THÔNG BÁO VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CƠ BẢN PHÙ HỢP VỚI QUI ĐỊNH CỦA LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ ĐIỀU 476 BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CHẾ LÃI SUẤT TÁI CẤP VỐN, TÁI CHIẾT KHẤU

NGÂN HÀNG NHÀ NUỚC VIỆT NAM

1. Từ năm 2006 đến tháng 4/2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ kiến nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI và khóa XII xử lý vướng mắc của Bộ luật Dân sự liên quan đến lãi suất kinh doanh của TCTD. Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XII có ý kiến chưa nhất trí việc sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự, trong trường hợp lãi suất cơ bản do NHNN công bố chưa phù hợp với thực tiễn, thì NHNN có thể điều chỉnh nâng lãi suất cơ bản để thể hiện đúng bản chất của lãi suất cơ bản được quy định trong Luật NHNN.

Thực hiện ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa XII và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã xây dựng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trình Thường trực Chính phủ xem xét, nhất trí tại văn bản số 3168/VPCP-KTTH ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản của Văn phòng Chính phủ. Trên cơ sở đó, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam:

Continue reading →

GIÁ LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM TĂNG DO ĐÂU?

NGUYỄN AN LƯƠNG  – Phòng PT kinh tế và dự báo- Vụ CSTT NHNN VIỆT NAM (Tổng hợp)

Năm 2007 giá lương thực, thực phẩm (LT-TP) trên thị trường Việt Nam tăng cao đạt mức 18.9%, cao hơn nhiều so với mức lạm phát 12,63%, trong đó nhóm lương thực tăng 15,5%, thực phẩm tăng 21,16%. Bước sang năm 2008, tình hình vẫn không được cải thiện mà giá LT-TP ngày càng gia tăng. Chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm giá LT-TP đã tăng 18,01%, cao gấp rưỡi mức 11,6% của lạm phát CPI và cao tương đương bằng mức tăng giá LT-TP của cả năm 2007, trong đó lương thực tăng 25%, còn thực phẩm tăng 15,6%. Mặc dù đánh giá nguyên nhân khiến giá LT-TP tăng cao đã có rất nhiều bài báo đề cập đến, tuy nhiên bài viết này xin tổng hợp lại theo hai nhóm tác động, đó là: những tác động làm tăng mặt bằng giá chung trong đó có nhóm LT-TP và những tác động làm tăng riêng giá LT-TP.

Những tác động làm tăng mặt bằng giá chung (CPI):

Thứ nhất: Giá LT-TP toàn cầu tăng, do các nguyên nhân sau:

Thiên tai dịch bệnh gia tăng, diện tích đất chăn nuôi trồng trọt thu hẹp và việc sản xuất nhiên liệu sinh học: Xuất phát từ quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu khiến thiên tai liên tiếp xẩy ra như động đất, sóng thần, bão lũ lụt, cùng với dịch bệnh lan rộng như dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, bò điên…xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới cùng với những năm qua kinh tế trên thế giới tăng trưởng mạnh đã làm quá trình công nghiệp hoá được đẩy mạnh khiến diện tích đất sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi bị thu hẹp, đặc biệt là tại Philippine trong khi dân số tăng rất nhanh thì đất chuyển từ trồng trọt sang sân gold, khu công nghiệp hoá, đô thị lại khá lớn làm sản lượng LT-TP ngày càng giảm mạnh. Ngoài ra, giá năng lượng tăng cao đã khiến nhiều nước sử dụng một sản lượng lớn ngũ cốc chuyển sang sản xuất nhiên liệu sinh học càng làm cho nguồn cung lương thực đã giảm lại càng giảm sút. Tình trạng khan hiếm gạo toàn cầu đã đẩy Mỹ – một nền kinh tế bình quân từ năm 2001-2005 đã xuất gạo thứ 4 thế giới lâm vào tình trạng người dân tích trữ gạo do lo sợ không đủ nguồn cung khiến giá gạo càng bị đẩy lên cao hơn nữa.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 25/2006/DS-GDT NGÀY 2 THÁNG 10 NĂM 2006 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VỤ ÁN "TRANH CHẤP THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 02 tháng 10 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngọc Huệ, sinh năm 1948; trú tại: nhà số 95, đường 30-4, phường Thanh Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

– Bị đơn: Ông Trương Minh Hải, sinh năm 1954; trú tại: nhà số 205C, quốc lộ 15, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trương Thị Thu Thuỷ (Ri), sinh năm 1943; trú tại: 205C, quốc lộ 15, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

+ Bà Trương Thị Ngọc Hương, sinh năm 1940 (đang ở Thụy Sĩ);

+ Bà Trương Thị Kim Loan, sinh năm 1950 (đang ở Mỹ);

+ Bà Trương Thị Nga Hoàng, sinh năm 1933 (chết năm 1981, hiện các con bà đang ở Mỹ);

+ Bà Trương Thu Hà, sinh năm 1946 (đang ở Mỹ).

