MỘT PHIÊN TÒA, HAI BẢN ÁN

PHAN GIA HI

Bản án gửi cho đương sự khác với bản án gửi cho cơ quan thi hành án về diện tích và vị trí đất.

Bà Bùi Thị Cải rất bất bình khi được biết TAND TP.HCM đã cho “ra lò” hai bản án khác nhau để xử vụ án của bà.

Phải đính chính, bổ sung

Cuối năm 2004, bà Cải bị bà D. thưa ra tòa để đòi lại lối đi. Đồng thời, bà D. cũng đề nghị bà Cải phải tháo dỡ phần xây dựng trên lối đi đó để bà D. xây bức tường làm ranh giới giữa hai nhà. Bà Cải không chấp nhận các yêu cầu này, viện lẽ phần đất đó thuộc quyền sử dụng của gia đình bà.

Năm 2007, TAND quận 2 đã tuyên buộc bà Cải phải tháo dỡ tường rào, trả lại phần đường cho bà D. làm lối đi riêng. Không đồng ý, bà Cải kháng cáo.

Đầu năm 2008, TAND TP.HCM đã xử phúc thẩm vụ án và vẫn tiếp tục tuyên bà Cải phải trả lại lối đi cho bà D. nhưng có sửa một số nội dung của bản án sơ thẩm để làm rõ hơn phần diện tích phải trả, phí định giá…

Continue reading

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

imageNGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Để trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã phải sửa đổi và ban hành nhiều đạo luật quan trọng cho phù hợp với pháp luật quốc tế. Sau khi ra đời, thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, soạn thảo Nghị định của Chính phủ về giao dịch bảo đảm cho phù hợp với tình hình mới. Cũng như quy trình xây dựng các văn bản pháp luật khác, sau khi dự thảo sơ bộ nghị định về giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp đã tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và chuyên gia có liên quan. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã tổng hợp, hoàn thiện dự thảo nghị định về giao dịch bảo đảm để trình Chính phủ. Ngày 29 tháng 12 năm 2006, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163). Nghị định số 163 có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 01 năm 2007 và thay thế Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và bãi bỏ Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là Nghị định số 178 ) và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178. Do đó, quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó có bảo đảm tiền vay, đã được quy định tập trung, thống nhất trong một văn bản và xóa bỏ được tình trạnh tồn tại song song hai Nghị định của Chính phủ cùng điều chỉnh một quan hệ bảo đảm tiền vay: Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Bộ luật Dân sự năm 1995 và Nghị định số 178 hướng dẫn thực hiện Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (trong khi hai nghị định này chỉ được ban hành cách nhau bốn mươi ngày). Cho nên, khi thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay, các tổ chức tín dụng và khách hàng vay, bên thứ ba phải tra cứu, đối chiếu nhiều văn bản pháp luật khác nhau (pháp luật về giao dịch bảo đảm và pháp luật về bảo đảm tiền vay) để áp dụng vào hoạt động thực tiễn của mình. Vì vậy, sự ra đời của Nghị định số 163 không chỉ khắc phục được những hạn chế nói trên mà còn góp phần hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm, tạo hành lang pháp lý an toàn và thông thoáng cho các tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Ngày 29/12/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự về việc xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ). Dưới góc độ pháp lý, thông qua giới thiệu một số nội dung mới của Nghị định, bài viết này xin kiến nghị cơ quan chức năng cần sớm hướng dẫn về một số vấn đề cụ thể ngay trong các văn bản hướng dẫn, triển khai thi hành sắp sửa ban hành.

1. Về hiệu lực thi hành: với Điều 72 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã chính thức thay thế và bãi bỏ Nghị định 165/1999/NĐ-CP, Nghị định số 178/1999/NĐ-CP (sau đó đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 85/2002/NĐ-CP) và khoản 2 điều 2 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP. Tại điều 73 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP cũng quy định rằng: các giao dịch bảo đảm đã giao kết theo các quy định trước đây vẫn có hiệu lực thi hành mà không phải sửa đổi hoặc giao kết lại. Những điều này có nghĩa:

Continue reading

GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG GIẢi QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ

TS. PHAN VĂN TÍNH – Viện trưởng Viện Rised

Nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường. Trong điều kiện mới này, tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của mình…

Theo Luật Thương mại của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Như vậy, tranh chấp kinh tế là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển thì tranh chấp kinh tế ngày càng tăng lên.

Cơ sở pháp lý trong giải quyết các tranh chấp kinh tế

Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được thực hiện bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Toà án Nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍNH CHUYỂN ĐỔI CỦA TIỀN TỆ

image TS. PHAN VĂN TÌNH

Trong thời gian qua, khi trao đổi về tính chuyển đổi của tiền tệ có nhiều chuyên gia đưa ra những giải pháp cho vấn đề chuyển đổi của đồng Việt Nam (VND) rất đáng được quan tâm và cần có sự trao đổi.

