Posted on 15/05/2008 by Civillawinfor
VP5 – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Hiện nay, các quy định của pháp luật về đất đai, công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm được ban hành khá đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định liên quan đến vấn đề này, các tổ chức tín dụng vẫn gặp một số khó khăn vướng mắc, cụ thể:
Thứ nhất, về việc công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nợ thuế. Hiện nay, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn cho phép chủ sử dụng đất được chậm thi hành nghĩa vụ thuế với nhà nước (chẳng hạn như thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế trước bạ.. Nhưng khi công chứng các loại giấy tờ này để thế chấp vay vốn ngân hàng thì các phòng công chứng đều yêu cầu phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà nước trước thì mới tiến hành công chứng hợp đồng thế chấp. Điều này đã đẩy khách hàng vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn hơn và cản trở việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng đối với các hộ kinh doanh, tư nhân cá thể, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG, Nghĩa vụ và bảo đảm nghĩa vụ | Leave a comment »
Posted on 15/05/2008 by Civillawinfor
TS. NGUYỄN ĐẠI LAI
Công cụ tài chính phái sinh là công cụ được phát hành dựa vào công cụ tài chính đã có trước dưới hình thức các hợp đồng phái sinh cụ thể. Hiện nay có 4 loại hợp đồng phái sinh phổ biến trên thế giới. Chúng có các cơ chế thanh lý, thanh toán và điều kiện mua, bán khác nhau, song hầu hết đều có một số đặc trưng giống nhau là: Công cụ phái sinh luôn “ăn theo” và với mục tiêu tránh rủi ro từ công cụ tài chính chính thức; Giá cả của hợp đồng tài chính phái sinh là hiệu số giữa mức rủi ro dự tính trong tương lai với mức rủi ro thực tế qua thời gian tính từ khi hợp đồng có hiệu lực đến thời điểm đáo hạn hợp đồng, hoặc có trường hợp giá của hợp đồng đơn giản chỉ là số chi phí đặt cọc, nhưng kỳ vọng sẽ không bị mất trong tương lai. Chính vì vậy, giá cả của mọi hợp đồng tài chính phái sinh hầu như lúc đầu chỉ bằng “O”. Mọi sự khác “O” của giá trị hợp đồng phái sinh tại thời điểm đáo hạn hợp đồng đều phản ánh năng lực “tránh” rủi ro của bên “thắng cuộc”.
Các công cụ phái sinh chủ yếu được áp dụng trên thị trường tài chính thế giới hiện nay bao gồm: kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi và những “biến tướng” của các công cụ phổ biến nói trên. Nhận dạng để phân biệt cụ thể các công cụ tài chính phái sinh chủ chốt trên thị trường tài chính gồm:
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG | Leave a comment »
Posted on 15/05/2008 by Civillawinfor
TS. NGUYỄN ĐẠI LAI
Hiện nay, Việt nam đã có cam kết trong ASEAN (1995), đã ký kết Hiệp định thương mại Việt nam Hoa kỳ (2001), đã gia nhập WTO (7/11/2006), trong đó cơ sở pháp lý để Việt nam đưa ra các cam kết trong đàm phán WTO về dịch vụ ngân hàng là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). Đó là một hệ thống các quy định mang tính đa biên để điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ. Hiệp định này được đàm phán tại vòng đàm phán Uruguay bao gồm các nghĩa vụ và nguyên tắc cơ bản, các phụ lục của từng chuyên ngành, các cam kết cụ thể của mỗi nước nhằm mục đích mở cửa thị trường. 29 điều khoản của GATS được áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ trong đó có phân ngành dịch vụ ngân hàng. Các điều khoản này quy định các nguyên tắc mà tất cả các nước phải tuân thủ một cách « đa phương » .
Tại Hiệp định nói trên, dịch vụ ngân hàng được xác định theo 4 phương thức sau: (i) dịch vụ ngân hàng được cung cấp từ nước này sang nước khác gọi là “cung cấp qua biên giới”; (ii) người tiêu dùng hoặc công ty sử dụng dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài gọi là “tiêu dùng ở nước ngoài”; (iii) các tổ chức tín dụng nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc công ty, liên doanh để cung cấp dịch vụ ngân hàng ở một nước khác gọi là “hiện diện thương mại”; (iv) các cá nhân đi từ một nước sang một nước khác để cung cấp dịch vụ ngân hàng gọi là “hiện diện thể nhân”.
