TÀI SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI LÀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Điều 320, Bộ Luật Dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS) quy định: “Vật dùng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch. Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”. Về cơ bản, định nghĩa tài sản hình thành trong tương lai (TSHTTTL) và xem tài sản ấy là đối tượng của giao dịch bảo đảm có nội dung hoàn toàn tương đồng với các quy định trước đó của BLDS năm 1995 (cơ sở để xây dựng và ban hành các Nghị định, Thông tư về công chứng, chứng thực, về giao dịch bảo đảm hiện vẫn đang có hiệu lực). Mặc dù nội dung pháp định đã khá rõ ràng, song thực tế việc thực hiện các giao dịch liên quan đến TSHTTTL không phải đã có sự nhất quán trong nhận thức, có không ít cơ quan công chứng, chứng thực đã từ chối thực hiện công chứng, chứng thực giao dịch bảo đảm bằng TSHTTTL. Vậy chúng ta cần có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề này như thế nào?

Continue reading

PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

TS. ĐỖ NGÂN BÌNH – Khoa Pháp luật kinh tế – Đại học Luật Hà Nội

Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật lao động (BLLĐ): “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Theo đó, người lao động ngoài yêu cầu về độ tuổi lao động tối thiểu là đủ 15 tuổi trở lên, còn phải có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.

Tuy nhiên, trong thực tế khi tham gia quan hệ lao động có những người lao động có hoàn cảnh đặc biệt được gọi là “lao động đặc thù”. Theo cách phân loại của pháp luật lao động hiện hành, người lao động có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm những đối tượng sau đây:

+ Lao động nữ.

+ Lao động chưa thành niên

+ Lao động cao tuổi

+ Lao động tàn tật.

Continue reading

CON TRAI ĐÒI TIỀN CÔNG NUÔI MẸ, VỤ KIỆN HY HỮU Ở VĨNH PHÚC

TTXVN – Khiếu kiện là quyền của công dân. Thế nhưng, còn một “Toà án lương tâm” ở mỗi con người. Những tháng ngày mang thai, nuôi con từ trứng nước đến khi trưởng thành, có bậc cha mẹ nào kể công?.

Toà dân sự TAND tỉnh Vĩnh Phúc vừa xử phiên phúc thẩm bác bỏ đơn kiện của ông Ngô Xuân Thành đòi mẹ đẻ mình bồi thường công ông nuôi dưỡng cụ. Toà cũng bác bỏ yêu cầu của ông Thành đòi mẹ mình phải chi trả cho ông giá trị 1/2 ngôi nhà tình nghĩa mà địa phương xây tặng cụ. Bản án đã tuyên nhưng ông Thành vẫn chưa “phục”, đang dự kiến đòi lại “lẽ công bằng ” (!?) ở cấp cao hơn!

Ông Thành là con trai cả của hai cụ Nguyễn Thị Trước và Ngô Văn Thái ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1997, hai cụ làm di chúc giao cho ông Thành quản lý toàn bộ tài sản của các cụ khi các cụ qua đời. Tuy nhiên, năm 1998, cụ ông mất, ông Thành và cụ bà mâu thuẫn nên cụ bà đã xin huỷ bỏ bản di chúc, không cho ông Thành hưởng số tài sản như đã ghi.

Continue reading

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHO VAY CẦM CỐ DƯỚI TIÊU CHUẨN VÀ BÀI HỌC CHO CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC BÌNH

Trong tháng 8 năm 2007, một cuộc khủng hoảng tài chính trên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn đã xảy ra ở Mỹ và nhanh chóng lan ra khắp thế giới. Cuộc khủng hoảng đã làm cho hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng bị thiệt hại nặng; một số công ty cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn phải đệ đơn xin phá sản, còn bản thân ngân hàng trung ương ở các quốc gia như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản,… phải đồng loạt bơm tiền vào hệ thống ngân hàng để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của toàn bộ hệ thống tài chính do tình trạng thanh khoản trở nên cực kỳ tồi tệ. Như vậy, vấn đề khủng hoảng xảy ra vừa qua đã hé lộ một “góc tối” trong hoạt động tài chính và các nhà quản trị ngân hàng Việt Nam cần thận trọng xem xét, đánh giá để rút ra bài học cho mình trong quá trình điều hành và phát triển hoạt động ngân hàng.

