MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHẬN THẾ CHẤP NHÀ Ở THEO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN NGÀY 21/5/2007

PHÒNG CSTD&LS –VỤ CSTT NHNNVN

Việc thế chấp bằng tài sản là nhà ở để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và đăng ký thế chấp đối với loại tài sản này thực hiện theo các văn bản: Bộ luật Dân sự; Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm; Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.

Tuy nhiên, trên thực tế khi đăng ký thế chấp nhà ở theo Luật Nhà ở và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP đã phát sinh một số vướng mắc ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng giữa chủ sở hữu nhà ở với các tổ chức tín dụng cho vay. Để có giải pháp tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong đăng ký thế chấp nhà ở, liên Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN ngày 21/5/2007 hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở.

Continue reading

NHẬN CẦM CỐ TÀI SẢN TRƯỚC VẪN CÓ THỂ KHÔNG CÓ QUYỀN ƯU TIÊN

NGUYỄN THÀNH LONG – VỤ PHÁP CHẾ NHNNVN

Nhận cầm cố tài sản là sổ tiết kiệm, trái phiếu, tiền, ngoại tệ, vàng luôn được tổ chức tín dụng đánh giá là có độ an toàn cao do tổ chức tín dụng có thể nhanh chóng xử lý tài sản cầm cố, ưu tiên thu nợ trước các chủ nợ khác. Tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật dân sự 2005 được ban hành, quyền ưu tiên của tổ chức tín dụng khi nhận cầm cố tài sản kể cả các loại tài sản kể trên có thể không được bảo đảm.

Theo qui định của Bộ luật dân sự năm 1995 trước đây, Bộ luật dân sự năm 2005 mới có hiệu lực gần đây thì biện pháp bảo đảm bằng cầm cố tài sản mà bên nhận cầm cố giữ tài sản bảo đảm không phải thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm. Với qui định này, giao dịch cầm cố tài sản tự nó có hiệu lực pháp lý ràng buộc Bên cầm cố, Bên nhận cầm cố theo các qui định trong hợp đồng và pháp luật về cầm cố. Trên thực tế tổ chức tín dụng khi nhận cầm cố – giữ các tài sản cầm cố, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như vàng, kim khí quí, đá quí, thẻ tiết kiệm, tín phiếu kho bạc, trái phiếu… đều không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm. Có thực tế này trước hết là: (i) Luật pháp không yêu cầu phải đăng ký và (ii) thông lệ, thực tiễn kinh doanh của các tổ chức tín dụng, theo đó, đối với tài sản cầm cố có tính thanh khoản cao như tín phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm, ngoại tệ, vàng… Một khi tổ chức tín dụng đã nắm giữ các tài sản này (thông qua biện pháp cầm cố tài sản) thì việc thực hiện thêm các thủ tục đăng ký … dường như là không cần thiết, không hợp lý và làm kéo dài qui trình, thủ tục, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng của doanh nghiệp.

Continue reading

SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI QUYẾT ĐỊNH SỐ 966/2003/QDD-NHNN NGÀY 22/8/2003 VỀ CHO VAY BẰNG NGOẠI TỆ

NGUYỄN THỊ HƯƠNG – Phòng CSTD&LS-Vụ CSTT NHNNVN

Quyết định số 966 về cho vay ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được ban hành trên cơ sở phù hợp với Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối. Tuy nhiên, ngày 13/12/2005 UBTV Quốc hội khoá XI đã ban hành Pháp lệnh Ngoại hối, tiếp theo Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối, thay thế Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 và các Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 63. Do đó, Quyết định số 966 cần được sửa đổi cho phù hợp với những nội dung của Pháp lệnh ngoại hối và Nghị định số 160/2006/NĐ-CP.

Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hóa đã được Thủ tướng Chính phê duyệt tại Quyết định số 98/2007/QĐ-TTg ngày 4/7/2007 trong đó có nội dung yêu cầu trong năm 2007 thu hẹp đối tượng được phép vay ngoại tệ, chỉ cho vay phục vụ xuất khẩu. Do đó, cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của các TCTD đối với khách hàng vay cần được xem xét sửa đổi cho phù hợp với lộ trình thực hiện Đề án .

