CẦN HIỂU NHƯ THẾ NÀO VỀ QUY ĐỊNH: LÃI SUẤT VAY DO CÁC BÊN THOẢ THUẬN NHƯNG KHÔNG VƯỢT QUÁ 150% CỦA LÃI SUẤT CƠ BẢN

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Tạp chí Ngân hàng số ra tháng 11 năm 2005 có đăng bài “Vấn đề lãi suất cơ bản và quy định lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản” của tác giả Trương Thanh Đức. Theo tác giả, với quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 về mức lãi suất cho vay tối đa thì rất nhiều hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) đã vô hiệu vì lãi cho vay đã vượt quá mức tối đa cho phép. Đồng tình với vấn đề tác giả nêu, tuy nhiên, chúng tôi xin được trao đổi thêm về một khía cạnh, đó là: cần nhìn nhận như thế nào về giới hạn tối đa không được vượt quá của mức lãi suất vay thoả thuận?

Trên thực tế, quan hệ vay tài sản (nói chung) là rất phong phú, đa dạng, mức lãi suất được xem là phù hợp mà các bên tham gia giao dịch đưa ra và có thể cùng chấp nhận được chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố. Về nguyên tắc, lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bên thoả thuận; tuy nhiên, nhằm ngăn ngừa hiện tượng cho vay nặng lãi và cũng tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về lãi suất hoặc trong trường hợp không có cơ sở xác định rõ mức lãi đã thỏa thuận, mà pháp luật dân sự quy định phương thức để xác định một mức lãi suất nào đó được xem là hợp lý và tiêu chuẩn được BLDS năm 1995 lựa chọn là căn cứ vào cơ chế điều hành trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, tức mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định từng thời điểm đối với loại cho vay tương ứng. Khoản 1, Điều 473, BLDS năm 1995 quy định: “Lãi suất cho vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng”.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ TIỀN GỬI NGÂN HÀNG

NGUYỄN THANH – Phòng Công chứng số 1 Quảng Ninh

Trong thời gian qua, có nhiều trường hợp cá nhân gửi tiền, vàng, kim khí quý, đá quý tại ngân hàng hoặc sở hữu giấy tờ có giá do ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành nhằm huy động tiền gửi, vốn (gọi chung là tiền gửi tại ngân hàng) qua đời. Từ đó phát sinh vấn đề về thừa kế những tài sản này, xác định ai là người được hưởng di sản, phần di sản được hưởng của mỗi người, pháp luật quy định áp dụng trong trường hợp này ra sao? Đặc biệt, rất phức tạp đối với những trường hợp có yếu tố nước ngoài (Ví dụ: Người để lại di sản là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.v.v..) Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi về một số tình huống xảy ra trong thực tế và hướng giải quyết.

1. Tổ chức tín dụng (TCTD) thanh toán trao trả tiền gửi cho những người được hưởng di sản dựa trên văn bản nào?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc thanh toán và phân chia di sản của người chết có thể được thực hiện tại Phòng Công chứng, Phòng Tư pháp, cơ quan ngoại giao được thực hiện việc công chứng, chứng thực trên cơ sở có yêu cầu của những người thừa kế. Ngoài ra, cơ quan toà án các cấp cũng là người tiến hành thanh toán và phân chia di sản trên cơ sở có đơn khởi kiện về thừa kế của người có quyền thừa kế, của người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Ngân hàng có thể dựa vào những văn bản về việc thanh toán, phân chia di sản đã được công chứng, chứng thực đúng thẩm quyền hoặc dựa vào bản án, quyết định có hiệu lực của toà án để tiến hành giao lại tài sản của người chết cho những người được hưởng di sản thừa kế.

Continue reading

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN ĐĂNG KÝ KHAI SINH THEO NƠI CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƯỢC QUI ĐỊNH TRONG NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/NĐ-CP

HUY LONG

Bộ Tư pháp Để giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện và hướng dẫn rõ hơn các quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP (ngày 27/12/2005) của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, ngày 02/6/2008 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, trong đó có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề đăng ký khai sinh (ĐKKS).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 và Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, thì việc ĐKKS cho trẻ em phải được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký thường trú; trường hợp người mẹ không có nơi đăng ký thường trú, thì việc ĐKKS cho trẻ em được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký tạm trú. Trường hợp người mẹ có nơi đăng ký thường trú, nhưng thực tế đang sinh sống, làm việc ổn định tại nơi đăng ký tạm trú, thì UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký tạm trú cũng có thẩm quyền thực hiện việc ĐKKS cho trẻ em. Trong trường hợp này, UBND cấp xã, nơi đã ĐKKS có trách nhiệm thông báo cho UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký thường trú để biết.

