THẦY GIÁO TÔI

HẢI THANH

Trong thời đại @ hiện nay, bên cạnh bao nhiêu người tốt, sống hết mình vì mọi người, có những kẻ sống táng tận lương tâm. Họ sẵn sàng vứt bỏ, chà đạp những giá trị cao cả, đầy tính nhân văn, mà đôi khi chính họ, trong quá khứ đã góp phần làm nên, miễn làm sao thực hiện được những mục đích ích kỷ, tầm thường của mình. Trong số đó, có những người mà xã hội đã hết sức ngợi ca, đề cao, trọng vọng, đó là những người ngày ngày đứng trên bục giảng, những kỹ sư của tâm hồn.

Nhưng, các anh chị ơi, đó là số ít, rất ít. Mãi mãi trong tôi ngân vang một bài ca sư phạm, bài ca về một người thầy giáo, người thầy mẫu mực, người thầy đầy đủ những ý nghĩa thiêng liêng, cao cả của nó. Chuyện tôi kể ra đây là chuyện có thật, có thật 100%. Tin hay không là tùy các anh chị và bạn đọc, nếu như chuyện được đăng lên báo.

Bố mẹ tôi mất sớm. Ở với anh trai, trong những ngày cơm thiếu gạo khan thời bao cấp, tôi đã biết phải vươn mình lên học thật giỏi để khỏi phụ lòng anh trai và chị dâu tôi. Rồi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mở rộng ra miền Bắc, đời sống của người dân khu 4 chúng tôi càng trở nên khốn khó, vất vả. Mỗi tuần, tôi chỉ được mang đi 5 lon gạo để theo học, ở nơi trường sơ tán. Tôi và bạn bè, ngoài giờ học, lao động đã đi hái thêm rau rừng, củ rừng để cho cái dạ dày đỡ khóc than.

Rồi dạo đó, một đợt lũ do nhiều đợt mưa lớn đổ xuống, tôi không tài nào về nhà lấy thêm gạo được. Đói quay, đói quắt, đói vàng mắt, đói đến rệu rã chân tay. Khi hoàng hôn sắp phủ xuống, tôi bỗng thấy thầy chủ nhiệm đến trước lán ở, nơi sơ tán, gọi tôi mà nói: “Em ăn đi, lương khô 702 đây. Chiều qua, mới nhận được 1/3 tháng lương, thầy mua được của một chủ nhà bên đường, xóm dưới”, “Ôi! Sao nhiều quá thầy?” – tôi hỏi. Thầy vỗ vai tôi: “Chẳng đáng gì”, “Thôi, thầy về đây!”. Rồi mùa đông đến, thấy tôi mặc áo quá phong phanh, thầy lại tìm đến, tặng tôi một chiếc áo bông vải xanh màu nước biển, rồi bảo thầy đã có một cái áo bộ đội vải Tô Châu của một người bạn vừa cho. Còn áo này, tôi mặc lấy để bảo vệ sức khỏe.

Người ta nói, thầy giáo như người chèo đò đưa khách sang sông. Không biết thầy có còn nhớ tôi hay không, nhưng khi đã vào đại học, hình ảnh thầy giáo cũ vẫn thấm đậm trong tôi, mặc dầu lúc ấy tôi và thầy cách xa nhau vạn dặm.

Mùa hè đỏ lửa 1972, trong đợt Nhà nước tổng động viên thanh niên, sinh viên ra trận, tôi cùng nhiều bạn bè rạo rực, hân hoan “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Tôi là chiến sĩ trinh sát của Sư đoàn 371, cấp tốc huấn luyện cơ bản tại miền Tây Lệ Thủy (Quảng Bình) để đợi ngày xuyên Trường Sơn vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Do ý thức phấn đấu tốt, sau 3 tháng, chỉ huy đơn vị đã cắt hàm binh nhì và đề bạt tôi lên làm Tiểu đội trưởng, thay cho Tiểu đội trưởng cũ đi nhận công tác mới. Một buổi sáng, Đại đội trưởng gọi tôi lên hầm chỉ huy và thông báo, đơn vị vừa được tăng quân số, tiểu đội tôi sẽ có một chiến sĩ mới bổ sung.

