MỘT NGHỊ ĐỊNH "THAY VAI" LUẬT DOANH NGHIỆP QUI ĐỊNH THẾ NÀO ĐỂ "PHÙ" VỚI THỰC TẾ, NHƯNG "HỢP" VỚI LUẬT?

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Trưởng ban thư ký HDDQT Maritime Bank

Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc thù, cần có văn bản điều chỉnh riêng. Luật các Tổ chức tín dụng, hầu như chỉ đề cập đến các hoạt động nghiệp vụ, còn vấn đề về tổ chức và quản trị, nhất là đối với ngân hàng thương mại cổ phần, thì đang thực hiện theo các quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.1

Trong khi đó, những quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có nhiều nội dung khác biệt, thậm chí trái ngược với Luật Doanh nghiệp năm 1999 (mặc dù Luật này là một trong những căn cứ ban hành). Từ sau khi có Luật Doanh nghiệp mới năm 2005, các ngân hàng thương mại cổ phần đã bị khủng hoảng về cơ sở pháp lý trong việc tổ chức và quản trị doanh nghiệp.

Continue reading

10 ĐIỂM ĐỔI MỚI VỀ TƯ DUY KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

NHÂN DÂN – Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) vừa ra Nghị quyết về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.

Hội nghị nhận định: “Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trước đây sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Nhìn lại tư duy kinh tế của ta trước đổi mới, liên hệ với những gì Ðại hội VI (1986) đã phê phán hoặc khẳng định, rồi những gì ngày nay đạt được, nhất là từ hai Ðại hội IX và X đến nay, chúng ta sẽ thấy những đổi mới rất quan trọng. Có thể nêu tập trung vào 10 điểm sau đây:

Một là, từ quan niệm về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần xã hội chủ nghĩa (kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể) đã đi đến quan niệm về một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế này, ngoài hai thành phần nói trên, còn có: kinh tế tư nhân (bao gồm cả cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế ấy đều là bộ phận của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển lâu dài, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Thay đổi quan trọng nhất là kinh tế tư nhân chẳng những không bị kỳ thị, mà còn được thừa nhận là có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế.

Continue reading

TÌM HIỂU HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (GATS) VÀ QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP THẬN TRỌNG TRONG ĐÀM PHÁN WTO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG ĐỂ VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Hiện nay, Việt nam đã có cam kết trong ASEAN (1995), đã ký kết Hiệp định thương mại Việt nam Hoa kỳ (2001), đã gia nhập WTO (7/11/2006), trong đó cơ sở pháp lý để Việt nam đưa ra các cam kết trong đàm phán WTO về dịch vụ ngân hàng là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). Đó là một hệ thống các quy định mang tính đa biên để điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ. Hiệp định này được đàm phán tại vòng đàm phán Uruguay bao gồm các nghĩa vụ và nguyên tắc cơ bản, các phụ lục của từng chuyên ngành, các cam kết cụ thể của mỗi nước nhằm mục đích mở cửa thị trường. 29 điều khoản của GATS được áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ trong đó có phân ngành dịch vụ ngân hàng. Các điều khoản này quy định các nguyên tắc mà tất cả các nước phải tuân thủ một cách « đa phương » .

