CƠ QUAN CÔNG TỐ AUSTRALIA

THS. NGUYỄN ĐĂNG THẮNG – Viện khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Australia là một quốc gia nằm trong hệ thống khối liên hiệp thịnh vượng chung trong đó có Vương quốc Anh và một số quốc gia khác (gồm các quốc gia độc lập và quốc gia phụ thuộc). Năm 1901, Australia giành quyền độc lập trên cơ sở là thuộc địa cũ của Vương quốc Anh. Cũng như một số Nhà nước tư sản trên thế giới, tổ chức bộ máy Nhà nước Australia được thành lập trên nguyên tắc học thuyết Tam quyền phân lập, hệ thống pháp luật đồng thời cũng mang nhiều dấu ấn đặc trưng của hệ thống pháp luật Vương quốc Anh. Theo Hiếp pháp năm 1901, tổ chức bộ máy nhà nước Australia gồm 3 hệ thống: Cơ quan lập pháp (Quốc hội liên bang), Cơ quan hành pháp (Chính phủ liên bang) và Cơ quan tư pháp (Tòa án liên bang). Hệ thống các cơ quan này hoạt động độc lập và chế ước lẫn nhau. Từ những xuất phát điểm nêu trên, hệ thống cơ quan công tố Australia mang đậm những nét đặc trưng của hệ thống Luật án lệ (Common law) và hệ thống tố tụng theo thủ tục tranh tục (Adversarial system), đồng thời cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt. Trong phạm vi bài viết này, một số nét đặc trưng về hệ thống tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan công tố được trình bày nhằm giúp độc giả thấy được vị trí và vai trò của cơ quan công tố Australia trong bộ máy nhà nước.

1. Một số điều kiện ra đời của cơ quan công tố

Nhà nước Australia được thành lập năm 1901, song mãi cho tới năm 1983 mới là năm đánh dấu mốc lịch sử ra đời quan trọng của cơ quan công tố Australia. Mặc dù hoạt động công tố nhà nước trước đó vẫn đang tồn tại và phát triển, việc cơ quan công tố Australia ra đời tương đối muộn xuất phát từ một số lý do cơ bản sau đây:

Continue reading

LUẬT VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

Đã được sửa đổi, bổ sung bằng luật số:

– 3382 ngày 31/12/1986

-4043 ngày 31/12/1988

– 4395 ngày 22/11/1991

– 4961 ngày 4/8/1995

– 5430 ngày 13/12/1997

 

CHƯƠNG I – NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1: Mục đích

Luật này quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, nhân sự và những vấn đề khác của cơ quan công tố.

Điều 2: Viện công tố

1. Văn phòng Công tố có nhiệm vụ giám sát tất cả mọi hoạt động của các Công tố viên

2. Các Văn phòng Công tố bao gồm: Viện công tố tối cao, Viện công tố cấp cao và Viện công tố cấp quận.

Continue reading

LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN PHÁP

PHẦN QUI ĐỊNH – CÁC NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ

Chương II: Viện Công tố bên cạnh Toà phá án

Điều R132-1

Chức năng của Viện công tố được giao cho cá nhân Viện trưởng Viện Công tố.

Viện trưởng Viện Công tố sẽ chỉ đạo các công tố viên  tham gia thực hiện các chức năng này.

Điều R132-2

Viện trưởng phân công các phó Viện trưởng và các công tố viên quản lý những phân toà mà Viện trưởng Viện Công tố cho rằng hoạt động của họ ở đó có hiệu quả nhất.

Viện trưởng Viện Công tố có thể uỷ quyền cho các công tố viên tự do phát biểu trước phiên toà.

Điều R132-3

Đối với các vụ việc quan trọng, công tố viên phải  trao đổi với Viện trưởng về kết luận của mình.

Trường hợp Viện trưởng không đồng ý với  kết luận của công tố viên nhưng công tố viên vẫn kiên định bảo lưu ý kiến thì Viện trưởng có thể uỷ quyền cho một công tố viên khác hoặc tự mình phát biểu trước toà.

Continue reading

VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

NÔNG XUÂN TRƯỜNG – Viện khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Pháp luật hình sự truyền thống của Hàn Quốc được bắt đầu từ kỷ nguyên Gochosun (2333-108 trước Công nguyên), triều đại cổ xưa đầu tiên trong lịch sử của mình với đạo luật về 8 điều cấm.