Trưa hôm đó, chiến sĩ mới xuất hiện trước căn hầm, với súng AK, mũ, balô con cóc mới toanh. Tôi không tin nổi mắt mình. Đứng trước tôi, chiến sĩ mới ấy, chính là… chính là thầy giáo chủ nhiệm 3 năm học cấp 3 năm xưa của tôi. “Thầy! Thầy ơi!”, tôi reo lên. Thầy giáo của tôi đứng nghiêm tư thế quân lệnh dõng dạc: “Báo cáo Tiểu đội trưởng, tôi, bình nhì Hoàng Phúc, chiến sĩ mới được bổ sung, có mặt!”. Trời ơi, sao lại thế này? Người thầy đáng kính năm xưa, giờ đây là chiến sĩ dưới quyền chỉ huy của tôi? Thế đấy, vì Tổ quốc thân yêu, chiến hào của chiến tranh là nơi hội ngộ bao số phận, bao cuộc đời, cả những sự trớ trêu trân trọng và đáng yêu!

Tối hôm đó, tôi và thầy ngồi bên nhau. Tôi kể cho thầy, mình là sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, làm đời lính hơn 3 tháng nay. Còn thầy cho tôi biết, từ mái trường cấp 3, mới rời bục giảng để có mặt trong quân ngũ. Hai thầy trò ngồi ôn lại bao kỷ niệm thân yêu những ngày dạy và học trong các lớp học bán dương, bán âm, cách xa nhau hàng trăm mét. Mỗi lần ra chơi, thầy bách bộ từ lớp này sang lớp khác cũng vừa đúng thời gian nghỉ giữa 2 tiết dạy. Thế nhưng, ai cũng học khá, dạy tốt. Sự có mặt của thầy ở chiến hào lần đó làm tôi càng thấm thía và trân trọng lời thầy đã từng dạy chúng tôi về “Pavel Korchagin”, về “Ruồi trâu” và về câu nói của Lê Mã Lương thời kỳ ấy:

Nước còn giặc còn đi đánh giặc

Chiến trường xa giục giã bước quân hành.

Và “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”.

Những ngày luyện tập trên xã Dương Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình), người thầy, chiến sĩ binh nhì trong tiểu đội của tôi vô cùng gương mẫu. Bệnh đau nửa đầu không biết từ đâu ập đến. Tôi đã đề nghị để thầy lên Trạm điều dưỡng Trung đoàn điều trị, nhưng thầy gạt đi. Ngày luyện tập, tối, tôi thấy thầy đi tìm lá ngải cứu, giã nhỏ, quấn vào khăn rồi băng lên đầu. Thầy nói, chườm như thế cho đỡ đau, để còn sức hành quân cùng đồng đội. Khi hành quân luyện tập, tôi cố ý phân công thầy mang vác nhẹ hơn, nhưng thầy không chịu. Mỗi lần như vậy, thầy đến nói nhỏ vào tai tôi: “Đừng làm thế, không lợi cho em đâu”. Câu nói đã thể hiện ý chí và đức độ của thầy biết bao.

Mấy tuần sau, đơn vị chúng tôi hành quân vào chiến trường B5. Sau mấy trận thắng giòn giã, đơn vị tôi kết hợp với bộ đội địa phương tiến hành tiêu diệt cứ điểm đồi 300 ở Tân Lâm, Quảng Trị. Đang giữa lúc xung kích tiến lên thì pháo địch từ Đông Hà bắn phản kích. Nhiều chiến sĩ hy sinh, còn tôi bị đất đá vùi dưới một rãnh đất và bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trong một bệnh viện dã chiến giữa rừng. Sau mới biết, thầy giáo của tôi đã dũng cảm cõng tôi vượt qua hàng rào, lùi về tuyến sau. Nếu không có thầy lúc ấy thì có lẽ tôi đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất Quảng Trị, còn đâu đến ngày hôm nay.