Tại Hiệp định nói trên, dịch vụ ngân hàng được xác định theo 4 phương thức sau: (i) dịch vụ ngân hàng được cung cấp từ nước này sang nước khác gọi là “cung cấp qua biên giới”; (ii) người tiêu dùng hoặc công ty sử dụng dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài gọi là “tiêu dùng ở nước ngoài”; (iii) các tổ chức tín dụng nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc công ty, liên doanh để cung cấp dịch vụ ngân hàng ở một nước khác gọi là “hiện diện thương mại”; (iv) các cá nhân đi từ một nước sang một nước khác để cung cấp dịch vụ ngân hàng gọi là “hiện diện thể nhân”.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN PHÁT HÀNH TIỀN TRONG PHÒNG, CHỐNG TIỀN GIẢ- KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN TOẢN – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Tiền giả là vấn nạn mà tất cả các nước trên thế giới đều phải đối mặt, tuy mức độ và tính chất có thể khác nhau. Đặc biệt, trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển ở trình độ cao, tạo nhiều cơ hội cho các cơ quan phát hành tiền ứng dụng công nghệ bảo an hiện đại trên đồng tiền thì bên cạnh đó cũng tạo khả năng để tội phạm sản xuất các đồng tiền giả có kỹ thuật tinh vi, thời gian để làm giả một đồng tiền cũng nhanh hơn. Kinh nghiệm của nhiều nước cũng cho thấy, thủ đoạn tiêu thụ tiền giả của bọn tội phạm cũng ngày càng tinh vi, phức tạp và có xu hướng liên kết, móc nối giữa các tổ chức tội phạm tại nhiều nước. Tại Việt Nam, có thể nói là không có các ổ nhóm tội phạm sản xuất tiền giả nhưng tình hình tội phạm buôn bán, tiêu thụ tiền giả cũng diễn ra rất phức tạp.

Từ tính chất phức tạp và nghiêm trọng của tội phạm tiền giả, ở tất cả các nước, hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán, tiêu thụ tiền giả đều rất nặng và hoạt động phòng, chống loại tội phạm này được quan tâm đặc biệt. Có nước, chẳng hạn như Mỹ, thành lập hẳn một cơ quan chuyên chống tiền giả hoặc có nước thành lập các uỷ ban phòng chống tiền giả với sự tham gia của nhiều cơ quan liên quan. Dù cách tổ chức hoạt động phòng, chống tiền giả ở các nước có thể khác nhau nhưng nhìn chung có hai cơ quan có vai trò rất quan trọng trong hoạt động này là cảnh sát và cơ quan phát hành tiền. Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành, Bộ Công an chịu trách nhiệm chính, toàn diện trong công tác đấu tranh phòng, chống tiền giả; các cơ quan phối hợp chính là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính. Phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong phòng, chống tiền giả.

Continue reading

MỘT SỐ NHÌN NHẬN VỀ NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

NGUYỄN AN LƯƠNG – Vụ Chính sách tiền tệ – NHNN

Năm 2007 lạm phát của Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63%. Nếu so sánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần cao hơn. Bước sang Quý I/08 lạm phát của Việt Nam đạt 9,19%, vẫn cao hơn so với mức 3,02% của Quý I/07 và bằng khoảng trên 70% so với mức tăng của cả năm 2007. Đây là mức tăng cao trong vòng 12 năm trở lại đây. Vậy thì đâu là nguyên nhân dẫn đến lạm phát của Việt Nam tăng cao? Có thể đề cập đến hai nhóm nguyên nhân: các nhân tố tác động từ kinh tế toàn cầu, và các nhân tố từ nội tại nền kinh tế Việt Nam, cụ thể như sau:

* Các nguyên nhân chính từ bối cảnh kinh tế toàn cầu:

Thứ nhất: Giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất liên tục gia tăng: Trong 4 năm từ 2003-2006 kinh tế toàn cầu liên tục tăng trưởng cao, đặc biệt là nhóm các nước “mới nổi” ở khu vực Châu á, nhất là Trung Quốc đã đẩy nhu cầu năng lượng toàn cầu tăng cao đột biến, cùng với những bất ổn và xung đột chính trị quân sự tại khu vực Trung Đông là các nguyên nhân trực tiếp đẩy giá dầu lên cao chưa từng có trong lịch sử 110 USD/thùng trong tháng 3/2008, đồng thời giá các nguyên vật liệu đầu vào khác như sắt thép, phân bón, xi măng cũng liên tục gia tăng. Như vậy, giá dầu đã tăng 72%, sắt thép tăng 114%, phân bón tăng 59,6%, khí hoá lỏng tăng 95% kể từ đầu năm 2007 đến tháng 3/2008 và đây cũng là mức tăng cao nhất từ trước tới nay.

Continue reading