Continue reading

MỘT SỐ KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI, CÔNG CHỨNG VÀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

VP5 – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Hiện nay, các quy định của pháp luật về đất đai, công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm được ban hành khá đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định liên quan đến vấn đề này, các tổ chức tín dụng vẫn gặp một số khó khăn vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, về việc công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nợ thuế. Hiện nay, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn cho phép chủ sử dụng đất được chậm thi hành nghĩa vụ thuế với nhà nước (chẳng hạn như thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế trước bạ.. Nhưng khi công chứng các loại giấy tờ này để thế chấp vay vốn ngân hàng thì các phòng công chứng đều yêu cầu phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà nước trước thì mới tiến hành công chứng hợp đồng thế chấp. Điều này đã đẩy khách hàng vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn hơn và cản trở việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng đối với các hộ kinh doanh, tư nhân cá thể, doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Continue reading

NHẬN DẠNG VÀ BÌNH LUẬN VỀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Công cụ tài chính phái sinh là công cụ được phát hành dựa vào công cụ tài chính đã có trước dưới hình thức các hợp đồng phái sinh cụ thể. Hiện nay có 4 loại hợp đồng phái sinh phổ biến trên thế giới. Chúng có các cơ chế thanh lý, thanh toán và điều kiện mua, bán khác nhau, song hầu hết đều có một số đặc trưng giống nhau là: Công cụ phái sinh luôn “ăn theo” và với mục tiêu tránh rủi ro từ công cụ tài chính chính thức; Giá cả của hợp đồng tài chính phái sinh là hiệu số giữa mức rủi ro dự tính trong tương lai với mức rủi ro thực tế qua thời gian tính từ khi hợp đồng có hiệu lực đến thời điểm đáo hạn hợp đồng, hoặc có trường hợp giá của hợp đồng đơn giản chỉ là số chi phí đặt cọc, nhưng kỳ vọng sẽ không bị mất trong tương lai. Chính vì vậy, giá cả của mọi hợp đồng tài chính phái sinh hầu như lúc đầu chỉ bằng “O”. Mọi sự khác “O” của giá trị hợp đồng phái sinh tại thời điểm đáo hạn hợp đồng đều phản ánh năng lực “tránh” rủi ro của bên “thắng cuộc”.

Các công cụ phái sinh chủ yếu được áp dụng trên thị trường tài chính thế giới hiện nay bao gồm: kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi và những “biến tướng” của các công cụ phổ biến nói trên. Nhận dạng để phân biệt cụ thể các công cụ tài chính phái sinh chủ chốt trên thị trường tài chính gồm:

Continue reading

TÌM HIỂU HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (GATS) VÀ QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP THẬN TRỌNG TRONG ĐÀM PHÁN WTO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG ĐỂ VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Hiện nay, Việt nam đã có cam kết trong ASEAN (1995), đã ký kết Hiệp định thương mại Việt nam Hoa kỳ (2001), đã gia nhập WTO (7/11/2006), trong đó cơ sở pháp lý để Việt nam đưa ra các cam kết trong đàm phán WTO về dịch vụ ngân hàng là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). Đó là một hệ thống các quy định mang tính đa biên để điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ. Hiệp định này được đàm phán tại vòng đàm phán Uruguay bao gồm các nghĩa vụ và nguyên tắc cơ bản, các phụ lục của từng chuyên ngành, các cam kết cụ thể của mỗi nước nhằm mục đích mở cửa thị trường. 29 điều khoản của GATS được áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ trong đó có phân ngành dịch vụ ngân hàng. Các điều khoản này quy định các nguyên tắc mà tất cả các nước phải tuân thủ một cách « đa phương » .