Bị gãy một xương sườn và máu ra nhiều, sau đó, tôi được đơn vị cho ra Bắc điều trị. Thấm thoắt, chiến tranh chấm dứt, tôi lại được trở về mái trường đại học thân yêu, học tiếp chương trình. Tốt nghiệp ra trường với bằng Luật sư loại ưu, tôi được một cơ quan hành pháp tỉnh nhận vào làm việc. Phấn đấu tốt, bây giờ tôi là Viện trưởng Viện KSND với nhiều năm thâm niên. Tôi vẫn luôn nghĩ về thầy giáo tôi. Không biết thầy đã hy sinh hay đang sống ở đâu? Những cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị cũ, giờ đây mỗi người mỗi nơi, không biết ai để hỏi tìm. Lòng tôn kính, biết ơn thầy trong tôi cứ dày lên trong năm tháng, đau đáu nỗi niềm, mong sao biết được tin tức về thầy.

Các anh chị trong Ban Biên tập Báo ANTGCT kính yêu của tôi ơi, đã nhiều lần tôi nhờ một vài tờ báo của Trung ương đăng tin ở mục “Nhắn tìm đồng đội” và mục “Thông tin quảng cáo” ở truyền hình quốc gia và địa phương để tìm thầy giáo cũ của tôi. Nhưng tin đi thì có, phúc đáp thì không.

Rồi một buổi sáng, như bao buổi sáng, tôi ngồi đọc hồ sơ bản án từ cơ quan điều tra tỉnh gửi sang. Có một hồ sơ làm tôi sửng sốt. Phạm nhân là một thanh niên 21 tuổi, can tội hiếp dâm, cướp của và giết người. Với tội danh này, theo Bộ luật Hình sự nước ta, án phạt cao nhất là tử hình thì không thể tránh khỏi. Rồi mắt tôi bỗng hoa lên, ngực đánh thình thình khi đọc những dòng chữ viết về thân nhân phạm nhân: Mẹ Nguyễn Thị Lan (chết), Cha: Hoàng Phúc – quê Thường Tín, Hà Tây, thương binh, nguyên là giáo viên THPT, đang nghỉ hưu. Tôi thét lên: “Thầy, thầy ơi”. Đồng chí thư ký phòng bên nghe tiếng hét của tôi vội đẩy cửa bước sang, hỏi có việc gì thế? Tôi khoát tay, rằng, chẳng có việc gì cả, nhưng không sao giấu nổi hai mắt đang ứa lệ.

Suốt mấy hôm, tôi từ chối những cuộc mời ăn uống, vui chơi với bạn bè. Đầu óc tôi như muốn vỡ tung ra. 35 năm, thế là tôi đã tìm ra được thầy giáo tôi, ân nhân đời tôi, nhà sư phạm mẫu mực của chúng tôi, người vừa tốt nghiệp đại học ra trường đã sốt sắng tình nguyện vào khu 4 tuyến lửa ác liệt công tác để giảng dạy chúng tôi, người đã sẵn sàng lên mặt trận khi Tổ quốc kêu gọi, người đã bất chấp hy sinh vào cứu đồng đội giữa bom đạn mịt mùng…

Hồ sơ phạm nhân nói rõ, thầy chỉ có một con trai độc nhất. Và, thầy sẽ sống độc thân, nếu bản án y án, chuyển sang Toà án, sau đó xét xử và thi hành. Bao nhiêu năm làm công tác hành pháp, đến bây giờ, tôi quả là nghẹt thở, khi đứng trước một trường hợp éo le như thế này. Tôi sẽ cứu phạm nhân, cũng là cứu ân nhân đời tôi. Tôi chợt nghĩ đến các yếu tố giảm nhẹ: phạm pháp lần đầu, bị bức xúc, con của một thương binh, nhà giáo, từng cống hiến cho cách mạng. Phải rồi, tôi sẽ phê trong bản án với lời đề nghị như thế. Và, tất nhiên, tôi sẽ có những cuộc trao đổi riêng với Chánh án Tòa án.