Continue reading →

THỰC HIỆN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: CÁC NGÂN HÀNG CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CÁC MẪU HỢP ĐỒNG BẢO ĐẢM

PHAN LÃNG

Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 14/06/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 1995 (BLDS 1995) và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989. Theo đó, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định từ Điều 318 đến Điều 373 Mục 5 Chương XVIII Phần thứ ba của BLDS 2005 bao gồm: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp đã có những thay đổi cơ bản so với BLDS 1995. Trong bài viết này, tác giả chỉ xin liệt kê tóm tắt và đôi điều phân tích một số nội dung liên quan tới sửa đổi, bổ sung trong các hợp đồng bảo đảm tiền vay trong ngành Ngân hàng phù hợp BLDS 2005.

Thứ nhất, chủ thể tham gia hợp đồng bảo đảm

Thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa mọi công dân khi tham gia giao dịch bảo đảm, không phân biệt là người mang quốc tịch Việt Nam hay người có quốc tịch nước ngoài, BLDS 2005 đã quy định các chủ thể là cá nhân, tổ chức người nước ngoài có quyền tham gia các giao dịch bảo đảm theo nguyên tắc bình đẳng như công dân Việt Nam.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍNH CHUYỂN ĐỔI CỦA TIỀN TỆ

TS . PHAN VĂN TÌNH

Trong thời gian qua, khi trao đổi về tính chuyển đổi của tiền tệ có nhiều chuyên gia đưa ra những giải pháp cho vấn đề chuyển đổi của đồng Việt Nam (VND) rất đáng được quan tâm và cần có sự trao đổi.

Có ý kiến cho rằng, để nâng cao khả năng chuyển đổi của VND, cần thực hiện các giải pháp: đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ dựa trên lãi suất và lạm phát cơ bản làm mục tiêu; thực hiện chiến dịch tầm thường hoá đô la Mỹ bằng cách phát huy hơn nữa tác dụng của thị trường ngoại hối; xoá bỏ các giấy phép mua bán ngoại tệ trong giao dịch vãng lai, nâng cao khả năng xuất khẩu bằng VND… Bài viết này muốn đề cập đến một số vấn đề liên quan đến bản chất của việc chuyển đổi tiền tệ; góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn, thuận lợi cũng như thách thức đối với quốc gia chưa có điều kiện kinh tế chín muồi mà vội áp dụng chế độ chuyển đổi đồng bản tệ của mình; đề cập đến tính thời sự, khả năng nâng cao tính chuyển đổi của VND theo các giải pháp do một số chuyên gia đưa ra.

1. Chuyển đổi tiền tệ là một phạm trù kinh tế.

Trước hết, tôi tán thành với ý kiến cho rằng, chuyển đổi tiền tệ và duy trì cơ chế chuyển đổi – là một vấn đề kinh tế phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều thay đổi về chất trong nền kinh tế quốc gia, cũng như trong quan hệ ngoại thương. Tuy nhiên, về ý kiến cho rằng chuyển đổi của đồng tiền là vấn đề khá trừu tượng, khó đánh giá chính xác và đo lường trực tiếp, thiết nghĩ, cần phải làm sáng tỏ hơn. Tôi cho rằng, tính chuyển đổi tiền tệ là một phạm trù được xác định bởi tổng hoà các mối quan hệ kinh tế, bao gồm quan hệ tiền tệ – tín dụng – ngân hàng, ngoại thương… Khi điều kiện kinh tế chưa chín muồi thì tất nhiên sẽ không có một tiêu chí nào để xác định tính chuyển đổi của đồng tiền. Nhưng khi đồng bản tệ của các quốc gia trở thành đồng tiền chuyển đổi tự do, thì rõ ràng vấn đề không còn trừu tượng và khó xác định. Hiện nay các đồng tiền của các nước trên thế giới được chia ra làm 2 nhóm: nhóm các đồng tiền tự do chuyển đổi và nhóm các đồng tiền không tự do chuyển đổi.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 05/2006/DS-GDT NGÀY 05 THÁNG 4 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 05 tháng 4 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Bà Trương Thị Bản, sinh năm 1926; trú tại: nhà số 27, phố Lê Lợi, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.

– Bị đơn: Ông Trương Gia Hải, sinh năm 1943; trú tại: nhà số 5, tổ 42, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà TrươngThị Nhân, sinh năm 1948; trú tại: tổ 19, phường Giáp Bát, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

+ Ông Lý Quang Hà, sinh năm 1957; trú tại: nhà số 57, ngõ 82 phố Phạm Ngọc Thạch, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 01/2006/DS-GDT NGÀY 21 THÁNG 2 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN "TRANH CHẤP THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 21 tháng 2 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ông Lại Hữu Minh;

Ông Lại Hữu Hiền;

Ông Lại Hữu Lệ;

Cùng trú tại thôn Nghiêm Thôn, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Bà Lại Thị Tuyên: trú tại thôn Guột, xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Ông Lại Hữu Hiển: trú tại khu 1, xã Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

2. Bị đơn: Anh Lại Hữu Vận: trú tại khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

 

Continue reading →

RỐI RẮM KIỆN THƯA CA KHÚC ĐỘC QUYỀN

QUỲNH NGUYỄN – BÁO TUỔI TRẺ

Làng showbiz Việt hè này hứa hẹn sẽ “nảy lửa” bởi những vụ kiện tụng xung quanh các ca khúc độc quyền.

image Khởi đầu là việc tranh chấp ca khúc Nhật ký mùa đông giữa ca sĩ Lâm Thái Uyên (Việt kiều Đức về VN phát hành đĩa) và ca sĩ Thiên Đăng vừa trở về VN sau thời gian du học tại Mỹ.

Sự việc chưa đến đâu lại dấy lên các thông tin kiện tụng qua lại giữa ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng (Công ty Tiếng Hát Việt) và ông Nguyễn Duy Khánh (Công ty Nhạc Xanh). Lại thấy trên blog của nhạc sĩ Thái Thịnh (đang định cư bên Mỹ) “trách móc” Tuấn Hưng đã dùng ca khúc Tình là gì? (Thái Thịnh đã bán độc quyền cho Minh Khanh) trong album vol.6 mà không xin phép.

Song song đó trên mạng cũng lùm xùm vụ hai ca khúc Em và Đánh mất – có cùng nội dung, giai điệu nhưng  thuộc “quyền sở hữu” của nhiều ca sĩ khác nhau…

Kiện tụng – “chiêu” lăngxê tên tuổi?

Trong khi các ca sĩ, công ty đang sôi sục vì những “hao tổn về vật chất lẫn tinh thần” và hăm he sẽ “kiện tới nơi tới chốn” thì dư luận lại khoanh tay ngồi nhìn. Đơn giản vì những xìcăngđan kiểu này không phải lần đầu xuất hiện và mỗi lần xuất hiện lại rơi vào hư vô. Có điều mật độ “xâm phạm” những ca khúc độc quyền giữa các ca sĩ ngày càng dày và hướng giải quyết là dắt nhau “lên báo” đánh tiếng sẽ kiện tụng (chứ chưa chắc sẽ kiện) ngày càng phổ biến.

Continue reading →

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHUẤT TẤT QUANH VỤ LY HÔN 54 TỶ ĐỒNG

THANH LƯU – TÂM PHÚC

PHẦN 1

Sống chung 21 năm, có đăng ký kết hôn, có hai mặt con nhưng người vợ vẫn bị “đẩy” ra đường tay trắng…

TAND thị xã Tân An (Long An) vừa xử sơ thẩm một vụ ly hôn gây xôn xao dư luận địa phương vì chuyện “một ông ba bà” và tài sản tranh chấp lên tới 54 tỷ đồng.

Một ông ba bà

Năm 1977, ông B. chung sống không đăng ký kết hôn với bà T. tại xã Long Trì (Châu Thành). Mười năm sau, khi đã có với nhau hai mặt con, ông B. bỏ lên thị xã ăn ở với bà K. Hai người sống tại nhà cha mẹ bà K., năm năm sau mới ra ở riêng.

Năm 1995, ông B. cùng một nhóm bạn đi buôn gỗ ở Campuchia. Sau hai năm, ông thành một đại gia ở thị xã Tân An. Cùng năm này, ông và bà K. có với nhau đứa con thứ hai và mua một miếng đất ở một vị trí đẹp để xây khách sạn PN (đặt theo tên hai con chung của ông bà). Một năm trước, hai người đã ra phường làm giấy đăng ký kết hôn.

Continue reading →

CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM

TS. NGUYỄN TRỌNG TÀI

1. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM)

Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh (KD) phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi tổ chức. Vì vậy, các tổ chức đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược phù hợp để chiến thắng trong cạnh tranh.

Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các NHTM trong KD luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, không chỉ từ các NHTM khác, mà từ tất cả các tổ chức tín dụng đang cùng hoạt động KD trên thương trường với mục tiêu là để giành giật khách hàng (KH), tăng thị phần tín dụng cũng như mở rộng cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Tuy vậy, so với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc thù nhất định. Cụ thể:

Continue reading →

THANH TOÁN QUỐC TẾ THỰC HIỆN THEO PHÁN QUYẾT CỦA TÒA HAY THÔNG LỆ QUỐC TẾ

NGUYỄN CAO KHÔI

Sự hợp tác và tham gia phân công lao động quốc tế tăng lên không những làm cho trao đổi hàng hóa trong nước gia tăng mà còn làm cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước phát triển. Các liên hệ kinh tế giữa các nước ngày càng mật thiết và dần dần hình thành một thị trường thế giới thống nhất.

Từ lâu, nước ta đã có chủ trương và thực hiện giao dịch, buôn bán với thương nhân nước ngoài. Ngay từ thời nhà Lý (1010 – 1225), nước ta đã cho phép thương nhân trong nước giao dịch, buôn bán với thương nhân nước ngoài để phát triển thương nghiệp. Vì nhiều lý do khác nhau (kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng…), nên lúc bấy giờ nhà Lý không mở cửa tự do cho các thương nhân nước ngoài vào kinh doanh, buôn bán với thương nhân trong nước ở tất cả các địa phương trên cả nước mà chỉ lấy trang Vân Đồn (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay) làm nơi trao đổi, buôn bán hàng hóa với thuyền bè nước ngoài (kinh doanh, buôn bán trên biển). Khi đó, phương thức thanh toán được sử dụng trong quan hệ mua bán giữa thương nhân trong nước với thương nhân nước ngoài chủ yếu là hàng đổi hàng (barter).

Continue reading →

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIÊT NAM HIÊN NAY

THS. HUỲNH THỊ HƯƠNG THẢO

Hiện nay, sự “giao thoa” giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm với ngân hàng đang được thể hiện rõ trên thị trường thế giới, nhiều tập đoàn bảo hiểm có ngân hàng thương mại và ngược lại, nhiều ngân hàng thương mại thành lập công ty bảo hiểm. Đây là xu hướng thể hiện sự hỗ trợ nhau cùng kinh doanh và phát triển. Ví dụ như: Tập đoàn Cathay (Đài Loan) có Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Cathay, Công ty Bảo hiểm nhân thọ Cathay, Ngân hàng Cathay; Tập đoàn Ping An (Trung Quốc) có Công ty Bảo hiểm nhân thọ Ping An, Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Ping An, Ngân hàng Ping An; Tập đoàn Fubon (Đài Loan) có Công ty Bảo hiểm nhân thọ, Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ, Ngân hàng Đài Bắc, Ngân hàng Quốc tế Châu Á; Tập đoàn Great Eastern (Singapore) có Công ty Bảo hiểm nhân thọ, Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ và Ngân hàng Great Eastern…

1. Giới thiệu về Bancassurance

1.1. Khái niệm Bancassurance là việc ngân hàng và Công ty bảo hiểm hợp tác với nhau để phát triển và phân phối một cách hiệu quả các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua việc cung cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng. Ở đây, cần phân biệt việc ngân hàng phân phối các sản phẩm bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp và phân phối các dịch vụ tài chính, ngân hàng (assurbanking). Một cách tổng quát, Bancassurance có thể được hiểu một cách giản đơn nhất là việc các ngân hàng tham gia cung cấp các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng của mình. Việc tham gia của ngân hàng có thể ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ theo hình thức Bancassurance.

Continue reading →

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Mọi hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh ngân hàng nói riêng đều phải tuân theo quy định của pháp luật. Hoạt động của các ngân hàng thương mại liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn, vì vậy, cũng yêu cầu thực hiện nhiều quy định của pháp luật. Ngân hàng cũng là một lĩnh vực nhạy cảm và quan trọng trong nền kinh tế, do đó, càng yêu cầu phải tuân thủ pháp luật một cách chặt chẽ, nghiêm túc. Chính vì vậy, không thể thiếu vai trò của phòng (bộ phận) pháp chế và nhân viên pháp chế trong hoạt động ngân hàng.

Nhu cầu hình thành phòng pháp chế và tuyển dụng các chức danh quản lý phòng pháp chế trong thời gian qua đã trở thành một vấn đề “nóng”. Nếu như vào đầu những năm 2000, mới chỉ một số ít ngân hàng thương mại có phòng pháp chế (như Maritime Bank, ACB), thì cho đến nay, hầu hết đã có phòng hoặc bộ phận pháp chế chuyên trách. Trong bối cảnh rất thiếu hụt về nhân sự có kinh nghiệm, Trưởng phòng pháp chế ngân hàng cũng là một trong những vị trí được “săn lùng” đặc biệt. Gần đây nhất, đã có ngân hàng chào lương Trưởng phòng pháp chế lên đến gần 30 triệu đồng/tháng.

Continue reading →

NHỮNG GIẢI PHÁP VĨ MÔ VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ – GIÁ CẢ GÓP PHẦN KHẮC PHỤC LẠM PHÁT CAO ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG

GS.TS. HOÀNG NGỌC HÒA

Tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện đem lại nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Trong đó, hoạt động tài chính – tiền tệ – giá cả của nước ta đã từng bước đổi mới, đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh, ổn định. Thế nhưng, hiện nay nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao, đe dọa tới sự phát triển kinh tế bền vững. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó và chúng ta phải thực thi những giải pháp vĩ mô về chính sách tài chính – tiền tệ – giá cả ra sao để góp phần khắc phục lạm phát cao, tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển bền vững.

1. Đặc điểm của nền kinh tế và nguyên nhân dẫn đến nguy cơ lạm phát cao ở nước ta

Để nhận rõ nguyên nhân, nhằm đưa ra và thực thi những giải pháp vĩ mô phù hợp với chính sách tài chính – tiền tệ – giá cả góp phần khắc phục lạm phát cao, tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển bền vững, trước hết đó là cần nắm vững những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế nước ta hiện nay. Những đặc điểm đó là:

Continue reading →

DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003 (LẦN 1)

QUỐC HỘI
Luật số: /2009/QH12
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Hà Nội, ngày ….tháng…… năm 2009

QUỐC HỘI

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Khóa XII, kỳ họp thứ 4

LUẬT

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001-QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai

1. Sửa đổi khoản 7 Điều 9 như sau:

“7. Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, tổ chức liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư (trong Luật này gọi là tổ chức, cá nhân nước ngoài) được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất.”

2. Sửa đổi khoản 1 và khoản 2 Điều 20 như sau:

“1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được lập năm năm một lần thể hiện kết quả kiểm kê đất đai quy định tại Điều 53 của Luật này.

2. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất thể hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, được lập gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất quy định tại Điều 24 của Luật này.” Continue reading →

COI TRỪNG MẮC TỘI "CHO VAY NẶNG LÃI"

Trước tiên, xin nhắc lại ý nghĩa của một số loại lãi suất thường nghe nhắc đến trên mặt báo trong thời gian gần đây:

Ngày 30/1/2008, Ngân hàng Nhà nước ra quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản bằng tiền đồng kể từ 1/2/2008 là 8,75%/năm (trước đó là 8,25%).

Cùng ngày, hai loại lãi suất khác cũng được quyết định nâng lên: lãi suất tái cấp vốn là 7,5%/năm (trước đó là 6,5%) và lãi suất chiết khấu là 6,0%/năm (trước đó chỉ là 4,5%).

Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (thường đây là lãi suất cho vay tốt nhất của các ngân hàng đối với khách hàng, chẳng hạn với khách hàng bình thường, ngân hàng sẽ chào lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ bản cộng 1 hay 2 điểm phần trăm). Lãi suất này mang tính định hướng cho thị trường cho thời gian tới. 

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHẬN THẾ CHẤP NHÀ Ở THEO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN NGÀY 21/5/2007

PHÒNG CSTD&LS –VỤ CSTT NHNNVN

Việc thế chấp bằng tài sản là nhà ở để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và đăng ký thế chấp đối với loại tài sản này thực hiện theo các văn bản: Bộ luật Dân sự; Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm; Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.

Tuy nhiên, trên thực tế khi đăng ký thế chấp nhà ở theo Luật Nhà ở và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP đã phát sinh một số vướng mắc ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng giữa chủ sở hữu nhà ở với các tổ chức tín dụng cho vay. Để có giải pháp tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong đăng ký thế chấp nhà ở, liên Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN ngày 21/5/2007 hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở.

Continue reading →

NHẬN CẦM CỐ TÀI SẢN TRƯỚC VẪN CÓ THỂ KHÔNG CÓ QUYỀN ƯU TIÊN

NGUYỄN THÀNH LONG – VỤ PHÁP CHẾ NHNNVN

Nhận cầm cố tài sản là sổ tiết kiệm, trái phiếu, tiền, ngoại tệ, vàng luôn được tổ chức tín dụng đánh giá là có độ an toàn cao do tổ chức tín dụng có thể nhanh chóng xử lý tài sản cầm cố, ưu tiên thu nợ trước các chủ nợ khác. Tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật dân sự 2005 được ban hành, quyền ưu tiên của tổ chức tín dụng khi nhận cầm cố tài sản kể cả các loại tài sản kể trên có thể không được bảo đảm.

Theo qui định của Bộ luật dân sự năm 1995 trước đây, Bộ luật dân sự năm 2005 mới có hiệu lực gần đây thì biện pháp bảo đảm bằng cầm cố tài sản mà bên nhận cầm cố giữ tài sản bảo đảm không phải thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm. Với qui định này, giao dịch cầm cố tài sản tự nó có hiệu lực pháp lý ràng buộc Bên cầm cố, Bên nhận cầm cố theo các qui định trong hợp đồng và pháp luật về cầm cố. Trên thực tế tổ chức tín dụng khi nhận cầm cố – giữ các tài sản cầm cố, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như vàng, kim khí quí, đá quí, thẻ tiết kiệm, tín phiếu kho bạc, trái phiếu… đều không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm. Có thực tế này trước hết là: (i) Luật pháp không yêu cầu phải đăng ký và (ii) thông lệ, thực tiễn kinh doanh của các tổ chức tín dụng, theo đó, đối với tài sản cầm cố có tính thanh khoản cao như tín phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm, ngoại tệ, vàng… Một khi tổ chức tín dụng đã nắm giữ các tài sản này (thông qua biện pháp cầm cố tài sản) thì việc thực hiện thêm các thủ tục đăng ký … dường như là không cần thiết, không hợp lý và làm kéo dài qui trình, thủ tục, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng của doanh nghiệp.

Continue reading →

SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI QUYẾT ĐỊNH SỐ 966/2003/QDD-NHNN NGÀY 22/8/2003 VỀ CHO VAY BẰNG NGOẠI TỆ

NGUYỄN THỊ HƯƠNG – Phòng CSTD&LS-Vụ CSTT NHNNVN

Quyết định số 966 về cho vay ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được ban hành trên cơ sở phù hợp với Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối. Tuy nhiên, ngày 13/12/2005 UBTV Quốc hội khoá XI đã ban hành Pháp lệnh Ngoại hối, tiếp theo Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối, thay thế Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 và các Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 63. Do đó, Quyết định số 966 cần được sửa đổi cho phù hợp với những nội dung của Pháp lệnh ngoại hối và Nghị định số 160/2006/NĐ-CP.

Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hóa đã được Thủ tướng Chính phê duyệt tại Quyết định số 98/2007/QĐ-TTg ngày 4/7/2007 trong đó có nội dung yêu cầu trong năm 2007 thu hẹp đối tượng được phép vay ngoại tệ, chỉ cho vay phục vụ xuất khẩu. Do đó, cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của các TCTD đối với khách hàng vay cần được xem xét sửa đổi cho phù hợp với lộ trình thực hiện Đề án .

Continue reading →