TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: VỠ NỢ VÌ "BONG BÓNG" BẤT ĐỘNG SẢN

SÁU NGHỆ

Tienphongonline – Dư luận TP Cần Thơ đang xôn xao về vụ vỡ nợ nhiều chục tỷ đồng của bà Võ Hoàng Minh Khoa, vợ của Trưởng phòng Công chứng số 1 TP.  Cùng với nhiều vụ vỡ nợ hàng chục, hàng trăm tỷ đồng xảy ra ở nhiều địa phương khác trong thời gian gần đây, ít nhiều liên quan đến nhà đất, có thể là một dấu hiệu bất ổn đã lộ ra của “bong bóng” thị trường bất động sản từng được cảnh báo.

Mua bán, vay mượn gian lận

Các món nợ của bà Võ Hoàng Minh Khoa, gián tiếp hoặc trực tiếp, đều có liên quan đến nhà đất. Tiền vay lãi suất cao, vay ngân hàng, chơi hụi… chủ yếu đổ vào nhà đất, rồi dùng nhà đất mua bán lòng vòng và vay nợ. Hoạt động lưu chuyển đồng tiền rất phức tạp này thêm rối rắm khi có sự gian lận.

Chị Huỳnh Thị Thanh Chi (ở số 14, đường Nguyễn Văn Cừ, Ninh Kiều, Cần Thơ) vốn là cán bộ của Phòng công chứng số 1, nơi ông Phan Hữu Thành (chồng bà Khoa) làm Trưởng phòng, nên tin cậy bà Khoa và cho mượn nhiều lần đến 2,4 tỷ đồng.

Để “đền ơn” món nợ lâu ngày chưa trả được, bà Khoa làm trung gian “bán giùm” bà Chi 2 lô đất ở khu đô thị mới trị giá 1,24 tỷ đồng. Tháng 3/2008, hợp đồng mua bán ký xong, bà Chi không nhận được tiền, tìm hiểu mới biết bà Khoa đã lấy tiền mua một căn nhà ở đường Hùng Vương (Ninh Kiều, Cần Thơ).

Continue reading

KHÔNG THỂ PHÂN LOẠI CHẤP HÀNH VIÊN

TS. LÊ THU HÀ – Học viện Tư pháp

Về cơ bản, các Pháp lệnh Thi hành án dân sự (THADS) (năm 1989, năm 1993, năm 2004) cũng như các dự thảo Bộ luật Thi hành án (THA), Luật THADS đều xác định chấp hành viên là người có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của tòa án và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Để có thể hoàn thành nhiệm vụ, chấp hành viên phải là người nắm vững pháp luật, được trang bị nghiệp vụ THA thể hiện qua trình độ cử nhân luật và có chứng chỉ nghiệp vụ THA. Điều này cũng đã được quy định trong Pháp lệnh THADS năm 2004, các dự thảo Bộ luật THA và sau này là cho đến Dự thảo số 5 Luật THADS (tháng 2/2008). Yêu cầu về có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THA là phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội, khi mọi nghề nghiệp, từ lao động giản đơn đến những hoạt động đặc thù, đều đòi hỏi được đào tạo kiến thức nghiệp vụ… Chính vì vậy, quan niệm về bổ nhiệm chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên cao cấp trong một số dự thảo Luật THADS gần đây lại cần thiết phải có sự nghiên cứu, trao đổi.

Ý tưởng về bổ nhiệm các loại chấp hành viên từ trình độ sơ cấp đến trình độ trung cấp và trình độ cao cấp bắt đầu xuất hiện từ Điều 27 của Dự thảo số 4 Luật THADS, cụ thể:

Continue reading

BƯỚC TIẾN MỚI VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở NƯỚC TA

NGUYỄN THỊ BÌNH DƯƠNG

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm tham gia ký và phê chuẩn Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Chủ trương không phân biệt đối xử ở Việt Nam hiện nay không chỉ là điều tuyên ngôn, mà được thể hiện đậm nét trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, được tôn trọng và đảm bảo thi hành trong thực tiễn đời sống xã hội, cũng như trong mọi gia đình và trong nhận thức của người dân.

Mục tiêu cơ bản của công cuộc đổi mới của Việt Nam là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đây cũng chính là điều kiện quan trọng, bảo đảm thực hiện nguyên tắc bình đẳng về giới trong đời sống xã hội. Để bảo đảm bình đẳng giới, Nhà nước đã tiến hành những hoạt động sau:

1. Thực thi các biện pháp chống phân biệt đối xử

Việt bảo đảm bình đẳng nam nữ được thực hiện thông qua các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; thông qua nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội, nghề nghiệp mà mỗi cá nhân là thành viên. Continue reading

NGHIÊN CỨU GIỚI Ở VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH VÀ XU HƯỚNG

image NGUYỄN LINH KHIẾU

Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự du nhập và truyền bá quan điểm giới đã trải qua ba giai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau. Để nâng cao tác động của quan điểm giới thiết thực góp phần tạo lập sự bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, cần thực hiện một loạt giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể.

Nghiên cứu khoa học về phụ nữ với tư cách là một ngành khoa học độc lập xuất hiện ở nước ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn đổi mới đất nước, của phong trào phụ nữ rộng khắp. Vì vậy, sau khi ra đời, khoa học nghiên cứu về phụ nữ đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo các nhà khoa học và hầu như của toàn xã hội.

Continue reading