Đang chuẩn bị viết những dòng ấy thì cửa mở. Thầy giáo Hoàng Phúc bước vào với một lá đơn trong tay. Tôi đứng dậy, bước tới, ôm lấy thầy, xúc động, nghẹn ngào. Thầy gầy, tóc bạc trắng, da nhăn, má hóp. Thầy lịch sự ngồi xuống ghế và vào chuyện ngay, không chần chừ, quanh co. Thầy cho tôi biết, thầy đang sống ở một phường ngoại ô thành phố, cách chỗ tôi làm việc không xa. Sau khi bị thương ở chiến trường trở về, thầy vẫn trở lại ngành Sư phạm và tình nguyện lên dạy ở miền núi. Vì ở đó đang rất cần giáo viên. Thầy lấy vợ muộn, cũng là một nữ giáo viên tình nguyện cùng trường. Nhưng một cơn bệnh hiểm nghèo của vợ đã cướp mất hạnh phúc của thầy hơn chục năm nay.

Nghỉ hưu, thầy về sống ở quê vợ, làm vườn, nuôi con. Nhưng, không ngờ, đứa con trai đã phản phúc, bất hiếu, làm những điều phạm pháp, phản hại đời thầy. Thầy biết tôi làm việc ở Viện KSND tỉnh và từng tìm thầy trên các báo và truyền hình ở Trung ương và địa phương lâu rồi, nhưng không bao giờ thầy lên tiếng. Bây giờ, lần đầu tiên, sau 35 năm, thầy mới tìm gặp tôi, chắc chắn sẽ là một điều nhờ vả – tôi nghĩ.

Nhưng trời ơi, các anh chị biên tập Báo ANTG Cuối tháng của tôi ơi, bạn đọc thân mến của tôi ơi, trong đơn, thầy không nói điều đó mà chỉ vẻn vẹn mấy chữ: “Tôi đề nghị pháp luật xử án con trai tôi thật bình đẳng, nghiêm minh, đúng luật, không nương nhẹ để làm gương răn đe, giáo dục những kẻ khác, nhằm góp phần xây dựng xã hội ta ngày một trong sáng, lành mạnh và cao đẹp”. Ký tên.

Tôi phải làm gì đây, thưa các anh chị trong Ban Biên tập và bạn đọc? Thời gian chuyển hồ sơ phạm nhân sang cơ quan tố tụng sắp hết. Hãy cho tôi một lời khuyên. Khi tiễn thầy ra về, trước mắt tôi, thầy Hoàng Phúc luôn sừng sững hình ảnh của một nhà sư phạm đáng yêu, một kỹ sư tâm hồn khả kính.

SOURCE: CHUYÊN MỤC “CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT” TRÊN BÁO AN NINH THẾ GIỚI

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/chuyenkhotin/2008/2/52038.cand

:

GỬI HAI NGƯỜI ĐÀN ÔNG CỦA TÔI

vectorsedge-eyeloveyouBLUE NGUYỄN THỊ MẬN – Diễn Châu (Nghệ An)

Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo miền Trung.

Mười tám tuổi đã về nhà chồng trong niềm hạnh phúc vô bờ bến khi được làm vợ người con trai mà tôi hết lòng yêu thương. Cưới nhau tròn một năm, vì tiếng gọi khẩn thiết từ chiến trường miền Nam, chồng tôi xung phong nhập ngũ. Phải làm một người đàn bà thời chiến tôi đành phải gạt nước mắt vì việc nước.

