh ta tên là Want, con một gia đình cán bộ có nhà ở khu tập thể gần đó. Khi đó tôi đã 23 tuổi, còn Want nói với tôi là 26 tuổi.

Một sáng chủ nhật, Want cho đứa em gái nhỏ xuống nhà tôi nói rằng anh mời tôi lên chơi. Tôi đã không định đi nhưng em nhỏ cứ nhất định chờ tôi đi bằng được, nếu không thì em sẽ bị đánh đòn. Thế là tôi đành phải đi lên nhà Want.

Đến nơi, nhà chỉ có mấy đứa bé lao xao một lúc thì chúng bỏ đi đâu hết, bố mẹ anh đi vắng, nhà còn lại hai người. Thế rồi, với sức vóc của một anh con trai to khỏe, Want đã cưỡng bức tôi. Tôi là một cô gái yếu ớt, cao 1m50, nặng có 38 ký làm sao chống cự nổi Want.

Tôi ôm mặt khóc, anh ta cũng khóc và nói rằng, anh ta làm như thế để xem tôi có yêu anh ta không. Tôi có bầu từ buổi sáng chủ nhật định mệnh ấy, và bắt đầu từ ấy những món nợ đời chồng chất lên cuộc đời tôi suốt 19 năm ròng.

Bụng tôi ngày một to, tôi tìm cách báo cho Want biết thì anh ta bảo để anh ta hỏi bố mẹ. Mẹ anh ta cũng đã gặp mẹ tôi và hứa là sẽ cưới tôi, nhưng rồi lần lữa mãi cho tới lúc cái thai trong bụng tôi được 7 tháng. Mẹ con tôi quá lo lắng vì sợ mang tiếng với làng xóm, với họ hàng.

Cuối cùng tôi bắt anh ta dẫn tôi tới tận xí nghiệp, nơi mẹ anh ta làm việc, tôi đã phải van xin bà thì bà trả lời là nhà bà không có tiền cưới dâu, không có gì dẫn cưới cho nhà gái. Tôi phải xin xí nghiệp nơi tôi công tác cho tôi tạm ứng một năm lương để làm đám cưới.

Mẹ tôi vì thương con mà phải cho qua tất cả mọi thủ tục cưới hỏi, phải mua sắm nữ trang quần áo cho tôi. Đám cưới không có đông người dự vì những người cùng làm với ba mẹ anh ta cho rằng thằng này để tóc tai dài trùm gáy không đàng hoàng, không đứng đắn, nó phải làm như vậy mới lấy được con bé…

Đêm tân hôn sau một ngày bận rộn đãi tiệc khách khứa, tôi lại có bầu nên quá mệt mỏi, còn Want thì cùng đám bạn bè nhậu nhẹt cho đến say sỉn không còn biết gì nữa. 4h sáng, ông bố chồng bắt đầu lôi tôi ra chửi bới vì tội con dâu sáng ra không dậy pha trà mời bố mẹ chồng và ông chú bà bác trong nhà.

Còn bà mẹ chồng thì bắt tôi phải tháo hết vòng vàng ra đưa cho bà để bà trả nợ đám tiệc cưới. Tôi nói rằng: “Tiền lo đám cưới con đã phải ứng một năm lương, còn nữ trang là kỷ niệm của mẹ con cho con”.

Nghe tôi nói thế, cả hai bố mẹ chồng tôi đều lồng lên, gào thét chửi bới và để áp đảo tinh thần tôi, ông ta đập tan bát hương trên bàn thờ gia tiên. Want thức dậy cũng xông ra hùa với bố mẹ chửi bới tôi. Sợ quá, tôi buộc lòng phải tháo tất cả nữ trang ra đưa cho bà mẹ chồng.

Bắt đầu từ đó, tôi sống một kiếp sống trầm luân, ăn không được no, ngủ không được yên, mang cái bụng bầu thèm ăn quá mà không có gì để ăn, bưng bát cơm lên là lại nghe bà mẹ chồng chửi bới, cơm chan nước mắt. Hai tháng sau tôi sinh một cháu gái.

Đói ăn, thèm đủ mọi thứ, nhưng gia đình họ coi miếng ăn to lắm. Tôi vừa phải nuôi con vừa đi làm, về nhà lại còn lo đủ mọi công việc bếp núc, trồng rau, nuôi heo để kiếm thêm, nhưng khi bán rau, bán heo thì bà mẹ chồng giữ hết, tôi không có một xu để mua sắm, kể cả mua đôi guốc cho mình.

Đau khổ nhất là tôi nghĩ mọi người thật thà như mình, tiền lương lĩnh về tôi để ở túi áo, để trong hộc tủ, để đâu mất đó. Tôi chỉ khẽ than mất tiền là bố con Want đánh chửi tôi.

Anh ta bảo là tôi vu cho mẹ con anh ta có nghĩa là tôi bảo mẹ con anh ta là đồ ăn cắp. Tôi thực sự là một con đầy tớ của nhà chồng, cần gì họ bắt tôi sắm, mất gì họ bắt tôi tìm, ăn gì họ bắt tôi mua. Không thỏa mãn những yêu cầu ấy tôi đều bị đánh, bị chửi. Tiền không có mua chịu, họ ghi tên tôi coi như tôi là con nợ.

Có một lần bố chồng tôi tìm một tờ giấy gì đó không thấy liền chửi bới ầm lên và quăng hết sổ sách ra nhà. Con gái tôi mới lên 2 tuổi, cháu lẫm chẫm đi qua đám giấy tờ ấy, ông liền quăng cái bơm xe ra cho cháu vấp ngã. Trông thấy thế, Want liền rút dây thắt lưng quật vào tôi túi bụi làm thâm tím cả mình mẩy.

Tôi đau quá phải đi bệnh viện. Lần ấy Want đã đánh tôi trụy thai, bệnh viện phải lấy ra một thai và sau đó một thai nữa ra tiếp. Lần đó, Công an đã bắt Want vì tội hành hung vợ đến trụy thai. Nhưng rồi mẹ chồng tôi lại đến năn nỉ mẹ tôi xin bãi nại cho Want.

Mẹ tôi cũng đành phải làm đơn bãi nại và bắt tôi quay trở lại chung sống với Want chứ nhất định không cho tôi ly hôn vì sợ mang tiếng với làng xóm. Sau đó, tôi có thêm một cháu trai nữa. Tôi còn nhớ thời bao cấp có được một ít thịt cho con ăn là quý lắm.

Tôi kho cho con tôi một xoong thịt nhỏ, lúc đi làm tôi phải giấu xoong thịt vào trong đống củi. Bố chồng tôi biết tôi có thịt cho con ăn, ở nhà ông đảo tung đống củi lên cho đổ hết xoong thịt xuống đất, kiến bu đen ngòm. Tôi đi làm về trông thấy vậy mà rớt nước mắt.

Ít lâu sau, bố chồng tôi về hưu trong tình trạng dở điên dở khùng, lở loét đầy người, ngồi đâu bậy đó, có lúc bốc cả phân cho lên miệng. Bà mẹ chồng tôi lúc này còn khỏe lắm, vậy mà bà đâu có chăm lo cho chồng, bà sang ở nhà mấy cô con gái, bỏ mặc ông một mình.

Thế là mọi việc lại dồn lên đầu tôi. Thật xấu hổ và tủi nhục cho tôi, một nàng dâu chưa đến 30 tuổi phải tắm rửa cho bố chồng, lau các vết lở loét, dọn những thứ dơ bẩn do ông phóng uế.

Chúng tôi ở trong khu tập thể của cơ quan, rất nhiều bà con cô bác động lòng thương xót tôi, một cô gái hiền lành tốt nết lại rơi vào làm vợ một anh chàng vũ phu, gái gú, nhậu nhẹt, phải làm dâu một gia đình có ông bố chồng rất ác và mẹ chồng rất tham.

Cuối cùng thì bố chồng tôi đã chết trong cảnh dở điên, dở khùng.Cuộc sống vợ chồng của chúng tôi gần như một ác mộng. Tôi luôn luôn bị chửi bới, đánh đập. Nhiều lúc tôi đi lang thang hết chùa này đến chùa khác mong tìm cho mình một sự giải thoát.

