MỘT SỐ ĐIỂM BẤT CẬP CỦA PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỀ QUI ĐỊNH TUYÊN QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI THEO NGUYÊN TẮC ĐA SỐ

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Ra quyết định trọng tài theo nguyên tắc đa số là nguyên tắc phổ biến được quy định và áp dụng trong pháp luật về trọng tài tại Việt nam và hầu hết các nước. Tuy nhiên, cách hiểu và áp dụng nguyên tắc này tại Việt Nam và các nước lại có phần khác nhau.

Bài viết dưới đây tập trung bình luận, phân tích các quy định linh hoạt áp dụng cho nguyên tắc đa số khi ra quyết định trọng tài để thấy rõ nội hàm đầy đủ, cụ thể và chính xác của nguyên tắc này trong pháp luật các nước. Tác giả cũng vận dụng cả lý luận và thực tiễn để phân tích, so sánh và chỉ ra những điểm còn bất cập của pháp luật trọng tài Việt Nam liên quan đến nguyên tắc này, đề xuất những kiến nghị để sửa đổi, bổ sung các quy định đó cho thêm tính khả thi và tính thực tiễn, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế về trọng tài thương mại.  Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến nhiều khía cạnh của nguyên tắc thảo luận bắt buộc trước khi ra quyết định trọng tài, một điều vẫn xảy ra trên thực tế, nhưng vì chưa được quy định cụ thể và rõ ràng trong pháp luật Việt Nam nên rất có thể gây ít nhiều bất cập trong quá trình thực hiện. Hy vọng rằng những phân tích và kiến nghị của bài viết này sẽ được cân nhắc, tham khảo trong quá trình xây dựng Luật trọng tài thương mại sắp tới. 

1. Quyết định trọng tài

Trước hết cần khẳng định một trong những điểm nổi bật của Pháp lệnh trọng tài Thương mại năm 2003 (Pháp lệnh) so với pháp luật về trọng tài trước đây (Nghị định 116/CP  ngày 5 tháng 9 năm 1994 về về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế phi Chính phủ (Nghị định 116/CP) là tính được cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài. Có thể nói nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc trọng tài phi Chính phủ ở nước ta chưa thể hiện được vai trò và khả năng của mình, mặc dù được thành lập từ năm 1994, là tính không chung thẩm, không được cưỡng chế thi hành của Quyết định trọng tài.  Pháp lệnh 2003 đã khẳng định rõ hiệu lực của Quyết định trọng tài ngay tại Điều 6:

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 28/2006/DS-GDT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO NGÀY 2 THÁNG 10 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN "TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 02 tháng 10 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về tranh chấp quyền sở hữu tài sản (đòi nhà) giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Nghiệm, sinh năm 1931

Trú tại: 198 Đồng Nai, Phước Hải, Nha Trang, Khánh Hoà;

2. Bà Nguyễn Thị Phương, sinh năm 1927

Trú tại: Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hoà;

3. Bà Nguyễn Thị Linh, sinh năm 1921

Trú tại: Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hoà;

(Cả ba nguyên đơn đều uỷ quyền cho bà Ngô Thị Phan Thu Nguyệt, trú tại: 38 H•ơng Sơn, Ph•ớc Hoà, Nha Trang, Khánh Hoà).

Bị đơn:

Ông Trần Duy Tân, sinh năm 1935 Trú tại: 108 Nguyễn Trường Tộ, thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, Khánh Hoà.

Continue reading →

CON ƠI! BA MUỐN NHẬN CON

cha va conNKP

 Câu chuyện của tôi xảy ra hơn 30 năm trước. Ngày đó, tôi là cán bộ ngành Ngân hàng tập kết ra Bắc, cơ quan tôi đóng trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Do chiến tranh ác liệt, cơ quan chúng tôi dựng những chiếc lán đơn sơ gọi là nhà tập thể, nhà tranh vách nứa bên cạnh hầm trú ẩn. Mỗi lần có kẻng báo động là chúng tôi lại rời nhà chạy xuống hầm. Tôi sống độc thân.

Hàng xóm của tôi là một đôi vợ chồng trẻ. Nói là trẻ vậy thôi chứ người chồng đi lính chiến đấu ở chiến trường K rồi bị thương trở về công tác ở Huyện đội cũng đã ngoài 30. Người vợ tên N, trạc 25-26 tuổi, trông xinh xắn và phúc hậu. Khổ một nỗi, hai vợ chồng nghe đâu cưới nhau gần chục năm nay rồi nhưng chưa có con. Hình như do người chồng đi bộ đội bị ảnh hưởng chất độc gì đó nên việc có con khó khăn.

Trong khu tập thể ai cũng quan tâm, có thuốc gì ai mách để chữa đẻ đều mang về cho hai vợ chồng. Có thầy thuốc nào hay cũng chỉ chỗ cho hai vợ chồng tới bắt mạch bốc thuốc. Chiến tranh, cuộc sống thiếu thốn cực khổ nên hai vợ chồng cũng không có điều kiện để đi bệnh viện thăm khám.

Một buổi tối, kẻng báo động máy bay địch ném bom vang lên dồn dập. Tôi chạy nhanh xuống hầm. N cũng chạy theo sang hầm trú ẩn của tôi. Tôi nhớ như in khoảnh khắc lúc đó. Ở phía bên ngoài cửa hầm, máy bay gầm rít, pháo sáng rực trời, N ngồi trước mặt tôi, gương mặt cúi gằm lí nhí: “Chồng em đi vắng, em sợ quá, chạy sang đây nấp cùng anh”. Tôi chưa kịp nói gì, bỗng nhiên cô ta quỳ xuống lạy tôi 3 lạy rồi nói như khóc. “Anh ơi, xin anh hãy thương em. Xin anh hãy cho em một đứa con”.

Tôi tưởng như mình nghe nhầm. Lời thì thầm van lơn của người phụ nữ vang lên bên tai tôi như vọng đến từ một cõi xa thẳm nào đó. Tôi lập cập đỡ N dậy, đôi tay tôi lóng ngóng, cả người tôi đờ đẫn, bản thân không điều khiển nổi mình nữa. Xa vợ lâu ngày, thiếu hơi đàn bà, nên khi đụng chạm vào da thịt của phụ nữ, người tôi như lên cơn sốt, đầu óc mụ mị. Tuy nhiên, lý trí và bản lĩnh của một người đàn ông từng trải tôi đỡ cô ấy dậy, động viên N đừng quá xúc động và đợi cho bên ngoài bình yên trở lại, tôi dìu N lên và đưa cô ấy về nhà. Tôi đã khuyên N đừng nghĩ quẩn, cố gắng chữa trị và có con với chồng mình.

Đêm đó và cả ngày hôm sau nữa, tôi mất ngủ. Người như không trọng lượng. Có lẽ tôi đã bị tác động ghê gớm bởi lời cầu xin của N. Bao nhiêu năm xa vợ và xa 2 cô con gái mới hơn 5 tuổi, bản năng đàn ông trong tôi đã ngủ yên, đã bị đè nén xuống sâu thẳm tận cùng, để lo công việc, lo cho cuộc chiến tranh chưa đến hồi kết thúc. Tôi đã sống rất yên ổn, vậy mà chỉ trong một khoảnh khắc, người phụ nữ hàng xóm ấy đã đánh thức chúng dậy, đã làm đảo lộn con người tôi. Đêm ấy, tôi không ngủ được bởi nhớ vợ con, bởi cồn cào một nỗi thèm khát da thịt đàn bà.

Định mệnh là thứ khó cưỡng, là cái gì đó nằm ngoài ý thức và lý trí của mình, nó ập đến vào một ngày nào đó như số phận vốn phải thế. Mấy hôm sau, cũng một đêm tránh bom ở hầm trú ẩn, N lại chạy sang hầm của tôi, cô quỳ xuống dưới chân tôi, hổn hển, tha thiết van xin: “Anh ơi, thương em với, cho em xin anh một đứa con”.

Tôi, một người đàn ông xa vợ lâu ngày không thể cưỡng lại được sức hút từ một người đàn bà còn trẻ. Tôi ôm ghì lấy N và hỏi: “Tại sao em không có con với chồng em mà lại xin tôi”. Người phụ nữ dường như chỉ chờ có thế, cô ôm riết lấy tôi, nước mắt giàn giụa: “Xin anh đừng hỏi nữa, hãy cứu lấy cuộc đời của em bằng cách cho em một đứa con”.

Vậy là số phận đã run rủi đẩy người phụ nữ ấy đến bên tôi trong một hoàn cảnh éo le. Tôi đã làm tình với người đàn bà tội nghiệp ấy ngay dưới nền đất ẩm của căn hầm chật chội. Một lần, hai lần và nhiều hơn thế nữa. Đủ cho đến khi N có dấu hiệu thai nghén, cái bụng nhủm lên trong gương mặt rạng ngời, nụ cười viên mãn hạnh phúc.

Ngay sau đó, vợ chồng N chuyển về quê sinh sống gần nhà ông bà nội để tiện chăm sóc thai nghén sinh nở, vì đây là lần đầu họ có con. Tôi cũng hiểu rằng N tránh mặt tôi bởi điều cô ấy mong muốn nay đã thành hiện thực, cô ấy cần phải rời khỏi tôi để bảo toàn hạnh phúc. Không biết tôi có yêu N không nhưng rõ ràng tôi đã rất thương cô ấy, với lại trong sâu thẳm, cô ấy đang mang trong mình giọt máu của tôi, làm sao tôi không khắc khoải và day dứt khi xa cách. Nhưng lý trí của tôi nhủ rằng mục đích của N khi đến với tôi là để có một đứa con, đạt được mục đích, cô ấy chuyển đi là đương nhiên.

