TÀI SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

NGUYỄN TIẾN MẠNH – HC 29A- ĐHL TP HCM (PHÒNG PHÁP CHẾ NHTMCP ĐÔNG Á)

Hiện nay, việc thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai lại là một hình thức thế chấp khá phổ biến hiện nay ở các NHTM và nhiều Ngân hang gặp vướng mắc trong việc đăng ký GDBD đối với tài sản hình thành trong tương lai. Trong phạm vi bài viết này tác giả mong muốn một phần đóng góp, chia sẻ kiến thức pháp luật về vấn đề trên.

Cơ sở pháp lý: Điều 4 Nghị định 163/2006; Điều 342BLDS 2005; 07/2003/TT-NHNN; điều 46, 47 luật công chứng 2006; Công văn so 2057/BTP-HCTP

I. Khái niệm.

1. Định nghĩa:

Theo quy định tại Điều 342 của Bộ luật dân sự thì tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai. Và theo định nghĩa tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm thì: “ Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”.

Continue reading

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN

CHÍ LINH

Theo Thông tư số 13/2008/TT – BXD ngày 21/5/2005 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản thì một số quy định trong kinh doanh bất động sản được thực hiện như sau:

1. Về trình tự, thủ tục xác nhận vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp.

  Các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản thành lập mới hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) có nhu cầu bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản, ngoài các hồ sơ theo quy định về thủ tục đăng ký kinh doanh thì phải có thêm văn bản xác nhận về vốn gửi đến cơ quan cấp đăng ký kinh doanh để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản theo quy định như sau:

a. Đối với doanh nghiệp thành lập mới thì hồ sơ xác nhận vốn pháp định gồm có: Biên bản góp vốn của các cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần hoặc của các thành viên sáng lập đối với công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có từ hai thành viên trở lên; quyết định giao vốn của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu là một tổ chức; bản đăng ký vốn đầu tư của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân và đối với công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu là cá nhân.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT đối với việc hình thành và phát triển đạo đức ở nước ta hiện nay

LÊ THỊ TUYẾT BA (Tạp chí Triết học)

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nềnđạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức.

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước.

Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau. Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyển. Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LÊ THỊ TUYẾT BA (Tạp chí Triết học)

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nềnđạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức.

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước.

Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau. Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyển. Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội.

Continue reading

Kinh tế thị truường và công dân như một hệ thống: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

VŨ QUANG PHIỆT –  Ph.d. kinh tế, New York University

Bài viết này thử nhìn kinh tế thị trường và xã hội công dân như một hệ thống và điểm lại tình hình Việt Nam qua một số kết qủa nghiên cứu của tác giả về kinh tế Việt Nam đã xuất bản hoặc mới chỉ phổ biến hạn hẹp trong vòng bạn bè.Trong bài này, nguồn tài liệu trực tiếp có thể tìm ở các bài của tác giả đánh số để trong [] để ở phần tham khảo cuối bài này.

Những ý chính của bài này như sau:

• Xã hội công dân cần có thể chế bảo đảm con người tự do phát huy khả năng của mình mà vẫn giữ được sự đồng thuận xã hội về lý tưởng cao cả nhất là: bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam (1945).

• Về mặt kinh tế, kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân, dù với những hạn chế của nó, vẫn có thể là thể chế xã hội hữu hiệu nhất để công dân có thể tự do phát huy khả năng nếu như nhà nước thực hiện trách nhiệm bổ sung những gì mà kinh thị trường và sở hữu tư nhân không thể giải quyết đuợc nhằm đưa xã hội tiến gần tới những lý tưởng trên.

Continue reading

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ CÔNG DÂN NHƯ MỘT HỆ THỐNG: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

VŨ QUANG PHIỆT –  Ph.d. kinh tế, New York University

Bài viết này thử nhìn kinh tế thị trường và xã hội công dân như một hệ thống và điểm lại tình hình Việt Nam qua một số kết qủa nghiên cứu của tác giả về kinh tế Việt Nam đã xuất bản hoặc mới chỉ phổ biến hạn hẹp trong vòng bạn bè.Trong bài này, nguồn tài liệu trực tiếp có thể tìm ở các bài của tác giả đánh số để trong [] để ở phần tham khảo cuối bài này.

Những ý chính của bài này như sau:

• Xã hội công dân cần có thể chế bảo đảm con người tự do phát huy khả năng của mình mà vẫn giữ được sự đồng thuận xã hội về lý tưởng cao cả nhất là: bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam (1945).

• Về mặt kinh tế, kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân, dù với những hạn chế của nó, vẫn có thể là thể chế xã hội hữu hiệu nhất để công dân có thể tự do phát huy khả năng nếu như nhà nước thực hiện trách nhiệm bổ sung những gì mà kinh thị trường và sở hữu tư nhân không thể giải quyết đuợc nhằm đưa xã hội tiến gần tới những lý tưởng trên.

Continue reading

"THI HÀNH ÁN TƯ NHÂN" CÓ QUYỀN CẦM ROI ĐIỆN?

LÊ DÂN (Theo Dân Trí)

Xã hội hóa trong thi hành án dân sự được kỳ vọng sẽ làm giảm đáng kể lượng án tồn. Theo dự thảo luật Thi hành án dân sự, các cá nhân nếu có đủ điều kiện của pháp luật thì được cấp giấy phép hành nghề thi hành án.

