LUẬT VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

Đã được sửa đổi, bổ sung bằng luật số:

– 3382 ngày 31/12/1986

-4043 ngày 31/12/1988

– 4395 ngày 22/11/1991

– 4961 ngày 4/8/1995

– 5430 ngày 13/12/1997

 

CHƯƠNG I – NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1: Mục đích

Luật này quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, nhân sự và những vấn đề khác của cơ quan công tố.

Điều 2: Viện công tố

1. Văn phòng Công tố có nhiệm vụ giám sát tất cả mọi hoạt động của các Công tố viên

2. Các Văn phòng Công tố bao gồm: Viện công tố tối cao, Viện công tố cấp cao và Viện công tố cấp quận.

Continue reading →

LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN PHÁP

PHẦN QUI ĐỊNH – CÁC NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ

Chương II: Viện Công tố bên cạnh Toà phá án

Điều R132-1

Chức năng của Viện công tố được giao cho cá nhân Viện trưởng Viện Công tố.

Viện trưởng Viện Công tố sẽ chỉ đạo các công tố viên  tham gia thực hiện các chức năng này.

Điều R132-2

Viện trưởng phân công các phó Viện trưởng và các công tố viên quản lý những phân toà mà Viện trưởng Viện Công tố cho rằng hoạt động của họ ở đó có hiệu quả nhất.

Viện trưởng Viện Công tố có thể uỷ quyền cho các công tố viên tự do phát biểu trước phiên toà.

Điều R132-3

Đối với các vụ việc quan trọng, công tố viên phải  trao đổi với Viện trưởng về kết luận của mình.

Trường hợp Viện trưởng không đồng ý với  kết luận của công tố viên nhưng công tố viên vẫn kiên định bảo lưu ý kiến thì Viện trưởng có thể uỷ quyền cho một công tố viên khác hoặc tự mình phát biểu trước toà.

Continue reading →

VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

NÔNG XUÂN TRƯỜNG – Viện khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Pháp luật hình sự truyền thống của Hàn Quốc được bắt đầu từ kỷ nguyên Gochosun (2333-108 trước Công nguyên), triều đại cổ xưa đầu tiên trong lịch sử của mình với đạo luật về 8 điều cấm.

Sau đó, các triều đại kết tiếp đã có những cơ quan của riêng mình để thực hiện nhiệm vụ truy tố như Cơ quan Eosadae trong triều đại Koryo (936-1391 sau Công lịch) và Saheonboo trong triều đại Chosun (1392-1910 sau công nguyên). Đặc biệt, trong triều đại Chosun có một cơ quan đặc biệt có tên là Euigumboo để duy trì sự công bằng và điều tra một cách không thiên vị các tội phạm do Hoàng Gia cáo buộc.

Tiếp đó, mặc dù chức năng truy tố và xét xử vẫn chưa được phân chia trong việc giải quyết các vụ án như những quốc gia trong thời kỳ tiền hiện đại trên thế giới, nhưng nguyên tắc xét xử theo 3 cấp đã được thiết lập nhằm tìm hiểu thận trọng những tình tiết thực tế và phương án giải quyết tối ưu vụ án. Nguyên tắc cơ bản này rất tương đồng với nguyên tắc về tính hợp pháp trong luật hình sự hiện đại bao trùm lên toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự , đặc biệt là ở triều đại Chosun.

Continue reading →

KHÔNG CHỈ LÀ THÁO GỠ MÀ GIẢI TỎA CẢ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN GÁC LẠI

VŨ DUY THÁI – Chủ tịch Hiệp hội công thương TP Hà Nội

      Nét nổi bật của Luật Đất đai năm 2003:

(i) Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện chủ sở hữu, có quyền định đoạt, hưởng lợi và điều tiết việc sử dụng đất đai. Điều này cũng có nghĩa là các quyền của người được giao đất, cho thuê đất… trước đó – được thực hiện gần như quyền sở hữu – nay bị giới hạn trong một khuôn khổ pháp lý nhất định. Tuy nhiên, người được quyền sử dụng đất hợp pháp, vẫn được chuyển đổi, chuyển dịch, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Song, những giao dịch này phải có chứng từ hợp pháp, và phải được phép hoặc phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để khẳng định vai trò quản lý của nhà nước đối với đất đai, cho dù đất đai ấy đã được nhà nước giao, cho thuê, hay cho phép nhận lại quyền sử dụng của người khác… đều có nghĩa vụ khai báo và làm nghĩa vụ tài chính với nhà nước theo qui định của pháp luật mới được bảo hộ!

(ii) Luật Đất đai 2003 chưa coi đất đai là hàng hóa, nhưng đã thừa nhận quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt, có thể chuyển dịch được, nhờ đó mà hình thành thị trường bất động sản – dù ở mức sơ khai, song đã mở đường cho các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh thị trường mới mở này.

Continue reading →

CÒN NHIỀU ĐIỀU MÙ MỜ CHUNG QUANH QUY ĐỊNH VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – BaoViet Bank

Là đạo luật đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta, nhưng Luật Đất đai vẫn luôn ở trong tình trạng phức tạp, rối ren và bất cập.
1.      Cần loại bỏ khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất:
Khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003 đã bị “vô hiệu hoá”. Vì theo Bộ luật Dân sự năm 2005, chỉ còn thế chấp, chứ không còn bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Dùng quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho mình hay cho người khác thì cũng đều được gọi chung là thế chấp. Vì vậy, đề nghị khai tử 44 chữ “bảo lãnh” trong Luật hiện hành.
Hai luật vênh nhau làm cho Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 về giao dịch bảo đảm phải quy định: Việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai được chuyển thành việc thế chấp quyền sử dụng đất.
2.      Phải trả lại quyền chính đáng cho chủ đất:
Dự luật đã sửa đổi một quy định bất hợp lý tại khoản 7, Điều 113 của Luật hiện hành là: Hộ gia đình và cá nhân chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất “để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (không được thế chấp để phục vụ nhu cầu đời sống, kể cả vay vốn để học tập hay trị bệnh cứu người) bằng việc được thế chấp “theo quy định của pháp luật về dân sự” (khoản 33, Điều 1 của Dự thảo). Tuy nhiên, Dự luật vẫn không sửa đổi quy định tại khoản 2, Điều 110 của Luật hiện hành là: Tổ chức kinh tế chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng “để vay vốn”. Vậy, tại sao lại không được thế chấp để được bảo lãnh, mở L/C, bao thanh toán hay rộng hơn nữa là để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại của tổ chức kinh tế?

Continue reading →

TÀI SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

NGUYỄN TIẾN MẠNH – HC 29A- ĐHL TP HCM (PHÒNG PHÁP CHẾ NHTMCP ĐÔNG Á)

Hiện nay, việc thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai lại là một hình thức thế chấp khá phổ biến hiện nay ở các NHTM và nhiều Ngân hang gặp vướng mắc trong việc đăng ký GDBD đối với tài sản hình thành trong tương lai. Trong phạm vi bài viết này tác giả mong muốn một phần đóng góp, chia sẻ kiến thức pháp luật về vấn đề trên.

Cơ sở pháp lý: Điều 4 Nghị định 163/2006; Điều 342BLDS 2005; 07/2003/TT-NHNN; điều 46, 47 luật công chứng 2006; Công văn so 2057/BTP-HCTP

I. Khái niệm.

1. Định nghĩa:

Theo quy định tại Điều 342 của Bộ luật dân sự thì tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai. Và theo định nghĩa tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm thì: “ Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”.

Continue reading →

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN

CHÍ LINH

Theo Thông tư số 13/2008/TT – BXD ngày 21/5/2005 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản thì một số quy định trong kinh doanh bất động sản được thực hiện như sau:

1. Về trình tự, thủ tục xác nhận vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp.

  Các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản thành lập mới hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) có nhu cầu bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản, ngoài các hồ sơ theo quy định về thủ tục đăng ký kinh doanh thì phải có thêm văn bản xác nhận về vốn gửi đến cơ quan cấp đăng ký kinh doanh để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản theo quy định như sau:

a. Đối với doanh nghiệp thành lập mới thì hồ sơ xác nhận vốn pháp định gồm có: Biên bản góp vốn của các cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần hoặc của các thành viên sáng lập đối với công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có từ hai thành viên trở lên; quyết định giao vốn của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu là một tổ chức; bản đăng ký vốn đầu tư của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân và đối với công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu là cá nhân.

Continue reading →

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT đối với việc hình thành và phát triển đạo đức ở nước ta hiện nay

LÊ THỊ TUYẾT BA (Tạp chí Triết học)

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nềnđạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức.

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước.

Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau. Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyển. Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội.

Continue reading →

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LÊ THỊ TUYẾT BA (Tạp chí Triết học)

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nềnđạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức.

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước.

Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau. Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyển. Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội.