Chiến tranh kết thúc sau đó một năm. Tôi về lại miền Nam gặp vợ và các con. Ký ức về N và những ngày tháng nơi sơ tán giờ chỉ còn là một vệt nhớ mơ hồ. Cuộc sống bao nỗi toan lo cứ thế cuốn tôi đi trong dòng chảy gấp gáp. Vợ chồng tôi có thêm 3 đứa con nữa. Tôi là con trai trưởng của cả một dòng họ, bởi vậy hai vợ chồng cố đẻ cho được một mụn con trai nối dõi tông đường. Nhưng càng cố, lại chỉ toàn con gái.

Cả dòng họ, cả ông bà nội ngoại đều sốt ruột, mong mỏi. Cho đến khi vợ tôi không còn khả năng sinh nở nữa, cả dòng họ tôi khuyên tôi giấu biệt vợ con nên “ăn ra” với người đàn bà quá lứa lỡ thì nào đó để kiếm chút con trai. Ông bà nội còn nói xa nói gần những năm tháng tập kết ra Bắc, nếu tôi có đứa con rơi con vãi nào thì tìm lại, được thằng con trai thì kiếm nó về.

Tôi lắc đầu chôn kín câu chuyện năm xưa của mình. Với lại, cương vị công tác của tôi không cho phép tôi làm điều gì sai phạm và khuất tất. Năm tháng cứ thế trôi qua, cho đến lúc tôi nghỉ hưu. Lúc này mọi ràng buộc về danh vọng đã kết thúc, tôi mới nghĩ đến chuyện đi tìm N. Tôi đã về Vĩnh Linh, Quảng Trị không biết bao nhiêu lần trong quãng 10 năm trời để lần tìm địa chỉ của N. Không một ai biết họ ở đâu, mà ngày xưa tôi cũng đâu có hỏi quê cô ấy ở đâu mà tìm. Cứ thế tôi trở đi trở lại không biết bao nhiêu lần với một nỗi hy vọng mơ hồ.

Cuộc đời thật là bao nỗi trái khoáy trớ trêu. Lần gần đây nhất tôi trở lại Vĩnh Linh, trên chuyến xe đường dài từ Sài Gòn ra Quảng Trị, tôi ngồi cùng một hành khách tên T. Cậu T là chủ tịch xã X ở huyện Vĩnh Linh.

Gặp được người nơi mảnh đất tôi cần đến, thế là tôi dốc bầu tâm sự kể cho T nghe câu chuyện suốt mấy năm nay tôi đi tìm một cặp vợ chồng nhà hàng xóm trong những năm tôi tập kết ở Vĩnh Linh.

Ông trời thật khéo run rủi, cậu T reo lên khi tôi nói đúng tên mẹ và cha của mình. T quả quyết, người mà tôi cần tìm chính là cha mẹ T, và T là đứa con trai độc nhất của họ. Đến Quảng Trị, T nhiệt tình hăng hái bắt xe ôm đưa tôi về nhà của cậu ấy. Khi nhìn thấy N, tôi không tin vào mắt mình nữa, đây đúng là N rồi, hơn 30 năm nay, tôi không thể nào quên được đôi mắt của N, dù tuổi tác đã xoá mờ đi dấu vết trẻ trung thời son trẻ, song đôi mắt thì vẫn vậy, đầy nước và đen thẳm, với ánh nhìn cầu xin trong cái đêm tranh tối tranh sáng dưới hầm trú ẩn.

N nhận ra tôi ngay, bà ấy không thể không nhận ra tôi, cái người đàn ông đã từng là hàng xóm của bà, người đã để một dấu ấn quan trọng trong cuộc đời bà là cho bà một đứa con để bà trọn vẹn hạnh phúc trong cuộc đời. Gặp nhau, N òa lên khóc, nước mắt vỡ tràn, ký ức cuộn sóng quay về. Chồng N cũng rất xúc động khi gặp lại tôi, ông tiếp đãi tôi hết sức nhiệt tình và mến khách.

Tôi ở lại chơi với vợ chồng N một đêm hai ngày. Dịp ấy đúng rằm tháng 6. T kéo tôi đi lễ rằm, cúng họ liên miên suốt cả hai ngày ấy. T nói với tôi: “Bác ơi, cha mẹ cháu chỉ có cháu là con độc nhất, lại là con trai, tộc trưởng nên cha mẹ cháu cứ bắt vợ chồng cháu phải đẻ thật nhiều để ông bà nuôi hộ. Bác bảo bây giờ tiêu chuẩn chỉ có hai, cháu lại có hai thằng cu rồi, thế mà mẹ cháu vẫn bắt vợ chồng cháu phải đẻ nữa.

Cương vị của cháu bây giờ là chủ tịch xã, đẻ nữa nói ai nghe. Bác là bạn năm xưa của cha mẹ cháu, bác phải góp ý cho mẹ cháu giúp cháu đấy nhé”. T nói rồi cười vang. Tôi đã suýt rơi nước mắt khi nhìn thấy con trai tôi giống tôi như đúc ngày còn trẻ. Gương mặt mịn màng rám nắng, thân hình vạm vỡ khoẻ mạnh, vầng trán cao, đôi mắt sáng, mạnh mẽ đầy nghị lực. T đúng là giọt máu mà tôi đã trao cho người phụ nữ ấy trong căn hầm trú ẩn.

Hai ngày hôm ấy, tôi đã tìm cách gần N nhưng bà ấy luôn tránh nói chuyện riêng với tôi, hình như N không muốn khơi gợi lại tất cả. Khi biết tôi có 5 cô con gái, không có con trai, tôi lại là con trai trưởng trong gia đình, tôi nhìn thấy sắc mặt N tối sầm lại. Một nỗi lo lắng ập xuống, làm cho N như già thêm mấy tuổi.

Từ đấy, N càng tránh mặt tôi. Lúc chia tay, N dúi cho tôi một mảnh giấy nhỏ rồi nhường cho cha con T tiễn tôi. Đến lúc lên xe, về lại khách sạn nghỉ, tôi mới dám mở mảnh giấy ra đọc. N viết nguệch ngoạc mấy chữ: “Gia đình em đội ơn bác rất nhiều. Em mang nợ với bác, kiếp này đời này không trả nổi. Mong bác hiểu cho”.

Từ bấy đến nay, tôi nhắm mắt, mở mắt, lúc ăn, lúc ngủ, lúc thức, tôi đều thấy hình ảnh của T, cậu con trai giờ đã ngoài 30 tuổi mang hình bóng tuổi trẻ năm xưa của tôi. Nhưng éo le thay gia đình N chỉ có duy nhất một đứa con là T, bây giờ T lại là chủ tịch một xã ở Vĩnh Linh, lại đang là tộc trưởng của một dòng họ. Tôi không biết chồng N, cha của T có biết rằng T không phải là đứa con ruột của ông ta hay không.

Tôi không biết năm xưa, kế hoạch xin một đứa con là do mình N nghĩ ra hay có cả sự đồng thuận của chồng N nữa. Tôi cũng là con trai trưởng của một dòng họ, và hiện nay vì tôi không có con trai nên coi như dòng họ đến đời tôi là cụt ngọn. Tôi phải làm gì đây, làm như thế nào đây.

Bao nhiêu câu hỏi giằng xé, đan xen trong trái tim tôi đến ứ nghẹn. Trong thâm tâm tôi, tôi chỉ muốn chạy ào đến và ôm chầm lấy cậu con trai của tôi và nói rằng, con ơi, ba chính là ba đẻ của con đây, con ơi, ba muốn được nhận con lắm lắm, dòng máu của ba phải trở về bên ba, để làm trưởng cho dòng họ Nguyễn nhà mình chứ. Bi kịch thay, tôi biết mình không thể làm vậy được vì hình như tôi không có quyền.