Rốt cuộc của điều này là gì? Đâu là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng và bài học kinh nghiệm gì có thể tìm thấy ở đây? Hàng loạt những câu hỏi tương tự như vậy có thể được đặt ra sau cuộc khủng hoảng. Đứng dưới góc độ là các ngân hàng Việt Nam, tôi xin được đề cập một số nội dung cụ thể sau để người đọc có thể tham khảo:

I- Cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn và trò chơi chuyển dịch tự do

1. Cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn

Cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn (subprime mortgage) là một trong những loại hình thuộc lĩnh vực cho vay dưới tiêu chuẩn, theo đó dưới tiêu chuẩn ở đây được hiểu là vị thế tín dụng của người đi vay không đảm bảo các yêu cầu thông thường của một khoản vay. ở Mỹ, những người vay có điểm tín dụng thấp hơn 620 được coi là người có vị thế tín dụng dưới tiêu chuẩn.

Continue reading

RỦI RO TÍN DỤNG – CÁCH NHÌN NHẬN MỚI

TS. PHAN VĂN TÍNH

Trên diễn đàn kinh tế, cũng như trong thực tiễn hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng được đánh giá như là một mắt xích quan trọng trong quản trị ngân hàng. Tuy nhiên, quản trị rủi ro tín dụng chỉ mang lại hiệu quả nếu cơ chế quản trị rủi ro được xây dựng trên nền tảng khoa học được kiểm chứng bằng thực tiễn.

1. Một số vấn đề lý luận và quan điểm về rủi ro tín dụng

Đứng về phương diện quản lý, khi phân tích rủi ro, các nhà kinh tế đặt rủi ro tín dụng dưới tầm nhìn của người cho vay. Những gì đã được phân tích, luận giải, truyền đạt trong các công trình nghiên cứu, giảng dạy cho thấy một quan điểm rằng, chỉ có người cho vay – ngân hàng thương mại mới đối mặt với rủi ro trong quan hệ tín dụng. Về lý luận, rủi ro tín dụng được xem như là khả năng khách hàng không trả được nợ vay và lãi sử dụng tiền vay mà nguyên nhân là từ những tình huống không “phát hiện” được khi cho vay và phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng. Các nhà kinh tế phân loại rủi ro theo nhiều dấu hiệu khác nhau: yếu tố chủ quan như quản trị – điều hành, trình độ tổ chức hoạt động; nguyên nhân khách quan như tình hình kinh tế – xã hội, hành lang pháp lý… Khi rủi ro xảy ra, tùy thuộc vào nguyên nhân, ngân hàng cho vay hoặc các cơ quan liên quan liệt kê rủi ro vào loại nào, khách quan hay chủ quan. Phương pháp và hiệu quả xử lý rủi ro, bù đắp thất thoát cũng như trách nhiệm của các cá nhân liên quan phụ thuộc vào việc phân loại đó. Khi nhìn nhận vấn đề dưới giác độ bảo toàn vốn cũng như nguyên lý tín dụng thì rõ ràng ngân hàng cho vay phải đảm bảo vốn tín dụng được hoàn trở lại điểm khởi đầu đầy đủ cả gốc và lãi phát sinh. Trong chừng mực đáng kể thì quan điểm đó phù hợp với nguyên lý quản trị kinh doanh. Từ nguyên lý này, các nhà quản trị ngân hàng, khi thiết lập cơ chế quản trị tín dụng, đã xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro, trong đó các thiết chế đều tập trung cho việc thực hiện được ý tưởng nêu trên. Nội dung của ý tưởng này có thể nhìn thấy khi phân tích nghiên cứu và phân tích các quy định hiện hành của các ngân hàng thương mại Việt nam. Có hai vấn đề chúng tôi muốn đề cập:

Continue reading