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG | Leave a comment »
Posted on 15/05/2008 by Civillawinfor
TS. NGUYỄN ĐẠI LAI
Việc lãi suất liên ngân hàng hiện đang có xu hướng tăng sau khi các NHTM trong nước thực hiện cơ chế “đồng thuận” do sáng kiến của Hiệp Hội NH hạ lãi suất huy động xuống không quá 11%/ năm và USD là 6%/năm đã không thu hút được tiền vào và buộc phải tăng theo “trần” được khuyến cáo bằng công điện hồi đầu tháng 3 của NHNN ở mức 12%/năm mà vẫn đang huy động một cách khó khăn!…Cho thấy các NHTM vẫn thiếu tiền mặt khá nghiêm trọng, trong khi thị trường Chứng khoán (TTCK) vẫn chưa chứng tỏ được “sứ mệnh” là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả hơn cho nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, tiền đồng trong lưu thông vẫn rất nhiều, biểu hiện qua lạm phát sau tháng 4 đã lên tới 11,39% so cuối năm 2007 và 21% so với cùng kỳ… Đây là những biểu hiện rất rõ về sự không bình thường trong thị trường tài chính VN (TTTC VN).
Từ những bức xúc nói trên, một trong vô số những vấn đề cần có giải pháp để cải thiện tình hình là câu hỏi: TTCK VN đang đi về đâu, giải pháp nào để nó đảm đương được “sứ mệnh” mà nền kinh tế đang “thừa tiền”, nhưng rất đói vốn đang trông chờ? Tôi cho rằng trong TTTC có 2 thị trường bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn phải luôn luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mối quan hệ mấu chốt nhất là quan hệ giữa TTCK (lõi của thị trường vốn) với thị thị trường tín dụng ngắn hạn (lõi của thị trường tiền tệ)! Tuy nhiên, vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan mà ở Việt Nam mối quan hệ được xem là “mấu chốt” này vẫn tỏ ra rời rạc, thậm chí như đã từng nói là “gắn bó ngược”! Đây cũng là nguyên nhân giải thích vì sao chỉ trong vòng 1 năm kể từ 17/3/2007, chỉ số VN-Index đã từng đạt 1170 điểm, nay tụt xuống chỉ còn 512 điểm, giảm tới 56,2%! Đặc biệt tổng giá trị giao dịch cũng giảm mạnh từ xung quanh 1200 tỷ đ/ngày, xuống còn xung quanh 300tỷ đ/ngày!
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG, Thị trường chứng khoán | Leave a comment »
Posted on 15/05/2008 by Civillawinfor
TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ
Về việc ban hành Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế thu nhập cá nhân
——————————————————-
Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008 của Chính phủ, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo, tổ chức triển khai công tác nghiên cứu xây dựng Dự thảo Nghị định quy định hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Dự thảo Nghị định đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân theo quy trình xây dựng văn bản pháp luật và thông qua các cuộc hội thảo, hội nghị, phương tiện thông tin đại chúng, Trang thông tin điện tử Bộ Tài chính, Trang thông tin điện tử Chính phủ. Bộ Tài chính xin trình Chính phủ Dự thảo Nghị định như sau:
I- SỰ CẦN THIẾT, MỤC TIÊU, YÊU CẦU BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH
Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật thuế TNCN số 04/QH12 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, trong đó đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các nội dung quy định tại điều 3, điều 13, điều 14, điều 19, điều 24 và điều 35.
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG | Leave a comment »
Posted on 14/05/2008 by Civillawinfor
Dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đã quy định về miễn thuế TNCN đối với trường hợp chuyển nhượng nhà ở, đất ở và tài sản gắn liền với đất ở khi cá nhân chỉ có một nhà ở, quyền sử dụng đất ở. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn một số nội dung liên quan đến trường hợp sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất duy nhất và loại bỏ những mâu thuẫn trong quy định về miễn thuế TNCN đối với trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản.
