HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG THỤY SỸ

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ (dưới đây được gọi là các Nước ký kết),

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Nước ký kết phải có các biện pháp thích hợp bảo đảm cho trẻ em được lớn lên trong môi trường gia đình và bảo đảm gia đình thay thế đối với trẻ em không có môi trường gia đình;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp tạo cho trẻ em một gia đình ổn định trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em ngay tại nước gốc của mình;

Thừa nhận rằng, trẻ em được nhận làm con nuôi theo Hiệp định này phải được hưởng trên lãnh thổ của mỗi Nước ký kết đầy đủ các quyền và lợi ích mà trẻ em là công dân hoặc thường trú trên lãnh thổ của Nước ký kết được hưởng;

Đã quyết định ký kết hiệp định này.

Continue reading →

CÂU CHUYỆN CUỘC ĐỜI

imageTôi đã bắt đầu đi tìm lại người chiến sỹ ấy ngay sau khi tôi xuất ngũ và ổn định cuộc sống gia đình trong vòng 5 năm. Khoảng thời gian 20 năm đủ dài và làm nên những biến động vật đổi sao dời. Tôi không thể nào hình dung nổi liệu tôi có gặp lại người chiến sỹ bị thương nặng mê man bất tỉnh trong đêm tối đầy mưa bom bão đạn ấy nữa không…

Mà thật ra tôi cũng không dám hình dung, bởi hễ cứ nhắm mắt, tôi lại thấy hình ảnh người chiến sỹ ấy, nhớ bộ quần áo tôi đổi của anh, và nhớ đến quá khứ buồn bã của tôi, những nỗi sợ đã đeo đẳng tôi khôn cùng trong suốt chặng đường đi đánh giặc. Tôi sợ, rất có thể, oái oăm thay, từ việc thay đổi bộ quần áo mà số phận chúng tôi mỗi người đi theo những ngã rẽ riêng, và biết đâu không chừng, tôi lại là người đã gây ra bi kịch của người chiến sỹ tôi không nhìn rõ mặt ấy…

Trời ơi! tôi đã cầu trời khấn Phật cho không có chuyện gì xấu xảy ra, rằng người chiến sỹ kia hoặc đã hy sinh, hoặc trở về, và dù thế nào thì người chiến sỹ ấy cũng vẹn nguyên công thành, doanh toại, thứ duy nhất mà người chiến sỹ ấy mất chỉ là bộ quần áo bộ đội đẫm máu và rách toạc vì vết đạn. Thế thôi.

Nhưng than ôi! Cuộc đời thường vẫn xảy ra muôn nỗi trớ trêu để cho con người trong vòng xoáy của con tạo xoay vần ấy phải lâm trận bao nỗi bi ai. Cho dù tôi đã trả giá tất cả, mạng sống, lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình trong 15 năm cầm súng phiêu bạt ở chiến trường Đông Tây, Nam Bắc để tìm cho mình một thân phận mới, một cuộc đời mới thì tôi vẫn không thể quên được hành động của tôi. Đi tìm sự thật cho chính cuộc đời mình là một hành động nhọc nhằn và vô cùng ám ảnh.

Hơn nửa đời trận mạc, vào sinh ra tử, tôi trong phút giây này lại là một kẻ bơ vơ, đi tìm lại phần nối của cuộc đời mình trong cái đêm định mệnh bên bờ sông Bến Hải ấy.

Suốt 20 năm qua, không bao giờ tôi quên được tên tuổi, đơn vị và địa chỉ của người chiến sỹ ấy. Anh tên là L.V.T., đơn vị X, quê ở làng N.Đ., huyện T.C., tỉnh Nghệ An. Lần đầu tiên, sau 5 năm công tác ở nhà máy dệt, tôi xin nghỉ phép đúng 12 ngày và khoác ba lô lên đường về quê của anh L.V.T.

Đi xe tàu mất 3 ngày, 3 đêm, đổi xe xuống không biết bao nhiêu chặng, tôi mới đến được vùng quê heo hút nghèo khó của một huyện miền núi ở Nghệ An. Khi tìm đến được ngôi làng trước đây gia đình anh sinh sống, tôi đã chết lặng người khi chứng kiến phần đầu tiên của bi kịch cuộc đời anh, cũng chính là cuộc đời của tôi.

Gia đình anh L.V.T. không còn ai ở làng nữa. Chỉ còn lại một bà cô nghèo, không lấy chồng ở vậy một mình trông nom hương khói cho nội tộc. Chính bà cô họ ấy đã rưng rưng nước mắt kể cho tôi nghe ngọn ngành.