SOURCE: CHUYÊN MỤC “CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT” TRÊN AN NINH THẾ GIỚI CUỐI THÁNG

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/chuyenkhotin/2008/5/52238.cand

BÌNH ĐẲNG GIỚI CẦN ĐƯỢC HIỂU ĐÚNG

Người gửi: Lê Hạnh,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Bình đẳng giới cần được hiểu đúng

Mỗi khi nhắc đến việc phân công công việc theo đặc thù tâm sinh lý, thì một số chị em phụ nữ “hiện đại” có thái độ phản ứng quyết liệt, cho rằng như vậy là phụ nữ phải chịu “hy sinh”. Điều này làm tôi nhớ đến một bài báo mà VnE từng đăng, mời các bạn đọc lại chắc sẽ thấy thú vị (và cả chí lý nữa) tại link sau:
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2003/06/3B9C9319/

Trong ý kiến của tôi, không phải ngẫu nhiên mà cả thế giới này từ cổ chí kim trải qua hàng nghìn năm, vai trò của nam giới và phụ nữ trong xã hội lại được phân công gần như hoàn toàn giống nhau ở khắp nơi như vậy. Ông bà ta sai chăng? Hay nhân loại “không hiện đại” chỉ là một tập đoàn những kẻ man rợ trong đó đàn ông đàn áp phụ nữ, bắt phụ nữ phải “hy sinh”? Có phải vậy chăng cho nên một số chị em hôm nay, dù từ khi lọt lòng cho đến lúc trưởng thành chưa hề “hy sinh” cho ai, nhưng nhất định cho rằng mình có nghĩa vụ phải đấu tranh đòi “bình đẳng nam nữ”?
Ông Giáo sư người Do Thái trong bài viết (link trên) nhận xét không sai. Các chị em “hiện đại” chỉ nhăm nho đòi quyền lợi thỏa thích sao cho giống như đàn ông, và dĩ nhiên không hề từ bỏ những quyền lợi sẵn có của giới nữ hoặc có thái độ ủng hộ nam giới “bình quyền”.
Trước đây khi còn trẻ, quả thật tôi rất cổ súy “nam nữ bình quyền” theo cách hiểu của các chị em đó. Nhưng càng trải đời hơn , tôi càng nhận ra rằng mình, và những chị em “bình quyền” này hiểu sai vấn đề. Đành rằng phụ nữ cũng có quyền tham gia mọi hoạt động như nam giới, và chúng ta khuyến khích, tạo điều kiện để một nửa nhân loại này phát triển mọi kỹ năng và khả năng đóng góp. Nhưng cần phải suy nghĩ đến một vấn đề khác là mỗi người có một việc, một nhiệm vụ mà người đó làm tốt hơn. Nay ai cũng nhào đi làm những việc “bình quyền” của nam giới, thì ai chăm sóc con cái tốt hơn? Ai giáo dục con cái tốt hơn? Thiên chức của người phụ nữ ban cho họ khả năng rất tỉ mỉ, khéo léo, mềm mại, tình cảm dồi dào…
Ai đã đọc những tác phẩm phân tích đặc thù tâm sinh lý nam nữ như cuốn “Đàn ông từ sao Hỏa, phụ nữ từ sao Kim” của tiến sĩ John Gray (best seller), cũng như đã trải qua cuộc sống vợ chồng hoặc gắn bó yêu thương bạn khác giới một thời gian đủ dài, sẽ đồng ý với tôi rằng phụ nữ và đàn ông hoàn toàn khác nhau trong cách nghĩ và cách xử lý, hành động. Chính những đặc trưng đó đã tạo nên xã hội ta ngày nay một cách hoàn toàn tự nhiên hợp quy luật.
Riêng một số người lại hiểu đàn ông nhậu nhẹt được, hút thuốc được… thì phụ nữ cũng phải làm được thì mới “bình quyền” là tầm bậy. Những thói hư tật xấu ấy bản thân đàn ông cũng không nên có chứ đừng nói chi phụ nữ. Sở dĩ xã hội sản sinh nhiều người đàn ông làm những chuyện đó vì trong quan niệm của họ, những hành vi trên tuy không hay ho gì, nhưng nó bắt nguồn từ sự hiếu thắng muốn khẳng định “bản lĩnh đàn ông”. Nay các chị em phụ nữ muốn đua đòi, định khẳng định “bản lĩnh đàn ông” đó dưới cái mác mới “bản lĩnh nam nữ bình quyền”, thì e rằng phản tác dụng, chuốc lấy những hậu quả không nói trước ra được bởi lẽ chẳng khác nào đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, chẳng ai hoan nghênh gì đâu, ngoại trừ những kẻ có mục đích lợi dụng không tốt đẹp gì.

SOURCE: VNEXRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ:

http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Binh-dang-gioi-can-duoc-hieu-dung/10948086/478/

ĂN XIN CÔNG SỞ: MỘT BIẾN THÁI ĐẠO ĐỨC MỚI

A. SÁNG – Vietimes

1. Lừa đảo công khai kiểu bình thường

Trên đường Lý Thường Kiệt (Hà Nội) có một quán cơm. Họ chỉ bán hàng vào buổi trưa, cơm ở đây khá ngon và giá cả cũng hợp lý, khách lúc nào cũng đông nườm nượp, chủ yếu là công chức làm việc tại các văn phòng gần đó. Cơm ngon, khách lịch sự, chủ quán vui vẻ, hè phố rộng rãi… nói chung khó tìm được một nơi ăn trưa tốt như thế. Chỉ mỗi cái tội bị những “cái bang” đường phố “khủng bố”. Tôi nói như vậy không mang hàm ý miệt thị hay khinh rẻ những con người có vẻ thân phận kia. Nhưng tôi cũng không thể có cảm tình hay chấp nhận kiểu xin ăn một cách lỗ mãng của họ. Thật sự không thể, nếu không muốn nói rất bực mình! Ở chừng mực nào đó, họ như những kẻ lừa đảo công khai.

Cái chuyện ăn xin ở phố phường bây giờ đã thành quá quen thuộc. Họ là ai? Có phải là những người mất khả năng lao động, bệnh tật, thiểu năng..? Không! Ít ra là không hoàn toàn như vậy! Những người ăn xin tôi mới gặp đây – họ khỏe mạnh, hoạt bát như bất cứ người bình thường nào. Phải nói rằng, họ còn tinh ranh và khôn ngoan hơn rất nhiều người bình thường. Nhưng, họ lại ăn xin! Thật kỳ cục và vô lý, thế nhưng đó đã trở thành hình ảnh quá quen thuộc ở phố phường.

Continue reading →

"PHỤ NỮ KHÔNG NÊN HY SINH MỘT CÁCH MÙ QUÁNG"

Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Thị Quý, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu giới và phát triển, khẳng định, mặc dù chỉ số phát triển giới của Việt Nam ở mức trung bình so với thế giới, phụ nữ Việt Nam hiện vẫn phải chịu nhiều bất bình đẳng so với nam giới. Nhân ngày 8/3, VnExpress có cuộc trò chuyện với bà.

– Là một trong những người đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu về giới, bà đánh giá thế nào về sự bình đẳng giới ở Việt Nam?

– Liên Hợp Quốc hằng năm đều công bố chỉ số phát triển giới của các nước, trong đó có Việt Nam. Nhiều năm liền, Việt Nam luôn đứng ở hàng giữa, tức không phải là nước có sự bình đẳng giới tốt nhất hoặc kém nhất. Bình đẳng giới tùy thuộc vào nhiều yếu tố, chính sách của nhà nước, sự phát triển về kinh tế, nhận thức của người dân. Việt Nam đứng ở quãng giữa thì cũng là điều mừng vì đã vượt nhiều nước có nền kinh tế phát triển hơn.

Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn, sự phát triển của kinh tế và tư duy thì Việt Nam còn rất nhiều vấn đề phải bàn liên quan đến bình đẳng giới. Bước vào đổi mới năm 1986, khi bắt đầu mở hướng nghiên cứu giới thì các nhà nghiên cứu mới nhận ra được điều này.

– Lĩnh vực nào phụ nữ Việt Nam bị bất bình đẳng nhiều nhất, thưa bà?

– Đó chính là sự phân công lao động bất hợp lý giữa nam và nữ. Theo thông báo chính thức của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, thời gian lao động của nữ giới thường cao hơn nam giới 3-4 tiếng mỗi ngày. Khoảng thời gian vượt trội này, chị em toàn làm việc không công như nội trợ, dọn dẹp nhà cửa, dạy dỗ con cái… Ở vùng nông thôn và miền núi, nơi dân trí thấp, phụ nữ dân tộc thiểu số còn phải làm việc quần quật từ 5h sáng đến 11-12h đêm.

Ở một khía cạnh khác, nữ giới chiếm gần một nửa lực lượng lao động, nhưng số giữ vị trí lãnh đạo so với dân số và so với tiềm năng thực sự của chị em là rất thấp. Trong 64 tỉnh thành, hiếm thấy có phụ nữ làm chủ tịch UBND tỉnh hay bí thư tỉnh ủy. Ở các cấp thấp như huyện, xã, số nữ giới làm lãnh đạo cũng rất nhỏ nhoi.

– Nhưng cũng có lý giải cho rằng, trên bình diện chung, khả năng của nữ thấp hơn so với nam?

– Theo các nghiên cứu khoa học, khả năng của nam và nữ không khác gì nhau, thậm chí có trường hợp nữ giỏi hơn rất nhiều. Không thể nói là năng lực của phụ nữ kém hơn nam giới mà là điều kiện của họ tồi hơn rất nhiều. Chị em bị thiệt thòi ở giai đoạn mang thai, sinh con. Thời gian này ít cũng phải 10 năm khiến quá trình đào tạo của họ bị gián đoạn. Chỉ có người nào cố gắng hết sức mới theo kịp được nam giới cùng trang lứa, nếu không sẽ bị thụt lùi.

Một thiệt thòi nữa là xã hội đang đẩy cho phụ nữ tất cả công việc nội trợ gia đình. Ngay khẩu hiệu của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam “Phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà” là rất sai. Tại sao không phải là “Nam nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà”? Tại sao lại đẩy nam giới ra khỏi việc nhà trong khi thực tế rất cần bàn tay của họ? Khẩu hiệu ấy thể hiện sự bất bình đẳng rất lớn. Nếu phụ nữ phải làm tất cả công việc gia đình thì còn đâu thời gian học tập.

