HÀI HÒA VIỆC BẢO HỘ KIỂU DÁNG SẢN PHẨM

NGUYỄN THỊ NHƯ HOA (Dịch và biên tập từ INTA)

Nhãn hiệu, theo nghĩa rộng, được hiểu là bất kỳ biểu tượng hoặc hình họa nào có khả năng phân biệt hàng hóa /dịch vụ của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp này với nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp khác. Nó có thể bao gồm hình dáng, âm thanh, mùi hương hoặc một màu đơn sắc. Theo quy định này, nhãn hiệu có thể mở rộng tới “hình dáng độc đáo của các sản phẩm”.

Rõ ràng là cách thức một sản phẩm biểu hiện ra bên ngoài như thế nào có thể có tính quyết định cả ở khía cạnh thành công thương mại cũng như tính sáng tạo của sản phẩm với giá trị nhãn hiệu. Tuy nhiên, việc bảo hộ hình dáng của sản phẩm cũng vấp phải một số vấn đề. Một mặt, người tiêu dùng sẽ từ chối chọn mua những biểu tượng hình ảnh có uy tín nhưng không được bảo hộ độc quyền. Theo nguyên tắc “ngọn hải đăng”, một công ty tư nhân sẽ không sẵn sàng bỏ một khoản tiền lớn vào việc phát triển các mẫu thiết kế độc đáo để rồi các đối thủ cạnh tranh của mình có thể ngay lập tức sử dụng miễn phí những mẫu thiết kế này. Mặt khác, việc bảo vệ hình dáng bên ngoài của sản phẩm có thể bị dính líu vào những vụ việc liên quan đến “cạnh tranh không lành mạnh”.

Continue reading

CÁC HẠN CHẾ TRONG QUI ĐỊNH VỀ TRÌNH TỰ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG BOT THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 78/2007/ND-CP CỦA CHÍNH PHỦ NGÀY 11/5/2007 VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – KINH DOANH – CHUYỂN GIAO, HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – CHUYỂN GIAO – KINH DOANH, HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – CHUYỂN GIAO

NGUYỄN THỊ LÁNG

Trong nhiều năm gần đây, hợp đồng BOT (BOT là ch viết tt tiếng Anh ca Build – Operate – Transfer. Hp đng BOT còn gi là hp đng xây dng, kinh doanh, chuyn giao) là hình thức quan trọng để thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân cho phát triển cơ sở hạ tầng ở các quốc gia, đặc biệt các nước đang phát triển như Việt Nam. Hợp đồng BOT là một hợp đồng có nhiều đặc thù, có tính dài hạn và đòi hỏi nguồn vốn lớn. Do vậy, ngoài các bước cơ bản cho việc hình thành như một hợp đồng thông thường khác, trình tự ký kết hợp đồng BOT có những nét phức tạp hơn và là vấn đề quan trọng được các chủ thể ký kết hợp đồng BOT hết sức quan tâm.

Theo Nghị định 78/2007/NĐ-CP ngày 11-05-2007  của chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Nghị định 78), để hình thành hợp đồng BOT có những bước sau:

1. Lựa chọn nhà đầu tư đàm phán hợp đồng BOT

Việc ký kết hợp đồng BOT trước hết liên quan đến thủ tục lựa chọn nhà đầu tư tham gia đàm phán hợp đồng BOT. Theo Nghị định 78, việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án theo một trong hai hình thức: đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đàm phán hợp đồng BOT hoặc chỉ định nhà đầu tư đàm phán trực tiếp hợp đồng BOT. Nghị định 78 cũng quy định các điều kiện được phép chỉ định nhà đầu tư đàm phán trực tiếp hợp đồng BOT và phương án giải quyết trong trường hợp nhà đầu tư đề xuất dự án không thuộc danh mục dự án được công bố.

Continue reading

HOÀN THIỆN HƠN NỮA LUẬT HIẾN, LẤY GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC

BÙI ĐỨC HIỂN

Để góp phần bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn, ngày 29/11/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể ngư­ời và hiến, lấy xác. Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh chuyên biệt một lĩnh vực rất mới mẻ và phức tạp nên nó không tránh khỏi những bất cập nhất định cần đư­ợc hoàn thiện.

1. Những bất cập của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể ngư­ời và hiến, lấy xác

Ngày 01/7/2007, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (gọi tắt là Luật) có hiệu lực. Tuy nhiên, áp dụng, chúng ta đã thấy Luật bộc lộ những bất cập:

– Điều 1 (phạm vi điều chỉnh của Luật) có quy định về việc cho, nhận mô, bộ phận cơ thể người như­ng lại không quy định vấn đề cho, nhận tế bào vào phạm vi điều chỉnh của Luật, bởi các nhà làm luật quan niệm tế bào là một trong những bộ phận cấu thành mô. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng: nếu theo cách giải thích ở Khoản 1, Điều 3 của Luật về mô thì không phải trong mọi trường hợp tế bào đều đồng nghĩa với mô, ví dụ: tế bào gốc hay một tế bào đơn lẻ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỦ THỂ CỦA HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

THS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Xuất phát từ bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại về những vấn đề chính trong nội dung của quan hệ này. Đây chính là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng.

Theo Hiệp ước EEC, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại  là một thoả thuận trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến: việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian hợp đồng nhượng quyền thương mại  còn hiệu lực”[1].

Continue reading

NGĂN CHẶN BẠO LỰC GIA ĐÌNH: LUẬT CẦN ĐI VÀO THỰC TẾ

HƯƠNG GIANG

Bạo lực gia đình (BLGĐ) và ngăn chặn BLGĐ một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu và cũng là mối quan tâm lớn ở nước ta. Bên cạnh việc thay đổi nhận thức của cộng đồng về phòng chống BLGĐ, Việt Nam còn cần một hệ thống các qui định pháp luật phù hợp với thực tiễn để giải quyết hiệu quả vấn nạn này.

Xử lý nghiêm khắc hành vi BLGĐ

Theo số liệu thống kê của các cơ quan cảnh sát điều tra tại 51/64 tỉnh thành phố trực thuộc TƯ về tình hình tội phạm có liên quan đến BLGĐ đã thụ lý giải quyết trong giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy, những năm gần đây, tình hình tội phạm BLGĐ diễn ra rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng về số lượng và ngày càng nghiêm trọng hơn về tính chất, mức độ, chủ yếu là các hành vi giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác, hiếp dâm trẻ em. Các nghiên cứu qui mô nhỏ của Viện Xã hội học cũng cho thấy, có khoảng từ 5-10% số phụ nữ có chồng đã từng bị bạo hành về thân thể (mặc dù con số thực tế có thể cao hơn).

Continue reading