Dịp đó, trong làng tôi có tới 8 thanh niên trai tráng khỏe mạnh tuổi độ mười chín, đôi mươi như anh cùng nhập ngũ. Nỗi buồn xa chồng trong tôi cũng vợi bớt vì được chia sẻ.

Trong ba năm đầu tiên, tôi thường xuyên nhận được thư của anh, trong thư anh nói anh rất tự hào vì đã được rèn luyện trong quân ngũ, được cống hiến cho lý tưởng Cộng sản cao đẹp.

Lá thư cuối cùng tôi nhận được từ anh là vào khoảng tháng 4/1972, anh báo tin sắp vào Nam, có khả năng anh sẽ vào chiến đấu ở Quảng Trị. Thế rồi từ đó, tôi hoàn toàn bặt tin chồng.

Tôi đã sống trong khắc khoải, chờ đợi và hy vọng. Không lâu sau đó, tôi nhận được giấy báo tử của chồng lúc vừa tròn 23 tuổi. Đau khổ và nước mắt đã làm cho tôi gần như suy kiệt.

Từ đó, tôi kiên quyết ở vậy thờ chồng, thờ mối tình đẹp đẽ ăn sâu vào máu thịt của tôi, vì một lẽ tôi không thể nào quên được anh ấy.

Cuộc đời có ai đọc được chữ ngờ.

7 năm sau kể từ ngày anh và 8 trai làng nhập ngũ, chỉ còn lại một người đàn ông duy nhất trở về trong đợt ấy.

Anh về nhà hôm trước, gia đình chưa kịp ăn mừng thì hôm sau anh đã sang nhà tìm tôi. Âu cũng là định mệnh khắc nghiệt. Khi anh xuất hiện ở cửa, tôi đã nhào ra ôm chầm lấy anh khóc nức nở. Tôi vừa khóc vừa gọi tên chồng tôi. Anh cứ để yên mặc cho tôi khóc, nước mắt đầm đìa trên ngực áo anh.

Chúng tôi không thể nói được gì hơn với nhau vào lúc ấy. Ở anh là sự sẻ chia không nói nên lời, còn ở tôi là một cảm giác đau đớn vì mất mát. Nỗi đau tưởng đã dằn sâu xuống đáy lòng ngủ yên mấy năm qua giờ lại bùng lên dữ dội.

Những ngày sau đó, thỉnh thoảng anh qua lại nhà tôi chơi, giúp những việc lặt vặt trong ngôi nhà thiếu bàn tay người đàn ông, động viên tôi nguôi ngoai nỗi buồn. Rồi điều gì đến cũng phải xảy ra.

Chính mẹ già của anh đã sang gặp tôi nói chuyện và xin hỏi cưới tôi về làm vợ anh. Cả gia đình anh, họ hàng anh và bên nhà tôi đều động viên tôi quên chuyện cũ để đi bước nữa. Lúc đó tôi mới chỉ 26 tuổi, lại chưa có con nên còn son rỗi.

Cảm động trước tấm chân tình của anh và gia đình anh, tôi đồng ý làm vợ anh.

Thực sự tôi đã như được tái sinh thêm lần nữa.

Cho dù anh là trai tân, lấy tôi thiệt thòi đã từng một đời chồng nhưng trái lại anh rất yêu tôi, thương tôi và chăm sóc tôi hết mực. Sự từng trải của những năm binh lửa đã tạo cho anh một tính cách trầm tĩnh, ấm áp và giàu tình yêu thương. Sống với anh, tôi được bù đắp những thiếu hụt.

Tôi trẻ ra, thịt da thắm hồng trở lại, mắt long lanh hạnh phúc. Nhìn thấy tôi rạng rỡ, anh vô cùng sung sướng. Vợ chồng tôi lại chan hoà bên nhau trong niềm hạnh phúc dẫu không thật trọn vẹn nhưng cũng thật ngọt ngào.