Con gái tôi đã 18 tuổi rồi, cháu đã nhận thức được những hành động của bố nó. Want đối xử với tôi ngày càng tồi tệ. Chỉ một cớ rất nhỏ, rất vu vơ anh ta cũng đánh tôi, tôi phải chạy về ở nhờ nhà chị tôi, nhưng đâu có được yên. Want cho một số đệ tử ban đêm đến nhà chị tôi vừa rú ga, vừa rọi pha đèn vào nhà chị tôi, buộc tôi phải quay về.

Đưa được tôi về đến nhà, Want đóng ngay cửa lại dùng dây điện đánh tôi gây thương tích ở lưng và ở cả vùng ngực hằn lên những vết máu. Tôi đi khám và được bệnh viện cấp giấy chứng thương. Đêm hôm ấy, tôi về nhà và được biết mẹ con anh ta bàn nhau sẽ xích tôi lại vào một góc nhà và vu cho tôi bị điên.

Tôi sợ quá vội bỏ nhà ra đi. Tất cả 19 năm làm dâu, làm vợ tôi chỉ có một bộ quần áo mặc trên người, mười ngàn đồng trong túi và gánh một món nợ hơn ba mươi triệu đồng phải trả nợ đậy cho gia đình anh ta.

Chỉ ít ngày sau khi tôi bỏ đi, lập tức anh ta đưa một cô gái về và tuyên bố đó là vợ anh ta, ba tháng sau cô vợ mới của anh ta đẻ ra một quái thai.

Còn phần tôi, tôi đi lang thang trong thành phố về khuya. Giữa bộn bề hoang mang và lo lắng ấy, tôi nghĩ đến một người đàn ông mà tôi biết cách đây gần một năm. Anh lớn tuổi hơn tôi nhiều và theo bạn bè anh kể thì cuộc đời anh cũng lắm gian truân vì tình đời – tình người đổi trắng thay đen.

Khi nghe kể chuyện về anh, tôi chỉ nghĩ tại sao lại có một người đàn ông cũng có nhiều nỗi khổ như mình. Lúc này, linh tính tôi mách bảo chỉ còn có anh là chỗ dựa duy nhất. Tôi gọi điện cho anh từ một điện thoại công cộng vào lúc gần 10h đêm.

Đêm ấy, anh kiên quyết không đưa tôi vào khách sạn hay bất cứ một nhà trọ nào. Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm được một người quen xa và anh đã gửi tôi ngủ nhờ ở đó qua đêm, rồi anh quay về thành phố. Tôi vì lo sợ không muốn xa anh, nhưng anh bảo rằng em là người có chồng, bỏ nhà đi, chưa ly hôn thì không bao giờ anh đưa em đi qua đêm.

Một tháng sau tôi làm đơn ly hôn. Đọc xong lá đơn ly hôn của tôi, xem giấy chứng thương, nhìn những vết thương bầm tím bị đánh bằng dây điện trên thân thể tôi, bà Thẩm phán quyết định đưa vụ ly hôn của tôi ra xét xử trong thời gian sớm nhất. Ba tuần lễ sau, tôi nhận được quyết định ly hôn của Tòa án. Tôi đã thoát nợ.

Tôi đến chung sống với anh. Đến nay, chúng tôi đã ở với nhau được 6 năm. Cuộc sống của hai con người đã trải qua quá nhiều đau thương mất mát giờ đây hết mực yêu thương nhau, sống một cuộc sống đầy thông cảm và hạnh phúc.

Anh đã cho tôi đi học hai năm liền về nữ công gia chánh, và học Anh văn. Mới đây, anh cho tôi ra thăm quê hương miền Bắc. Tôi đã biết được Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác và thăm nhà sàn nơi Bác ở.

Tôi đã về thăm quê anh, đến chùa Quán Sứ, đến nhà thờ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình), đến thăm Vịnh Hạ Long và Khu du lịch Tuần Châu… Tôi cảm nhận được tình thương yêu của anh dành cho tôi. Phải chăng anh đã bù đắp những thiếu hụt của tôi sau khi ba tôi mất đi.

Tôi cảm ơn trời phật đã giải thoát cho tôi khỏi một kiếp sống trầm luân bể khổ. Tôi cũng cảm ơn những tấm lòng vàng đã giúp tôi trở lại với cuộc sống mới hôm nay.

Tôi cám ơn sự ân cần thân thiết của các anh chị ở Báo ANTG. Tôi cảm ơn Thiếu tướng Hữu Ước – Tổng Biên tập Báo ANTG – anh đã cho tôi một sự tiếp đón niềm nở, thân tình và coi tôi như một con Người.

Lời cuối thư:

19 năm là một thời gian quá dài đối với một người con gái. Những người trong câu chuyện này đã chết và còn sống. Những tên trong bài viết này đã được đổi để không làm ảnh hưởng và xúc phạm đến ai. Tôi rất quý những cái tên Việt, vì thế tôi không muốn đặt cho anh ta một cái tên Việt khác bởi những người khác có cái tên như thế sẽ động lòng nên tôi đặt tên anh là Want – một người có rất nhiều ham muốn cho bản thân mình

SOURCE: CHUYÊN MỤC CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT TRÊN BÁO AN NINH THẾ GIỚI CUỐI THÁNG

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/chuyenkhotin/2008/5/51934.cand

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC VỚI NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA PHÁP QUYỀN

TS. NGUYỄN SỸ DŨNG – LÊ HÀ VŨ

“Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” là hình ảnh mà vị vua anh minh Lê Thánh Tông dùng để minh oan và truy tặng cho người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi viên. Sử liệu này có lẽ đã làm không ít người trong hậu thế chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm. Ngày nay, các vụ việc oan sai không chỉ dừng lại ở sự minh oan mà còn đặt vấn đề bồi thường thiệt hại. 568 tỷ đồng là con số đòi bồi thường oan sai kỷ lục mà ông Nguyễn Đình Chiến, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần kinh doanh bất động sản Hải Phòng đưa ra, vì ông đã mất mười năm sống chung với lao lý trước khi Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ tuyên ông vô tội[1].

Rõ ràng, oan sai thì thời nào cũng có. Nhưng trách nhiệm bồi thường oan sai trong tố tụng nói riêng và bồi thường nhà nước nói chung lại là vấn đề thời sự của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bồi thường nhà nước là sản phẩm của xã hội dân chủ và phải được nhìn nhận từ góc độ các nguyên tắc cơ bản của pháp quyền.

Trước hết, nguyên tắc của pháp quyền là cơ sở để đặt vấn đề nhà nước có trách nhiệm hay không có trách nhiệm bồi thường khi gây ra những thiệt hại vật chất hoặc tinh thần cho các chủ thể khác.

Continue reading

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC NGÀY 25 THÁNG 1 NĂM 1999 HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ QUYẾT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ NHÀ Ở ĐƯỢC XÁC LẬP TRƯỚC NGÀY 1/7/1991 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Hà Nội, ngày 25 tháng 1 năm 1999

Ngày 20 tháng 8 năm 1998 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 58/1998). Để áp dụng đúng các quy định của Nghị quyết này, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số vấn đề sau dây:

I. VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ TRONG NGHỊ QUYẾT SỐ 58/1998

1. “Chủ sở hữu nhà ở” là người có quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với nhà ở theo quy định của pháp luật.

2. “Bên cho thuê, bên cho mượn, bên cho ở nhờ, bên bán, bên tặng cho nhà ở, các bên đổi nhà ở ” có thể là một trong những người sau đây:

a) Chủ sở hữu nhà ở;

b) Người thừa kế hợp pháp nhà ở (người thừa kế có thể trực tiếp giao kết hợp đồng tại thời điểm giao kết hoặc đương nhiên họ là bên cho thuê, bên cho mượn, bên cho ở nhờ, bên bán, bên tặng cho nhà ở, các bên đổi nhà ở tại thời điểm xảy ra tranh chấp);

c) Người được chủ sở hữu nhà ở uỷ quyền phù hợp với các quy định của pháp luật về uỷ quyền tại thời điểm uỷ quyền.