Ở các nước như Thụy Điển còn có chính sách chồng chia sẻ việc nhà với vợ. Ở Áo, nam giới không làm việc nhà còn bị phạt.

– Bà đánh giá thế nào về nạn bạo hành ở Việt Nam?

– Chúng tôi vừa tiến hành cuộc điều tra bạo lực gia đình ở Hà Nội, Thái Bình, Phú Thọ, kết quả cho thấy đánh vợ hiện nay rất phổ biến. Đặc biệt, ở nông thôn, chồng đấm đá, tát vợ một cách bừa bãi. Thực sự, những vụ đánh vợ đến nỗi chết, gây thương tích được phản ánh trên báo chí thì không nhiều, nhưng đấm tát, xúc phạm nhân phẩm thì diễn ra thường xuyên, đến nỗi người ta coi là bình thường.

Ở các nước có thống kê quốc gia về nạn bạo lực gia đình, nhưng Việt Nam chưa có vì mình cho là chuyện xấu. Chúng tôi đã đấu tranh, đưa vấn đề bạo lực gia đình ra ánh sáng và rất mừng là Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội đang chuẩn bị soạn thảo Luật phòng chống bạo lực gia đình. Đây không còn là vấn đề của riêng gia đình mà là của toàn xã hội.

– Có ý kiến cho rằng một số phụ nữ đòi hỏi bình đẳng thái quá, gần như muốn chuyển đổi vai trò giữa hai giới?

– Những người nhận xét phụ nữ đòi hỏi bình đẳng thái quá là không hiểu biết về giới. Thực tế nam nữ chưa bình đẳng, ngay cả Liên Hợp Quốc từng nhiều lần khẳng định hiện nay trên thế giới chưa nơi nào nữ giới đạt được sự bình đẳng. Trong hoàn cảnh như thế, việc đấu tranh đòi bình quyền là rất bình thường, không có gì thái quá.

– Theo bà, phải làm thế nào để thay đổi quan niệm xã hội, để phụ nữ thực sự bình đẳng với nam giới?

– Sự bất bình đẳng giới xuất phát từ trong xã hội phụ quyền, tồn tại hàng nghìn năm nay. Để thay đổi nó là cả quá trình lâu dài và khó khăn. Trước hết, phụ nữ phải được học hành để nhận thức đúng về giới. Khi chưa có luật pháp hỗ trợ thì ngay trong gia đình, chị em phải biết bố trí các thành viên khác cùng chia sẻ việc nhà, dành thời gian học hành, phấn đấu cho sự nghiệp. Phụ nữ không nên chấp nhận hy sinh một cách mù quáng. Bác Hồ đã nói giải phóng phụ nữ tức phụ nữ phải tự làm là chính, nam giới và chính quyền chỉ có thể hỗ trợ.

Về mặt nhà nước, phải có chính sách và phải giám sát việc thực hiện chính sách đó nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy hết khả năng của mình. Chúng tôi hay gọi là lồng ghép giới, tức là đưa vấn đề về giới vào trong chính sách và muốn thực hiện được phải có chương trình toàn quốc.

Tôi muốn nói thêm, trong cách giáo dục con trẻ, người lớn phải có cách nhìn nhận đúng đắn về giới. Xã hội hiện vẫn cho rằng dạy trẻ nam hướng ngoại, trẻ nữ hướng nội là tốt nhất, hay bây giờ cứ ra ngõ gặp gái thì cho là xui xẻo… Tất cả cách nghĩ ấy, hành vi ấy thể hiện sự bất bình đẳng. Phụ nữ là người thày đầu tiên của con người, vừa đẻ ra họ đã bế, ru con và dạy con rồi, vậy tại sao lại không tôn trọng họ, lại cho rằng ra ngõ gặp gái là xui?

– Là người đấu tranh đòi bình đẳng cho phụ nữ, vậy xin hỏi trong gia đình bà có sự bình đẳng?

– Chồng tôi là Viện trưởng Viện nghiên cứu Thanh niên, là một chuyên gia nghiên cứu về xã hội học. Con trai tôi đang dạy xã hội học tại Phân viện Báo chí và tuyên truyền. Cả ba cùng nghề thành ra rất hiểu và tôn trọng lẫn nhau. Nếu ai có thiên hướng gì thì được giúp đỡ tối đa để phát huy hết khả năng.

Nhân ngày 8/3, tôi chỉ có lời nhắn nhủ chị em hãy cố gắng có được sự ủng hộ của gia đình để tạo cho mình một không gian tự do và sáng tạo.

Như Trang thực hiện (VNEXPRESS.NET)

TRÍCH DẪN LẠI TỪ: http://vietbao.vn/Xa-hoi/Phu-nu-khong-nen-hy-sinh-mot-cach-mu-quang/10947797/157/

ĐỪNG NHẦM LẪN GIỮA BÌNH ĐẲNG GIỚI VỚI TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA

Người gửi: Đào Khánh Tùng,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Trả lời bạn Minh Nguyệt và các bạn khác

Thưa bạn Minh Nguyệt,

Tôi đọc bài viết của bạn và thấy cần phải trả lời bạn như sau:

Tôi hoàn toàn ủng hộ bạn trong việc đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ. Trước đây khi còn ở Việt Nam tôi đã làm việc rất nhiều trên vấn đề bình đẳng giới và nếu cần bạn có thể tham khảo qua Hội Phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên, trong bài viết của bạn (và một số bạn khác nữa) tôi thấy các bạn đang có một sự nhầm lẫn đến nguy hiểm giữa những nét truyền thống văn hoá đáng quý vá đáng trân trọng của phụ nữ Việt Nam. Bạn nói rằng “con gái không được nói to và luôn sơ sệt khi đi ra ngoài đường”. Bạn không thấy rằng ăn nói nhỏ nhẹ có duyên là một nét vô cùng hấp dẫn của phụ nữ Việt Nam nói riêng và của tất cả phụ nữ trên thế giới nói chung hay sao? Ngay cả giới đàn ông chúng tôi đâu phải ai cũng ăn nói bô bô ngoài đường đâu. Tôi dám chắc bạn sẽ yêu một người đàn ông lịch lãm ăn nói nhẹ nhàng hơn là một người suốt ngày om xòm ngoài đường.

Việc con trai được hưởng ưu tiên trong thừa hưởng gia tài cũng vậy. Đây là việc không chỉ riêng gì ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước tiến bộ khác trên thế giới. Đặc biệt ở Việt Nam còn có truyền thống con trai chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Sao bạn không nói rằng con gái không được gánh vác trách nhiệm này đi?

Còn các vấn đề khác, tôi đã làm việc với rất nhiều các nhóm dân tộc thiểu số và các quần thể dân số ở các vùng khác nhau ở nước ta, nhưng tôi thấy các vấn đề bạn nêu ra không còn quá nghiêm trọng như bạn đã nói trong bài viết đâu. Bây giờ Việt Nam ta cũng tiến bộ rất nhiều so với các nước khác rồi. Vấn đề bạn trinh hay không khi lấy chồng thiết nghĩ chỉ có bạn và chồng bạn biết thôi chứ đâu còn là vấn đề đại diện cho xã hội nữa đâu. Bạn thử đến các nước khu vực Trung Á như Pakistan, Afganistan, hay Ấn Độ xem! Vấn đề quan hệ tình dục giữa nam và nữ còn bị cấm kỵ hơn nhiều và trinh tiết thậm chí còn bị kiểm tra trước khi kết hôn cơ.

Tóm lại, tôi khuyến khích bạn đấu tranh cho bình đẳng giới nhưng chỉ cảnh báo bạn đừng nhầm lẫn giữa bình đẳng giới với truyền thống văn hoá, vì nếu bạn nhầm lẫn như vậy thì trong tương lai chúng ta sẽ đứng trước nguy cơ mất đi cả một nền văn hoá rất rất đáng quý. Nếu bạn muốn trao đổi với tôi về đề tài này, tôi luôn sẵn sàng đón chào bạn tại địa chỉ email: drtung722002@yahoo.comĐịa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó hoặc dktung@brandeis.eduĐịa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó .

Chúc bạn thành công.

SOURCE: VNEXRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ:

http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Dung-nham-lan-binh-dang-gioi-voi-truyen-thong-van-hoa/10948721/478/

THỜI CỦA CHÚNG EM, QUAN NIỆM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI SẼ KHÁC

Người gửi: Anh Tú,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Vài lời với chị Minh Nguyệt

Em đã đọc bài của chị Minh Nguyệt và anh Đào Khánh Tùng . Em đồng tình với suy nghĩ của anh Tùng: (Sinh viên của) chị Nguyệt hình như hơi căng thẳng hoá và đánh đồng nhiều vấn đề vào chung cái mác “bất bình đẳng”. Em xin được nêu suy nghĩ của mình về một số điều chị Minh Nguyệt chỉ ra là “bất công của phụ nữ VN”:

– Theo em, “con gái không được nói to và luôn sơ sệt khi đi ra ngoài đường” là một cái gì đó quá áp đặt của các thế hệ đi trước và ngày nay thế hệ trẻ chúng em không còn suy nghĩ như thế nữa. Trời sinh mỗi người một tính cách, có người nhu mì, có người mạnh mẽ, không phân biệt nam nữ, chả ai có thể vô lý đến mức bắt phụ nữ phải nhẹ nhàng, mà nam giới phải mạnh mẽ được – những người có suy nghĩ đó phải nói là đã lạc hậu khoảng 60 năm rồi (từ thời phong kiến). Em tin rằng thế hệ trẻ chúng em chỉ còn một bộ phận nhỏ còn có kiểu suy nghĩ trên, và chủ yếu là do thiếu sự hiểu biết mà thôi. Tuy nhiên, đa số đàn ông đều thích nét đẹp dịu dàng của chị em phụ nữ, nên nếu phụ nữ dịu dàng thì sẽ dễ nhận được thiện cảm hơn (dĩ nhiên có nhiều người lại thích phụ nữ hoạt bát lanh lợi và mạnh mẽ). Chị Minh Nguyệt phải chăng hơi căng thẳng hoá việc đàn ông chúng em thích dịu dàng đằm thắm hơn là ăn to nói lớn? Vấn đề chỉ là cảm nhận thôi mà? Có người thích thế này, có người thích thế khác làm sao bắt họ ngược lại được (riêng em thì người yêu của em thuộc loại khá mạnh mẽ sôi nổi và giọng nói “rất có uy lực”).