Những ngày tháng đầm ấm của chúng tôi ngỡ rằng từ đây không còn gì có thể chia cắt nổi, không ai tước đoạt được. Thế nhưng tạo hoá khéo cợt trêu, tơ duyên khéo đùa dai với số phận một người đàn bà khốn khổ và đáng thương như tôi. Chỉ 1 năm sau ngày tôi tái hôn, và cũng là 5 năm sau khi tôi nhận giấy báo tử, chồng tôi đột ngột trở về. Chuyện liệt sỹ trở về không còn lạ đối với một đất nước có chiến tranh.

Ngày chồng tôi trở về là một ngày tôi trở nên mê sảng và tê dại đi vì những cảm xúc đan xen. Tôi thực sự cũng không phân định nổi lúc ấy tôi hạnh phúc hay là tôi đau khổ, tôi sung sướng hay là tôi tuyệt vọng.

Chồng tôi, người tôi yêu thương, chờ đợi và đau đớn vì nghĩ rằng đã mất thì nay anh đột ngột trở về bằng xương bằng thịt. Niềm sung sướng kỳ diệu như bắt được một báu vật quá lớn so với trí tưởng tượng của mình chưa kịp tan ra trong tâm trí thì đã khựng lại bởi hoàn cảnh trớ trêu của mình.

Tôi chưa kịp chạy ào ra thì đã thấy ánh mắt chết sững bàng hoàng của người chồng hiện tại đang sống cùng tôi. Chao ơi, cuộc đời có hoàn cảnh nào trớ trêu hơn, cay nghiệt hơn thế.

Cho đến bây giờ, tôi luôn tự hỏi tại sao cuộc đời tôi lại phải trải qua những giây phút kinh khủng như thế. Tuyệt đỉnh của hạnh phúc nhưng cũng tận cùng của đau khổ. Hai cảm xúc đó cùng ập đến và cùng làm cho tôi tan nát hết cõi lòng.

Cả ba chúng tôi đã sống cùng một ngôi nhà trong tâm trạng khủng hoảng cùng cực như vậy một thời gian khá dài.

Có thể bạn đọc sẽ nghĩ rằng, trong tình cảnh hiện nay của cả 3 chúng tôi, thì một trong hai người đàn ông sẽ ra đi để nhường hạnh phúc cho người đàn ông còn lại.

Thật khó cho tôi và cho cả hai người đàn ông bởi lúc này tôi đã mang trong mình giọt máu của người chồng thứ hai. Cái thai trong bụng đã đến kỳ sinh nở, người chồng thứ hai của tôi không thể ra đi trong hoàn cảnh này. Còn với người chồng đầu tiên thì đây là nhà thực sự của anh.

Cả hai người đàn ông đều không một ai đả động đến chuyện ai phải ra đi, ai phải ở lại. Có thể sự từng trải trong chiến trường đã tôi luyện cho họ bản lĩnh và sự chịu đựng mọi gian khổ, mất mát, nhưng khi đứng trước người mình yêu thương, đứng trước hạnh phúc của chính mình, họ không cao thượng như những gì sách vở vẫn ca ngợi, họ thật hơn, trụi trần hơn và đời thường hơn khi cả hai không ai muốn mất đi hạnh phúc mà mình đang cầm nắm trong tay.

Có lẽ, đó là bi kịch cay nghiệt nhất mà số phận đã định đoạt. Còn tôi, tôi không thể tự quyết định được vì tôi đã là vợ của hai người đàn ông. Tôi còn biết làm gì hơn là chờ đợi một sự phán quyết từ họ.

Thế rồi tôi sinh con, cả hai người đàn ông đều cùng nhau chăm sóc tôi và cháu bé. Cuộc đời tôi chưa bao giờ phải trải qua những giây phút đau lòng và chịu đựng hơn đến như thế. Nhìn hai người đàn ông yêu tôi gầy rộc đi vì suy nghĩ, vì bất lực không thể đi đến một quyết định đã làm cho tôi gần như phát điên lên vì áp lực.