Không nên đặt vấn đề xã hội hoá thi hành án trong Luật Thi hành án dân sự (ảnh minh hoạ).

Đây là một trong những nội dung “nóng” sẽ được Quốc hội thảo luận cả ngày hôm nay 23/5, ngay sau khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trình bày Tờ trình dự án luật Thi hành án dân sự và Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp của Quốc hội Lê Thị Thu Ba trình bày Báo cáo thẩm tra dự án luật Thi hành án dân sự.

12 điểm mới

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ngày 19/4, năm 2007 có 311.443 án dân sự tồn đọng, không thi hành được, chiếm 48% số vụ việc.

Bộ Tư pháp cho rằng nguyên nhân chính là do cơ quan thi hành án bị cắt khúc khỏi tòa án, thiếu tập trung, thống nhất trong quản lý, điều hành, chưa ngang tầm với chức năng được giao, thủ tục, trình tự còn nhiều bất cập.

Continue reading

BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ BẰNG TIỀN VAY CỦA VỢ CHỒNG

TRẦN QUANG MINH – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Trong hoạt động bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, có nhiều trường hợp, các tổ chức này thực hiện việc cho vay đối với khách hàng vay là người đã có vợ hoặc chồng. Trong những trường hợp này, các cán bộ tín dụng thường gặp khó khăn trong việc xác định số tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng hay không? Các hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay chỉ cần sự tham gia ký kết của người đi vay hay cần có sự tham gia ký kết của cả hai vợ chồng? Việc đăng ký giao dịch bảo đảm trong trường hợp này sẽ được thực hiện như thế nào?

 

 

 

 Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được giải đáp những thắc mắc nêu trên căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành nói chung và những quy định mới nhất của pháp luật về giao dịch bảo đảm nói riêng, qua đó, hy vọng góp phần giúp cho hoạt động cho vay và bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật và an toàn.
1. Việc xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay là tài sản thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng
Để xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng, chúng ta cần phải căn cứ vào những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị định số 70). Trong những văn bản nêu trên, có những quy định sau đây liên quan đến vấn đề này: Continue reading

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 37/2006/DS-GDT NGÀY 06 THÁNG 11 NĂM 2006 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VỤ ÁN: "TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 06 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản (đòi nhà cho ở nhờ) và tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hàng Nguyệt Hoa, sinh năm 1930;

Trú tại: nhà số 492, đường Thống Nhất, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

B đơn: Ông Sử Chấn Quang, s inh năm 1953;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (hiện đang định cư tại Mỹ).

Người quyn li, nghĩa v liên quan:

1. Bà Sử Thị Đẩu, sinh năm 1927;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2. Ông Sử Chấn Hùng, sinh năm 1945 (hiện đang định cư tại Mỹ); uỷ quyền cho anh Sử Chấn Quang đại diện tham gia tố tụng.

3. Bà Sử Thị Vàng, 93 tuổi (đã chết); hiện chưa xác minh được địa chỉ gia đình bà Vàng.

4. Ông Sử Văn Mà, sinh năm 1944 (đã chết); gia đình ông Mà đang trú tại: khu phố 2, phường Đông Hải, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

5. Ông Đào Thân Diệu (Đào Tỷ), sinh năm 1945;

Trú tại: nhà số 490, đường Thống Nhất, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

6. Bà Hàng Quỳnh Hoa, sinh năm 1928;

Trú tại: tổ 7, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Continue reading

MUỐN BÁN NHÀ, MẸ PHẢI HỎI Ý KIẾN CON?

THỤY CHÂU

Chồng chết, vợ bán một phần nhà, đất. Tòa sơ thẩm chấp thuận nhưng tòa phúc thẩm lại buộc người vợ phải hỏi ý các con.

Căn nhà hơn 115 m2 của vợ chồng cụ L. (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) nằm trên diện tích đất hơn 185 m2. Năm 1969, chồng cụ L. mất không để lại di chúc. Họ có bảy người con chung, trong đó có năm người đang định cư ở Úc. Tháng 8-1996, cụ L. và hai người con ở Việt Nam ký giấy bán một phần nhà và đất nói trên (gần 90 m2 nhà và gần 130 m2 đất) cho vợ chồng ông T. với giá hơn 26 lượng vàng. Việc mua bán có xác nhận của Phòng Công chứng tỉnh Khánh Hòa.

Các bên thỏa thuận thanh toán làm ba đợt. Đợt một, bên mua trả cho bên bán hơn 21 lượng vàng ngay ngày ký giấy mua bán. Đợt hai, bên mua sẽ giao tiếp bốn lượng vàng khi nhận giấy chứng nhận năm chữ ký đồng ý bán nhà của những người con ở Úc. Một lượng vàng còn lại sẽ được bên mua thanh toán khi hoàn tất thủ tục trước bạ, sang tên.

Sơ thẩm: Không cần con đồng ý

Đến tháng 1-1997, cụ L. đã nhận cả thảy hơn 22 lượng vàng từ bên mua. Vợ chồng ông T. cũng an cư trong căn nhà được nhiều năm. Tháng 5-2004, cụ L. và năm người con ở Úc bỗng có đơn kiện vợ chồng ông T. ra tòa.

Continue reading