– “Phụ nữ sẽ phải chịu trách nhiệm nếu: con hư, gia đình lục đục, chồng say hoặc ngoại tình, không có con hoặc con một bề”. Em chưa gặp ai trong số họ hàng và bạn bè của bố mẹ em có suy nghĩ kiểu thế này. Vấn đề trách nhiệm thuộc về ai thực sự có lỗi. Ví dụ một người trước khi lấy vợ không hề rượu chè mà lấy vợ xong đột nhiên thích say xỉn thì rõ là phải xem xem vì lý do gì mà anh ta trở nên như thế, còn nếu anh ấy thích uống rượu sẵn thì có vợ hay không có vợ cũng có làm anh ta trở nên thích rượu hơn hay ghét rượu đi đâu? Việc không đẻ con trai càng buồn cười hơn, nếu ai có chút hiểu biết đều biết vấn đề này chẳng phải tại ai cả!

– “Phụ nữ phải về nhà chồng sau khi cưới. Họ của con mang họ của cha”. Theo em nếu sau khi kết hôn mà chồng có nhà riêng, ai cũng muốn ra riêng cả, còn nếu nhà vợ có điều kiện tốt hơn nhà chồng, thì những anh chồng “đủ can đảm đứng trước thiên hạ” sẽ vui lòng đi ở rể thôi! Còn con cái mang họ ai thì xin miễn bàn: chúng ta đang sống trong chế độ phụ hệ, và nếu ai muốn thay đổi việc con cái mang họ của mẹ thì em xin bái phục! Có lẽ người ta đang muốn làm một cuộc cách mạng văn hoá triệt để?

– “Phụ nữ sẽ trở thành chủ đề đàm tiếu nếu “đến tuổi” mà không có người yêu hoặc không có chồng. “Chắc con bé đấy có vấn đề”. – nếu họ đã trên 40 thì thường là họ có vấn đề thật! Chị mạnh mẽ thế mà chả cũng có chồng rồi đó sao? Nhưng ngày nay bọn trẻ chúng em – cả nam lẫn nữ – cũng không thích lập gia đình sớm: phải có cơ bản tài chính hẵng rồi mới tính chuyện lớn cả đời được chứ? Theo em phụ nữ chừng trên 40 vẫn chưa lấy chồng mới bắt đầu gọi là gái già.

– “Nam giới được coi là có quyền chủ động trong tình yêu, còn phụ nữ thì không. Con gái thì phải còn trinh khi lấy chồng, còn với đàn ông thì chẳng ai quan tâm” – điểm này em phải công nhận là VN mình còn nhiều người, trẻ có và già có, quá cổ lổ sĩ. Có nhiều ông đi dụ dỗ gái nhà lành cả đống, nhưng rồi cứ tự cho mình cái quyền phải được lấy vợ còn trinh! Vấn đề trinh tiết em đồng ý là phải đấu tranh để loại bỏ cái suy nghĩ quá quan trọng hóa trinh tiết đi. Về mặt sinh học thì nó chả có tác dụng gì mấy, mà về ý nghĩa tinh thần thì hoàn toàn do người ta tự tôn nó lên – có lẽ hơi mang tính “độc chiếm”? Thật nực cười khi chuyện quan trọng là có quyết định lấy nhau hay không lại phụ thuộc vào việc vợ sắp cưới có còn trinh hay không?

– “Xã hội có thành kiến đối với những phụ nữ thành đạt, bằng cách nói “phụ nữ thành đạt thì không có hạnh phúc”. Xin thưa, từ khi còn nhỏ tí đã được giáo dục như thế thì hỏi rằng còn chị em nào dám thành đạt nữa?”. Theo em suy nghĩ này chính là của chị em phụ nữ (các bà, các mẹ) chứ không phải của nam giới, các chị nên tự cải cách chính mình đi nhỉ? Nam giới bọn em có mấy ai chê phụ nữ giỏi giang đâu? Nhìn chung, khá nhiều suy nghĩ “bất bình đẳng” lại thuộc về chính các bà, các mẹ, các cô các thím, chứ không phải từ phía cánh đàn ông (nhận xét chủ quan của em thôi). Cho nên nếu các chị muốn làm cách mạng đòi bình quyền thì không nên chỉ lôi đàn ông ra để chỉ trích?

– “Con trai được ưu tiên trong việc thừa hưởng gia tài.” – Em không rõ vấn đề này lắm, nhưng nếu cha mẹ thương con cái thì chả ai lại tỏ ra bất công trong chia tài sản cả: bà nội em tuy đã già lắm nhưng vừa làm di chúc chia đều tài sản cho tất cả các cô, chú, bác, không ai hơn ai tẹo nào, ngay cả con dâu của chú út nhà em (không may chú qua đời sớm, cô hiện đã có chồng kế) cũng được một phần bằng các cô chú khác. Ông nội em ngày xưa mất cũng chia đều tài sản cho con cái.

Em cũng có nghe một số trường hợp con dâu bị ngược đãi ở nhà chồng (trên báo), nhưng em nghĩ là do còn nhiều người VN mình dân trí không cao, thiếu hiểu biết, chứ có học thức đàng hoàng, chả ai lại có những đối xử bất công khinh nữ ttrọng nam cả?

– Em nghĩ rằng nguồn gốc của mọi bất công trong xã hội đều do trình độ dân trí mà ra, phương Tây họ bình đẳng hơn chúng ta cũng là do học thức chung của người dân họ rất cao. Còn VN mình chỉ mới phổ cập cấp 2 ( hay cấp 1?) thì sao tránh khỏi việc rất nhiều người làm những việc rất vô lý (vô nhân đạo) được!

– Giới trẻ bọn em (những người em quen biết) hầu như không mấy ai có những tư tưởng trọng nam khinh nữ mà chị và một số chị khác đã nêu ra. Em nghĩ rằng các chị có lẽ đang có những xung đột với thế hệ lớn tuổi hơn nữa. Đọc bài của chị và mọi người, em tin là thời của bọn em sẽ khác hẳn những gì mọi người tả!

SOURCE: VNEXRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ:

http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Thoi-cua-chung-em-quan-niem-ve-binh-dang-gioi-se-khac/10948949/478/

ĐỪNG BẮT CHƯỚC PHƯƠNG TÂY

Người gửi: Vũ Trung,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Đừng bắt chước phương Tây.

Mỗi nước và thậm chí mỗi miền đều có nền văn hóa riêng. Sự quý giá của nền văn hóa chính là ở cái riêng đó. Phong tục, tập quán và đặc biệt là truyền thống đạo đức… đều in đậm dấu ấn trong văn hóa phẩm của mỗi dân tộc, mỗi nước, mỗi vùng… Viết ra và tranh luận thì rất dài nên chỉ có một đề nghị: học tập có chọn lọc thì nên làm nhưng xin đừng bắt chước người và nhất là đừng lấy phương Tây làm gương để noi theo một cách mù quáng như tôi thấy hiện nay đã có rất nhiều trong lối sống, thời trang, ca nhạc… ở Việt Nam.

Hiện chính phương Tây đang học tập nhiều cái hay của Á châu (trong đó có Việt Nam) mà nhất là trong các mặt sau: dung hòa, hiếu khách, sự dịu dàng và hy sinh của phụ nữ, cách ăn uống văn minh (có lợi cho sức khoẻ) v.v… và v.v… Và chính họ cũng còn tranh luận về việc giảng dạy sex quá sớm trong nhà trường và phê phán các phim sex rẻ tiền.

Hãy tìm ra một lối đi cho riêng mình chứ đừng nên bắt chước! Ngạn ngữ đã dạy: bắt chước sẽ không bao giờ có kết quả!

SOURCE: VNEXRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ:http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Dung-bat-chuoc-phuong-Tay/10947368/483/

TÔI KHÔNG THÍCH PHỤ NỮ PHẢI HY SINH

Người gửi: Nguyễn Trang Nhung,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Tôi không thích phụ nữ phải hy sinh!