3. “Bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ nhà ở” có thể là một trong những người sau đây:

a) Người trực tiếp giao kết hợp đồng, người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở, mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở cùng bên thuê nhà ở, bên mượn nhà ở, bên ở nhờ nhà ở;

b) Người có đăng ký thường trú và đang ở tại nhà ở đó mà không phải là người chiếm hữu bất hợp pháp trong trường hợp không còn những người thuộc điểm a khoản này.

4. “Bên mua nhà ở” có thể là một trong những người sau đây:

a) Người trực tiếp giao kết hợp đồng mua bán nhà ở, người có tên trong hợp đồng mua bán nhà ở cùng bên nhà ở;

b) Người thừa kế hợp pháp của người thuộc điểm a khoản này;

Người mua cuối cùng nhà ở (hoặc người thừa kế hợp pháp của họ) trong trường hợp nhà ở đó đã được mua bán qua nhiều lần.

5. “Bên được tặng cho nhà ở” có thể là một trong những người sau đây:

a) Người có tên trong hợp đồng tặng cho nhà ở;

b) Người thừa kế hợp pháp của người được tặng cho nhà ở tại thời điểm xảy ra tranh chấp.

6. “Hợp đồng thuê nhà ở” là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê nhà ở giao nhà ở cho bên thuê để sử dụng (có thời hạn hoặc không có thời hạn) và nhận tiền thuê, còn bên thuê nhà ở được sử dụng nhà ở đó để ở và phải trả tiền thuê nhà ở theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Được coi là hợp đồng thuê nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có hợp đồng bằng văn bản (có thể có xác nhận hoặc không có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền);

b) Người ở tại nhà ở đó chứng minh được là họ đang sử dụng nhà ở đó theo quan hệ thuê nhà ở;

c) Một trong ngững người thuộc một trong các điểm a, b, c, khoản 2 Mục I Thông tư này chứng minh được rằng họ cho thuê nhà ở đó mà không phải là họ bán, tặng cho, cho ở nhờ nhà ở đó.

7. “Bên thuê nhà ở đã có chỗ ở khác” khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bên thuê nhà ở đã tạo lập được chỗ ở khác thông qua các hình thức, như mua được, xây dựng được nhà ở, thuê được nhà ở khác;

b) Bên thuê nhà ở được thừa kế, được tặng cho nhà ở trên địa bàn nội thành thành phố trực thuộc trung ương, trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc tuy không ở trên địa bàn nêu trên nhưng không quá xa với nhà ở thuê và nếu bên thuê chuyển đến nhà ở đó thì không bị trở ngại lớn trong việc đi lại làm ăn, học tập… của các thành viên trong hộ gia đình bên thuê;

c) Một trong những người là bố, mẹ, vợ, chồng, con của bên thuê có đăng ký thường trú và cùng ở chung tại nhà ở thuê, nhưng đã tách hộ ra và đã dùng tài sản chung của gia đình để tạo lập được chỗ ở khác và nếu đưa những người đang ở tại nhà ở thuê về ở chung thì diện tích ở bình quân không dưới 6m2/người hoặc tuy dùng tài sản riêng để tạo lập được chỗ ở khác và họ tự nguyện để những người đang ở tại nhà ở thuê về ở chung.

8. “Bên thuê nhà ở có điều kiện tạo lập chỗ ở khác” khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bên thuê đã được Nhà nước giao đất để xây dựng nhà ở, nhưng chưa xây hoặc xây chưa xong;

b) Bên thuê cũng có nhà ở cho thuê và có khả năng lấy lại được;

c) Bên thuê có điều kiện về kinh tế để có thể mua được nhà ở khác.

9.”Bên cho thuê đã tự nguyện tạo điều kiện cho bên thuê có chỗ ở khác” khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bên cho thuê đã thuê chỗ ở khác với điều kiện và thời hạn phù hợp (như thuê nhà ở thuộc quỹ nhà ở của Nhà nước, thuê nhà ở của cá nhân có thời hạn tương ứng với thời hạn còn lại của hợp đồng hoặc thời hạn thuê kéo dài cho đến ngày 1-7-2005) để chuyển người thuê đến ở;

b) Bên cho thuê đã mua chỗ ở khác có đủ điều kiện cần thiết phù hợp với hoàn cảnh từng địa phương trên địa bàn nội thành thành phố trực thuộc Trung ương, trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc tuy không ở trên địa bàn nêu trên, nhưng không qua xa với nhà ở thuê và nếu bên thuê chuyển đến nhà ở đó thì không bị trở ngại lớn trong việc đi lại làm ăn, học tập… của các thành viên trong hộ gia đình bên thuê (có thể bên thuê được bên cho thuê cho nhà ở đó, cho thuê nhà ở đó, cho ở nhờ nhà ở đó…).

10. “Hợp đồng mượn nhà ở” là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn nhà ở giao nhà ở cho bên mượn để sử dụng mà không phải trả tiền, còn bên mượn nhà ở được sử dụng nhà ở đó để ở (có thời hạn hoặc không có thời hạn) và phải trả lại nhà ở đó khi hết hạn mượn hoặc theo yêu cầu của bên cho mượn (nếu hợp đồng mượn nhà ở không có thời hạn).

Được coi là hợp đồng mượn nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có hợp đồng bằng văn bản (có thể có xác nhận hoặc không có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền):

Người đang ở tại nhà ở đó không chứng minh được việc họ ở tại nhà ở đó theo quan hệ hợp đồng thuê nhà ở, mua bán nhà ở, tặng cho nhà ở;

c) Một trong những người thuộc một trong các điểm a, b và c khoản 2 Mục I Thông tư này chứng minh được rằng hộ đang cho ở nhờ nhà ở đó mà không phải cho thuê, bán, tặng cho nhà ở đó.

11. “Hợp đồng ở nhờ nhà ở” được xác định tương tự như việc xác định hợp đồng mượn nhà ở.

12. “Hợp đồng mua bán nhà ở” là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán nhà ở có nghĩa vụ giao nhà ở và chuyển quyền sở hữu nhà ở đó cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận nhà ở và trả tiền cho bên bán.

Được coi là hợp đồng mua bán nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có hợp đồng bằng văn bản (có thể có xác nhận hoặc không có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; bên mua đã nhận hoặc chưa nhận nhà ở);

b) Người đang ở tại nhà ở đó chứng minh được là họ đã mua nhà ở đó một cách hợp pháp;

c) Một trong những người thuộc một trong các điểm a, b, và c khoản 2 Mục I Thông tư này thừa nhận đã bán nhà ở đó.

II. VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 58/1998

1. Toà án chỉ áp dụng các quy định của Nghị quyết số 58/1998 để giải quyết các yêu cầu về giao dịch dân sự về nhà ở được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này; cụ thể là: thuê nhà ở; cho mượn, cho ở nhờ nhà ở; mua bán nhà ở; đổi nhà ở; tặng cho nhà ở; thừa kế nhà ở giữa cá nhân với các nhân, giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức và quản lý nhà ở vắng chủ giữa cá nhân với cá nhân.

2. Đối với các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch dân sự về nhà ở quy định tại khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 58/1998 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia, thì trong khi chưa có chính sách của Nhà nước đối với loại giao dịch dân sự này, tuỳ từng trường hợp mà Toà án xử lý như sau:

a) Nếu chưa thụ lý, thì không thụ lý;

b) Nếu đã thụ lý và đang giải quyết, thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết;

c) Nếu đã có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết, thì tiếp tục tạm đình chỉ việc giải quyết.

3. Được áp dụng các quy định của Nghị quyết số 58/1998 để giải quyết mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này, nếu khi cho thuê nhà ở, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, mua bán nhà ở… một trong các bên là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc sau khi cho thuê nhà ở, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, mua bán nhà ở… một trong các bên là công dân Việt Nam ra định cư ở nước ngoài, nhưng nay họ đều đã về định cư ở Việt Nam và có tranh chấp.