Đau lòng hơn, đứa bé sinh ra không nuôi được, bác sỹ bảo rằng do 3 tháng cuối của thai kỳ tôi bị ảnh hưởng bởi những chấn động tâm lý dữ dội. Khi sức khỏe của tôi đã hồi phục trở lại, chồng cũ của tôi đã đề nghị người chồng thứ hai của tôi nên ra đi và tìm hạnh phúc khác. Bắt đầu từ đó là một chuỗi ngày cả hai người đàn ông giận dỗi nhau, dằn hắt và trách móc nhau.

Một năm trời tôi sống trong chịu đựng và đau khổ vì không ai chịu nhường tôi cho ai. Có những lúc tôi đã tính đến chuyện ra đi một mình cho thanh thản. Tôi không có quyền lựa chọn ai, cũng không có quyền trách móc ai trong số hai người chồng của tôi. Tôi hiểu con người có quyền ích kỷ trước tình cảm riêng tư của mình.

Cuối cùng thì sau những trách móc, dằn hắt, người chồng thứ hai của tôi quyết định ra đi. Anh về lại nhà bố mẹ đẻ để nhường tôi cho chồng cũ.

Tôi như trút được một gánh nặng đau khổ. Vợ chồng chúng tôi đoàn viên với nhau trong niềm hạnh phúc ngọt ngào nhưng cũng đầy chát đắng. Tôi đã khóc rất nhiều, tôi không biết tôi yêu thương người đàn ông nào nhiều hơn người đàn ông nào nữa.

Người chồng thứ hai của tôi ở nhà được mấy tháng thì xin phép gia đình đi vào miền Nam lập nghiệp. Tôi biết anh không thể sống trong cùng một làng để ngày ngày nhìn thấy vợ chồng tôi hạnh phúc. Anh ra đi lặng lẽ, không đến từ biệt vợ chồng tôi.

Cuộc đời vẫn chưa hết trớ trêu khi tôi và chồng tôi không thể nào có con được với nhau. Tiếp tục 7 năm mỏi mòn chờ đợi, bao khát khao đều biến thành vô vọng.

Rồi vợ chồng tôi đưa nhau đi khám, anh gần như suy sụp tinh thần khi biết do vết thương chiến tranh tác động, anh không thể có con. Lúc này cả tôi và anh đã bước sang tuổi 35, thời gian không còn nhiều nữa đối với người đàn bà như tôi. Cuộc đời tôi đến lúc này mới là đỉnh điểm của bi kịch.

Chồng tôi sau một thời gian suy nghĩ dằn vặt đã lại quyết định ra đi tìm người chồng thứ hai của tôi để khuyên anh trở về xây dựng hạnh phúc của tôi.

Ngày ra đi, anh ôm lấy tôi mà khóc: “Em ơi, anh đã làm em khổ quá nhiều rồi, anh xin lỗi. Cách duy nhất để giúp anh chuộc lại lỗi lầm, làm bớt đi nỗi đau khổ trong em do anh gây ra là anh phải ra đi. Nếu tìm được Thìn (tên chồng thứ 2 của tôi), anh sẽ cúi lạy Thìn xin anh ta trở về với em. Nhược bằng Thìn đã có gia đình rồi, anh cũng không trở về đâu. Em vẫn còn trẻ, còn cơ hội để làm lại cuộc đời. Em phải có con, đàn bà không có con bất hạnh lắm”.

Từ đấy đến nay, đã 15 năm trôi qua, cả hai người đàn ông của tôi không một lần trở lại với tôi. Tôi không biết họ đi những đâu, làm những gì, trong số họ có ai tìm được hạnh phúc cho mình chưa. Tôi biết đời mình bất hạnh nhưng tôi không hề lụy trách hai người chồng mà tôi đã hết lòng yêu thương họ, cũng không thể tự trách mình. Tôi chỉ biết trách ông trời, trách tạo hoá sao nỡ cợt trêu tôi đến vậy.