Quy định cụ thể hơn về nhà ở, đất ở được coi là duy nhất
Theo quy định của Dự thảo Nghị định, nhà ở, quyền sử dụng đất ở duy nhất được hiểu là cá nhân hoặc hộ gia đình người chuyển nhượng chỉ có quyền sở hữu, quyền sử dụng một nhà, đất ở duy nhất ở Việt Nam. Quy định này chưa bao quát hết các trường hợp được coi là chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất. Bởi, trên thực tế một diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này tiến hành xây dựng nhà ở trên diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận, tuy nhiên không phải xây một, mà xây hai, thậm chí nhiều hơn hai ngôi nhà trên cùng một diện tích sử dụng đất. Như vậy, trường hợp này có được coi là sở hữu một nhà ở duy nhất hay không? Nếu xác định là có một nhà ở duy nhất thì không đúng, vì rõ ràng là đã có nhiều hơn một ngôi nhà được xây dựng trên một diện tích đất. Tuy nhiên, nếu không xác định là sở hữu một nhà ở duy nhất thì lại mâu thuẫn với chính quy định, vì rõ ràng chỉ xây dựng trên một diện tích đất ở duy nhất.
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG, Quyền sở hữu | Leave a comment »
Posted on 13/05/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN THỊ NHƯ HOA (Dịch và biên tập từ INTA)
Nhãn hiệu, theo nghĩa rộng, được hiểu là bất kỳ biểu tượng hoặc hình họa nào có khả năng phân biệt hàng hóa /dịch vụ của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp này với nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp khác. Nó có thể bao gồm hình dáng, âm thanh, mùi hương hoặc một màu đơn sắc. Theo quy định này, nhãn hiệu có thể mở rộng tới “hình dáng độc đáo của các sản phẩm”.
Rõ ràng là cách thức một sản phẩm biểu hiện ra bên ngoài như thế nào có thể có tính quyết định cả ở khía cạnh thành công thương mại cũng như tính sáng tạo của sản phẩm với giá trị nhãn hiệu. Tuy nhiên, việc bảo hộ hình dáng của sản phẩm cũng vấp phải một số vấn đề. Một mặt, người tiêu dùng sẽ từ chối chọn mua những biểu tượng hình ảnh có uy tín nhưng không được bảo hộ độc quyền. Theo nguyên tắc “ngọn hải đăng”, một công ty tư nhân sẽ không sẵn sàng bỏ một khoản tiền lớn vào việc phát triển các mẫu thiết kế độc đáo để rồi các đối thủ cạnh tranh của mình có thể ngay lập tức sử dụng miễn phí những mẫu thiết kế này. Mặt khác, việc bảo vệ hình dáng bên ngoài của sản phẩm có thể bị dính líu vào những vụ việc liên quan đến “cạnh tranh không lành mạnh”.
Continue reading →
Filed under: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ | Leave a comment »
Posted on 13/05/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN THỊ LÁNG
Trong nhiều năm gần đây, hợp đồng BOT (BOT là chữ viết tắt tiếng Anh của Build – Operate – Transfer. Hợp đồng BOT còn gọi là hợp đồng xây dựng, kinh doanh, chuyển giao) là hình thức quan trọng để thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân cho phát triển cơ sở hạ tầng ở các quốc gia, đặc biệt các nước đang phát triển như Việt Nam. Hợp đồng BOT là một hợp đồng có nhiều đặc thù, có tính dài hạn và đòi hỏi nguồn vốn lớn. Do vậy, ngoài các bước cơ bản cho việc hình thành như một hợp đồng thông thường khác, trình tự ký kết hợp đồng BOT có những nét phức tạp hơn và là vấn đề quan trọng được các chủ thể ký kết hợp đồng BOT hết sức quan tâm.
Theo Nghị định 78/2007/NĐ-CP ngày 11-05-2007 của chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Nghị định 78), để hình thành hợp đồng BOT có những bước sau:
1. Lựa chọn nhà đầu tư đàm phán hợp đồng BOT
Việc ký kết hợp đồng BOT trước hết liên quan đến thủ tục lựa chọn nhà đầu tư tham gia đàm phán hợp đồng BOT. Theo Nghị định 78, việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án theo một trong hai hình thức: đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đàm phán hợp đồng BOT hoặc chỉ định nhà đầu tư đàm phán trực tiếp hợp đồng BOT. Nghị định 78 cũng quy định các điều kiện được phép chỉ định nhà đầu tư đàm phán trực tiếp hợp đồng BOT và phương án giải quyết trong trường hợp nhà đầu tư đề xuất dự án không thuộc danh mục dự án được công bố.
Continue reading →
Filed under: LTM - Hợp đồng thương mại | 1 Comment »
Posted on 13/05/2008 by Civillawinfor
BÙI ĐỨC HIỂN
Để góp phần bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn, ngày 29/11/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh chuyên biệt một lĩnh vực rất mới mẻ và phức tạp nên nó không tránh khỏi những bất cập nhất định cần được hoàn thiện.