Năm đó, chỉ cách độ 1 tháng, gia đình của T. vừa nhận được thư của con trai báo về cho cha mẹ và vợ con rằng T. đang chuẩn bị lên đường hành quân vào chiến trường B sau đợt huấn luyện dài 4 tháng. T. ở trong một đơn vị huấn luyện đặc công, bức thư kể tỉ mỉ về nỗi háo hức của T. sắp được ra chiến trường trực tiếp chiến đấu với quân thù. T. là con cả trong một gia đình đông anh em, 3 gái, 2 trai.

Trước khi nhập ngũ, cha mẹ bắt anh cưới vợ để nhỡ ra có chuyện gì xấu xảy ra với T. thì nhà còn có chút đích tôn mà báo hiếu với tổ tông. Khi T. nhập ngũ thì vợ đã có thai được 5 tháng. Khi T. lên đường hành quân đi B thì cũng vừa hay tin, vợ T. sinh được thằng con trai kháu khỉnh. Vì thế, tinh thần của T. càng thêm phấn khởi, chỉ mong mau mau vào chiến trường, lập công giết được nhiều giặc Mỹ để ăn mừng sự kiện anh có con trai.

Thế nhưng không hiểu sao, chỉ 1 tháng sau, địa phương và gia đình nhận được một cái giấy báo từ phía đơn vị rằng T. đã đào ngũ, hiện giờ không có mặt tại đơn vị nữa. UBND xã đã tổ chức một cuộc họp mời gia đình T. đến dự và thông báo cho toàn thể bà con nhân dân trong làng về việc T. bỏ đơn vị đi đâu mất tích ngay trong cuộc hành quân. Xã kiểm điểm sâu sắc thái độ của T. và qua đó cũng đã kiểm điểm gia đình T., bố mẹ và vợ của T. đã không giáo dục T. bản lĩnh chính trị vững vàng, để xảy ra chuyện đáng tiếc. Đồng thời giao cho dân quân xã theo dõi động tĩnh ở phía gia đình T., nếu thấy T. trở về thì phải trình báo với xã ngay để động viên T. quay lại đơn vị.

Sau cuộc họp nặng nề ấy, không chịu nổi lời xì xầm bàn tán nhỏ to và ánh mắt ghẻ lạnh của những gia đình có con đi bộ đội. Cả việc hầu như tháng nào ở xã cũng nhận được giấy báo tử của trai làng đi bộ đội, và tổ chức những buổi lễ truy điệu lặng lẽ trong nỗi đau thương tột cùng của mọi người trong làng, bố T. phẫn uất nhục nhã mà thắt cổ tự vẫn.

Cha chết, chồng mang tiếng là đào ngũ không trở về, vợ T. sau một thời gian dài cầm cự ở làng, rồi không chịu nổi điều tiếng, không chịu nổi không khí trong làng một bên là những người lính thực sự đi chiến đấu và hy sinh ở chiến trường, một bên là chồng mình bặt vô âm tín, lại còn mang tội đào ngũ, vợ T. đã ôm con bỏ đi biệt xứ, chẳng ai biết là đi đâu. Còn lại một mình mẹ T. là vẫn cầm cự, vẫn một mực khẳng định, con trai bà là một chàng trai dũng cảm, nó không thể đào ngũ, nếu nó còn sống nhất định nó sẽ trở về.

Thời gian thấm thoắt trôi đi, khi cả ba cô con gái đã lấy chồng, thằng con trai thứ hai nhập ngũ rồi hy sinh ở chiến trường B, nỗi nhục trong một gia đình có con đào ngũ cũng đã vơi bớt. Sau giải phóng năm 1975, mẹ T. quyết định chống gậy đi tìm con trai. Bà báo cáo với xã, nói với các con, với bà con chòm xóm rằng, nếu bà không tìm được thằng T. trở về, bà chết không nhắm mắt.

Sau này, một số người biết chuyện đã kể lại rằng bà T. đã không đủ sức đến những nơi bà muốn đến, đó là các trại thương binh hay bất cứ chỗ nào có bộ đội, có những người lính thuộc đơn vị cũ của con trai bà, để hỏi cho ra lẽ. Hành trình dài với người mẹ đã trên 70 tuổi không chở nổi ước vọng mãnh liệt của bà là tìm bằng được đứa con yêu dấu của mình lưu lạc nơi nào, nếu có chết cũng phải có một nghĩa trang nào đó lưu danh tên tuổi của con bà. Bà đã không thể đi đến cùng trời cuối đất, bà T. đã gục chết trên một chuyến xe tốc hành.