Gửi anh Vũ Trung,
Tôi xin bắt đầu bằng trích dẫn một đoạn từ bài viết của anh:
“Hiện chính phương Tây đang học tập nhiều cái hay của Á châu (trong đó có Việt Nam) mà nhất là trong các mặt sau: dung hòa, hiếu khách, sự dịu dàng và hy sinh của phụ nữ”
Điều anh nói có thể đúng. Song nhìn vào nhận xét đó của anh, tôi muốn nói với anh điều này:
Tôi không thích cụm từ “sự hy sinh của phụ nữ”. Có thể anh cho đó là cái hay của người Á châu, nhưng tôi thì không.
Trong xã hội phương Đông, đề cao sự hy sinh của phụ nữ cũng đồng nghĩa với kỳ vọng ở mỗi người phụ nữ có được “đức hy sinh cao cả” ấy. Và như thế, kéo theo thành kiến đối với những người phụ nữ có địa vị, thành đạt về công danh nhưng không thành đạt trong cuộc sống gia đình vì người phụ nữ như thế không có “sự hy sinh” cho gia đình.
Xã hội phương Tây trả về cho phụ nữ các quyền bình đẳng với nam giới hơn xã hội phương Đông. Phụ nữ phương Tây thường là chính họ khi họ có thể thành công đồng thời cả trong sự nghiệp và trong cuộc sống gia đình mà không phải hy sinh (hoặc không phải hy sinh nhiều) như phụ nữ phương Đông. Đó mới chính là điểm hay đấy chứ!
Tại sao người hy sinh luôn luôn là phụ nữ, khi phụ nữ có thể chia sẻ bớt những gánh nặng cho nam giới?!
Tại sao phụ nữ phải hy sinh, khi thay vì hy sinh, có những cách giải quyết công việc tốt hơn là để họ phải hy sinh?!
Tại sao phải phụ nữ phải hy sinh, khi sự hy sinh của họ “thường không được đền bù xứng đáng”. Tôi nói điều nay e có nhiều người bất bình. Mọi người sẽ nói: Đã hy sinh cho người khác sao lại nghĩ đến sự đền bù? Nhưng quả thật, nếu hy sinh mà không nhận được sự đền đáp thì đấy chỉ là một sự hy sinh đặt nhầm chỗ mà thôi!
Điều “xứng đáng” hay sự “đền bù” mà tôi nói đến, có khi chỉ đơn giản là sự quan tâm và biết ơn từ những người mà người phụ nữ đã hy sinh vì họ. Thường phụ nữ hy sinh rất nhiều cho người chồng, người yêu, nhưng không hẳn người chồng hay người yêu cảm được sự hy sinh ấy!
Đấy, tôi nói thế, để nói với anh Vũ Trung và nhiều người đồng quan điểm với anh rằng: sự hy sinh chỉ trở nên tốt đẹp và đáng ca ngợi khi nó được đặt đúng chỗ và thêm nữa, sự hy sinh nếu trở thành một thứ phẩm chất để người ta kỳ vọng ở phụ nữ thì đó chỉ là một phẩm chất ràng buộc người phụ nữ mà thôi!
Hãy chỉ nên để những người phụ nữ hy sinh cho “những người cũng có thể hy sinh vì họ”!

SOURCE: VNEXRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ:

http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Toi-khong-thich-phu-nu-phai-hy-sinh/10947913/478/

SỰ MẤT BÌNH ĐẲNG GIỮA NAM VÀ NỮ SẼ DẦN BỊ TRIỆT TIÊU

Người gửi: Hoàng Vinh Danh,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Tôi tôn trọng phụ nữ, nhưng chúng ta đừng quá thổi phồng vấn đề.

Gửi bạn Trang Nhung !
Lên diễn đàn tôi rất ngạc nhiên khi chứng kiến cuộc tranh luận của các bạn về “sự hy sinh” của phụ nữ. Thực lòng, tôi nghĩ nó không đơn thuần là tranh luận mà là cuộc chiến đòi quyền bình đẳng thì phải. Nhân đây tôi chỉ có vài ý kiến, nhỏ thôi để mọi người chia sẻ và thông cảm với nhau:
1. Với tư cách một người đàn ông, tôi thực sự trân trọng và biết ơn những người phụ nữ, đó là người sinh ra và nuôi dưỡng tôi (mẹ), là người sinh cho tôi những đứa con yêu quý (vợ)… và biết bao những người thân yêu khác như bạn bè, đồng nghiệp. Nói chung xã hội không thể thiếu những người phụ nữ tuyệt vời giúp cho cuộc sống thực sự tươi đẹp và đầy ý nghĩa bằng chính sự cống hiến và bản năng tuyệt vời của họ.

2. Đừng bao giờ nên suy nghĩ cực đoan rằng “phụ nữ phải hy sinh”, hoặc “Phụ nữ chỉ biết hy sinh nhưng thường là không được đền bù”… Những luận điểm của các bạn đang chia rẽ nam giới và nữ giới đấy. Ở góc độ gia đình, khi người phụ nữ cống hiến sức lực, tình yêu của mình cho tổ ấm của mình, cho những đứa con thì đó chính là hạnh phúc. Có rất, rất nhiều người chồng chân chính luôn biết ơn và sẵn sàng chia sẻ nỗi vất vả của người vợ trong gia đình. Tuy nhiên, những công việc thuộc về chức năng thiên phú của phụ nữ thì người chồng chỉ có thể là người hỗ trợ được thôi. Ngày nay, ở đâu đó vẫn còn những ông chồng gia trưởng, thiếu quan tâm đến vợ con hoặc thậm chí ích kỷ, độc đoán… nhưng tôi tin rằng đó chỉ là thiểu số, không phải là một trào lưu xã hội để chúng ta phải tổ chức một cuộc chiến đòi bình đẳng vì đại đa số đàn ông Việt Nam chúng tôi là những người chồng tốt, biết chăm lo và thậm chí cống hiến hết mình (ở đây tôi không muốn dùng từ HY SINH) cho tổ ấm thân yêu của mình và cho xã hội. Nói riêng một chút, trong gia đình nhỏ của tôi, tôi là người mang lại hầu như toàn bộ thu nhập cho cả nhà nhưng chưa bao giờ tôi cho rằng mình đã HY SINH sức lực hay chất xám cho vợ con, tôi chỉ nghĩ là tôi đã cống hiến và được cống hiến cho những người thân yêu của mình.

3. Cuộc sống luôn tiến hoá để hướng tới những gì tốt đẹp hơn, khi nhận thức con người ngày một cao hơn thì mọi sự mất bình đẳng giữa nam và nữ sẽ dần triệt tiêu một cách tự nhiên. Không hiểu bạn nghĩ sao khi nhìn thấy những người đàn ông Việt Nam bận rộn, tất tả đi mua quà, tặng hoa hoặc làm tất cả những gì có thể để những người phụ nữ của mình được vui mỗi dịp 8/3 hay 20/10? Hãy nhìn cuộc sống với cách nhìn thân thiện và vị tha, bạn Trang Nhung ạ, như vậy bạn sẽ thấy thanh thản nhiều hơn.

SOURCE: VNEXRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ: http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Su-mat-binh-dang-giua-nam-va-nu-se-dan-triet-tieu/10948300/478/

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI: THỔI PHỒNG HAY THỰC TẾ?

Người gửi: Hoàng Thụy Miên,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Bất bình đẳng giới-thổi phồng hay thực tế