1. Những bất cập của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
Ngày 01/7/2007, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (gọi tắt là Luật) có hiệu lực. Tuy nhiên, áp dụng, chúng ta đã thấy Luật bộc lộ những bất cập:
– Điều 1 (phạm vi điều chỉnh của Luật) có quy định về việc cho, nhận mô, bộ phận cơ thể người nhưng lại không quy định vấn đề cho, nhận tế bào vào phạm vi điều chỉnh của Luật, bởi các nhà làm luật quan niệm tế bào là một trong những bộ phận cấu thành mô. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng: nếu theo cách giải thích ở Khoản 1, Điều 3 của Luật về mô thì không phải trong mọi trường hợp tế bào đều đồng nghĩa với mô, ví dụ: tế bào gốc hay một tế bào đơn lẻ.
Continue reading →
Filed under: Quyền nhân thân | 1 Comment »
Posted on 13/05/2008 by Civillawinfor
THS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN
1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Xuất phát từ bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại về những vấn đề chính trong nội dung của quan hệ này. Đây chính là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng.
Theo Hiệp ước EEC, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thoả thuận trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến: việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian hợp đồng nhượng quyền thương mại còn hiệu lực”[1].
Continue reading →
Filed under: LDS - Hợp đồng, LTM - Hợp đồng thương mại | Leave a comment »
Posted on 13/05/2008 by Civillawinfor
HƯƠNG GIANG
Bạo lực gia đình (BLGĐ) và ngăn chặn BLGĐ một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu và cũng là mối quan tâm lớn ở nước ta. Bên cạnh việc thay đổi nhận thức của cộng đồng về phòng chống BLGĐ, Việt Nam còn cần một hệ thống các qui định pháp luật phù hợp với thực tiễn để giải quyết hiệu quả vấn nạn này.
Xử lý nghiêm khắc hành vi BLGĐ
Theo số liệu thống kê của các cơ quan cảnh sát điều tra tại 51/64 tỉnh thành phố trực thuộc TƯ về tình hình tội phạm có liên quan đến BLGĐ đã thụ lý giải quyết trong giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy, những năm gần đây, tình hình tội phạm BLGĐ diễn ra rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng về số lượng và ngày càng nghiêm trọng hơn về tính chất, mức độ, chủ yếu là các hành vi giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác, hiếp dâm trẻ em. Các nghiên cứu qui mô nhỏ của Viện Xã hội học cũng cho thấy, có khoảng từ 5-10% số phụ nữ có chồng đã từng bị bạo hành về thân thể (mặc dù con số thực tế có thể cao hơn).
Continue reading →
Filed under: GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN, LHNGD- Lý luận chung | Leave a comment »
Posted on 12/05/2008 by Civillawinfor
PHẠM DUY NGHĨA
Bảo hộ tác quyền và sở hữu kỹ nghệ đã trở thành một triết lí được tiêu chuẩn hóa bởi rất nhiều văn bản pháp lí quốc tế. Dựa trên những cam kết quốc tế đó, người soạn luật sở hữu trí tuệ nước ta đang gắng du nhập thứ âm nhạc thính phòng xa xôi ấy vào xã hội nông dân Việt Nam. Có thể đưa ra vài lời bàn dưới đây về con đường mà những một nước nghèo như Việt Nam thường phải lèo lái khi du nhập pháp luật sở hữu trí tuệ theo kiểu phương Tây
Một ngày theo dòng Dundee miền Đông Bắc nước Úc, nơi người ta nuôi nhiều cá sấu trong những bãi lầy hoang hóa, tôi vẫn thấy thấp thoáng những tộc người bản xứ, từng đám tụ tập dưới bóng cây tránh cái nóng oi nồng nhiệt đới. Nhiều thế kỉ đã trôi qua, kể từ khi những gã phưu lưu người Anh giành lấy từng vùng đất ở đây làm của riêng cho mình, những người bản xứ đáng thương kia vẫn chưa hiểu tại sao đất trời lại có thể chia thành từng khoảnh làm của riêng cho người da trắng.
