ĐẠO ĐỨC CỦA KHOA HỌC

443909a-i1.0 VŨ CAO ĐÀM

Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, bao gồm khoa học, đạo đức, tôn giáo, ý thức pháp quyền và ý thức hệ chính trị. Trong lịch sử phát triển của mình, mối quan hệ giữa khoa học (là một hình thái ý thức xã hội) với các hình thái ý thức xã hội khác (đạo đức, tôn giáo, ý thức pháp quyền và ý thức hệ chính trị) luôn là một vấn đề nhức nhối, mà một nỗi đau xuyên suốt của khoa học, là các hình thái ý thức xã hội kia luôn dẫn đến những bi kịch nan giải cho khoa học.

Quan hệ đạo đức và khoa học là chủ đề được bàn đến từ lâu trên các diễn đàn khoa học. Trong số những học giả Việt Nam quốc nội và hải ngoại bàn về chủ đề này, chúng ta có thể gặp nhiều bài viết từ đủ các lĩnh vực chuyên môn và bàn về đạo đức khoa học từ nhiều góc độ khác nhau: triết học, Phật giáo, Thiên chúa giáo… Trên mạng hiện nay vẫn còn lại nhiều bài có thể đọc từ nhiều góc độ đó. Chỉ cần tìm sơ sơ cũng có thể gặp những tên tuổi có bài viết hoặc được trích dẫn trên mạng, như Nguyễn Đình Hòa (Hà Nội), Đặng Mộng Lân (Hà Nội, đã mất), Trần Chung Ngọc và Trịnh Xuân Thuận (Hoa Kỳ), Nguyễn Văn Tuấn (Australia). Bài này xin đóng góp một vài thiển kiến liên quan một số nội dung mà các tác giả đã bàn về đạo đức trong khoa học.

Continue reading

Nguyên tắc “Bình đẳng giữa Nhà nước và công dân” trong nhà nước pháp quyền về việc giải quyết bồi thường thiệt hại: VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM

LÊ THỊ PHƯƠNG – Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 11, TP.HCM 

1. Nguyên tắc bình đẳng giữa nhà nước và công dân trong nhà nước pháp quyền

Một trong những yêu cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền là công dân và Nhà nước phải được đối xử bình đẳng trong quan hệ pháp luật dân sự. Theo đó, khi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức bị xâm phạm thì đối tượng có hành vi xâm phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Trong quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với công dân, cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, được ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật.

Trước hết, nó thể hiện thái độ của nhà nước đối với công dân. Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc bảo vệ các quyền của công dân. Điều 29, Hiến pháp năm 1959, quy định: “Người bị thiệt hại về hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”. Hoặc như tại Điều 74 của Hiến pháp quy định, “mọi hoạt động nhà nước nếu gây thiệt hại cho công dân, tổ chức đều phát sinh trách nhiệm bồi thường”. Việc bồi thường hậu quả do lỗi của người thi hành công vụ hiện đang được quy định rải rác tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau, như Bộ luật Dân sự, Luật Hành chính, Pháp lệnh công chức, Nghị quyết 388 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.

Continue reading

NGUYÊN TẮC “BÌNH ĐẲNG GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG DÂN” TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM

LÊ THỊ PHƯƠNG- CHỦ TỊCH UBND PHƯỜNG 6 QUẬN 11 TPHCM

1. Nguyên tắc bình đẳng giữa nhà nước và công dân trong nhà nước pháp quyền

Một trong những yêu cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền là công dân và Nhà nước phải được đối xử bình đẳng trong quan hệ pháp luật dân sự. Theo đó, khi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức bị xâm phạm thì đối tượng có hành vi xâm phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Trong quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với công dân, cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, được ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật.

Trước hết, nó thể hiện thái độ của nhà nước đối với công dân. Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc bảo vệ các quyền của công dân. Điều 29, Hiến pháp năm 1959, quy định: “Người bị thiệt hại về hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”. Hoặc như tại Điều 74 của Hiến pháp quy định, “mọi hoạt động nhà nước nếu gây thiệt hại cho công dân, tổ chức đều phát sinh trách nhiệm bồi thường”. Việc bồi thường hậu quả do lỗi của người thi hành công vụ hiện đang được quy định rải rác tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau, như Bộ luật Dân sự, Luật Hành chính, Pháp lệnh công chức, Nghị quyết 388 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.

Continue reading

BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CHỦ NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

THS. ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các quan hệ tài sản dựa trên quyền sở hữu, một hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ phù hợp, hiệu quả có vai trò rất lớn đối với cả nền kinh tế và các doanh nghiệp như tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của xã hội, góp phần tạo dựng và duy trì niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường tài chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ; góp phần tăng cường kỷ luật hợp đồng, tạo ra tiền đề pháp lý vững chắc để ổn định các quan hệ kinh tế, giảm chi phí cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng và góp phần thực hiện mục tiêu an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo cơ chế thị trường và thực hiện các cam kết quốc tế tại các Hiệp định song phương, đa phương như Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, AFTA, APEC và WTO cũng như sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong thời gian tới đã làm cho hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt là các quy định về bảo vệ bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CHỦ NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP

ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ pháp chế Ngân hàng Nhà nước

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các quan hệ tài sản dựa trên quyền sở hữu, các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ thường trao hai quyền cơ bản cho chủ nợ gồm:

(i) Cho phép chủ nợ có quyền phong toả tài sản của con nợ, bán các tài sản này và đầu tư số tiền này vào các hoạt động khác có hiệu quả hơn khi con nợ mất khả năng thanh toán và không thể phục hồi; (ii) Cho phép chủ nợ kiểm soát các hoạt động quản lý của con nợ trong trường hợp con nợ đang có nguy cơ bị mất khả năng thanh toán. Pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ nói chung và bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng (TCTD) nói riêng có vai trò quan trọng hoặc thúc đẩy (trong trường hợp phù hợp với nhu cầu của thực tiễn) hoặc kìm hãm (trong trường hợp ngược lại) sự phát triển của nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được đề cập vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế và doanh nghiệp.

Continue reading

THỰC TIỄN CƠ CHẾ BẢO ĐẢM TIỀN VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỞ VÀ VỪA VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

TRẦN MINH SƠN

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người . Các DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Hợp tác xã, hoạt động theo nhiều loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty hợp danh.

Xây dựng và phát triển đội ngũ DNNVV là một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.

Continue reading