Gửi anh Hoàng Vĩnh Danh ,
Tôi đã định không tham gia diễn đàn. Tuy nhiên khi đọc phần ý kiến về thổi phồng vấn đề bất bình đẳng giới, tôi xin có đôi điều chia sẻ với anh về ý kiến bất bình đẳng giới có phải là sự thổi phồng hay thực tế.
Đọc bài của anh, tôi cho rằng anh thực sự là người thương yêu vợ con, và ghi nhận những gì mà vợ anh đóng góp cho tổ ấm của gia đình. Tôi cũng đồng ý với anh rằng không phải tất cả nam giới đều phụ công của vợ. Tuy nhiên, liệu đa số phụ nữ Việt Nam đã có cơ hội ngang bằng với nam giới hay chưa trong mọi lĩnh vực thì sẽ là một câu hỏi.
Thử nhìn vào quá trình phát triển của một con người để phân tích. Từ khi lọt lòng, rất nhiều bé gái đã nhận được sự ghẻ lạnh, mặc cảm, thậm chí không có cơ hội ra đời, từ phía bố mẹ, họ hàng vì mình không phải là con trai. Tâm lý này sẽ ảnh hưởng đến mức độ yêu thương, chăm sóc, trò chuyện… mà các em gái nhận được từ người bố và những người họ hàng. Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng bé gái sinh ra từ những gia đình mong đợi có con trai sẽ cảm thấy mặc cảm, thiếu tự tin trong xã hội.
Đến tuổi đi học, nếu gia đình khó khăn về kinh tế, gia đình thường chọn giải pháp trẻ em gái nghỉ học để trẻ em trai được đến trường. Khi nghỉ học, trẻ em gái thường được mong đợi tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập trực tiếp (như chăn trâu, làm ruộng, đóng giầy, bán hàng…), hoặc làm công việc gia đình như giặt quần áo, trông em, lấy nước, lấy củi… để cha mẹ đi làm kiếm thu nhập. Cũng có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc tham gia lao động quá sớm sẽ tước mất cơ hội phát triển tối đa năng lực trí tuệ, thể chất và tinh thần của các em (dù là trai hay gái). Bởi vậy, nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức lao động quốc tế, Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc đã đấu tranh mạnh mẽ để trẻ em trai và gái được đến trường và vui chơi trong suốt thời thơ ấu để phát triển tối đa năng lực bản thân các em. Cần lưu ý rằng, trong quan niệm của người Việt Nam, xã hội đặt những chuẩn mực riêng đối với các em gái như chăm làm, duyên dáng, nấu ăn giỏi, biết may vá, thêu thùa… Phụ nữ cũng không được khuyến khích tham gia vào lĩnh vực chính trị hay trở thành lãnh đạo, bởi theo quan niệm của nhiều xã hội, đó vẫn là vai trò của nam giới. Khi phụ nữ tham gia vào những lĩnh vực này, họ sẽ mất đi vẻ “nữ tính”. Những chuẩn mực đó đã khiến các em gái tập trung phát triển các kỹ năng để sau này làm một người nội trợ giỏi hơn là chú ý đến những kỹ năng để sau này kiếm được việc làm tốt hay đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Bởi vậy, khi ra trường và tham gia vào thị trường lao động, phụ nữ nói chung sẽ thấp kém hơn nam giới cùng lứa.
Khi đã có công việc, xã hội Việt Nam mong đợi phụ nữ có gia đình, và dành thời gian chăm sóc cho gia đình. Khái niệm “hạnh phúc” cũng gắn liền với quan niệm này. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc chọn nghề của chị em phụ nữ. Ví dụ, nghề giáo viên được coi là thích hợp với nữ giới một phần vì có nhiều thời gian chăm sóc cho gia đình. Ngày nay, phụ nữ tham gia vào việc tạo thu nhập ở nhiều lĩnh vực như nam giới nhưng xã hội vẫn mong đợi họ phải làm tốt cả công việc nội trợ trong gia đình, chăm sóc con cái, chăm lo việc họ hàng, trong khi nam giới chỉ cần đi làm kiếm thu nhập là đủ. Điều này lại không được coi là quá sức đối với phụ nữ hay bất bình đẳng trong khi họ được coi là “phái yếu”. Bởi mong muốn làm tốt cả hai vai trò, trong khi quỹ thời gian có hạn, phụ nữ phải gồng mình để học tập, lao động và phấn đấu nếu muốn có vị trí ngang bằng với nam giới; hoặc, đây là quyết định của phần đa phụ nữ, hy sinh phát triển nghề nghiệp để có thời gian chăm sóc gia đình. Để phát triển nghề nghiệp được tốt, ai cũng cần phải cập nhật kiến thức, trao dồi kỹ năng thường xuyên. Thời gian nghỉ ngơi, giải trí MỖI NGÀY (chứ không phải là theo đợt như mùng 8/3) cũng rất cần thiết để tinh thần và thể chất được nạp thêm năng lượng để có thể tiếp tục đương đầu những thách thức mới. Trong khi đương nhiên coi khoảng thời gian nghỉ ngơi này là phù hợp đối với nam giới, quan niệm xã hội lại không cho phép phụ nữ được hưởng quyền đó vì mong đợi họ cống hiến tiếp cho các công việc gia đình. Rõ ràng, quan niệm của xã hội về một người phụ nữ tốt và hạnh phúc đã tước đoạt đi quyền phát triển nghề nghiệp, thể chất và trí tuệ của chị em.
Điều đáng chú ý là có nhiều nghiên cứu của Tổ chức lao động quốc tế, Liên Hợp Quốc… đã chứng minh rằng công việc nhà chiếm rất nhiều thời gian (trung bình 6 tiếng), công sức và tinh thần của phụ nữ vì các công việc thường tẻ nhạt, lặp lại, và ở những tư thế không có lợi cho phát triển thể chất. Ví dụ: công việc gánh nước, lấy củi, nhặt cỏ làm ảnh hưởng đến phát triển cột sống. Tuy nhiên, xã hội lại không đánh giá cao những công việc nhà vì chúng không tạo ra thu nhập. Bởi vậy, khi nam giới đóng góp cho thu nhập của gia đình nhiều hơn phụ nữ, họ được coi là chăm lo cho gia đình, đã “hy sinh”, đã thương yêu vợ con…
Có lẽ còn rất nhiều khía cạnh để phân tích. Trong phạm vi chuyên mục, tôi xin dừng tại đây. Hy vọng rằng anh đã có thể rút ra kết luận của riêng mình về câu hỏi liệu bất bình đẳng giới là tồn tại thực tế, hay thổi phồng.
Chúc vui.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ: http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Bat-binh-dang-gioi-thoi-phong-hay-thuc-te/10948708/478/

VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ NHẬN THỨC

Người gửi: Hoàng Vinh Danh,
Gửi tới: Ban Văn hoá
Tiêu đề: Vấn đề bất bình đẳng giới và nhận thức

Thân gửi chị Hoàng Thụy Miên .
Đọc bài viết của chị, tôi nhận thấy có lẽ chị đã không hiểu vấn đề tôi muốn chia sẻ. Vì vậy tôi sẵn sàng cùng chị đàm luận tiếp về vấn đề này.
1. Tôi không đồng ý với nhận định: “Từ khi lọt lòng rất nhiều bé gái đã nhận được sự ghẻ lạnh… từ phía gia đình, họ hàng…”. Theo tôi đây không phải là thống kê có tính thực tế và mang tính phổ biến trong xã hội. Vấn đề đó chỉ có thể xảy ra ở những khu vực dân trí thấp, tư tưởng phong kiến nặng nề vì những người có nhận thức không bao giờ ghẻ lạnh chính giọt máu của mình. Tôi có rất nhiều bạn bè, người thân là những người đàn ông “đẹp trai nhất nhà” do chỉ có con gái và họ đều là những người cha mẫu mực, thương con hết lòng.
Tuy nhiên, tôi cũng ghi nhận tâm lý mong có con trai để có chỗ dựa lúc tuổi già là một hiện tượng xã hội khá phổ biến, nó bắt nguồn từ những vấn đề mang tính truyền thống và đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế còn khó khăn, phúc lợi xã hội chưa thể đáp ứng yêu cầu chăm sóc những người già khi hết tuổi lao động. Thực sự đây không chỉ là những suy nghĩ của riêng các ông bố mà còn là của chính các bà mẹ.
2. Tạo hóa ban cho đàn ông sức mạnh, ý chí cứng rắn để đương đầu với những công việc nguy hiểm, nặng nhọc thì cũng ban cho phụ nữ sự khéo léo, nhẹ nhàng và khả năng thu vén. Vì vậy chuẩn mực “chăm làm, duyên dáng, nấu ăn giỏi…” mà xã hội dành cho phụ nữ có gì trái với tự nhiên? Một thống kê nữa của chị: “Phụ nữ cũng không được khuyến khích tham gia vào lĩnh vực chính trị hay trở thành lãnh đạo…” là thống kê ở xã hội nào? Ở Việt Nam, theo tôi biết, cơ cấu lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước luôn dành cho phụ nữ những sự ưu tiên nhất định và nếu chị có đủ tài năng thì không phải lo lắng về điều đó. Vấn đề ở đây là mỗi người nên phát triển nghề nghiệp phù hợp với khả năng của mình.
3. Vấn đề phân công công việc hàng ngày, những công việc ảnh hưởng đến phát triển cột sống như gánh nước, lấy củi, nhặt cỏ… theo chị liệt kê có lẽ là những công việc mang tính phổ biến và thường xuyên cách đây hàng thập kỷ rồi. Lại nữa, trong xã hội hiện đại ngoài việc chăm sóc con cái (đây cũng là việc phải làm của các ông chồng) để chúng được giáo dục tốt nhất thì những công việc khác trong gia đình chị hoàn toàn có thể thuê dịch vụ để tập trung cho việc học tập và tái tạo sức lao động (tất nhiên là với điều kiện thu nhập cho phép)
Cuối cùng, việc tôi đưa thí dụ về ngày 8/3 hoặc 20/10 hằng năm để nói rằng đó là những điểm nhấn của cả quá trình cho thấy sự tôn vinh người phụ nữ trong xã hội chứ không phải là một điều gì đó giả dối “theo đợt” che đậy bản chất sự việc. Còn nếu ngững ngày đó không mang lại chút ý nghĩa nào thì có lẽ theo chị, nên kiến nghị bỏ đi chăng?
Nếu chị còn điều gì muốn đàm luận tiếp, hãy liên lạc với tôi qua địa chỉ e-mail: anbervu@hotmail.com.Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó

SOURCE: VNEXRESS.NET

TRÍCH DẪN LẠI TỪ: http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Van-de-bat-binh-dang-gioi-va-nhan-thuc/10948960/478/

CỔ PHẦN HÓA/TƯ NHÂN HÓA (Privatization/privatisation)

Thuật ngữ có thể được hiểu theo 2 cách:

1. Là quá trình chuyển quyền sở hữu của tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh từ nhà nước sang cho một thực thể do tư nhân sở hữu. Một trong những lí do khiến hình thức này ra đời đó là do xu hướng kinh doanh hiệu quả của khu vực tư nhân. Khi đã là chủ sở hữu của doanh nghiệp, các cá nhân thường tìm ra các biện pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận, khác với chính phủ – nơi không quá quan tâm đến lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh.

2. Là việc chuyển từ một công ty đại chúng thành một công ty do tư nhân sở hữu và cổ phiếu không còn được giao dịch trên sàn chứng khoán. Khi một công ty đại chúng trở thành công ty tư nhân, các nhà đầu tư không thể tiếp tục mua cổ phần của công ty đó.

