Pháp luật cho thuê tài chính – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN

auto_leasing_kredit THS. TRẦN VŨ HẢI – Khoa Pháp luật kinh tế, Đại học Luật Hà Nội

1. Bản chất pháp lý của hoạt động cho thuê tài chính

Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức tín dụng có thể cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Bên cạnh hình thức cho vay – một hình thức cấp tín dụng khá “cổ điển” và phổ biến, hiện nay pháp luật còn cho phép tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng dưới những hình thức khác như bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán và cho thuê tài chính.

Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lần đầu tiên ghi nhận tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 với tên gọi là hoạt động thuê mua tài chính. Tuy nhiên, phải đến khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995, sau đó là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 9/10/1995 và Thông tư 03/TT-NH5 của Ngân hàng Nhà nước ngày 9/2/1996, thì hoạt động này mới được sự điều chỉnh cụ thể của pháp luật. Sau khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004) được ban hành, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng được điều chỉnh một cách chi tiết và hệ thống (tại Điều 20, Điều 61 đến Điều 63). Các văn bản dưới luật lần lượt ra đời để cụ thể hoá Luật các tổ chức tín dụng, trong đó đáng chú ý nhất là Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN

auto_leasing_kredit THS. TRẦN VŨ HẢI – KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

1. Bản chất pháp lý của hoạt động cho thuê tài chính

Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức tín dụng có thể cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Bên cạnh hình thức cho vay – một hình thức cấp tín dụng khá “cổ điển” và phổ biến, hiện nay pháp luật còn cho phép tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng dưới những hình thức khác như bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán và cho thuê tài chính.

Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lần đầu tiên ghi nhận tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 với tên gọi là hoạt động thuê mua tài chính. Tuy nhiên, phải đến khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995, sau đó là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 9/10/1995 và Thông tư 03/TT-NH5 của Ngân hàng Nhà nước ngày 9/2/1996, thì hoạt động này mới được sự điều chỉnh cụ thể của pháp luật. Sau khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004) được ban hành, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng được điều chỉnh một cách chi tiết và hệ thống (tại Điều 20, Điều 61 đến Điều 63). Các văn bản dưới luật lần lượt ra đời để cụ thể hoá Luật các tổ chức tín dụng, trong đó đáng chú ý nhất là Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

life_insurance THS. TRẦN VŨ HẢI – KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Dẫn nhập

Trong nền kinh tế thị trường, lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ giữ một vai trò quan trọng. Bảo hiểm nhân thọ mang lại nhiều lợi ích cho con người và nền kinh tế. Bên cạnh yếu tố bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ còn có tính tiết kiệm, giúp bên mua bảo hiểm có thể thực hiện được mục đích của mình khi được doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trả số tiền bảo hiểm. Đối với DNBH, số phí bảo hiểm sẽ được đầu tư có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và góp phần tăng trưởng kinh tế.

Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ đã từng xuất hiện ở Việt Nam từ thời Pháp thuộc và tại miền nam Việt Nam trước năm 1975. Thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay được tái lập từ năm 19961. Đến nay, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã có sự phát triển vượt bậc với rất nhiều DNBH tham gia, trong đó có những DNBH của các tập đoàn bảo hiểm lớn trên thế giới.

Mối quan hệ giữa DNBH là bên mua bảo hiểm là mối quan hệ hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) được các bên thoả thuận, vừa là một công cụ thực hiện pháp luật, vừa là một sản phẩm của thị trường bảo hiểm nhân thọ. Bên cạnh rất nhiều mặt tích cực, trong thời gian qua, rất nhiều các tranh chấp HĐBHNT đã xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường bảo hiểm nói chung và thị trường bảo hiểm nhân thọ nói riêng, làm giảm niềm tin của người dân đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Một nguyên nhân rất quan trọng là do những quy định pháp luật về HĐBHNT hiện nay còn nhiều bất cập cần phải hoàn thiện.

Continue reading

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI BỊ OAN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

MAI ANH THÔNG – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự đã và đang được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm. Kết quả đó được thể hiện bằng việc dự thảo Luật Bồi thường Nhà nước trong đó có các quy định về bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự đang được gấp rút soạn thảo để trình Quốc hội cho ý kiến trong kỳ họp tới.

Trong quá trình xây dựng Luật Bồi thường Nhà nước thì vấn đề bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự được xác định là một trong những nội dung quan trọng và cũng là vấn đề còn nhiều ý kiến, quan điểm. Để góp phần xây dựng một trong những nội dung quan trọng đó của Luật Bồi thường Nhà nước. Bài viết này xin giới thiệu những quy định của pháp luật về bồi thường cho người bị oan và một số vấn đề rút ra từ thực tiễn giải quyết bồi thường của Viện Kiểm sát nhân dân trong những năm qua nhằm góp tiếng nói với Ban soạn thảo nghiên cứu trong quá trình dự thảo luật này.

Continue reading

THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC CHẾ TÀI HÀNH CHÍNH NHẰM BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TS. DƯƠNG ANH SƠN – Khoa Kinh tế – Đại học Quốc gia TPHCM

Đặt vấn đề: Người tiêu dùng là một bộ phận quan trọng trong xã hội, chính họ là động lực thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, bởi vì nếu không có người tiêu dùng thì sẽ không có sản xuất. Chính vì lẽ đó nên họ phải được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe khi mua và sử dụng hàng hóa của các nhà sản xuất hay kinh doanh, không những thế họ còn có quyền yêu cầu pháp luật bảo vệ trong trường hợp hàng hóa được họ mua gây thiệt hại đến tài sản của họ, đến môi trường sống xung quanh.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nên Liên hợp quốc đã đưa ra 8 quyền của người tiêu dùng, đó là: quyền được đáp ứng những nhu cầu cơ bản, quyền được an toàn, quyền được thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được khiếu nại và bồi thường, quyền được giáo dục về tiêu dùng và quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững.

Continue reading