4. Khi thụ lý, giải quyết các tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 cần chú ý xem tranh chấp cụ thể đó có thuộc trường hợp nào quy định tại khoản 1 Điều 17 của Nghị quyết số 58/1998 hay không; néu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 17 của Nghị quyết này, thì Toà án phải thực hiện đúng các quy định này.

III. VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP CỤ THỂ

Khi giải quyết các tranh chấp cụ thể phát sinh từ các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991, Toà án phải thực hiện đúng nguyên tắc giải quyết được quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 58/1998. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được với nhau và yêu cầu Toà án giải quyết, thì việc giải quyết các tranh chấp cụ thể như sau:

1. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng thuê nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.

Khi đã xác định được quan hệ giữa các bên là hợp đồng thuê nhà ở như đã hướng dẫn tại khoản 6 Mục I Thông tư này, thì Toà án tiến hành giải quyết theo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết số 58/1998. Khi giải quyết loại tranh chấp này cần chú ý các điểm sau:

a) Nếu thời hạn thuê nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết số 58/1998 có hiệu lực (1-1-1999), thì Toà án cho bên cho thuê được lấy lại nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Bên thuê nhà ở đã có chỗ ở khác như đã hướng dẫn tại khoản 7 Mục I Thông tư này và bên cho thuê đã thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước về việc đòi lại nhà ở cho thuê với thời hạn ít nhất là ba tháng trưóc ngày nộp đơn khởi kiện.

– Bên thuê nhà ở có điều kiện tạo lập chỗ ở khác như đã hướng dẫn tại khoản 8 Mục I Thông tư này và bên cho thuê đã thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước về việc đòi lại nhà ở cho thuê với thời hạn ít nhất là sáu tháng trước ngày nộp đơn khởi kiện.

– Bên cho thuê đã tự nguyện tạo điều kiện cho bên thuê có chỗ ở khác như đã hướng dẫn tại khoản 9 Mục I Thông tư này và bên cho thuê đã thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước về việc đòi lại nhà ở cho thuê với thời hạn ít nhất là sáu tháng trước ngày nộp đơn khởi kiện.

b) Nếu thời hạn thuê nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết số 58/1998 có hiệu lực (1-1-1999) mà bên cho thuê không có chỗ ở (như họ hồi cư về địa phương nơi họ có nhà ở cho thuê; họ phải trả nhà ở thuê, nhà ở nhờ; do thiên tai, địch hoạ mà họ bị mất nhà ở…) và họ không có điều kiện về kinh tế để tạo lập chỗ ở khác, đồng thời họ đã thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước về việc đòi lại nhà ở cho thuê với thời hạn ít nhất là ba tháng trước ngày nộp đơn khởi kiện, thì tuỳ từng trường hợp mà Toà án có thể giải quyết cho bên cho thuê được lấy lại toàn bộ hoặc một phần nhà ở; cụ thể là:

– Toà án cho bên cho thuê được lấy lại toàn bộ nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho số người trong hộ gia đình của bên cho thuê mà bình quân bằng hoặc dưới 6m2/người;

+ Nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho số người trong hộ gia đình của bên cho thuê mà mức bình quân trên 6m2/người nhưng bằng hoặc dưới 10m2/người và nếu lấy tổng diện tích ở (kể cả diện tích ở được làm thêm) của nhà ở cho thuê chia cho tổng số người trong hai hộ gia đình bên cho thuê và bên thuê mà mức bình quân dưới 3m2/người;

+ Nhà ở cho thuê không thể đáp ứng được các điều kiện tối thiểu để cho cả gia đình bên cho thuê và bên thuê ở chung trong nhà ở đó;

– Toà án cho bên cho thuê được lấy lại một phần nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho tổng số người trong hai hộ gia đình của bên cho thuê và bên thuê mà mức bình quân bằng hoặc trên 6m2/người, thì Toà án cho bên thuê được thuê diện tích đủ mức bình quân bằng 6m2/người, nhưng diên tích ở cho thuê không dưới 10m2; phần diện tích ở còn lại cho bên cho thuê được lấy lại.

+ Nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho tổng số người trong hai hộ gia đình của bên cho thuê và bên thuê mà mức bình quân bằng hoặc trên 3m2/người nhưng dưới 6m2/người, thì Toà án cho bên thuê được lấy lại phần diện tích ở bằng tổng số người trong hộ gia đình của bên cho thuê nhân với mức bình quân này.

c) Nếu thời hạn thuê nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết số 58/1998 có hiệu lực (1-1-1999) mà bên cho thuê tuy có nhà ở, nhưng có diện tích ở dưới mức bình quân 6m2/người và bên thuê không có chỗ ở khác hoặc không có điều kiện tạo lập chỗ ở khác, đồng thoèi bên cho thuê đã thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước ít nhất là 6 tháng trước ngày nộp đơn khởi kiện, thì Toà án cho bên thuê được lấy lại một phần nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Nếu lấy tổng số diện tích ở của nhà ở mà bên cho thuê đang ở và nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho tổng số người trong hai hộ gia đình của bên cho thuê và bên thuê mà mức bình quân bằng hoặc trên 6m2/người, thì Toà án cho bên thuê được thuê diện tích đủ mức bình quân bằng 6m2/người, nhưng diện tích ở cho thuê không dưới 10m2; phần diện tích ở còn lại cho bên cho thuê được lấy lại.

– Nếu lấy diện tích ở của nhà ở mà bên cho thuê đang ở và nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho tổng số người trong hai hộ gia đình của bên cho thuê và bên thuê mà mức bình quân dưới 6m2/người, nhưng nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho tổng số người trong hộ gia đình của bên thuê mà mức bình quân trên 6m2/người, thì Toà án cho bên thuê được thuê diện tích đủ mức bình quân 6m2/người, nhưng diện tích ở cho thuê không dưới 10m2; phần diện tích ở còn lại cho bên cho thuê được lấy lại.

d) Nếu thời hạn thuê nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết số 58/1998 có hiệu lực (1-1-1999) mà bên cho thuê tuy có nhà ở, nhưng có khó khăn về đời sống, còn bên thuê không có chỗ ở khác và không có đủ điều kiện tạo lập chỗ ở khác, đồng thời bên cho thuê đã thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước ít nhất là 6 tháng trước ngày nộp đơn khởi kiện, thì Toà án cho bên cho thuê được lấy lại một phần nhà ở để họ có thể bán lại, cho thuê lại phần nhà ở đó với giá cao hơn giá đang cho thuê hoặc để sử dụng phần nhà ở đó nhằm mục đích kinh doanh.

đ) Khi xem xét giải quyết cho lấy lại một phần nhà ở được hướng dẫn tại các điểm b và c khoản này cần chú ý không được máy móc giải quyết trong mọi trường hợp đều cho lấy lại một phần nhà ở theo mức được hướng dẫn tại các điểm tương ứng trên đây mà cần phải xem xét từng trường hợp cụ thể để có quyết định hợp lý; cụ thể là phải xem xét kiến trúc ngôi nhà, bố trí diện tích ở, diện tích được lấy lại có đủ điều kiện để sử dụng độc lập hay không…

Ví dụ: Nếu để lại diện tích ở cho thuê theo hướng dẫn trên đây là 14 m2, nhưng có một phòng ở 15m2 hoặc 13 m2 bảo đảm sinh hoạt tối thiểu của bên thuê, thì Toà án giải quyết cho bên thuê được thuê phòng ở đó. Ngoài ra cần chú ý đến lối đi và các điều kiện khác của nhà ở đó đảm bảo cho việc sinh hoạt tối thiểu của các bên.