Có ý kiến cho rằng, để nâng cao khả năng chuyển đổi của VND, cần thực hiện các giải pháp: đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ dựa trên lãi suất và lạm phát cơ bản làm mục tiêu; thực hiện chiến dịch tầm thường hoá đô la Mỹ bằng cách phát huy hơn nữa tác dụng của thị trường ngoại hối; xoá bỏ các giấy phép mua bán ngoại tệ trong giao dịch vãng lai, nâng cao khả năng xuất khẩu bằng VND… Bài viết này muốn đề cập đến một số vấn đề liên quan đến bản chất của việc chuyển đổi tiền tệ; góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn, thuận lợi cũng như thách thức đối với quốc gia chưa có điều kiện kinh tế chín muồi mà vội áp dụng chế độ chuyển đổi đồng bản tệ của mình; đề cập đến tính thời sự, khả năng nâng cao tính chuyển đổi của VND theo các giải pháp do một số chuyên gia đưa ra.

Continue reading

THẺ ATM: QUAN HỆ GIỮA CHỦ THẺ VỚI NGÂN HÀNG

image NGUYỄN PHƯƠNG LINH – Ngân hàng Ngoại thương

Thẻ ATM chưa trở thành dịch vụ phổ biến của các ngân hàng trong nước

Thẻ ATM là loại thẻ ghi nợ do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa hai bên. Người sở hữu thẻ (gọi là chủ thẻ) là bất kỳ cá nhân nào được ngân hàng cấp thẻ sau khi đã ký hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ với ngân hàng và hoàn thiện các thủ tục mở tài khoản theo quy định của ngân hàng, như: xuất trình giấy chứng minh nhân dân, điền các thông tin cần thiết vào những chỗ trống trong mẫu đơn đề nghị mở tài khoản, nộp một số tiền tối thiểu 100.000 đồng để duy trì tài khoản…. Kể từ thời điểm được cấp thẻ, chủ thẻ có quyền sử dụng thẻ để rút tiền mặt, thực hiện một số dịch vụ tại máy rút tiền tự động (automatic teller machine gọi tắt là ATM) và thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ trong phạm vi số dư trên tài khoản của mình. Do đó, thay cho việc thanh toán bằng tiền mặt như những năm trước đây, ngày nay nhiều người dân đã sử dụng thẻ ATM để thanh toán tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại hoặc chuyển tiền, thực hiện các giao dịch hợp pháp khác.

Continue reading

Một số vấn đề pháp lý về giải quyết di sản thừa kế – TIỀN GỬI CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

image NGUYỄN PHƯƠNG LINH

Trong những năm qua, nhờ có chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước mà nhiều người dân được ra nước ngoài sinh sống bằng những hình thức khác nhau, như: đi lao động có thời hạn, đi học, đi du lịch, đi nghiên cứu và khảo sát thị trường, kết hôn với người nước ngoài … Sau nhiều năm “bôn ba, sinh sống” ở nước ngoài, nhiều người đã quay trở về Việt Nam để sống những ngày còn lại của cuộc đời, thể hiện một bản sắc văn hoá riêng của dân tộc Việt Nam “hướng về cội nguồn lúc tuổi già”. Nhiều người trong số đó đã dùng những đồng vốn, kinh nghiệm và kiến thức tích lũy được trong những năm sinh sống ở nước ngoài để đầu tư, xây dựng quê hương đất nước.

Ngân hàng được coi là một trong những địa chỉ tin cậy để những người Việt Nam từ nước ngoài trở về lựa chọn, gửi tiền. Tùy theo mục đích và sự lựa chọn của mình, người gửi tiền có thể gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn và được hưởng lãi theo lãi suất của kỳ hạn tương ứng do ngân hàng nơi nhận tiền gửi quy định. Hình thức gửi tiền tại ngân hàng có thể không mang lại lợi nhuận cao so với nhiều hình thức đầu tư khác, như: buôn bán bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu … nhưng hình thức đầu tư này an toàn hơn, ít rủi ro hơn.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT DI SẢN THỪA KẾ – TIỀN GỬI CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

image NGUYỄN PHƯƠNG LINH

Trong những năm qua, nhờ có chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước mà nhiều người dân được ra nước ngoài sinh sống bằng những hình thức khác nhau, như: đi lao động có thời hạn, đi học, đi du lịch, đi nghiên cứu và khảo sát thị trường, kết hôn với người nước ngoài … Sau nhiều năm “bôn ba, sinh sống” ở nước ngoài, nhiều người đã quay trở về Việt Nam để sống những ngày còn lại của cuộc đời, thể hiện một bản sắc văn hoá riêng của dân tộc Việt Nam “hướng về cội nguồn lúc tuổi già”. Nhiều người trong số đó đã dùng những đồng vốn, kinh nghiệm và kiến thức tích lũy được trong những năm sinh sống ở nước ngoài để đầu tư, xây dựng quê hương đất nước.

Ngân hàng được coi là một trong những địa chỉ tin cậy để những người Việt Nam từ nước ngoài trở về lựa chọn, gửi tiền. Tùy theo mục đích và sự lựa chọn của mình, người gửi tiền có thể gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn và được hưởng lãi theo lãi suất của kỳ hạn tương ứng do ngân hàng nơi nhận tiền gửi quy định. Hình thức gửi tiền tại ngân hàng có thể không mang lại lợi nhuận cao so với nhiều hình thức đầu tư khác, như: buôn bán bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu … nhưng hình thức đầu tư này an toàn hơn, ít rủi ro hơn.

Continue reading