Hầu hết các công ty bắt đầu dưới dạng công ty tư nhân được cấp vốn bởi một nhóm các nhà đầu tư. Khi công ty phát triển dần lên và mở rộng ra, công ty bắt đầu tìm đến thị trường vốn để tìm nguồn cung cấp tài chính hoặc thông qua việc bán cổ phiếu. Trong một số trường hợp, khi cổ phiếu của công ty bị mua hết bởi một nhóm các nhà đầu tư, công ty sẽ trở lại dạng tư nhân, và vì vậy không còn có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán.

©www.SAGA.vn

CÁC BẠN TÌM ĐỌC CÁC BÀI VIẾT VỀ CỔ PHẦN HÓA TẠI ĐÂY

TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI (TRADE CREDIT)

Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền. Có ba loại tín dụng thương mại

1.Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (gọi là tín dụng xuất khẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tím dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản

  • Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếp cho họ. Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên bán và mua. Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro luật các nước thường can thiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này. Ví dụ, luật nước Anh, Pháp quy định thời hạn từ 30 đến 90 ngày, luật Mỹ là 180 ngày, luật Nhật Bản quy định từ 180 đến 360 ngày.
  • Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thương nhân xuất khẩu và thương nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó qui định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên mua sau mỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện. Sau từng thời gian nhất định, người mua sẽ phải thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển Séc hoặc bằng Kỳ phiếu trả tiền ngay.

2.Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (gọi là tín dụng nhập khẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi. Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước để nhập hàng. Việc ứng tiền trước có tính chất khác nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực hiện các hợp đồng xuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng; còn ngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồng của người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trước mang tính chất là vật đảm bảo thực hiện hợp đồng. Khoản tiền ứng trước được hoàn trả bằng cách khấu trừ dần vào số tiền hàng theo tỷ lệ cố định hoặc theo tỷ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào chuyến hàng giao cuối cùng.

3.Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới, loại hình này sử dụng rộng rãi ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan. Người môi giới là các công ty lớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng. Ví dụ cấp cho nhà xuất khẩu gồm cho vay không phải cầm cố hàng hóa, cho vay cầm cố chứng từ hàng hóa, cho vay chiết khấu hối phiếu…Mọi tín dụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn.

SOURCE: SAGA.VN

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 01/2006/KDTM-GDT NGÀY 04 THÁNG 04 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN "TRANH CHẤP GIỮA THÀNH VIÊN CỦA CÔNG TY VÀ CÔNG TY"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 04 tháng 4 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh thương mạ i về tranh chấp thành viên công ty với công ty giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Đào; Trú tại 2A Cư Xá Lý Thường Kiệt, phường 9, quận 10 thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: 27/8 Đỗ Công Tường, phường 16, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh;

Bị đơn: Ông Lê Quang Chiêu; trú tại 148/19 Tôn Thất Hiệp, phường 13, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH lâm sản Toàn Thịnh (sau đây viết tắt là Công ty Toàn Thịnh); có trụ sở tại 269/3A ấp 3 phường An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện của Công ty Toàn Thịnh: Bà Trịnh Đào là Giám đốc công ty;

2. Công ty TNHH đầu tư XD-TM dịch vụ Việt Song Long (sau đây viết tắt là Công ty Việt Song Long); có trụ sở tại AB 41 Bàu cát, phường 14, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của Công ty Việt Song Long: ông Hồ Văn Tín là Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Nhận thấy:

Công ty Toàn Thịnh thành lập ngày 01-02-1992 theo Quyết định số 38/GP-UB của UBND thành phố Hồ Chí Minh và theo Điều lệ công ty thì thời gian hoạt động là 30 năm, vốn điều lệ là 470.000.000 đồng chia ra làm 470 phần hùn, mỗi phần hùn trị giá 1.000.000 đồng, do 8 thành viên góp vốn.

Continue reading →

CÁC THÔNG TIN CHỌN LỌC VỀ VI PHẠM BẢN QUYỀN

1. Các vụ kiện và nghi vấn vi phạm Sở hữu trí tuệ

1.1. Vụ tranh chấp bản quyền phần mềm Web++
1. Toàn bộ thông tin về vụ kiện vi phạm bản quyền sản phẩm WEB++ đối với công ty TMS của Hanoi Software JSC
Sau khi xác nhận công ty Cổ phần Thương Mại Số (TMS) đã sử dụng trái phép code của phần mềm WEB++, Giám đốc Công ty cổ phần Phần Mềm Hà Nội cùng với trợ lý pháp lý của mình đã đứng ra xử lý vụ việc…

2. Toà án thụ lý thêm một vụ kiện vi phạm bản quyền phần mềm – Thế giới Vi tính (PC World)
Ngày 17/1/2007, tòa Kinh Tế, Tòa Án Nhân Dân TP.Hà Nội đã thụ lý một vụ kiện vi phạm bản quyền phần mềm. Nguyên đơn là công ty cổ phần Phần Mềm Hà Nội. Bị đơn là công ty cổ phần Thương Mại Số. Đây là vụ giải quyết bản quyền phần mềm thứ hai ở ViệtNam bằng con đường tòa án.

3. Công ty cổ phần phần mềm Hà Nội khởi kiện Công ty cổ phần Thương mại Số vi phạm bản quyền – Báo Giao thông Vận tải
Tháng 9-2006, Công ty Cổ phần Phần mềm Hà Nội phát hiện Công ty Cổ phần Thương Mại Số sử dụng trái phép mã gốc sản phẩm WEB++ (quản trị thông tin website) đổi tên và kinh doanh thu lợi trái phép

Continue reading →

ĐẠO VĂN TRONG NGHIÊN CỨU

NGUYỄN VĂN TUẤN – Tạp chí Tia sáng

Ở nước ta trong mấy năm gần đây, nạn đạo văn được giới báo chí nhắc đến khá nhiều lần, nhưng phần lớn các trường hợp này thường xảy ra trong lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật. Còn trong nghiên cứu khoa học và công nghệ, nếu từ lâu nạn đạo văn có liên quan đến những giảng viên và giáo sư cũng được nhiều nghiên cứu sinh đồn đại qua lại nhiều, nhưng chưa có bằng chứng hiển nhiên, thì gần đây một trường hợp đạo văn cực kì trắng trợn và… thô làm chấn động giới nghiên cứu khoa học Việt Nam, nhất là trong cộng đồng “cư dân” mạng.

Năm 2000, hai tác giả nguyên là nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật và một tác giả người Nhật công bố bài báo có tựa đề là “Ship’s optimal autopilot with a multivariate auto-regressive eXogenous model” trong hội nghị về ứng dụng tối ưu hóa tại Nga. Đến năm 2004 bài báo đó được xuất hiện trong một hội nghị cũng về ứng dụng tối ưu hóa tại Nhật nhưng với một tựa đề na ná “An optimal ship autopilot using a multivariate auto-regressive exogenous model” với 10 tác giả từ Việt Nam! Điều khó tin là 99% câu chữ, 100% các số liệu, thậm chí hình con tàu Shioji Maru trong bài báo năm 2004 lấy nguyên vẹn từ bài báo năm 2000.

Continue reading →

CƠ QUAN CÔNG TỐ AUSTRALIA

THS. NGUYỄN ĐĂNG THẮNG – Viện khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Australia là một quốc gia nằm trong hệ thống khối liên hiệp thịnh vượng chung trong đó có Vương quốc Anh và một số quốc gia khác (gồm các quốc gia độc lập và quốc gia phụ thuộc). Năm 1901, Australia giành quyền độc lập trên cơ sở là thuộc địa cũ của Vương quốc Anh. Cũng như một số Nhà nước tư sản trên thế giới, tổ chức bộ máy Nhà nước Australia được thành lập trên nguyên tắc học thuyết Tam quyền phân lập, hệ thống pháp luật đồng thời cũng mang nhiều dấu ấn đặc trưng của hệ thống pháp luật Vương quốc Anh. Theo Hiếp pháp năm 1901, tổ chức bộ máy nhà nước Australia gồm 3 hệ thống: Cơ quan lập pháp (Quốc hội liên bang), Cơ quan hành pháp (Chính phủ liên bang) và Cơ quan tư pháp (Tòa án liên bang). Hệ thống các cơ quan này hoạt động độc lập và chế ước lẫn nhau. Từ những xuất phát điểm nêu trên, hệ thống cơ quan công tố Australia mang đậm những nét đặc trưng của hệ thống Luật án lệ (Common law) và hệ thống tố tụng theo thủ tục tranh tục (Adversarial system), đồng thời cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt. Trong phạm vi bài viết này, một số nét đặc trưng về hệ thống tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan công tố được trình bày nhằm giúp độc giả thấy được vị trí và vai trò của cơ quan công tố Australia trong bộ máy nhà nước.

1. Một số điều kiện ra đời của cơ quan công tố

Nhà nước Australia được thành lập năm 1901, song mãi cho tới năm 1983 mới là năm đánh dấu mốc lịch sử ra đời quan trọng của cơ quan công tố Australia. Mặc dù hoạt động công tố nhà nước trước đó vẫn đang tồn tại và phát triển, việc cơ quan công tố Australia ra đời tương đối muộn xuất phát từ một số lý do cơ bản sau đây:

Continue reading →