XÂY DỰNG, QUẢNG BÁ VÀ BẢO VỆ THƯƠNG HIỆU NÔNG SẢN VIỆT NAM

image PGS. TS. NGUYỄN ĐÔNG PHONG

1. Tình hình xây dựng thương hiệu nông sản nước ta

Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ, hay tổng hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm người) bán và phân biệt các sản phẩm đó với các đối thủ cạnh tranh.

Giá trị thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể mang lại cho doanh nghiệp trong tương lai. Thương hiệu mạnh không chỉ là tài sản vô hình của doanh nghiệp mà còn là tài sản của quốc gia. Một sản phẩm có thương hiệu uy tín bán giá cao hơn một sản phẩm không có thương hiệu.

Kim ngạch xuất khẩu  nông sản của Việt Nam qua các thị trường ngày một tăng lên chiếm 30% trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bộ thương mại đã có quyết định đưa các mặt hàng trọng điểm của công tác xúc tiến thương mại năm 2004. Trong đó có các mặt hàng nông sản là gạo, chè, cà phê chế biến, hạt tiêu chế biến, rau quả và rau quả chế biến.

Continue reading

LỢI ÍCH VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TWO

image TS. NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN

Lợi ích

Khi tham gia vào WTO, chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng lớn trên cả cấp vĩ mô và vi mô. Lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được từ hội nhập là thị trường xuất khẩu thuận lợi cho Việt Nam mở rộng. Do VN được hưởng qui chế MFN vô điều kiện, theo đó hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế và hạn ngạch như hiện nay nữa (Hiện nay, thương mại giữa các nước thành viên WTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới). Từ đó sẽ tăng cường tiềm lực kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể:

– Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng đối với hàng dệt may.

– WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thế bằng thuế đối với sản phẩm gạo.

– WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động.

Continue reading

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM “RA BIỂN LỚN” – THỰC TIỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

image PGS.TS. HOÀNG THỌ XUÂN – DOÃN CÔNG KHÁNH – Bộ Công thương

Do sự phát triển của khoa học công nghệ và tiến trình hội nhập, hình thức tổ chức thị trường và phương thức hoạt động thương mại cũng đã thay đổi. Thương mại điện tử ra đời và đang có những bước phát triển nhanh chóng. Thị trường là toàn cầu, định chế quản lý là WTO và các định chế của các khối kinh tế khu vực, chủ thể kinh doanh là các công ty xuyên quốc gia. Thương mại Việt Nam sau khi gia nhập WTO đang có thời cơ, vận hội để rút ngắn chặng đường phát triển mà lịch sử thế giới phải trải qua hàng trăm năm mới có. Vấn đề đặt ra là trong thời gian tới thương mại Việt Nam phải có bước đi và giải pháp hữu hiệu

1 – Từ thực tiễn

Toàn cầu hóa đã tạo lập nền tảng cho việc duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển xã hội ở nhiều quốc gia đang mở ra các cơ hội cho sự hợp tác và hội nhập hiệu quả về thương mại, đầu tư, dịch vụ giữa các quốc gia, các cộng đồng. Sau hơn một năm, tác động tổng thể của việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đối với thương mại Việt Nam thể hiện rõ nét trên các mặt sau:

– Mở rộng thị trường xuất khẩu. Khả năng tiếp cận thị trường đối với hàng hóa xuất khẩu của nước ta được đẩy nhanh do được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) thường xuyên và vô điều kiện (điều mà trước đây chưa được áp dụng ở một số thị trường, hoặc chỉ áp dụng trong thời hạn nhất định ở một số thị trường khác) trong việc xuất khẩu hàng sang các nước này. Hàng hóa của nước ta sẽ có cơ hội và bình đẳng hơn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế. Do điều kiện tự nhiên và chi phí lao động rẻ, Việt Nam có lợi thế trong một số ngành, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp, dệt may, da giày.

Continue reading

PHÂN TÍCH MỘT SỐ SÁCH LƯỢC THỰC TẾ TRONG VIỆC VẬN DỤNG NHÃN HIỆU NHƯ MỘT TÀI SẢN TRÍ TUỆ

ĐÀO MINH ĐỨC

Sách lược đưa nhãn hiệu vào VN qua doanh nghiệp liên doanh

Từ cuối thập niên 1980, VN bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung qua nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, tìm biện pháp khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài để tạo thêm động lực mới cho nền kinh tế.

Trong điều kiện các chính sách quản lý kinh tế và pháp luật của VN còn đang liên tục thay đổi để hoàn thiện, các rủi ro pháp lý trong môi trường đầu tư được đánh giá là cao. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã xem việc thành lập các liên doanh với các đối tác sở tại là phương án ưu tiên. Các đối tác sở tại được nhắm đến thường là các doanh nghiệp nhà nước cấp trung ương hoặc địa phương đang có thị phần đáng kể sau một thời gian dài được ưu tiên phát triển. Mặt khác, các cán bộ quản lý doanh nghiệp vào thời điểm đó cũng là các viên chức nhà nước, có mối quan hệ chặt chẽ và am hiểu rất rõ phương thức ứng xử của chính quyền các cấp.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: KHÔNG PHẢN ĐỐI TỨC LÀ CHẤP NHẬN?

