TẢN MẠN VỀ DỰ THẢO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ (Luật sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 – Civillawinfor)

PHẠM DUY NGHĨA

Bảo hộ tác quyền và sở hữu kỹ nghệ đã trở thành một triết lí được tiêu chuẩn hóa bởi rất nhiều văn bản pháp lí quốc tế. Dựa trên những cam kết quốc tế đó, người soạn luật sở hữu trí tuệ nước ta đang gắng du nhập thứ âm nhạc thính phòng xa xôi ấy vào xã hội nông dân Việt Nam. Có thể đưa ra vài lời bàn dưới đây về con đường mà những một nước nghèo như Việt Nam thường phải lèo lái khi du nhập pháp luật sở hữu trí tuệ theo kiểu phương Tây

Một ngày theo dòng Dundee miền Đông Bắc nước Úc, nơi người ta nuôi nhiều cá sấu trong những bãi lầy hoang hóa, tôi vẫn thấy thấp thoáng những tộc người bản xứ, từng đám tụ tập dưới bóng cây tránh cái nóng oi nồng nhiệt đới. Nhiều thế kỉ đã trôi qua, kể từ khi những gã phưu lưu người Anh giành lấy từng vùng đất ở đây làm của riêng cho mình, những người bản xứ đáng thương kia vẫn chưa hiểu tại sao đất trời lại có thể chia thành từng khoảnh làm của riêng cho người da trắng.

Continue reading

CÓ NHỮNG TỘI ÁC KHÔNG AI CHỊU TRÁCH NHIỆM

NGUYỄN THẾ HOÀNG LINH

Diễn đạt lại một dòng suy nghĩ của Milan Kundera(1):
Người tạo ra một hành vi theo dư luận là ác sẽ bị pháp luật trừng phạt [giả sử pháp luật đã đọc Kafka và biết xấu hổ khi kết luận người đó, trong lúc hành động, nhận thức được nó]. Trong khi, người có cùng hành vi nếu được kết luận là ở tình trạng không nhận thức được trong lúc thực hiện sẽ được giảm án hoặc tha bổng.
Nhưng đằng sau tội ác được giảm nhẹ, tha bổng (chỉ vì không nhận thức được thì không còn khái niệm thiện ác? khác nào thiền sư?), phải có người chịu trách nhiệm chứ?

Đó là những người tạo ra tình trạng không nhận thức được cho người khác: Người gây tai nạn, người chuốc rượu, người bạo hành, người cưỡng hiếp, người bán thuốc phiện, người rải đinh để vá săm, người làm những con lươn quá khổ đẩy cao nguy cơ tai nạn (rồi lại ăn tiền phá chúng đi), người rút ruột công trình gây sụp đổ, người cho mình quyền giáo dục con cháu theo hướng phản giáo dục, người áp đặt những giáo trình học lộn xộn và quá tải, người thải hoá chất nguy hiểm vào khu dân cư, người dùng chất bảo quản độc hại, người biết mà vẫn bán thực phẩm mang dịch bệnh…

Continue reading

CÁC MÔN CHUNG – MỘT VẤN ĐỀ CỦA ĐẠI HỌC THỜI HỘI NHẬP

GS.TS. NGUYỄN MINH THUYẾT

Theo Hiệp định WTO và Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA), chúng ta không hạn chế việc các trường đại học nước ngoài vào đầu tư mở trường ở Việt Nam. Nhưng có một vấn đề chúng ta cần phải đặt ra để suy nghĩ và tìm giải pháp thích hợp, đó là chương trình đào tạo của các trường đại học nước ngoài với các trường đại học trong nước khác biệt nhau khá xa. Tạm chưa nói đến các môn khoa học chuyên ngành, trong bài viết này, tôi chỉ bàn về các môn học chính trị (bao gồm Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh) và Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng. Đây là mảng có những sự khác biệt rất lớn giữa các trường đại học của ta và của nước ngoài (bao gồm các trường ở nước ngoài và trường nước ngoài đặt ở Việt Nam).