Continue reading →
Filed under: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ | Comments Off on TẢN MẠN VỀ DỰ THẢO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ (Luật sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 – Civillawinfor)
Posted on 12/05/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN THẾ HOÀNG LINH
Diễn đạt lại một dòng suy nghĩ của Milan Kundera(1):
Người tạo ra một hành vi theo dư luận là ác sẽ bị pháp luật trừng phạt [giả sử pháp luật đã đọc Kafka và biết xấu hổ khi kết luận người đó, trong lúc hành động, nhận thức được nó]. Trong khi, người có cùng hành vi nếu được kết luận là ở tình trạng không nhận thức được trong lúc thực hiện sẽ được giảm án hoặc tha bổng.
Nhưng đằng sau tội ác được giảm nhẹ, tha bổng (chỉ vì không nhận thức được thì không còn khái niệm thiện ác? khác nào thiền sư?), phải có người chịu trách nhiệm chứ?
Đó là những người tạo ra tình trạng không nhận thức được cho người khác: Người gây tai nạn, người chuốc rượu, người bạo hành, người cưỡng hiếp, người bán thuốc phiện, người rải đinh để vá săm, người làm những con lươn quá khổ đẩy cao nguy cơ tai nạn (rồi lại ăn tiền phá chúng đi), người rút ruột công trình gây sụp đổ, người cho mình quyền giáo dục con cháu theo hướng phản giáo dục, người áp đặt những giáo trình học lộn xộn và quá tải, người thải hoá chất nguy hiểm vào khu dân cư, người dùng chất bảo quản độc hại, người biết mà vẫn bán thực phẩm mang dịch bệnh…
Continue reading →
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 12/05/2008 by Civillawinfor
GS.TS. NGUYỄN MINH THUYẾT
Theo Hiệp định WTO và Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA), chúng ta không hạn chế việc các trường đại học nước ngoài vào đầu tư mở trường ở Việt Nam. Nhưng có một vấn đề chúng ta cần phải đặt ra để suy nghĩ và tìm giải pháp thích hợp, đó là chương trình đào tạo của các trường đại học nước ngoài với các trường đại học trong nước khác biệt nhau khá xa. Tạm chưa nói đến các môn khoa học chuyên ngành, trong bài viết này, tôi chỉ bàn về các môn học chính trị (bao gồm Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh) và Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng. Đây là mảng có những sự khác biệt rất lớn giữa các trường đại học của ta và của nước ngoài (bao gồm các trường ở nước ngoài và trường nước ngoài đặt ở Việt Nam).
Trong chương trình đại học Việt Nam, thời lượng học các môn này là từ 20 đến 24 đơn vị học trình, tùy ngành, tức là từ 300 đến 360 tiết. Từ trước đến nay, không ít người cho rằng những môn này rất căn bản, rất cần thiết, nhưng trên thực tế, chúng không có trong chương trình của phần lớn các trường đại học nước ngoài. Sự chênh lệch khoảng 300-400 tiết so với chương trinh đại học nước ngoài là một trong những lý do khiến bằng cấp của ta khó được các nước công nhận.
Continue reading →
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo | Leave a comment »
Posted on 12/05/2008 by Civillawinfor
NHÀ GIÁO NHÂN DÂN. NGUYỄN VĂN CHIỂN
Có thể nói một cách không phóng đại rằng vấn đề trí thức đang là một trong những mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay. Liên quan đến vấn đề này, tựu chung lại, có hai câu hỏi được đặt ra. Thứ nhất, là xác định vai trò của trí thức trong sự phát triển của xã hội và thứ hai, liên quan đến vấn đề sử dụng trí thức. Vấn đề thứ hai chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở có được câu trả lời đúng cho vấn đề thứ nhất. Theo tôi, không phải bằng cấp mà chính sự hiểu biết mới làm nên trí thức. Trí thức phải là người nắm được những quy luật về tự nhiên và xã hội. Anh ta là kẻ đại diện cho trí tuệ của con người trong một giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định.
Tuy vậy, trí tuệ lại là cái luôn vận động cùng với lịch sử. Nói theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì nó là một hành trình tiệm cận không ngừng đến chân lí. Từ quan điểm đó, ta sẽ thấy là bình thường khi mà không ít điều tiên đoán trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, cho đến giờ, vẫn chưa trở thành hiện thực. Bất cứ tri thức nào cũng có những giới hạn lịch sử và đây chính là điểm quyết định phẩm chất của một trí thức chân chính. Anh ta không chỉ lệ thuộc vào những tri thức một cách giáo điều mà còn phải là kẻ vượt lên quá khứ để sáng tạo nên những tri thức mới. Chính bản chất sáng tạo làm nên phẩm tính của một trí thức đích thực. Với hai điều nói trên, có thể cho phép hình dung về vai trò của trí thức đối với xã hội. Anh ta là người nắm giữ và sáng tạo nên những tri thức tiên tiến nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội con người. Và vậy thì việc trọng dụng trí thức thiết tưởng là điều không còn cần phải bàn cãi. Vấn đề là cần phải làm điều đó thế nào.