Continue reading

BÀN VỀ CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG

TS. TÔN THANH TÂM & THS. NGỤY BẢO HIỂM –  SGDIII-BIDV

Tạp chí Ngân HàngThời gian gần đây, đặc biệt là vào thời điểm giữa năm 2005 và đầu năm 2006, cổ phiếu của một số ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) lớn nói riêng, các NHTMCP nói chung có xu hướng “leo thang”. Theo chúng tôi, cổ phiếu các NHTMCP leo thang bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

Một là, trong năm qua, tình hình kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, hệ thống văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến quản trị NHTM liên tục được bổ sung, sửa đổi và ban hành mới, vừa tạo thuận lợi, thông thoáng cho môi trường kinh doanh của các ngân hàng (NH), nhưng cũng vừa đảm bảo an toàn cho quá trình giám sát, quản trị rủi ro không những của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với các NHTM, mà còn cho chính bản thân nội tại của từng NHTM. Chính sự ổn định kinh tế vĩ mô và hành lang pháp lý an toàn đã góp phần làm cho giá trị cổ phiếu của các NHTMCP tăng cao;

Hai là, sự hỗ trợ có hiệu quả của Hiệp hội Ngân hàng và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng như các cơ quan hữu quan đối với hệ thống NH góp phần củng cố niềm tin của công chúng, nâng cao tính liên kết trong hệ thống trước những khó khăn, tạo ra giá trị ổn định cho cổ phiếu NH;

Continue reading

BÀN THÊM VỀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN THỊ HƯỜNG

Trong những năm gần đây, nhất là từ năm 2007 đến nay, khi lạm phát ở nước ta tăng đột biến, đã có rất nhiều bài viết đề cập vấn đề này. Về cơ bản, với nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, các tác giả đã phân tích tương đối đầy đủ nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ muốn bổ sung thêm và nhấn mạnh hơn một số nguyên nhân cần đặc biệt lưu ý trong điều kiện của nước ta hiện nay.

Một là, sự tăng lên liên tục của tổng cung và tổng cầu trong dài hạn tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời đã kéo theo sự tăng lên không ngừng trong mức giá. Mặt khác, do năng lực sản xuất (tổng cung) tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của tổng cầu nên đã đẩy mức giá tăng cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng kinh tế .

Có thể thể hiện xu hướng này bằng Biểu đồ 1.

Biểu đồ 1

clip_image002

Continue reading

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP VÀ PHẠM VI QUẢN LÝ LÝ LỊCH TƯ PHÁP

PGS.TS. HOÀNG THẾ LIÊN

1. Sự cần thiết của việc xây dựng Luật lý lịch tư pháp  

Trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành, đến nay mới có 4 văn bản đề cập đến công tác lý lịch tư pháp (LLTP), đó là: Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA của Bộ Tư pháp và Bộ Công an ngày 08/02/1999 quy định việc cấp Phiếu LLTP; Nghị định số 62/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/6/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Quyết định số 94/2004/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 07/12/2004 quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Phiếu LLTP; Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT/BTP-BNV của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ ngày 05/5/2005 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương.

Trong số các văn bản quy định về công tác LLTP trên thì chỉ có Thông tư liên tịch số 07T/1999/TTLT-BTP-BCA là văn bản pháp lý quy định một cách thống nhất trình tự, thủ tục, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan (Tư pháp, Công an) trong quá trình giải quyết việc cấp Phiếu LLTP theo yêu cầu của công dân (bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam). Như vậy, trên cơ sở Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA, công tác quản lý LLTP bắt đầu được triển khai thống nhất trên toàn quốc từ năm 1999. Sau 9 năm thực hiện công tác cấp Phiếu LLTP cho công dân trên phạm vi cả nước, nhìn chung, chúng ta đã triển khai khá tốt, đạt được những kết quả đáng khích lệ. Đó là:

Continue reading