Tại Hiệp định nói trên, dịch vụ ngân hàng được xác định theo 4 phương thức sau: (i) dịch vụ ngân hàng được cung cấp từ nước này sang nước khác gọi là “cung cấp qua biên giới”; (ii) người tiêu dùng hoặc công ty sử dụng dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài gọi là “tiêu dùng ở nước ngoài”; (iii) các tổ chức tín dụng nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc công ty, liên doanh để cung cấp dịch vụ ngân hàng ở một nước khác gọi là “hiện diện thương mại”; (iv) các cá nhân đi từ một nước sang một nước khác để cung cấp dịch vụ ngân hàng gọi là “hiện diện thể nhân”.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ĐI VỀ ĐÂU TRONG BỐI CẢNH CHUNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VN?

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Việc lãi suất liên ngân hàng hiện đang có xu hướng tăng sau khi các NHTM trong nước thực hiện cơ chế “đồng thuận” do sáng kiến của Hiệp Hội NH hạ lãi suất huy động xuống không quá 11%/ năm và USD là 6%/năm đã không thu hút được tiền vào và buộc phải tăng theo “trần” được khuyến cáo bằng công điện hồi đầu tháng 3 của NHNN ở mức 12%/năm mà vẫn đang huy động một cách khó khăn!…Cho thấy các NHTM vẫn thiếu tiền mặt khá nghiêm trọng, trong khi thị trường Chứng khoán (TTCK) vẫn chưa chứng tỏ được “sứ mệnh” là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả hơn cho nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, tiền đồng trong lưu thông vẫn rất nhiều, biểu hiện qua lạm phát sau tháng 4 đã lên tới 11,39% so cuối năm 2007 và 21% so với cùng kỳ… Đây là những biểu hiện rất rõ về sự không bình thường trong thị trường tài chính VN (TTTC VN).

Từ những bức xúc nói trên, một trong vô số những vấn đề cần có giải pháp để cải thiện tình hình là câu hỏi: TTCK VN đang đi về đâu, giải pháp nào để nó đảm đương được “sứ mệnh” mà nền kinh tế đang “thừa tiền”, nhưng rất đói vốn đang trông chờ? Tôi cho rằng trong TTTC có 2 thị trường bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn phải luôn luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mối quan hệ mấu chốt nhất là quan hệ giữa TTCK (lõi của thị trường vốn) với thị thị trường tín dụng ngắn hạn (lõi của thị trường tiền tệ)! Tuy nhiên, vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan mà ở Việt Nam mối quan hệ được xem là “mấu chốt” này vẫn tỏ ra rời rạc, thậm chí như đã từng nói là “gắn bó ngược”! Đây cũng là nguyên nhân giải thích vì sao chỉ trong vòng 1 năm kể từ 17/3/2007, chỉ số VN-Index đã từng đạt 1170 điểm, nay tụt xuống chỉ còn 512 điểm, giảm tới 56,2%! Đặc biệt tổng giá trị giao dịch cũng giảm mạnh từ xung quanh 1200 tỷ đ/ngày, xuống còn xung quanh 300tỷ đ/ngày!

Continue reading

TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH CỦA TRÌNH PHỦ QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ

Về việc ban hành Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

——————————————————-

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008 của Chính phủ, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo, tổ chức triển khai công tác nghiên cứu xây dựng Dự thảo Nghị định quy định hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Dự thảo Nghị định đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân theo quy trình xây dựng văn bản pháp luật và thông qua các cuộc hội thảo, hội nghị, phương tiện thông tin đại chúng, Trang thông tin điện tử Bộ Tài chính, Trang thông tin điện tử Chính phủ. Bộ Tài chính xin trình Chính phủ Dự thảo Nghị định như sau:

I- SỰ CẦN THIẾT, MỤC TIÊU, YÊU CẦU BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật thuế TNCN số 04/QH12 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, trong đó đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các nội dung quy định tại điều 3, điều 13, điều 14, điều 19, điều 24 và điều 35.

Continue reading