Khi xem xét giải quyết cho lấy lại một phần nhà ở được hướng dẫn tại điểm d khoản này, cần chú ý phải xem xét từng trường hợp cụ thể để có quyết định hợp lý; cụ thể là phải xem xét kiến trúc ngôi nhà, bố trí diện tích ở, lối đi và các điều kiện khác của nhà ở đó, đặc biệt phải chú ý bảo đảm cho việc sinh hoạt tối thiểu của bên thuê nhà sau khi Toà án cho bên cho thuê nhà được lấy lại một phần nhà ở.

e) Trong trường hợp bên cho thuê chưa lấy lại được nhà ở theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết số 58/1998 và theo hướng dẫn tại các điểm a, b, c và d khoản này, thì Toà án cần giải thích cho đương sự biết là họ được lấy lại nhà ở kể từ ngày 1-7-2005, nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước ít nhất là 3 tháng; nếu từ khi bị Toà án bác yêu cần đòi nhà ở cho thuê đến trước ngày 1-7-2005 mà phát sinh các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a, b, c và d khoản này thì họ có quyền yêu cầu lấy lại toàn bộ hoặc một phần nhà ở.

g) Nếu hợp đồng thuê nhà ở theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 3 của Nghị quyết số 58/1998 đến trước ngày 1-7-2005 mà phát sinh các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết này và có tranh chấp, thì thực hiện theo các hướng dẫn tương ứng tại các điểm a, b, c và d khoản này để giải quyết.

2. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.

Khi đã xác định được quan hệ giữa các bên là quan hệ hợp đồng mượn nhà ở hoặc quan hệ hợp đồng ở nhờ nhà ở như đã được hướng dẫn tại các khoản 10 và 11 Mục I Thông tư này, thì Toà án tiến hành giải quyết theo quy định tại Điều 4 của Nghị quyết số 58/1998. Tuy nhiên, khi giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết này, cần chú ý một số điểm sau đây:

a) Nếu bên mượn, bên ở nhờ không có chỗ ở khác hoặc không có điều kiện tạo lập chỗ ở khác, nhưng nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở đang mượn, đang ở nhờ (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho số người trong hộ gia đình của bên mượn, bên ở nhờ mà mức bình quân trên 6m2/người, thì Toà án cho bên mượn, bên ở nhờ được tiếp tục sử dụng một phần nhà ở đủ mức bình quân bằng 6m2/người, nhưng diện tích ở không dưới 10m2; phần còn lại cho bên cho mượn, bên cho ở nhờ được lấy lại.

b) Nếu bên mượn, bên ở nhờ không có chỗ ở khác hoặc không có điều kiện tạo lập chỗ ở khác, nhưng nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở đang mượn, đang ở nhờ (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho số người trong hộ gia đình của bên mượn, bên ở nhờ mà mức bình quân bằng hoặc dưới 6m2/người thì Toà án cho bên mượn, bên ở nhờ được tiếp tục sử dụng toàn bộ nhà ở đang mượn, đang ở nhờ.

c) Nếu trong thời gian mượn, ở nhờ mà bên mượn, bên ở nhờ có đưa cho bên cho mượn, bên cho ở nhờ một khoản tiền hoặc tài sản khác liên quan đến việc mượn, việc ở nhờ nhà ở (nhưng không phải là để thanh toán cho việc thuê nhà ở, mua bán nhà ở) và nay có yêu cầu thanh toán, thì Toà án coi đó chỉ là một khoản nợ không có lãi và áp dụng hướng dẫn tại Thông tư số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản” để buộc bên cho mượn, bên cho ở nhờ trả lại khoản tiền hoặc tài sản khác đó cho bên mượn nhà ở, bên ở nhờ nhà ở.

3. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.

Khi đã xác định được quan hệ giữa các bên là hợp đồng mua bán nhà ở như đã hướng dẫn tại khoản 12 Mục I Thông tư này, và nếu có tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà ở chưa hoàn tất, thì Toà án tiến hành giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Nghị quyết số 58/1998; cụ thể là:

a) Nếu hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng, thì Toà án công nhận hợp đồng, buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và phải làn thủ tục chuyển quyền sở hữu.

b) Nếu hình thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng, thì giải quyết như sau:

– Nếu các bên chưa thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, nghĩa là bên bán chưa nhận tiền và chưa giao nhà, còn bên mua cũng chưa giao tiền và chưa nhận nhà, thì Toà án tuyên bố hợp đồng bị huỷ bỏ.

– Nếu bên mua đã trả đủ hoặc một phần tiền mua nhà mà bên bán chưa giao nhà hoặc bên bán đã giao toàn bộ hoặc một phần nhà mà bên mua chưa trả đủ tiền, thì Toà án buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Bên không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng mà có lỗi và gây thiệt hại, thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự. Nếu bên mua chưa trả đủ tiền, thì Toà án xác định rõ số tiền mà bên mua chưa trả tại thời điểm mua bán nhà ở chiếm bao nhiêu phần trăm giá trị nhà ở đó, đồng thời quyết định việc định giá nhà ở đó theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để xác định số tiền theo số phần trăm đã xác định được của giá trị nhà ở đó buộc bên mua phải thanh toán cho bên bán và để tính án phí.

Ví dụ: Năm 1980 A bán nhà “X” cho B với giá 100.000đồng và B đã trả được cho A 60.000 đồng, nay có tranh chấp, thì trong trường hợp này số tiền B chưa trả cho A tại thời điểm mua bán nhà chiếm 40% giá trị ngôi nhà “X”. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm việc định giá cho thấy giá nhà ở đó theo giá thị trường là 100.000.000 đồng. Như vậy, số tiền mà Toà án buộc B phải thanh toán cho A là: 40% x 100.000 đồng = 40.000.000 đồng.

Ngoài ra để bảo vệ quyền lợi cho bên được thi hành án, Toà án phải quyết định việc chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo hướng dẫn tại mục III Thông tư số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản”.

c) Trong trường hợp thủ tục chuyển quyền sở hữu để thực hiện hợp đồng mua bán nhà ở đã được hoàn tất, nhưng bên bán chưa giao nhà hoặc bên mua chưa trả đủ tiền, thì Toà án buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Bên không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng mà có lỗi và gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự. Nếu bên mua chưa trả đủ tiền, thì Toà án buộc bên mua phải trả cho bên bán khoản tiền còn thiếu tính theo giá trị của nhà ở đó theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm như đã hướng dẫn tại đoạn 2 điểm b khoản này.

d) Trong trường hợp hợp đồng mua bán nhà ở có điều kiện mà điều kiện đó đã xảy ra hoặc đã được thực hiện (toàn bộ hoặc một phần), thì hợp đồng mua bán nhà ở đó được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Nghị quyết số 58/1998 và theo hướng dẫn tại các điểm a, b và c khoản này.

đ) Trong trường hợp hợp đồng mua bán nhà ở mà toàn bộ hoặc một phần nội dung vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội theo quy định của Bộ luật dân sự, thì Toà án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu toàn bộ hoặc một phần và giải quyết hậu quản pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật dân sự.

4. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng đổi nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.

Khi đã xác định được quan hệ giữa các bên là quan hệ đổi nhà ở, thì Toà án tiến hành giải quyết theo quy định tại Điều 6 của Nghị quyết số 58/1998. Khi giải quyết loại tranh chấp này, cần chú ý một số điểm sau:

a) Toà án công nhận hợp đồng đổi nhà ở và buộc các bên thực hiện hợp đồng, kể cả việc làm thủ tục chuyển quyền sở hữu trong các trường hợp được quy định tại các điểm a, b và c Khoản 2 và khoản 3 Điều 6 của Nghị quyết số 58/1998.

b) Toà án tuyên bố hợp đồng đổi nhà ở bị huỷ bỏ trong trường hợp thủ tục chuyển quyền sở hữu chưa hoàn tất và các bên chưa giao nhà ở cho nhau.

c) Khi công nhận hợp đồng đổi nhà ở và buộc các bên thực hiện hợp đồng, kể cả việc làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, nếu việc đổi nhà ở giữa các bên có chênh lệch về giá trị và bên có nghĩa vụ thanh toán chưa trả đủ tiền, thì Toà án buộc bên có nghĩa vụ phải trả cho bên kia khoản tiền còn thiếu theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Tuỳ từng trường hợp mà Toà án buộc bên có nghĩa vụ thanh toán phải trả cho bên kia khoản tiền được xác định như sau:

– Nếu tại thời điểm đổi nhà ở, hai bên thoả thuận bên có nhà ở có giá trị thấp phải thanh toán cho bên có nhà ở có giá trị cao hơn khoản tiền bằng giá trị chênh lệch giữa hai nhà ở theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán, thì Toà án quyết định rõ trong bản án quyết định là buộc bên có nhà ở có giá trị thấp phải thanh toán cho bên có nhà ở có giá trị cao khoản tiền bằng giá trị chênh lệch giữa hai nhà ở theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm và quyết định việc chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo hướng dẫn tại Thông tư số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản”.

– Nếu tại thời điểm đổi nhà ở, hai bên thoả thuận đổi nhà ở cho nhau và bên có nhà ở có giá trị thấp phải thanh toán cho bên có nhà ở có giá trị cao khoản tiền chênh lệch đã được xác định, thì Toà án áp dụng hướng dẫn tại Thông tư số 01/TTLB ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản” để tính số tiền mà bên có nghĩa vụ phải thanh toán như một khoản nợ không có lãi.

d) Trong trường hợp các bên chỉ đổi cho nhau quyền sử dụng nhà ở mà không chuyển quyền sở hữu nhà ở, thì Toà án giải quyết theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 6 của Nghị quyết số 58/1998. Nếu khi đổi, các bên cũng có thoả thuận về khoản tiền chênh lệch, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà Toà án áp dụng các hướng dẫn tương ứng tại điểm c khoản này đề giải quyết.

đ) Nếu hợp đồng đổi nhà ở mà toàm bộ hoặc một phần nội dung vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì Toà án tuyên bố hợp đồng đổi nhà ở vô hiệu toàn bộ hoặc một phần và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật dân sự. Nếu phải buộc các bên thực hiện nghĩa vụ về tài sản, thì Toà án thực hiện theo đúng các hướng dẫn tại Thông tư số 01/TTLB ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản”.

5. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng tặng cho nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.

Khi đã xác định được quan hệ giữa các bên là quan hệ tặng cho nhà ở và thủ tục chuyển quyền sở hữu chưa hoàn tất, thì tuỳ từng trường hợp mà Toà án giải quyết theo quy định tại Điều 7 của Nghị quyết số 58/1998. Khi giải quyết loại tranh cháp này cần chú ý một số điểm sau đây:

a) Đối với loại hợp đồng tặng cho nhà ở không có điều kiện mà bên được tặng cho đã nhận nhà ở, nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, thì Toà án công nhận hợp đồng và cho phép bên được tặng cho nhà ở làm thủ tục chuyển quyền sở hữu; nếu bên được tặng cho chưa nhận nhà ở và cũng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà ở, thì Toà án tuyên bố hợp đồng tặng cho nhà ở bị huỷ bỏ.

b) Trong trường hợp hợp đồng tặng cho nhà ở có điều kiện mà điều kiện đó đã xảy ra hoặc đã được thực hiện đầy đủ, thì tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:

– Nếu bên được tặng cho đã nhận nhà ở nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, thì Toà án công nhận nhà ở đó thuộc quyền sở hữu của bên được tặng cho;

– Nếu bên được tặng cho chưa nhận nhà ở và chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, thì Toà án tuyên bố hợp đồng tặng cho nhà ở bị huỷ bỏ. Trong trường hợp này, nếu bên được tặng cho có yêu cầu giải quyết về các điều kiện đã xảy ra hoặc đã được thực hiện, thì Toà án giải quyết cả yêu cầu này.

– Nếu thủ tục chuyển quyền sở hữu để thực hiện hợp đồng tặng cho nhà ở đã hoàn tất mà nhà ở chưa giao cho bên được tặng cho, thì Toà án buộc bên tặng cho phải giao nhà ở đó cho bên được tặng cho trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày bên được tặng cho có yêu cầu bằng văn bản.

c) Trong trường hợp hợp đồng tặng cho nhà ở có điều kiện mà điều kiện đó chưa xảy ra hoặc chưa được thực hiện hoặc chỉ mới được thực hiện một phần, thì Toà án tuyên bố hợp đồng tặng cho nhà ở bị huỷ bỏ.

6. Giải quyết tranh chấp về thừa kế nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.

Theo quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 58/1998 thì đối với trường hợp thừa kế nhà ở được mở trước ngày 1-7-1991 mà di sản thừa kế chưa được chia, nếu có yêu cầu chia, thì giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Khi thụ lý đơn yêu cầu chia di sản thừa kế loại này, Toà án cần chú ý đến việc tính thời hiệu theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế và hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Mục III Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 10-8-1996 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự”.

7. Giải quyết tranh chấp về sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, làm thêm diện tích, xây dựng nhà ở mới.

Khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở giữa cá nhân với cá nhân mà có cả tranh chấp về việc bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ đã sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, làm thêm diện tích hoặc xây dựng nhà ở mới trong khuôn viên nhà ở cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, thì Toà án giải quyết theo quy định tại Điều 11 của Nghị quyết số 58/1998. Đối với các trường hợp bên cho thuê, bên cho bên mượn, bên cho ở nhờ phải thanh toán cho bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ phần giá trị đầu tư sửa chữa, nâng cấp, làm thêm diện tích, xây dựng mới còn lại thì việc xác định phần giá trị đầu tư còn lại này theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên cho thuê, bên cho mượn, bên cho ở nhờ phải thanh toán cho bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ. Đối với các trường hợp mà Điều 11 của Nghị quyết này quy định phải thanh toán một phần giá trị đầu tư cải tạo, nâng cấp hoặc giá trị đầu tư xây dựng còn lại của phần diện tích làm thêm, của nhà ở mới, thì tuỳ vào mức độ phản đối hoặc việc không đồng ý và khiếu kiện của bên cho thuê, bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở mà Toà án quyết định một phần phải thanh toán đó.

8. Giải quyết tranh chấp về giao dịch dân sự về nhà ở giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức.

Khi đã xác định được quan hệ giữa các bên là giao dịch dân sự về nhà ở giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức, thì Toà án cần chú ý xác định đó là quan hệ gì (thuê nhà ở, mượn nhà ở, mua bán nhà ở, đổi nhà ở, tặng cho nhà ở hay thừa kế nhà ở) để giải quyết theo đúng các quy định tại các điều tương ứng thuộc mục III của Nghị quyết số 58/1998. Nếu trong các điều kiện cụ thể này, có quy định việc giải quyết được áp dụng theo quy định tại các điều tương ứng thuộc mục II của Nghị quyết số 58/1998, thì Toà án thực hiện theo các hướng dẫn tương ứng tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Mục III của Thông tư này.

VI. VIỆC TÍNH THỜI HIỆU THEO KHOẢN 2 ĐIỀU 17 CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 58/1998

Đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991, thì việc tính thời hiệu trong từng trường hợp cụ thể như sau:

1. Trong trường hợp chưa khởi kiện mà pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện, thì thời gian từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Ví dụ: Thừa kế được mở ngày 1-5-1990. Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Áp dụng khoản 2 Điều 17 của Nghị quyết số 58/1998, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế trong trường hợp cụ thể này đến ngày 1-11-2002, vì mười năm được tính như sau:

– Từ ngày 1-5-1990 đến ngày 1-7-1996 là sáu năm hai tháng.

– Từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

– Từ 1-1-1999 đến ngày 1-11-2002 là ba năm mười tháng.

(Sáu năm hai tháng + ba năm mười tháng = mười năm).

2. Trong trường hợp đã được xét xử và bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, thì thời gian từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ví dụ: Bản án đã có hiệu lực pháp luật ngày 1-3-1995. Theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì “việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Áp dụng khoản 2 Điều 17 của Nghị quyết số 58/1998, thì thời hạn kháng nghị trong trường hợp cụ thể này đến ngày 1-9-2000, vì ba năm được tính như sau:

– Từ ngày 1-3-1995 đến ngày 1-7-1996 là một năm bốn tháng.

– Từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hạn kháng nghị.