Trong chương trình đại học Việt Nam, thời lượng học các môn này là từ 20 đến 24 đơn vị học trình, tùy ngành, tức là từ 300 đến 360 tiết. Từ trước đến nay, không ít người cho rằng những môn này rất căn bản, rất cần thiết, nhưng trên thực tế, chúng không có trong chương trình của phần lớn các trường đại học nước ngoài. Sự chênh lệch khoảng 300-400 tiết so với chương trinh đại học nước ngoài là một trong những lý do khiến bằng cấp của ta khó được các nước công nhận.

Continue reading

PHẢI THỰC TÂM TÔN TRỌNG TÍNH CÁCH ĐỘC LẬP

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN. NGUYỄN VĂN CHIỂN

Có thể nói một cách không phóng đại rằng vấn đề trí thức đang là một trong những mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay. Liên quan đến vấn đề này, tựu chung lại, có hai câu hỏi được đặt ra. Thứ nhất, là xác định vai trò của trí thức trong sự phát triển của xã hội và thứ hai, liên quan đến vấn đề sử dụng trí thức. Vấn đề thứ hai chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở có được câu trả lời đúng cho vấn đề thứ nhất. Theo tôi, không phải bằng cấp mà chính sự hiểu biết mới làm nên trí thức. Trí thức phải là người nắm được những quy luật về tự nhiên và xã hội. Anh ta là kẻ đại diện cho trí tuệ của con người trong một giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định.

Tuy vậy, trí tuệ lại là cái luôn vận động cùng với lịch sử. Nói theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì nó là một hành trình tiệm cận không ngừng đến chân lí. Từ quan điểm đó, ta sẽ thấy là bình thường khi mà không ít điều tiên đoán trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, cho đến giờ, vẫn chưa trở thành hiện thực. Bất cứ tri thức nào cũng có những giới hạn lịch sử và đây chính là điểm quyết định phẩm chất của một trí thức chân chính. Anh ta không chỉ lệ thuộc vào những tri thức một cách giáo điều mà còn phải là kẻ vượt lên quá khứ để sáng tạo nên những tri thức mới. Chính bản chất sáng tạo làm nên phẩm tính của một trí thức đích thực. Với hai điều nói trên, có thể cho phép hình dung về vai trò của trí thức đối với xã hội. Anh ta là người nắm giữ và sáng tạo nên những tri thức tiên tiến nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội con người. Và vậy thì việc trọng dụng trí thức thiết tưởng là điều không còn cần phải bàn cãi. Vấn đề là cần phải làm điều đó thế nào.

Continue reading

NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG SỐ HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI LÀM LUẬT

NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Nguyên tắc đặt cơ sở cho việc thiết lập trật tự, an toàn xã hội và công bằng xã hội được các nhà hiền triết thời cổ gọi đó là nguyên tắc công bằng số học trong giao tiếp giữa người và người.
Nếu không có một nguyên tắc như thế, thì chẳng ai dám sống trong không gian chung, do không thể biết trước khi nào sẽ có ai đó lù lù xuất hiện và trút tai hoạ lên đầu mình mà mình cứ phải cam chịu; để tránh rủi ro và hiểm nguy tiềm tàng, mỗi người sẽ tạo cho mình một không gian riêng, biệt lập, ngăn cách với những người còn lại; xã hội sẽ không thể hình thành và phát triển.
Chi phối hành vi của tất cả thành viên xã hội một cách bình đẳng, nguyên tắc công bằng số học cũng mang ý nghĩa một lời cảnh báo đối với mỗi thành viên. Đó là lời nhắc nhở về sự cần thiết phải thận trọng, biết giữ chừng mực, đàng hoàng trong giao tiếp, ứng xử để tránh gây thiệt hại đáng tiếc cho thành viên khác.  

Continue reading

NĂM CHỦ TRƯƠNG ĐỂ CẢI CÁCH TƯ PHÁP THÀNH CÔNG

PHẠM DUY NGHĨA

Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước.

Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.
Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuế, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.

Continue reading