SOURCE: CHUYÊN MỤC “CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT” TRÊN BÁO AN NINH THẾ GIỚI

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/chuyenkhotin/2007/2/51666.cand

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ NƯỚC TA

GS.TS. TRẦN NGỌC HIÊN – HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HCM

Trong lịch sử trước khi có kinh tế thị trường không có Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Chỉ khi kinh tế thị trường được xác lập mới đòi hỏi một hình thức nhà nước mới – Nhà nước pháp quyền và một kiểu tổ chức xã hội mới – xã hội dân sự. Vì vậy, phân tích mối quan hệ kinh tế thị trường với Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự phải bắt đầu bản chất chung của kinh tế thị trường.

1. Cơ sở kinh tế – xã hội hình thành mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự

Khác với các nền kinh tế trước đó, kinh tế thị trường hình thành từ quá trình xã hội hóa lao động và sản xuất và phát triển cũng dựa vào trình độ xã hội hóa từ thấp lên cao. Xã hội hóa lao động và sản xuất lấy giá trị sức lao độnghiệu quả của nó làm thước đo, nên tiến trình xã hội hóa diễn ra theo quy luật giá trị thặng dư.

Sự phát triển của xã hội hóa dựa trên những tiến bộ kỹ thuật. Còn trình độ xã hội hóa cao hay thấp lại dựa vào cách mạng khoa học – kỹ thuật đi đôi với tiến bộ trong cải cách tổ chức và quản lý, tạo ra sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội. Đó chính là quá trình lịch sử chuyển lao động riêng lẻ cá thể, tư nhân thành lao động xã hội; với những đặc trưng dưới đây:

Continue reading

VẤN ĐỀ "ÁN TỒN ĐỌNG" VÀ DỰ ÁN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TS. DƯƠNG NGỌC NGƯU – Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Theo Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội khoá XII về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007-2011) thì Dự án Luật Thi hành án dân sự dự kiến sẽ được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ ba và thông qua tại kỳ họp thứ tư. Ngày 4/4/2008, Chính phủ đã có Tờ trình số 31/TTr-CP về dự án Luật Thi hành án dân sự. Việc ban hành Luật Thi hành án dân sự là cần thiết, nhằm sớm khắc phục những tồn tại, hạn chế về công tác thi hành án dân sự hiện nay.

Qua ba năm thi hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 cho thấy, nhiều quy định của Pháp lệnh đã đi vào cuộc sống, bước đầu giảm bớt số lượng án tồn đọng[1]. Về mặt tổ chức, việc kiện toàn hệ thống các cơ quan thi hành án (THA) và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên đã phát huy vai trò tích cực, từng bước nâng cao hiệu quả của công tác THA. Pháp lệnh THA dân sự năm 2004 cũng hoàn thiện thêm một bước trình tự, thủ tục THA mà Pháp lệnh THA dân sự năm 1993 chưa giải quyết được.

Continue reading

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG PHÁP LUẬT

TS. NGUYỄN THỊ KIM THOA – THS. NGUYỄN THỊ HẠNH

Đánh giá tác động pháp lu�tĐánh giá tác động pháp luật (RIA- Regulatory Impact Assesment) là một tập hợp các bước logic hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách. Nó bao gồm việc nghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập. Trách nhiệm thực hiện RIA được giao cho cơ quan phụ trách việc đề xuất chính sách. RIA là công cụ chủ yếu cho việc xây dựng chính sách.

I. Đánh giá tác động pháp luật

1. Khái niệm đánh giá tác động pháp luật

Đánh giá tác động pháp luật (RIA- Regulatory Impact Assesment) là một tập hợp các bước logic hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách. Nó bao gồm việc nghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập. Trách nhiệm thực hiện RIA được giao cho cơ quan phụ trách việc đề xuất chính sách. RIA là công cụ chủ yếu cho việc xây dựng chính sách.

Continue reading