– Từ ngày 1-1-1999 đến ngày 1-9-2000 là một năm tám tháng.

(Một năm bốn tháng+ một năm tám tháng = ba năm).

3. Việc tính thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được thực hiện tượng tự như hướng dẫn tại khoản 2 Mục này.

4. Đối với các vụ án đã thụ lý và đang giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm hoặc đang thụ lý để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết, thì tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.

V. HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 2 năm 1999.

2. Các vụ án mà Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Mục II Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 10-8-1996 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự” và hướng dẫn tại Công văn số 62/KHXX ngày 12-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, thì tiếp tục giải quyết kể từ ngày 1-1-1999, trừ các trường hợp thuộc khoản 2 Mục II của Thông tư này.

3. Trong quá trình áp dụng Nghị quyết và các hướng dẫn tại Thông tư này, nếu có vướng mắc hoặc có vấn đề mới phát sinh, thì cần phản ánh bằng văn bản để Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu kịp thời ra văn bản hướng dẫn bổ sung.

Nguyễn Thị Tuyết

(Đã ký)

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

TÍNH NHÂN ĐẠO CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM

THS. CAO NHẤT LINH

Một đặc tính bất di bất dịch của pháp luật xã hội chủ nghĩa là nhân đạo. Điều này có nghĩa là, các quy định của pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng phải nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các chủ thể trở nên hoàn thiện hơn, chứ không phải mang tính áp đặt, triệt tiêu và dồn chủ thể rơi vào tình thế bế tắc. Thế nhưng, thỉnh thoảng trong pháp luật của Việt Nam, chúng ta vẫn còn thấy một vài quy phạm pháp luật vẫn còn bất cập và chưa hợp lý.

Tính nhân đạo trong Luật Quốc tịch Việt Nam

Nói về tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam, chúng ta có rất nhiều quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực chứng minh điều này. Riêng trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, chúng ta cũng tìm thấy rất nhiều quy định liên quan. Ví dụ, việc tạođiều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam (Điều 6), việc xác lập quốc tịch của trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam khi cha mẹ là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam (Điều 18), việc giữ quốc tịch của con chưa thành niên khi cha, mẹ bị tước quốc tịch Việt Nam hoặc bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam (Điều 29) …

Continue reading

KHÁI NIỆM "HOUSE – HUSBAND" SẼ PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM

Người gửi: Hung,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Có thật không về việc Phụ nữ Việt Nam bị phân biệt đối xử?

Tôi thật sự kinh ngạc về những bức xúc của chị Minh Nguyệt, chị Thanh Huyền … và không tưởng tượng đâu đó ở Việt Nam còn tồn tại những suy nghĩ như vậy.

Theo hiểu biết của tôi thì ở TP HCM không còn tồn tại những việc đáng kinh ngạc như vậy nữa và hiện tại thì đàn ông chỉ còn khác đàn bà ở chỗ là không thể có “baby” được thôi.

Hiện tại đã xuất hiện khái niệm “house-husband”. Khái niệm này sẽ trở nên phổ biến ở Việt Nam trong tương lai gần theo đà phát triển, hiện đại hóa của xã hội.

Biết đâu đến lúc đó các chị lại nhớ đến bóng dáng oai hùng của các ông “Chí Phèo” ngày xưa!

Kính chào thân ái

SOURCE: VNEXPRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ:

http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Khai-niem-house-husband-se-pho-bien-o-VN/10948786/478/

TÔI CŨNG KHÔNG THÍCH TỪ "HY SINH"

Người gửi: nguyen ngoc,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Tôi cũng không thích cụm từ hy sinh

Gửi chị Trang Nhung và anh Vũ Trung:

Tôi cũng đồng ý quan điểm với chị Trang Nhung, tôi không thích cụm từ hy sinh và không cho rằng đấy phải là một trong những đức tính của người phụ nữ.

Theo tôi, cụm từ “hy sinh” chỉ được sử dụng đến trong một hoàn cảnh đặc biệt, khi mà cuộc sống quá khó khăn và con người ta bị dồn vào chân tường thì người ta mới phải lựa chọn giải pháp là “hy sinh” mà thôi. Cái sự “hy sinh” đó không thể chỉ là phụ nữ mà còn có cả đàn ông (ví dụ như hy sinh trên chiến trường chẳng hạn hoặc các anh làm việc vất vả để kiếm tiền cũng là một sự hy sinh chứ).

Còn bây giờ khi mà cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn, tại sao các anh lại cho rằng cái đức tính ấy nên tồn tại. Thực ra các anh và kể cả phụ nữ chúng tôi phải cố hết sức và tìm mọi cách để giảm thiểu bất cứ sự hy sinh nào chứ.
Còn xét về sự phân công lao động trong gia đình, đó thực ra chỉ là sự thoả thuận riêng giữa 2 người mà thôi. Ngay kể cả ở cơ quan, anh có thể chuyên trách một việc nhưng không có nghĩa là anh có thể từ chối khi sếp giao cho anh một việc khác. Vậy ở nhà cũng thế, mỗi người chuyên trách một việc nhưng không có nghĩa là anh sẽ không động chân động tay đến việc của người khác. Đấy là chưa kể, nếu anh làm không tốt việc đó mà để phụ nữ chúng tôi phải góp công vào thì anh cũng nên góp công vào công việc gia đình.(Mà căn cứ vào các chỉ số kinh tế thống kê được, thì đàn ông Việt Nam cũng chưa phải là giỏi trong việc lo cho cuộc sống của gia đình đâu).
Còn nếu một ai đó chấp nhận ở nhà để toàn tâm lo cho gia đình, đương nhiên họ coi như có một nửa lương của người kiếm tiền vì đã thay mặt cho người kiếm tiền lo cho công tác gia đình, cái sự đương nhiên này ở xã hội châu Âu được công nhận và bảo vệ tốt hơn ở châu Á (đó chính là điều thiệt thòi của phụ nữ châu Á chúng tôi đó). Tôi nói điều này nghe có vẻ sòng phẳng và ngả bài quá đúng không. Nhưng anh có thể nói cho chúng tôi biết, sau khi đã chỉ có ở nhà chăm sóc chồng con mà bị chồng bỏ thì chúng tôi phải làm gì không, xin việc thì không ai nhận nữa rồi vì trình độ làm gì có (nó đã mai một đi sau những năm tháng loanh quanh trong nhà chăm sóc chồng con rồi).
Tôi không biết anh bao nhiêu tuổi, nhưng hy sinh mà không có đền bù, không nhận được cái gì xứng đáng với sự hy sinh đó thì anh quá lý thuyết và quá bất công đấy. Tôi hỏi anh, có bao giờ anh hy sinh cho kẻ thù của anh không? Đã hy sinh thì ai cũng hy vọng sẽ được hoặc là vật chất hoặc là tình cảm, hoặc là vì một cái gì đó trong tương lai mà bản thân anh không nhận được nhưng con cháu anh nhận được chẳng hạn. Ai cũng mong nhận được một cái gì đó nhưng có nhận được hay không thì còn phụ thuộc vào nhiều thứ khác (so sánh thì thường khập khiễng nhưng nó cũng giống như đầu tư mà có rủi ro vậy).
Đó là một chút ý kiến nhỏ của tôi, mong rằng nhờ cuộc tranh luận này mà hiểu ra thêm nhiều điều nữa.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ:

http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Toi-cung-khong-thich-tu-hy-sinh/10948245/478/

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CAM KẾT VỚI WTO, LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 71/2006/QH11

TS. PHAN HUY HỒNG – PGS.TS. NGUYỄN THÁI PHÚC

Sự vênh nhau giữa quy định của Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam với các cam kết của Việt Nam nêu tại Đoạn 502, 503 Báo cáo của Ban Công tác đã gây ra sự lúng túng trên diện rộng trong áp dụng pháp luật và hoạt động giảng dạy luật. Chúng tôi phân tích các quan điểm liên quan và nêu quan điểm riêng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cẩn trọng trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc quán triệt các nguyên tắc cơ bản về áp dụng pháp luật.

