CẢNH BÁO VỀ CUỘC ĐUA LÃI SUẤT

HƯƠNG THỦY – Báo Đại Đoàn kết

Lo ngại đợt tăng lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất cho vay lần này sẽ ảnh hưởng tới ngay cả bản thân các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả khiến đồng vốn không thể sinh lời mà bị “chôn chặt “trong các ngân hàng, nhiều chuyên gia và các nhà kinh tế bắt đầu cảnh báo về sự “nguy hiểm’ của cuộc đua lãi suất mới.

Các ngân hàng thương mại vẫn “dè dặt” trước việc tăng lãi suất

Ngân hàng Đông Nam Á (SeAbank) là ngân hàng đầu tiên trong hệ thống các Ngân hàng thương mại Cổ phần tiến hành tăng lãi suất sau khi quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14% của ngân hàng nhà nước được áp dụng vào ngày 11-6. Với chương trình huy động “Tiết kiệm Siêu lãi suất Mới”, mức lãi suất cao nhất lên tới 19,2%/năm cho kỳ hạn 13 tháng, SeABank được xem là ngân hàng đi tiên phong trong cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động VND. Tiếp sau SeAbank là hàng loạt các ngân hàng tiếp tục thông báo tăng lãi suất. Cũng trong ngày 11-6, Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) chính thức thông báo huy động vốn với lãi suất 17,8%/năm cho kỳ hạn 13 tháng. Ngân hàng Đại dương (Oceanbank) cũng đưa ra mức tương đương… Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia ngân hàng đánh giá, “đỉnh” lãi suất mới này của SeAbank sẽ không thể có ngân hàng nào vượt qua.

Continue reading

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG HƯỞNG LƯƠNG

TS. NGUYỄN HỮU CÁT – Vụ trưởng Vụ Xã hội, Văn phòng Trung ương Đảng

Chính sách nhà ở đối với người lao động hưởng lương là một bộ phận cấu thành có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách nhà ở của nước ta. Bởi vì, nó có vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm cho người hưởng lương thỏa mãn nhu cầu về nhà ở bằng thu nhập của mình; đồng thời thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển một cách lành mạnh

1 – Tình hình nhà ở của người hưởng lương

Người hưởng lương chủ yếu bao gồm cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và người lao động làm việc trong các loại hình doanh nghiệp (nhà nước, dân doanh, có vốn đầu tư nước ngoài). Đến năm 2005, cả nước có trên 7 triệu lao động làm công ăn lương; trong đó, có khoảng 1,6 triệu cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Kết quả điều tra nhà ở của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước cho thấy: 31% số hộ, chủ yếu là các hộ gia đình trẻ, chưa có sở hữu về nhà ở; 4% thuê nhà tạm, nhà cấp 4 của tư nhân; 19% thuê nhà chung cư cũ thuộc sở hữu nhà nước (được xây dựng từ trước năm 1990); 14,6% được mua nhà theo Nghị định 61-CP; 31,4% đã xây được nhà riêng.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRƯỚC, TRONG VÀ SAU ĐÌNH CÔNG

image TS. ĐỖ NGÂN BÌNH – Khoa Pháp luật kinh tế – Đại học Luật Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Đình công là một quyền quan trọng của người lao động Việt Nam, được Nhà nước thừa nhận thông qua việc quy định quyền đình công của người lao động tại khoản 4 Điều 7 BLLĐ. Với việc hiện thực hoá quyền đình công trong thực tế, những người lao động thực sự đã có một thứ “vũ khí” hữu hiệu để tự bảo vệ mình.

Nhưng cũng với ý nghĩa là một thứ “vũ khí tự bảo vệ” của những người lao động, đình công nếu không được sử dụng đúng lúc, đúng cách và đúng mục đích sẽ để lại những hậu quả đáng tiếc cho chủ thể phía bên kia trong quan hệ lao động- đó là người sử dụng lao động (NSDLD). Do đó, pháp luật các nước đều có những quy định hướng tới việc bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trước, trong và sau đình công. Sở dĩ cần có những quy định này bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLD là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật lao động.

Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLD trước, trong và sau đình công là một trong những nhân tố góp phần nhanh chóng bình ổn lại quan hệ lao động sau đình công. Đình công không phải là sự ngừng việc vĩnh viễn mà chỉ là sự ngừng việc tạm thời nhằm gây sức ép với người sử dụng lao động. Do đó, mặc dù tiến hành đình công nhưng người lao động vẫn mong muốn quan hệ lao động sau đó tiếp tục được nối lại theo hướng có lợi hơn cho họ. Việc pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động sẽ làm dịu bớt sự căng thẳng trong quan hệ lao động vốn đã bị đẩy đến đỉnh điểm do hành vi đình công gây ra.

Continue reading

TỔNG QUAN HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG HOA KỲ-VIỆT NAM (1)

MARK E. MANYIN, nhà phân tích các vấn đề châu Á
Trích từ báo cáo của Ban Nghiên cứu Phục vụ Quốc hội Hoa Kỳ, ngày 20/6/2001

Hiệp định thương mại gồm 4 phần: tiếp cận thị trường, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư.

1. Tiếp cận Thị trường

Việt Nam đồng ý tiến hành những bước sau nhằm mở cửa thị trường:

  • Dành quy chế đối xử tối huệ quốc cho các hàng hoá của Mỹ;
  • Ðối xử với các hàng hoá nhập khẩu giống như hàng hoá sản xuất trong nước (còn được gọi là “đối xử quốc gia”);
  • Loại bỏ hạn ngạch đối với tất cả hàng hoá nhập khẩu trong thời hạn từ 3 đến 7 năm;
  • Minh bạch hơn quy trình mua sắm của chính phủ;
  • Lần đầu tiên cho phép tất cả các doanh nghiệp Việt Nam được phép kinh doanh xuất nhập khẩu mọi hàng hoá;
  • Lần đầu tiên cho phép các công ty Mỹ và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ được phép xuất nhập khẩu hầu hết các sản phẩm (với lộ trình từ 3-6 năm).
  • (Hiện tại, các công ty nước ngoài phải phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu Việt Nam được cấp giấy phép, hầu hết là doanh nghiệp nhà nước.)
  • Ðảm bảo doanh nghiệp nhà nước sẽ tuân thủ các quy định của WTO;

Continue reading