Những người đồng hành trên chuyến xe của bà chỉ biết bà là một người mẹ đi tìm con, họ không biết bà ở đâu nên đã an táng cho bà ở ngay bên một cái nghĩa trang ở Quy Nhơn. Bà cô già kể trong nước mắt, rằng gia đình các con làm ăn lưu lạc, chưa ai có điều kiện để vào Quy Nhơn bốc mộ mẹ về an táng nơi quê nhà. Còn chuyện của T., sau khi bà mẹ chết, từ đó không còn một ai hay biết tin tức về T. nữa. Câu chuyện về T. đã bị quên lãng cho đến một ngày tôi trở về làng và hỏi thăm T.

Thưa các anh, các chị. Thật sự tôi đã chết điếng người khi biết được những bi kịch đau lòng của người chiến sỹ mà tôi đã lấy bộ quân phục của anh. Và cái bi kịch đau đớn ấy không phải ai khác mà nguyên nhân là do tôi.

Trời ơi, ngay lúc đó, nghe chuyện của bà cô già kể, tôi đã phải chạy ra sau vườn để khóc. Những ám ảnh quá khứ, cho dù tôi đã dốc lòng cầu nguyện thì giờ đây bất chấp tất cả đã trở thành sự thật, giáng xuống cuộc đời tôi trong cuộc truy đuổi của số phận không biết đâu là điểm dừng. Tôi thấy đất dưới chân mình sụm xuống, bao nhiêu dự cảm, hy vọng và sợ hãi đã bất ngờ ập đến, đốn ngã tôi trong phút chốc. Tôi cảm nhận đến tận cùng nỗi cay đắng của cuộc đời mình. Tôi không thể nói gì hơn, tôi còn biết làm gì nữa.

Tôi hỏi thăm địa chỉ của vợ T. để đến thăm hai mẹ con cô ấy nhưng cô ấy đã ôm con bỏ làng ra đi từ bấy đến nay không biết đi đâu. Tôi có lên UBND xã và hỏi về việc T. bị kết tội đào ngũ. Tôi đã không biết nói gì hơn khi giấy trắng mực đen của đơn vị T. báo về địa phương là T. đào ngũ. Không tìm được T. lúc này, tôi biết nói gì đây, ai có thể tin tôi, một người xa lạ không có lấy một bằng chứng trong tay.

Mười hai ngày phép của tôi đã hết. Tôi trở lại cơ quan làm việc, trong lòng vô cùng buồn bã. Thú thực lúc này, tôi không đoán định được T. còn sống hay đã chết. Nếu T. hy sinh ngay trong đêm ấy ven bờ sông Gianh thì phải có giấy báo tử về địa phương và cơ quan. Cho dù đào ngũ hay không đào ngũ thì cũng phải có giấy báo về việc chết. Đằng này chỉ báo là đào ngũ chứ không phải là mất tích. Vậy chắc chắn, T. còn sống, T. bị thương nặng nên đã được đưa vào một trạm phẫu nào đó ở chiến trường, và do nhìn thấy bộ quần áo thường dân T. mặc trên người, cùng với thẻ quân nhân nên ở đó người ta mới phán đoán là T. đào ngũ nhưng bị trúng đạn, người ta sẽ báo về cho đơn vị, và đơn vị báo về cho địa phương.

Vậy thì chắc chắn, những trạm phẫu dã chiến ở khu vực Vĩnh Linh, Quảng Trị, Quảng Bình chắc chắn người ta đã tiếp nhận trường hợp của T. Hy vọng dẫu le lói nhưng cũng đủ thắp lên niềm tin mãnh liệt trong tôi. Tôi quyết tâm bằng mọi giá, phải tìm được T., người chiến sỹ đã cùng tôi bị thương trong đêm hỗn chiến đó, người đã bị tôi tước đoạt bộ quần áo bộ đội và bỏ anh ta lại trong vòng xoáy của cuộc đời.

Những năm tháng trở về sau chiến tranh, do làm việc tích cực, uy tín của tôi rất cao ở trong nhà máy dệt. Từ công việc của một Trưởng phòng Tổ chức, tôi được đề bạt lên làm Phó Giám đốc và rồi là Giám đốc nhà máy dệt, Bí thư Đảng ủy cơ quan. Nói chung tôi rất có uy tín trong cơ quan. Hễ ai là con gia đình thương binh, liệt sỹ không có công ăn việc làm, đến cơ quan tôi, nếu tìm gặp được trực tiếp tôi, họ sẽ có ngay một cơ hội làm việc.

Tiếng lành đồn xa, uy tín của tôi lên đến cấp thành phố, UBND TP còn có ý điều động tôi rời khỏi nhà máy dệt lên làm việc trên Ủy ban nhưng tôi một mực chối từ. Tôi chỉ muốn xây dựng nhà máy dệt ngày một mạnh, tạo được thật nhiều công ăn việc làm cho nhiều người nghèo, gia đình chính sách. Tôi không có ham ước và nguyện vọng gì hơn.