Sau đó, các triều đại kết tiếp đã có những cơ quan của riêng mình để thực hiện nhiệm vụ truy tố như Cơ quan Eosadae trong triều đại Koryo (936-1391 sau Công lịch) và Saheonboo trong triều đại Chosun (1392-1910 sau công nguyên). Đặc biệt, trong triều đại Chosun có một cơ quan đặc biệt có tên là Euigumboo để duy trì sự công bằng và điều tra một cách không thiên vị các tội phạm do Hoàng Gia cáo buộc.

Tiếp đó, mặc dù chức năng truy tố và xét xử vẫn chưa được phân chia trong việc giải quyết các vụ án như những quốc gia trong thời kỳ tiền hiện đại trên thế giới, nhưng nguyên tắc xét xử theo 3 cấp đã được thiết lập nhằm tìm hiểu thận trọng những tình tiết thực tế và phương án giải quyết tối ưu vụ án. Nguyên tắc cơ bản này rất tương đồng với nguyên tắc về tính hợp pháp trong luật hình sự hiện đại bao trùm lên toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự , đặc biệt là ở triều đại Chosun.

Continue reading

KHÔNG CHỈ LÀ THÁO GỠ MÀ GIẢI TỎA CẢ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN GÁC LẠI

VŨ DUY THÁI – Chủ tịch Hiệp hội công thương TP Hà Nội

      Nét nổi bật của Luật Đất đai năm 2003:

(i) Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện chủ sở hữu, có quyền định đoạt, hưởng lợi và điều tiết việc sử dụng đất đai. Điều này cũng có nghĩa là các quyền của người được giao đất, cho thuê đất… trước đó – được thực hiện gần như quyền sở hữu – nay bị giới hạn trong một khuôn khổ pháp lý nhất định. Tuy nhiên, người được quyền sử dụng đất hợp pháp, vẫn được chuyển đổi, chuyển dịch, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Song, những giao dịch này phải có chứng từ hợp pháp, và phải được phép hoặc phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để khẳng định vai trò quản lý của nhà nước đối với đất đai, cho dù đất đai ấy đã được nhà nước giao, cho thuê, hay cho phép nhận lại quyền sử dụng của người khác… đều có nghĩa vụ khai báo và làm nghĩa vụ tài chính với nhà nước theo qui định của pháp luật mới được bảo hộ!

(ii) Luật Đất đai 2003 chưa coi đất đai là hàng hóa, nhưng đã thừa nhận quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt, có thể chuyển dịch được, nhờ đó mà hình thành thị trường bất động sản – dù ở mức sơ khai, song đã mở đường cho các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh thị trường mới mở này.

Continue reading

CÒN NHIỀU ĐIỀU MÙ MỜ CHUNG QUANH QUY ĐỊNH VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – BaoViet Bank

Là đạo luật đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta, nhưng Luật Đất đai vẫn luôn ở trong tình trạng phức tạp, rối ren và bất cập.
1.      Cần loại bỏ khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất:
Khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003 đã bị “vô hiệu hoá”. Vì theo Bộ luật Dân sự năm 2005, chỉ còn thế chấp, chứ không còn bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Dùng quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho mình hay cho người khác thì cũng đều được gọi chung là thế chấp. Vì vậy, đề nghị khai tử 44 chữ “bảo lãnh” trong Luật hiện hành.
Hai luật vênh nhau làm cho Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 về giao dịch bảo đảm phải quy định: Việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai được chuyển thành việc thế chấp quyền sử dụng đất.
2.      Phải trả lại quyền chính đáng cho chủ đất:
Dự luật đã sửa đổi một quy định bất hợp lý tại khoản 7, Điều 113 của Luật hiện hành là: Hộ gia đình và cá nhân chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất “để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (không được thế chấp để phục vụ nhu cầu đời sống, kể cả vay vốn để học tập hay trị bệnh cứu người) bằng việc được thế chấp “theo quy định của pháp luật về dân sự” (khoản 33, Điều 1 của Dự thảo). Tuy nhiên, Dự luật vẫn không sửa đổi quy định tại khoản 2, Điều 110 của Luật hiện hành là: Tổ chức kinh tế chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng “để vay vốn”. Vậy, tại sao lại không được thế chấp để được bảo lãnh, mở L/C, bao thanh toán hay rộng hơn nữa là để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại của tổ chức kinh tế?

Continue reading