Continue reading →
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo | Leave a comment »
Posted on 12/05/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN NGỌC ĐIỆN
Nguyên tắc đặt cơ sở cho việc thiết lập trật tự, an toàn xã hội và công bằng xã hội được các nhà hiền triết thời cổ gọi đó là nguyên tắc công bằng số học trong giao tiếp giữa người và người.
Nếu không có một nguyên tắc như thế, thì chẳng ai dám sống trong không gian chung, do không thể biết trước khi nào sẽ có ai đó lù lù xuất hiện và trút tai hoạ lên đầu mình mà mình cứ phải cam chịu; để tránh rủi ro và hiểm nguy tiềm tàng, mỗi người sẽ tạo cho mình một không gian riêng, biệt lập, ngăn cách với những người còn lại; xã hội sẽ không thể hình thành và phát triển.
Chi phối hành vi của tất cả thành viên xã hội một cách bình đẳng, nguyên tắc công bằng số học cũng mang ý nghĩa một lời cảnh báo đối với mỗi thành viên. Đó là lời nhắc nhở về sự cần thiết phải thận trọng, biết giữ chừng mực, đàng hoàng trong giao tiếp, ứng xử để tránh gây thiệt hại đáng tiếc cho thành viên khác.
Continue reading →
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo, Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 12/05/2008 by Civillawinfor
PHẠM DUY NGHĨA
Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước.
Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.
Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuế, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.
Continue reading →
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo, Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 11/05/2008 by Civillawinfor
TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội Trong lịch sử đấu tranh với lạm phát ở Việt Nam từ năm 1976 đến nay, ngành ngân hàng đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, trong các nguyên nhân của động thái lạm phát tiêu cực diễn ra những năm 2007 và 2008 ở nước ta, không thể không nhận thấy những bất cập của các chính sách tiền tệ, cũng như của bản thân ngành ngân hàng.
Những bất cập này thể hiện ở việc điều hành tỷ giá, ở chính sách cung tiền và quản lý ngoại tệ, ở các hoạt động tín dụng và ở chính sách lãi suất… từ đó gây ra 3 nghịch lý sau đây:
Đồng tiền Việt Nam bị định giá quá cao
Continue reading →
Filed under: 1. Lý luận chung, Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 11/05/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN HẢI
Anh X.V ở huyện Gia Lâm (Hà Nội) vừa mua được chiếc xe đạp điện. Những ngày đầu đưa về thấy tiện dụng, anh đi khoe khắp hàng xóm láng giềng: nào là giá rẻ, lại chẳng phải phiền phức đăng ký giấy tờ, bằng lái, mà khi cần, tốc độ cũng 35 km/h chứ có kém gì mấy anh xe máy tàng tàng đâu. Nếu chẳng may hết ắc quy giữa đường thì đạp chân như xe đạp, vẫn khỏe re.
Nhưng một buổi anh X.V phóng chiếc xe đạp điện sang cơ quan làm việc. Đến khi vừa lên khỏi chân cầu Chương Dương – Bắc sông Hồng thì chết máy do trục trặc ắc quy. Vừa lúc anh chuyển sang dùng chân đạp thì viên Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe, bắt quay lại đi sang cầu Long Biên- cầu dành riêng cho người đi bộ và các phương tiện thủ công, trong đó có xe đạp. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như không có chuyện hài xảy ra tiếp theo. Số là khi anh X.V đang chạy trên cầu Long Biên thì chiếc ắc quy điện khởi động trở lại. Mừng hú, anh liền chuyển sang tay ga, vừa đi vừa ngắm sông Hồng đỏ cuộn. Chết nỗi đang lúc cao hứng, một viên Cảnh sát làm nhiệm vụ hướng dẫn giao thông “túm” được “xe có động cơ” chạy “lậu” trên cầu, buộc anh phải quay trở lại cầu Chương Dương- dành cho xe cơ giới…
Continue reading →
Filed under: Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »