HÓA GIẢI BA NGHỊCH LÝ

TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội Trong lịch sử đấu tranh với lạm phát ở Việt Nam từ năm 1976 đến nay, ngành ngân hàng đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, trong các nguyên nhân của động thái lạm phát tiêu cực diễn ra những năm 2007 và 2008 ở nước ta, không thể không nhận thấy những bất cập của các chính sách tiền tệ, cũng như của bản thân ngành ngân hàng.

 

 

Những bất cập này thể hiện ở việc điều hành tỷ giá, ở chính sách cung tiền và quản lý ngoại tệ, ở các hoạt động tín dụng và ở chính sách lãi suất… từ đó gây ra 3 nghịch lý sau đây:

Đồng tiền Việt Nam bị định giá quá cao

Continue reading

NỖI KHỔ XE ĐẠP ĐIỆN

NGUYỄN HẢI

Anh X.V ở huyện Gia Lâm (Hà Nội) vừa mua được chiếc xe đạp điện. Những ngày đầu đưa về thấy tiện dụng, anh đi khoe khắp hàng xóm láng giềng: nào là giá rẻ, lại chẳng phải phiền phức đăng ký giấy tờ, bằng lái, mà khi cần, tốc độ cũng 35 km/h chứ có kém gì mấy anh xe máy tàng tàng đâu. Nếu chẳng may hết ắc quy giữa đường thì đạp chân như xe đạp, vẫn khỏe re.

Nhưng một buổi anh X.V phóng chiếc xe đạp điện sang cơ quan làm việc. Đến khi vừa lên khỏi chân cầu Chương Dương – Bắc sông Hồng thì chết máy do trục trặc ắc quy. Vừa lúc anh chuyển sang dùng chân đạp thì viên Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe, bắt quay lại đi sang cầu Long Biên- cầu dành riêng cho người đi bộ và các phương tiện thủ công, trong đó có xe đạp. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như không có chuyện hài xảy ra tiếp theo. Số là khi anh X.V đang chạy trên cầu Long Biên thì chiếc ắc quy điện khởi động trở lại. Mừng hú, anh liền chuyển sang tay ga, vừa đi vừa ngắm sông Hồng đỏ cuộn. Chết nỗi đang lúc cao hứng, một viên Cảnh sát làm nhiệm vụ hướng dẫn giao thông “túm” được “xe có động cơ” chạy “lậu” trên cầu, buộc anh phải quay trở lại cầu Chương Dương- dành cho xe cơ giới…

Continue reading

TÀI SẢN VÔ HÌNH

PHƯỚC CHUNG

1. Trong hơn 24 giờ thăm VN, tỷ phú Bill Gates đã tạo nên một khái niệm mới của giới trẻ về quan niệm bằng cấp, phương pháp học tập (để tạo ra những giá trị tài sản hữu hình và vô hình) trong tương lai. Nhưng cũng chính việc ký thoả thuận với Bộ Tài chính về việc dùng bản quyền Windows cho các máy tính tại Bộ này đã khiến các cơ quan quản lý nhà nước một lần nữa phải xem lại vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ khi các nhà đầu tư tìm đến chúng ta.

2. “Vừa qua, trong hội chợ Hàng VN chất lượng cao năm 2006 tại An Giang, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, khu vực dành cho “20 thương hiệu hạt giống” có một DN không đạt danh hiệu HVNCLC vẫn được tham gia. Điều này, về phía người tiêu dùng có thể gây sự ngộ nhận, nhầm lẫn về chất lượng và uy tín của sản phẩm tham gia trưng bày tại hội chợ. Về phía DN có thể tạo cảm giác không rõ ràng, đánh đồng giữa các DN đạt và không đạt HVNCLC. (Trích Ý kiến đóng góp Chương trình HVNCLC).

Continue reading

TÀI SẢN VÀ VIỆC MƯU CẦU HẠNH PHÚC

Thưa tiến sĩ Adler,

John Locke viết ra câu về quyền của con người được có “cuộc sống, tự do và tài sản.” Nhưng khi Thomas Jefferson viết Tuyên ngôn Độc lập, ông ta đã đổi câu này thành “cuộc sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc.” Phải chăng Jefferson muốn truyền đạt một sự phân biệt quan trọng khi ông ta thay đổi như vậy? Hoặc phải chăng là có mối liên hệ nào đó giữa quyền sở hữu tài sản và quyền mưu cầu hạnh phúc?

W.F.H.

W.F.H. thân mến,

Câu hỏi của bạn thật tuyệt vời. Thoạt nhìn ta thấy chẳng có liên hệ gì lớn giữa quyền sở hữu tài sản và quyền mưu cầu hạnh phúc. Do đó khi lấy cái này thay cho cái kia, thì nó có vẻ như một sự thay đổi kỳ quái. Tuy nhiên, ta hãy khảo sát các thuật ngữ và xem liệu ta có thể hiểu ra điều Jeffersoncố gắng làm hay không.

Từ “tài sản” do Locke sử dụng có hai nghĩa. Thứ nhất, ông ta muốn nói tới tất cả mọi thứ mà con người có được nhờ quyền tự nhiên của họ, đặc biệt là cuộc sống, tự do và điền sản. Với Locke, việc “bảo vệ tài sản,” trong nghĩa tổng quát này, miêu tả một mục tiêu bao trùm của chính quyền dân sự.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN TẮC CẦN NHỚ TRONG QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ

DDDNTheo thống kê, hiện nay mới có khoảng 10% doanh nghiệp Việt Nam biết tự bảo vệ mình thông qua việc đăng ký bảo hộ quyền SHTT. Phần lớn các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc bảo hộ các đối tượng SHTT và chỉ khi xảy ra tranh chấp, họ mới nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của tài sản SHTT.