Continue reading →

Kinh tế thị truường và công dân như một hệ thống: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

VŨ QUANG PHIỆT –  Ph.d. kinh tế, New York University

Bài viết này thử nhìn kinh tế thị trường và xã hội công dân như một hệ thống và điểm lại tình hình Việt Nam qua một số kết qủa nghiên cứu của tác giả về kinh tế Việt Nam đã xuất bản hoặc mới chỉ phổ biến hạn hẹp trong vòng bạn bè.Trong bài này, nguồn tài liệu trực tiếp có thể tìm ở các bài của tác giả đánh số để trong [] để ở phần tham khảo cuối bài này.

Những ý chính của bài này như sau:

• Xã hội công dân cần có thể chế bảo đảm con người tự do phát huy khả năng của mình mà vẫn giữ được sự đồng thuận xã hội về lý tưởng cao cả nhất là: bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam (1945).

• Về mặt kinh tế, kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân, dù với những hạn chế của nó, vẫn có thể là thể chế xã hội hữu hiệu nhất để công dân có thể tự do phát huy khả năng nếu như nhà nước thực hiện trách nhiệm bổ sung những gì mà kinh thị trường và sở hữu tư nhân không thể giải quyết đuợc nhằm đưa xã hội tiến gần tới những lý tưởng trên.

Continue reading →

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ CÔNG DÂN NHƯ MỘT HỆ THỐNG: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

VŨ QUANG PHIỆT –  Ph.d. kinh tế, New York University

Bài viết này thử nhìn kinh tế thị trường và xã hội công dân như một hệ thống và điểm lại tình hình Việt Nam qua một số kết qủa nghiên cứu của tác giả về kinh tế Việt Nam đã xuất bản hoặc mới chỉ phổ biến hạn hẹp trong vòng bạn bè.Trong bài này, nguồn tài liệu trực tiếp có thể tìm ở các bài của tác giả đánh số để trong [] để ở phần tham khảo cuối bài này.

Những ý chính của bài này như sau:

• Xã hội công dân cần có thể chế bảo đảm con người tự do phát huy khả năng của mình mà vẫn giữ được sự đồng thuận xã hội về lý tưởng cao cả nhất là: bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam (1945).

• Về mặt kinh tế, kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân, dù với những hạn chế của nó, vẫn có thể là thể chế xã hội hữu hiệu nhất để công dân có thể tự do phát huy khả năng nếu như nhà nước thực hiện trách nhiệm bổ sung những gì mà kinh thị trường và sở hữu tư nhân không thể giải quyết đuợc nhằm đưa xã hội tiến gần tới những lý tưởng trên.

Continue reading →

"THI HÀNH ÁN TƯ NHÂN" CÓ QUYỀN CẦM ROI ĐIỆN?

LÊ DÂN (Theo Dân Trí)

Xã hội hóa trong thi hành án dân sự được kỳ vọng sẽ làm giảm đáng kể lượng án tồn. Theo dự thảo luật Thi hành án dân sự, các cá nhân nếu có đủ điều kiện của pháp luật thì được cấp giấy phép hành nghề thi hành án.

Không nên đặt vấn đề xã hội hoá thi hành án trong Luật Thi hành án dân sự (ảnh minh hoạ).

Đây là một trong những nội dung “nóng” sẽ được Quốc hội thảo luận cả ngày hôm nay 23/5, ngay sau khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trình bày Tờ trình dự án luật Thi hành án dân sự và Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp của Quốc hội Lê Thị Thu Ba trình bày Báo cáo thẩm tra dự án luật Thi hành án dân sự.

12 điểm mới

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ngày 19/4, năm 2007 có 311.443 án dân sự tồn đọng, không thi hành được, chiếm 48% số vụ việc.

Bộ Tư pháp cho rằng nguyên nhân chính là do cơ quan thi hành án bị cắt khúc khỏi tòa án, thiếu tập trung, thống nhất trong quản lý, điều hành, chưa ngang tầm với chức năng được giao, thủ tục, trình tự còn nhiều bất cập.

Continue reading →

BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ BẰNG TIỀN VAY CỦA VỢ CHỒNG

TRẦN QUANG MINH – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Trong hoạt động bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, có nhiều trường hợp, các tổ chức này thực hiện việc cho vay đối với khách hàng vay là người đã có vợ hoặc chồng. Trong những trường hợp này, các cán bộ tín dụng thường gặp khó khăn trong việc xác định số tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng hay không? Các hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay chỉ cần sự tham gia ký kết của người đi vay hay cần có sự tham gia ký kết của cả hai vợ chồng? Việc đăng ký giao dịch bảo đảm trong trường hợp này sẽ được thực hiện như thế nào?