1. Sự việc

Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), có thành viên Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban Công tác) đã bày tỏ lo ngại sâu sắc về việc một số điều khoản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 sẽ ảnh hưởng như thế nào tới khả năng của một cổ đông đa số (tức là sở hữu ít nhất 51% nhưng không quá 65% hoặc 75%) trong việc kiểm soát đầu tư và đưa ra những quyết định cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp. Các điều khoản về công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên và các điều khoản về công ty cổ phần đã quy định các quyết định cơ bản trong một doanh nghiệp sẽ được đưa ra như thế nào bằng việc quy định những vấn đề cơ bản này sẽ phải được Hội đồng Thành viên hay Đại hội Cổ đông thông qua và quy định rõ tỷ lệ phiếu tối thiểu cần có để Hội đồng Thành viên hoặc Đại hội Cổ đông có thể đưa ra một quyết định như vậy. Theo những điều khoản này, việc đưa ra các quyết định cơ bản về doanh nghiệp đòi hỏi phải đạt tỷ lệ đa số ít nhất là 65% của Hội đồng Thành viên trong trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên, và 75% của Đại hội Cổ đông trong trường hợp công ty cổ phần.[1]

Continue reading

BÀN VỀ GIAO DỊCH PHÁT HÀNH GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

Trong nền kinh tế thị trường, phát hành giấy tờ có giá là giải pháp huy động vốn khá dễ dàng và thuận lợi của các tổ chức kinh tế nói chung và tổ chức tín dụng nói riêng từ công chúng. Tuy nhiên, về phương diện học thuật, do việc phát hành giấy tờ có giá là loại hình giao dịch mới xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần đây, nên các nghiên cứu từ góc độ pháp lý về vấn đề này còn quá ít ỏi. Điều này, gây khó khăn rất lớn cho việc nhận thức đúng bản chất pháp lý của giao dịch phát hành giấy tờ có giá nói chung, cũng như giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nói riêng.

Bài viết này xin tham góp một ý kiến trao đổi xung quanh vấn đề bản chất pháp lý của giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét bước đầu về thực trạng pháp luật điều chỉnh giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ở nước ta hiện nay để tạo tiền đề cho việc hoàn thiện mảng pháp luật này trong thời gian tới.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI MỘT SỐ NƯỚC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ NHUNG

Theo báo cáo về quản lý dự trữ ngoại hối của các nước thì dự trữ ngoại hối ở một số nước trong thời gian gần đây có xu hướng tăng đột biến và vượt mức cần thiết. Trong khi đó, dự trữ ngoại hối thường được đầu tư vào các công cụ tài chính an toàn như trái phiếu Chính phủ của các nước G7, tiền gửi tại các NHTM có độ xếp hàng tín nhiệm AAA có sinh lời thấp trong khi nền kinh tế trong nước đang thiếu vốn để đầu tư và phải vay vốn nước ngoài với chi phí cao gây lãng phí và làm giảm hiệu quản lý dự trữ ngoại hối (chi phí cơ hội cho việc nắm giữ dự trữ quá nhiều). Các nghiên cứu cho thấy mức sinh lời từ đầu tư dự trữ ngoại hối của các NHTW là rất thấp, gần như ở mức không về mặt giá trị thực tế ở hầu hết các nước đang phát triển.

10 nước có mức dự trữ ngoại hối quá mức lớn nhất thế giới tập trung ở khu vực châu á như Trung quốc (941 tỷ USD, chiếm 32% GDP); Nga (trên 200 tỷ USD, chiếm 20% GDP); Ả rập Saudi (145 tỷ USD, 40% GDP); Ấn độ (136 tỷ USD, chiếm 16% GDP); Algêria (76 tỷ USD, chiếm 63% GDP), Malaixia (70 tỷ USD, chiếm 49% GDP). Iran (64 tỷ USD, chiếm 27% GDP), Libya (59 tỷ USD, chiếm 125% GDP), Negeria (45 tỷ USD, chiếm 39% GDP), Mêxico (37 tỷ USD, chiếm 5% GDP).

Continue reading

Về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản và lãi suất quá hạn TRONG DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BLDS NĂM 2005

THS. LÊ MINH HÙNG

1. Sự cần thiết phải sửa đổi các quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn trong các điều khoản của BLDS 2005

BLDS 2005 sử dụng khái niệm lãi suất cơ bản để làm căn cứ viện dẫn khi xác định lãi suất trong hợp đồng vay tài sản và lãi suất quá hạn do vi phạm nghĩa vụ trả nợ và nghĩa vụ thanh toán. Tuy vậy, căn cứ lãi suất cơ bản hiện này không còn phù hợp vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, cơ chế điều hành lãi suất bằng cách giao cho Ngân hàng Nhà nước ban hành mức lãi suất cơ bản như cách quy định của BLDS 2005 là không còn phù hợp do việc xác định lãi suất tiền vay trong thực tế hiện nay đã có nhiều biến động và chịu sự chi phối mạnh mẽ của quy luật thị trường, vượt xa những dự liệu của nhà làm luật, khi ban hành BLDS 2005. Bản thân các quy định về lãi suất cơ bản, suy cho cùng, cũng là kết quả tham khảo từ lãi suất thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam, nhưng thực chất lại thường mang tính chủ quan của cơ quan quản lý (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), không theo kịp lãi suất thực tế diễn ra trên thị trường, và đôi khi tỏ ra lạc hậu rất xa so với thực tế.

Continue reading

VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ LÃI SUẤT QUÁ HẠN TRONG DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BLDS NĂM 2005

THS. LÊ MINH HÙNG

1. Sự cần thiết phải sửa đổi các quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn trong các điều khoản của BLDS 2005

BLDS 2005 sử dụng khái niệm lãi suất cơ bản để làm căn cứ viện dẫn khi xác định lãi suất trong hợp đồng vay tài sản và lãi suất quá hạn do vi phạm nghĩa vụ trả nợ và nghĩa vụ thanh toán. Tuy vậy, căn cứ lãi suất cơ bản hiện này không còn phù hợp vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, cơ chế điều hành lãi suất bằng cách giao cho Ngân hàng Nhà nước ban hành mức lãi suất cơ bản như cách quy định của BLDS 2005 là không còn phù hợp do việc xác định lãi suất tiền vay trong thực tế hiện nay đã có nhiều biến động và chịu sự chi phối mạnh mẽ của quy luật thị trường, vượt xa những dự liệu của nhà làm luật, khi ban hành BLDS 2005. Bản thân các quy định về lãi suất cơ bản, suy cho cùng, cũng là kết quả tham khảo từ lãi suất thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam, nhưng thực chất lại thường mang tính chủ quan của cơ quan quản lý (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), không theo kịp lãi suất thực tế diễn ra trên thị trường, và đôi khi tỏ ra lạc hậu rất xa so với thực tế.

Continue reading

CÁC BẤT HỢP LÝ CƠ BẢN TỪ NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ PHÍ, LỆ PHÍ, CHI PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TS. LÊ THU HÀ

1. Phí thi hành án

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiềnP, tài sản theo bản án, quyết định.

Đây là định nghĩa mới nhất về phí thi hành án (THA) được quy định trong Dự thảo Luật Thi hành án dân sự (THADS) đang được cơ quan có thẩm quyền chuẩn bị (khoản 9, Điều 4 Dự thảo 5 Luật THADS).

Theo Điều 20, Pháp lệnh THADS hiện hành thì, “người được THA có đơn yêu cầu THA phải nộp phí THA đối với khoản THA có giá ngạch tính trên giá trị tài sản mà người đó thực nhận. Mức phí THA, việc thu, nộp, quản lý, sử dụng và xét miễn, giảm phí THA do Chính phủ quy định”.

Ngay từ khi có quy định về phí THA, nhất là sau khi có hướng dẫn mức thu phí, đã xuất hiên nhiều phản ứng khác nhau, nhất là từ phía những người được THA. Quy định người được THA phải chịu phí THA khi yêu cầu cơ quan THA và mức phí tối đa tới 5% được coi là không thỏa đáng trên bất kỳ phương diện nào.

Continue reading