Vậy, làm sao để doanh nghiệp định hướng và xác định được những nội dung then chốt, cốt yếu trong chiến lược quản lý tài sản trí tuệ? Để trả lời được câu hỏi này, doanh nghiệp cần phải tiến hành những nghiên cứu sâu rộng, toàn diện phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần quan tâm trước hết đến 3 nội dung sau:

1. Xác định cụ thể mục tiêu mà doanh nghiệp cần đạt được hoặc hướng tới từ hoạt động quản lý tài sản trí tuệ của mình;

2. Xác định cụ thể vai trò, sức mạnh của từng đối tượng SHTT trong việc hỗ trợ thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

3. Lựa chọn và áp dụng chiến lược quản lý phù hợp để đạt được mục tiêu và doanh nghiệp đề ra.

Continue reading

LUẬT THUẾ THU NHẬP: CHƯA RA ĐÃ LẠC HẬU

VĨNH KHANG

4 triệu đồng là mức khởi điểm tính thuế thu nhập cá nhân (sẽ có hiệu lực từ 1/1/2009) đã bị nhiều ý kiến cho rằng sẽ “lạc hậu” ngay từ khi chưa đưa vào thực hiện. Điều này là hệ lụy của tình trạng lạm phát quá cao trong suốt 2 năm qua mà đỉnh điểm là những tháng đầu năm 2008. Thậm chí, có ý kiến cho rằng cần sửa đổi mức khởi điểm này theo hướng tăng cùng lạm phát.

Ngay tại thời điểm xây dựng Luật thuế Thu nhập cá nhân, đã có quá nhiều ý kiến chuyên gia phản biện rằng mức khởi điểm chịu thuế quá thấp. Đặc biệt, các mức thuế suất, giảm trừ gia cảnh… không tính đến yếu tố trượt giá. Lấy số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, VND đã mất giá 45,6% từ năm 2001 đến cuối năm 2007. Song đến nay, mức khởi điểm chịu thuế vẫn chưa được điều chỉnh. Chỉ tính riêng 4 tháng đầu năm 2008, tốc độ trượt giá đã lên tới trên 12% cộng với khoảng chừng đó nữa của năm 2007 đã khiến những lo ngại ngày càng nhiều. Theo tính toán của các chuyên gia, từ nay đến 2009, lạm phát sẽ không có xu hướng giảm, vì thế Luật thuế Thu nhập cá nhân sẽ ngày càng… lạc hậu.

Continue reading

Một số nội dung cơ bản của LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

NGUYỄN VĂN QUYNH

Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (số 05/2007/QH12), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008.

Trước khi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá nêu trên được ban hành, nước ta đã từng tồn tại một hệ thống căc văn bản quy phạm pháp luật khá đồ sộ quy định về vấn đề chất lượng sản phẩm, hàng hoá, bao gồm Pháp lệnh chất lượng hàng hoá (ban hành năm 1999) và các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan liên quan ban hành để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh trên. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về chất lượng chưa thống nhất và đồng bộ, đang ngày tỏ ra bất cập với yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong tình hình mới.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được ban hành là bước quan trọng góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng hướng vào mục tiêu nâng cao chất lượng của sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước, góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập; đổi mới vai trò điều tiết của Nhà nước kết hợp linh hoạt với điều tiết của thị trường nhằm định hướng và bảo đảm cho hoạt động chất lượng có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, giúp các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật trên cơ sở đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu, đồng thời, bảo vệ được lợi ích quốc gia và người tiêu dùng trong nước thông qua các biện pháp kiểm soát chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu; đổi mới cơ chế quản lý chất lượng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý kinh tế cũng như các tập quán quốc tế trong lĩnh vực chất lượng; bảo đảm tối đa quyền lợi người tiêu dùng thông qua cơ chế kiểm soát chất lượng chặt chẽ, toàn diện, kể cả các biện pháp mạnh từ phía Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng. Việc ban hành Luật này cũng nhằm tạo sự đồng bộ với hệ thống các quy định của Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được Quốc hội khoá X ban hành năm 2006 (Luật số 68/2006/QH11).

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

NGUYỄN VĂN QUYNH

Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (số 05/2007/QH12), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008.

Trước khi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá nêu trên được ban hành, nước ta đã từng tồn tại một hệ thống căc văn bản quy phạm pháp luật khá đồ sộ quy định về vấn đề chất lượng sản phẩm, hàng hoá, bao gồm Pháp lệnh chất lượng hàng hoá (ban hành năm 1999) và các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan liên quan ban hành để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh trên. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về chất lượng chưa thống nhất và đồng bộ, đang ngày tỏ ra bất cập với yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong tình hình mới.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được ban hành là bước quan trọng góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng hướng vào mục tiêu nâng cao chất lượng của sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước, góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập; đổi mới vai trò điều tiết của Nhà nước kết hợp linh hoạt với điều tiết của thị trường nhằm định hướng và bảo đảm cho hoạt động chất lượng có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, giúp các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật trên cơ sở đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu, đồng thời, bảo vệ được lợi ích quốc gia và người tiêu dùng trong nước thông qua các biện pháp kiểm soát chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu; đổi mới cơ chế quản lý chất lượng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý kinh tế cũng như các tập quán quốc tế trong lĩnh vực chất lượng; bảo đảm tối đa quyền lợi người tiêu dùng thông qua cơ chế kiểm soát chất lượng chặt chẽ, toàn diện, kể cả các biện pháp mạnh từ phía Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng. Việc ban hành Luật này cũng nhằm tạo sự đồng bộ với hệ thống các quy định của Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được Quốc hội khoá X ban hành năm 2006 (Luật số 68/2006/QH11).

Continue reading