 

 

 

 Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được giải đáp những thắc mắc nêu trên căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành nói chung và những quy định mới nhất của pháp luật về giao dịch bảo đảm nói riêng, qua đó, hy vọng góp phần giúp cho hoạt động cho vay và bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật và an toàn.
1. Việc xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay là tài sản thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng
Để xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng, chúng ta cần phải căn cứ vào những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị định số 70). Trong những văn bản nêu trên, có những quy định sau đây liên quan đến vấn đề này: Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 37/2006/DS-GDT NGÀY 06 THÁNG 11 NĂM 2006 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VỤ ÁN: "TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 06 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản (đòi nhà cho ở nhờ) và tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hàng Nguyệt Hoa, sinh năm 1930;

Trú tại: nhà số 492, đường Thống Nhất, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Sử Chấn Quang, s inh năm 1953;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (hiện đang định cư tại Mỹ).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Sử Thị Đẩu, sinh năm 1927;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2. Ông Sử Chấn Hùng, sinh năm 1945 (hiện đang định cư tại Mỹ); uỷ quyền cho anh Sử Chấn Quang đại diện tham gia tố tụng.

3. Bà Sử Thị Vàng, 93 tuổi (đã chết); hiện chưa xác minh được địa chỉ gia đình bà Vàng.

4. Ông Sử Văn Mà, sinh năm 1944 (đã chết); gia đình ông Mà đang trú tại: khu phố 2, phường Đông Hải, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

5. Ông Đào Thân Diệu (Đào Tỷ), sinh năm 1945;

Trú tại: nhà số 490, đường Thống Nhất, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

6. Bà Hàng Quỳnh Hoa, sinh năm 1928;

Trú tại: tổ 7, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Continue reading →

MUỐN BÁN NHÀ, MẸ PHẢI HỎI Ý KIẾN CON?

THỤY CHÂU

Chồng chết, vợ bán một phần nhà, đất. Tòa sơ thẩm chấp thuận nhưng tòa phúc thẩm lại buộc người vợ phải hỏi ý các con.

Căn nhà hơn 115 m2 của vợ chồng cụ L. (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) nằm trên diện tích đất hơn 185 m2. Năm 1969, chồng cụ L. mất không để lại di chúc. Họ có bảy người con chung, trong đó có năm người đang định cư ở Úc. Tháng 8-1996, cụ L. và hai người con ở Việt Nam ký giấy bán một phần nhà và đất nói trên (gần 90 m2 nhà và gần 130 m2 đất) cho vợ chồng ông T. với giá hơn 26 lượng vàng. Việc mua bán có xác nhận của Phòng Công chứng tỉnh Khánh Hòa.

Các bên thỏa thuận thanh toán làm ba đợt. Đợt một, bên mua trả cho bên bán hơn 21 lượng vàng ngay ngày ký giấy mua bán. Đợt hai, bên mua sẽ giao tiếp bốn lượng vàng khi nhận giấy chứng nhận năm chữ ký đồng ý bán nhà của những người con ở Úc. Một lượng vàng còn lại sẽ được bên mua thanh toán khi hoàn tất thủ tục trước bạ, sang tên.

Sơ thẩm: Không cần con đồng ý

Đến tháng 1-1997, cụ L. đã nhận cả thảy hơn 22 lượng vàng từ bên mua. Vợ chồng ông T. cũng an cư trong căn nhà được nhiều năm. Tháng 5-2004, cụ L. và năm người con ở Úc bỗng có đơn kiện vợ chồng ông T. ra tòa.

Continue reading →

13 LỖI SƠ ĐẲNG TRONG XIN VIỆC

Bạn đã có một bộ hồ sơ hoàn hảo, và thậm chí có cả một cuộc phỏng vấn nho nhỏ qua điện thoại khá thành công? Tuy nhiên chỉ cần một sơ xuất nhỏ, mọi nỗ lực của bạn cũng có thể bị tiêu tan.

Phỏng vấn là khâu rất quan trọng và căng thẳng nhất trong quá trình tìm kiếm công việc. Phỏng vấn đòi hỏi bạn phải đối mặt trực tiếp với nhà tuyển dụng và thể hiện mọi khả năng của mình. Vì thế, làm bất cứ điều gì không cẩn trọng cũng có thể dẫn đến sai sót, ngay cả những lỗi nhỏ nhất. Nhưng chúng hoàn toàn có thể khắc phục được nếu bạn có sự chuẩn bị kỹ càng.
Hãy chắc rằng bạn sẽ có một cuộc phỏng vấn thành công nếu tránh được 13 lỗi sơ đẳng sau:
1. Đến muộn:
Nếu đã được nhà tuyển dụng nói rõ địa điểm phỏng vấn và bạn cũng đã xem trước bản đồ, hãy mang theo đồng hồ và rời nhà sớm. Nếu có điều gì không may xảy ra, bạn không thể đến đúng giờ, hãy gọi cho người phỏng vấn và xin sắp xếp một buổi phỏng vấn khác.

Continue reading →

6 BƯỚC ĐỂ BẠN TÌM RA CÔNG VIỆC THỰC SỰ MONG MUỐN

NHƯ QUỲNH

Ngày nay, phụ nữ không còn đi làm chỉ để kiếm tiền, họ hoàn toàn có quyền lựa chọn công việc mà mình thật sự yêu thích và phát huy hết năng lực. Nếu bạn cũng là phụ nữ và bạn đang phải làm một công việc tẻ nhạt, không đúng với sở thích, năng lực của mình? Hãy thay đổi! Sau đây là 6 bước cơ bản, giúp bạn có thể tìm ra một công việc bạn thật sự yêu thích.

1. Đầu tiên hãy khám phá chính bản thân mình. Hãy dành thời gian để đánh giá lại những giá trị của chính con người bạn như bạn yêu thích công việc đến mức độ nào, bạn đang bị bắt buộc phải làm không công những việc gì… Hãy nghiên cứu xem những công việc nào, những lĩnh vực nào phù hợp với khả năng và sở thích của bạn. Hãy truy cập internet, đăng kí những buổi phỏng vấn để tìm kiếm thông tin, tham gia những khoá học về tư vấn nghề nghiệp, sắp xếp để tới tham quan một công ty làm về lĩnh vực mà bạn lựa chọn… Điều này sẽ giúp bạn giải mã được chính con người mình và điều này vô cùng quan trọng để bạn có thể thành công trong cuộc sống.

Continue reading →

KHI TÒA XEM NGƯỜI SỐNG… NHƯ ĐÃ CHẾT

VŨ PHƯƠNG THẢO

TAND quận Hải Châu (Đà Nẵng) đã ra một quyết định vi phạm cả về thủ tục tố tụng và xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân…

Tòa xử sai

Ngày 19.1.2004, TAND quận Hải Châu đã đưa ra xét xử vụ ly hôn giữa anh Lưu Hoàng Long và chị Phạm Thị Hoàng Yến. Theo Quyết định 04/DSST ngày 19.1.2004, TAND quận Hải Châu công nhận sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận chị Yến nuôi con chung là Lưu Hoàn Mỹ đến tuổi trưởng thành. Đáng lưu ý là tại phần 3 của quyết định này, về tài sản chung, tòa quyết định giao ngôi nhà và đất tại 122 Núi Thành (Đà Nẵng) cho cháu Lưu Hoàn Mỹ được quyền sở hữu và sử dụng khi đủ 18 tuổi. Trên thực tế, đây là căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Lưu Quý Thảo và bà Nguyễn Thị Oai (cha mẹ anh Long). Trước đó, ông Thảo – bà Oai đã lập di chúc cho vợ chồng anh Long căn nhà này.

Continue reading →

ĐẠI DIỆN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
—————————————-

Đề tài : ĐẠI DIỆN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Giáo viên hướng dẫn :TS. NGÔ HUY CƯƠNG
Sinh viên thực hiện : CAO VĂN TUÂN
Lớp : K50 B-Luật học

Hà Nội-5/2008

Lời cảm ơn
Tôi xin cảm ơn cha mẹ tôi, bạn bè cùng lớp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, xin cám ơn tập thể lớp k50 B một tập thể học tốt , chia sẻ , giúp đỡ tôi hoàn thành bài viết này. Xin cám ơn thầy Ngô Huy Cương người đã tạo hứng thú và niềm say mê học hỏi nghiên cứu cho chúng tôi.

Phạm vi bài viết

Bài viết không chủ đích làm rõ tất cả các vấn đề về đại diện mà chỉ đi sâu vào làm rõ vấn đề đại diện theo uỷ quyền. Việc giao kết, xác lập, thực hịên hợp đồng của người uỷ quyền và người đại diện. Bài viết đi vào làm rõ quan hệ đại diện trong giao kết hợp đồng thì nó sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý gì, trách nhiệm của các bên liên quan ra sao. Bài viết cũng giúp người ta hiểu được địa vị pháp lý của mình là ở đâu trong quan hệ đại diện. Bài viết không nghiên cứu vấn đề đại diện theo pháp luật: đại diên cho người chưa thành niên, đại diện theo pháp luật của một pháp nhân.

Continue reading →