Thật ra, ổn định công việc rồi, tôi cũng muốn dành thời gian để đi tìm lại người chiến sỹ mà tôi đã nợ ông cả cuộc đời. Ngay năm sau đó, đợt phép thứ hai, tôi dành cả trọn vẹn 2 tuần về lại Quảng Trị và đến tất cả những nơi mà trạm cứu thương đã từng đóng ở đó để lần tìm T. Song việc đầu tiên của tôi là quyết tâm đến Quy Nhơn, ngay nghĩa địa bên cạnh QL1A, hỏi thăm bà con địa phương, những người đã an táng và coi sóc phần mộ của bà cụ. Tôi đã lặng lẽ xin phép bà cô tự tay bốc mộ của bà cụ về quy tập lại trong nghĩa trang của xã, an táng bà cụ ngay cạnh ông cụ.

Lần đó, tôi đã quyết tâm thu xếp nhờ bà cô già và chính quyền địa phương xây mộ cho hai ông bà. Tôi nói tôi là bạn của T., và tôi biết chắc, T. không đào ngũ, tôi sẽ đi tìm bằng được T. trở về để chứng minh anh ấy không phải là người lính hèn khi ra trận. Làm xong phần việc phải làm ấy, tôi mới trở ra Quảng Trị để lần tìm T.

(Ảnh trong bài chỉ có tính chất minh họa – Civillawinfor)

SOURCE: CHUYÊN MỤC “CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT” TRÊN BÁO AN NINH THẾ GIỚI CUỐI THÁNG

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/chuyenkhotin/2008/7/52342.cand

GIÁO TRÌNH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Nhận thức cơ bản về doanh thương quốc tế. Mậu dịch quốc tế và đầu tư nước ngoài. Các lý thuyết kinh tế về ngoại thương, phát triển và đầu tư. Các tổ chức quốc tế. Hệ thống tiền tệ quốc tế, cán cân thanh toán quốc tế. Các ảnh hưởng về tài chính. Lực lượng kinh tế xã hội. Những ảnh hưởng của địa hình, văn hóa-xã hội. Lực lượng pháp lý, lao động. Quyền lực cạnh tranh, phân phối. Đánh giá, phân tích thị trường. Marketing quốc tế. Thủ tục và thực hiện xuất nhập khẩu. Quản lý tài chính. Hệ thống sản xuất. Kế hoạch chiến lược và mô hình tổ chức. Kiểm soát và bố trí cán bộ nhân viên. Những xu hướng và phương hướng mới.

NXB LAO ĐỘNG XÃ HỘI
LOẠI FILE :PDF
SỐ TRANG:534
TÁC GIẢ :NGUYỄN THÀNH DANH

DOWNLOAD

hoặc: http://www.ziddu.com/download.php?uid=ZrKclpmoa7OelOKnYqqhkZSrX6udl5ms2

(Civillawinfor trích dẫn từ: ngoinhachung.net)

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TS. ĐỖ NGÂN BÌNH – Khoa Pháp luật kinh tế ĐHL Hà Nội

Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006. Luật này quy định ba chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động là chế độ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHXH thất nghiệp. Theo quy định tại Điều 140, Luật BHXH sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2007, riêng các quy định về bảo hiểm tự nguyện sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2008, các quy định về bảo hiểm thất nghiệp sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2009. Sau đó, ngày 22/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2006/NĐ-CP cụ thể hoá các quy định về bảo hiểm bắt buộc trong Luật Bảo hiểm xã hội. Tiếp theo, ngày 30/1/2007, Bộ Lao động- Thương Binh và Xã hội ban hành Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 152/2006/NĐ-CP.

Như vậy, kể từ ngày 1/1/2007, các quy định trước đây[1] về bảo hiểm xã hội đối với người lao động sẽ không còn hiệu lực. Việc thi hành Luật bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành (như đã nêu trên) đang là vấn đề thu hút sự chú ý của đông đảo người lao động. Điều mà người lao động tại các doanh nghiệp quan tâm là với việc ban hành và chính thức thực hiện các quy định của Luật BHXH, quyền của người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội có những thay đổi gì đáng lưu ý?

Continue reading →

Tính chất đền bù của HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Đại học Luật Hà Nội

image Tính chất đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật dân sự. Tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất trong chế định hợp đồng dân sự. Hợp đồng mang tính đền bù là những hợp đồng mà trong đó một bên sau khi thực hiện nghĩa vụ cho bên đối tác sẽ nhận được những lợi ích vật chất ngược lại từ phía bên kia. Việc phân tích tính chất đền bù giúp xác định bản chất pháp lý của từng hợp đồng, từ đó áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh một cách chuẩn xác.

Dựa vào tính chất đền bù mà hợp đồng dân sự được chia thành ba nhóm: 1) Nhóm các hợp đồng luôn không đền bù; 2) Nhóm các hợp đồng có thể đền bù hoặc không đền bù; 3) Nhóm các hợp đồng luôn đền bù. Việc xếp mỗi hợp đồng thuộc nhóm nào dựa trên các quy phạm định nghĩa được quy định trong Bộ luật dân sự.

Continue reading →

TÍNH CHẤT ĐỀN BÙ CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Đại học Luật Hà Nội

image Tính chất đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật dân sự. Tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất trong chế định hợp đồng dân sự. Hợp đồng mang tính đền bù là những hợp đồng mà trong đó một bên sau khi thực hiện nghĩa vụ cho bên đối tác sẽ nhận được những lợi ích vật chất ngược lại từ phía bên kia. Việc phân tích tính chất đền bù giúp xác định bản chất pháp lý của từng hợp đồng, từ đó áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh một cách chuẩn xác.

Dựa vào tính chất đền bù mà hợp đồng dân sự được chia thành ba nhóm: 1) Nhóm các hợp đồng luôn không đền bù; 2) Nhóm các hợp đồng có thể đền bù hoặc không đền bù; 3) Nhóm các hợp đồng luôn đền bù. Việc xếp mỗi hợp đồng thuộc nhóm nào dựa trên các quy phạm định nghĩa được quy định trong Bộ luật dân sự.

Continue reading →

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC NGÀY 25 THÁNG 1 NĂM 1999 HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ QUYẾT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ NHÀ Ở ĐƯỢC XÁC LẬP TRƯỚC NGÀY 1/7/1991 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Ngày 20 tháng 8 năm 1998 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 58/1998). Để áp dụng đúng các quy định của Nghị quyết này, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số vấn đề sau dây:

I. VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ TRONG NGHỊ QUYẾT SỐ 58/1998

1. “Chủ sở hữu nhà ở” là người có quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với nhà ở theo quy định của pháp luật.

2. “Bên cho thuê, bên cho mượn, bên cho ở nhờ, bên bán, bên tặng cho nhà ở, các bên đổi nhà ở ” có thể là một trong những người sau đây:

a) Chủ sở hữu nhà ở;

b) Người thừa kế hợp pháp nhà ở (người thừa kế có thể trực tiếp giao kết hợp đồng tại thời điểm giao kết hoặc đương nhiên họ là bên cho thuê, bên cho mượn, bên cho ở nhờ, bên bán, bên tặng cho nhà ở, các bên đổi nhà ở tại thời điểm xảy ra tranh chấp);

Continue reading →

VĂN PHÒNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ

BẠN LÀ PHỤ NỮ? BẠN THUỘC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH? BẠN ĐANG GẶP KHÓ KHĂN TRONG TIẾP NHẬN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA MÌNH? CHÚNG TÔI XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU ĐẾN BẠN VĂN PHÒNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ – MỘT ĐỊA CHỈ TIN CẬY CÓ THỂ TƯ VẪN, TRỢ GIÚP ĐẢM BẢO CHO BẠN CÓ SỰ CÔNG BẰNG TRONG TIẾP CẬN CÔNG LÝ.

======= ***=======

our_people Văn phòng trợ giúp pháp lý cho phụ nữ được thành lập năm 2002, là đơn vị trực thuộc Cục trợ giúp pháp lý – Bộ tư pháp, được thành lập theo Quyết định số 123/QĐ-TGPL/2002 của Cục trưởng Cục TGPL – Bộ Tư Pháp

* Chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng: Tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ thuộc đối tượng chính sách

* Lĩnh vực hoạt động của Văn phòng: Tư vấn, trợ giúp pháp lý trên các lĩnh vực:

Dân sự và Tố tụng Dân sự

Hình sự và Tố tụng Hình sự.

Hành chính.

Hôn nhân và Gia đình.

Đất đai.

Lao động, chính sách.

* Hình thức hoạt động:

–  Trợ giúp trực tiếp tại trụ sở.

–  Trợ giúp qua điện thoại, thư, email…

–  Tổ chức các lớp trợ giúp lưu động định kỳ về các địa phương trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

– Phối hợp và cử luật sư bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng và chịu trách nhiệm về việc thanh toán chi phí luật sư.

* Đối tượng được nhận hỗ trợ pháp lý:

1. Phụ nữ nghèo.

2. Phụ nữ bị bạo lực gia đình.

3.  Phụ nữ là nạn nhân của tệ buôn bán phụ nữ.

4. Phụ nữ là đối tượng chính sách.

* Điều kiện để được hỗ trợ: Có xác nhận của chính quyền địa phương, giấy chứng nhận của cơ quan chức năng như công an, y tế…

* Lĩnh vực hỗ trợ: Tất cả các lĩnh vực trong phạm vi hoạt động của văn phòng.

* Kinh phí: Miễn phí

 Văn phòng làm việc trong giờ hành chính từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần

(trừ các ngày lễ, Tết…)

Địa chỉ: 503 – Hoàng Hoa Thám – Ba Đình – Hà Nội.

Điện thoại: 04.37612623 – 04.37614264.

Fax: 04.7612623.

Email: vptgplchophunu@yahoo.com.vn

 

 

LẠM DỤNG GIÁM ĐỐC THẨM

HỒ KHẢI HÀ

image 1. Con dao hai lưỡi

Cách đây không lâu, Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh một vụ tranh chấp mua bán nhà tại quận Bình Thạnh (TP.HCM). Hai bên có hợp đồng mua bán hẳn hoi. Hợp đồng còn cho phép họ có quyền đổi ý và bị chế tài tương ứng. Sau đó, bên bán ngưng không bán nữa. Tranh chấp, vụ việc được chuyển qua tòa.

Án kéo dài lê thê vì kháng nghị

Quá trình xét xử, các cấp tòa có những quan điểm khác biệt. Một quan điểm cho rằng bên bán phải tiếp tục hợp đồng để bảo vệ quyền lợi cho bên mua. Quan điểm khác thì cho rằng theo hợp đồng, các bên có quyền đổi ý và tòa phải tôn trọng thỏa thuận đó.

Vì lấn cấn này mà vụ án phải qua hai lần xử phúc thẩm, hai lần bị kháng nghị giám đốc thẩm rồi hai lần cấp giám đốc thẩm, hủy án, yêu cầu xử sơ thẩm lại. Tòa cứ xử đi xử lại như thế suốt… 14 năm! Hiện vụ án quay trở lại từ đầu khiến các đương sự ngao ngán. Họ than thở, chỉ một tranh chấp đơn giản, án phải kéo dài ngoài sức tưởng tượng, gây biết bao khó khăn, tốn kém về thời gian, công sức, tiền bạc của cả họ lẫn các cấp tòa.

Continue reading →

VỤ ÁN: Cha chồng, con dâu đi nhà nghỉ

HOÀNG VÂN

Cha chồng và nàng dâu lén lút “đi lại”, vi phạm đạo đức luân thường nhưng pháp luật lại không thể “đụng” tới.

Đã ở cái tuổi 64 nhưng ông Q. ở Gia Lâm (Hà Nội) vẫn một mực đề nghị TAND huyện này cho vợ chồng ông ly hôn. Lý do mà ông đưa ra là vợ ông không quan tâm chăm sóc, bắt ông ăn riêng, ngủ riêng, nhiều lần còn đóng đinh vào vỏ xe máy của ông để ngăn ông đi lại, làm mất quyền tự do của ông. Đã từ lâu ông bà sống ly thân. Bà ở tầng dưới, ông ở tầng trên, mỗi người một bếp. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, ông muốn chia tay để an phận tuổi già, đồng thời để hai bên khỏi cãi vã, gây mất trật tự khu phố…

Vì… cô con dâu

Tuy nhiên theo vợ ông Q., vợ chồng bà chung sống đầm ấm, hạnh phúc mấy chục năm qua và đã có với nhau năm mặt con, cháu nội, cháu ngoại cũng đủ đầy. Việc chồng bà muốn ly hôn lại xuất phát từ… cô con dâu.

Continue reading →

VỤ ÁN: CHA CHỒNG, CON DÂU ĐI NHÀ NGHỈ

HOÀNG VÂN

Cha chồng và nàng dâu lén lút “đi lại”, vi phạm đạo đức luân thường nhưng pháp luật lại không thể “đụng” tới.

Đã ở cái tuổi 64 nhưng ông Q. ở Gia Lâm (Hà Nội) vẫn một mực đề nghị TAND huyện này cho vợ chồng ông ly hôn. Lý do mà ông đưa ra là vợ ông không quan tâm chăm sóc, bắt ông ăn riêng, ngủ riêng, nhiều lần còn đóng đinh vào vỏ xe máy của ông để ngăn ông đi lại, làm mất quyền tự do của ông. Đã từ lâu ông bà sống ly thân. Bà ở tầng dưới, ông ở tầng trên, mỗi người một bếp. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, ông muốn chia tay để an phận tuổi già, đồng thời để hai bên khỏi cãi vã, gây mất trật tự khu phố…

Vì… cô con dâu

Tuy nhiên theo vợ ông Q., vợ chồng bà chung sống đầm ấm, hạnh phúc mấy chục năm qua và đã có với nhau năm mặt con, cháu nội, cháu ngoại cũng đủ đầy. Việc chồng bà muốn ly hôn lại xuất phát từ… cô con dâu.

Continue reading →

ÁN KINH TẾ TĂNG – MỪNG VÀ LO

HOÀNG YẾN

Án tăng không chỉ bởi nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp sẵn sàng “nhờ cậy” cơ quan tố tụng mà còn bởi không ít doanh nghiệp thiếu hiểu biết, thiếu tôn trọng pháp luật…

Theo báo cáo của TAND TP.HCM với Ban Pháp chế HĐND TP, năm 2007 án kinh doanh thương mại (án kinh tế) là 1.286 vụ, tăng gần 30% so với năm trước. Dù không tăng mạnh như năm 2006 (gần 50%) nhưng tính chất, mức độ tranh chấp ngày càng phức tạp.

Theo Chánh tòa kinh tế TAND TP Phan Gia Quí, năm nay án kinh tế phát sinh nhiều dạng tranh chấp mới cả về nội dung lẫn hình thức. Những dạng tranh chấp đang gia tăng là kinh doanh địa ốc, giao dịch điện tử, mua bán chứng khoán, chuyển nhượng kinh doanh… Trong các năm tới, dự đoán tranh chấp liên quan đến chứng khoán hoặc có yếu tố nước ngoài sẽ tăng đột biến. Đây là thử thách mới của ngành tòa án bởi giải quyết những tranh chấp này đòi hỏi phải nắm được kiến thức chuyên ngành, công nghệ, phải cập nhật các nguyên tắc quốc tế cũng như vận dụng pháp luật trong nước một cách hợp lý.

Continue reading →

TRANH CHẤP BẢN QUYỀN CHUYỆN TRANH: LONG TINH LÀ BIẾN THỂ TỪ TRẠNG TÝ?

THANH HẢI

Công ty Phan Thị “tố” họa sĩ Lê Linh đã sử dụng hình Trạng Tý trong bộ truyện Thần đồng đất Việt để xây dựng nhân vật Long Tinh trong bộ truyện Long Thánh.

image Năm 2006, giới truyện tranh xôn xao về vụ kiện khá hy hữu tranh chấp quyền tác giả bộ truyện tranh Thần đồng đất Việt giữa họa sĩ Lê Linh với Công ty Phan Thị. Trong khi vụ kiện trên chưa ngã ngũ thì ngày 5-5, Công ty Phan Thị đã gửi đơn đến NXB Trẻ và hai đơn vị phát hành là Công ty Trường Phát và Fahasha yêu cầu ngưng phát hành bộ truyện tranh Long Thánh của Lê Linh vì “họa sĩ Lê Linh đã tự ý sử dụng hình ảnh Trạng Tý (trong bộ truyện Thần đồng đất Việt) để xây dựng nhân vật Long Tinh mà không xin phép.

Continue reading →

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh tòa Dân sự, TAND TC

20071106032134_my rights and responsibilities I. Vài nét về công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam trong thời gian qua
1. Tình hình xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, không ngày nào không xuất hiện các thông tin về các trường hợp quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm phạm. Trong số đó, phải kể đến các bài báo về các vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, có nơi cả trăm người phải vào bệnh viện, sự lưu hành của các loại rau được trồng trong môi trường bị ô nhiễm, thịt gia súc, gia cầm của một số cơ sở sản xuất còn dư lượng kháng sinh, các chất tăng trọng, các loại hải sản có ướp chất độc hại, các loại mỹ phẩm kém chất lượng được bán trôi nổi trên thị trường, các loại giò chả có hàn the, phở, bún có phooc-môn, các loại rau quả được xử lý bởi hóa chất độc hại, các loại sữa kém chất lượng v.v.

Continue reading →

GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU TƯƠNG ĐỐI VÀ VÔ HIỆU TUYỆT ĐỐI

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Trường Đại học Luật Hà Nội

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý có ý thức thể hiện ý chí của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Để một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì giao dịch đó phải đáp ứng được một số các điều kiện do pháp luật quy định. Theo quy định tại Điều 131 BLDS thì một giao dịch dân sự được coi là có hiệu lực khi có hội tụ đồng thời bốn điều kiện sau:

“1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

2- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

4- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật”.

Về nguyên tắc nếu một giao dịch dân sự không đáp ứng được một trong bốn điều kiện nêu trên thì bị coi là vô hiệu (theo quy định tại Điều 136 BLDS). Thế nhưng trong giới các nhà nghiên cứu luật dân sự của Việt Nam hiện nay đang tồn tại một vấn đề tranh luận về trình tự bị coi là vô hiệu của giao dịch khi thiếu một trong bốn các điều kiện đó: Thế nào là vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối? Giao dịch dân sự vi phạm vào điều kiện nào thì áp dụng trình tự vô hiệu tuyệt đối, còn vi phạm điều kiện nào thì bị áp dụng trình tự vô hiệu tương đối?

Continue reading →

BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: RẮC RỐI LỐI ĐI CHUNG

PHAN GIA HI

Cha mẹ chia đất cho hai anh em, dành lối đi chung nhưng sau đó người anh rào bít, bảo muốn mở lối phải trả tiền, còn người em khăng khăng: Trường hợp này theo luật là khỏi trả!

Bà Nết và ông Trùm ở quận Bình Tân (TP.HCM) là anh em ruột. 20 năm trước, họ được cha mẹ chia cho hai lô đất kề nhau, ông Trùm ở phía ngoài, bà Nết phía trong. Trong tờ chia đất, người cha viết rằng giữa hai lô đất có “đường xe” (4 x 15 m, nằm phía trên cùng của mảnh đất) để người phía trong sử dụng đi ra đường công cộng.

Sau đó, ông Trùm được cấp “giấy đỏ” phần đất được chia, bao gồm cả “đường xe”. Đất của bà Nết thì được phân lô bán cho nhiều hộ khác. Ban đầu, mọi người vẫn qua lại trên “đường xe” sẵn có nhưng từ năm 2002, ông Trùm đã rào kín lại. Bà Nết yêu cầu anh mở lại lối đi thì ông Trùm bảo phải trả 50 triệu đồng ông mới mở cho một lối đi 2 x 15 m.

Continue reading →

PHỤ NỮ CŨNG BẠO HÀNH VỚI BẠN ĐỜI

HẢI HÀ 

imagevnexpress.net – Theo kết quả cuộc điều tra đầu tiên về gia đình Việt Nam, được công bố ngày 26/6, cứ 100 bà vợ thì có khoảng 2 người ép chồng làm chuyện chăn gối khi anh ta không có nhu cầu.

Cuộc điều tra này do Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Tổng cục thống kê, Viện Nghiên cứu gia đình & giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc thực hiện trên 9.300 hộ gia đình tại 64 tỉnh thành.

Kết quả cho thấy, các hình thức bạo lực gia đình như đánh, mắng chửi, nhục mạ, ép quan hệ tình dục… hiện diện ở hơn 21% số cặp. Không chỉ nam giới mà ngay cả phụ nữ cũng có hành vi bạo hành với bạn đời. Trong khi có 7,2% các ông chồng ép vợ quan hệ tình dục, thì tỷ lệ này ở các bà vợ là 1,6%. Tỷ lệ nam giới đánh vợ cao gấp 6 lần phụ nữ đánh chồng. Với hành vi mắng chửi bạn đời, phụ nữ chỉ thua kém đàn ông 2 lần.

Continue reading →

QUI ĐỊNH VỀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI SỞ HỮU NHÀ TẠI VIỆT NAM

image LỆ HẰNG – Bộ Tư pháp

Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Theo đó, cá nhân, các tổ chức nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam được mua, sở hữu căn hộ tại chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại trong thời hạn tối đa là 50 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất (đối với cá nhân nước ngoài), và thời hạn tương ứng với thời hạn ghi trong giấy chứng nhận đầu tư cấp cho doanh nghiệp (đối với tổ chức nước ngoài).

Có 5 đối tượng được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam gồm: cá nhân có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam; người nước ngoài có công đóng góp cho Việt Nam được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương; người nước ngoài có đóng góp đặc biệt cho Việt Nam do Thủ tướng quyết định; người nước ngoài đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội có trình độ đại học hoặc tương đương trở lên và người có kiến thức, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư không có chức năng kinh doanh bất động sản, có nhu cầu về nhà ở cho những người đang làm việc tại doanh nghiệp đó.

Continue reading →

NHƯNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA ĐẦU TƯ CHỨNG KHÓAN

LAN HƯƠNG

imageĐầu tư chứng khoán là chuyển hoá nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thành vốn đầu tư dài hạn có lợi cho việc huy động tập trung vốn. Thông qua thị trường chứng khoán, hoạt động này phân bổ một cách hữu hiệu các nguồn lực, thực hiện phân phối hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn xã hội, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn…

Trước mắt ở nước ta, trong quá trình xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì đầu tư chứng khoán có một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển sức sản xuất xã hội, chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các đơn vị kinh tế. Đây cũng là con đường mà các nhà đầu tư sử dụng vốn nhàn rỗi để đạt được lợi ích hợp pháp, có hiệu quả. Bài viết này tác giả muốn giới thiệu những nguyên tắc cơ bản của đầu tư chứng khoán để bạn đọc, đặc biệt là những ai thực sự quan tâm để trở thành nhà đầu tư chứng khoán có thể tối thiểu hoá được rủi ro và tối đa hoá được lợi ích.

Continue reading →