THỤY CHÂU

Năm 2003, vợ chồng ông P. (huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) thiếu nợ của hơn 20 người, trong đó nợ của chị T. gần 30 lượng vàng.

Cuối năm 2003, vợ chồng ông P. làm giấy thế chấp nhà, đất nhằm đảm bảo cho việc thanh toán nợ. Bên nhận thế chấp gồm chị T. và một đại diện cho các chủ nợ khác. Tháng 8-2004, vợ chồng ông P. lập biên bản giao hẳn tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để cấn trừ nợ.

Biên bản này được lập có xác nhận của UBND xã Viên An, ghi rõ các bên đã “vui vẻ thống nhất với nhau”. Sau đó, chị T. và người đại diện đã cho thuê nhà, đất trên. Chị T. hưởng 1/3, người đại diện các chủ nợ nhận 2/3 trong số tiền cho thuê nhà.

Bất ngờ, giữa năm 2006, chị T. lại khởi kiện đòi vợ chồng ông P. hoàn trả vàng. Theo chị T., biên bản thỏa thuận giao nhà, đất không hợp pháp vì mẹ ruột của chị đã tự ý ký tên vào biên bản thay cho chị; người đại diện cho hơn 20 chủ nợ còn lại không có văn bản ủy quyền.

Continue reading

CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG VÀ TÁC ĐỘNG PHÁ VỠ CÁC – TEN

PHAN CÔNG THÀNH

Việt Nam là một trong số các quốc gia đã ban hành Luật Cạnh tranh trong đó có những quy định về cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam chưa có quy định về chính sách khoan hồng dành cho các thành viên tham gia các thỏa thuận này nếu họ chủ động khai báo và cung cấp chứng cứ cho cơ quan điều tra.

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một công cụ vô cùng hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Cạnh tranh góp phần đào thải các chủ thể kinh doanh kém hiệu quả, giữ lại những chủ thể kinh doanh sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Nói cách khác, cạnh tranh như một bàn tay vô hình dẫn dắt các chủ thể kinh doanh, thúc đẩy các chủ thể này tìm giải pháp tăng năng suất lao động, không ngừng cải tiến công nghệ để tăng chất lượng, giảm giá thành sản phẩm và hệ quả là các nguồn lực trong xã hội được phân bổ một cách có hiệu quả và người tiêu dùng nói riêng và toàn xã hội nói chung được hưởng lợi.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN

THS. BÙI NGỌC SƠN

Có một câu chuyện kể rằng, loài ếch cần một trật tự để sinh tồn nhưng Thượng đế lại sai rắn duy trì trật tự cho ếch. Nếu không có rắn, ếch sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn vì không có người duy trì trật tự; nhưng bản thân rắn cũng lại là một mối nguy hại đối với ếch, có thể thôn tính ếch…

1.  Khái niệm chủ nghĩa hợp hiến (constitutionalism)

Có một câu chuyện kể rằng, loài ếch cần một trật tự để sinh tồn nhưng Thượng đế lại sai rắn duy trì trật tự cho ếch. Nếu không có rắn, ếch sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn vì không có người duy trì trật tự; nhưng bản thân rắn cũng lại là một mối nguy hại đối với ếch, có thể thôn tính ếch. Tương tự như vậy, loài người phải cần đến quyền lực nhà nước để duy trì một đời sống trật tự và phát triển; nhưng loài người cũng lại phải đối mặt với những tác hại mà quyền lực nhà nước mang đến.

Quyền lực nhà nước khi bị tha hoá sẽ trở thành công cụ thoả mãn lợi ích của những người nắm giữ và quay trở lại trấn áp xã hội: chính quyền chủ nô coi người bị trị như những công cụ biết nói; chính quyền phong kiến đàn áp đẫm máu các cuộc nổi dậy của nông dân; tham nhũng đang lan toả như một bệnh dịch toàn cầu… Sự nguy hiểm của quyền lực nhà nước gắn với bản chất của nó.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Mở đầu

Bên cạnh tài sản hữu hình, tài sản vô hình (trong đó bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ)[1] cũng khẳng định vai trò thiết yếu của nó đối với không chỉ các nhà sản xuất, các doanh nghiệp[2] mà còn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Theo ngài Kamil Idris – Tổng giám đốc Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), “Mặc dù tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều này không còn đúng nữa. Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên tri thức”[3]. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cũng khẳng định rằng: Sở hữu trí tuệ thuộc về tất cả các dân tộc, liên hệ tới mọi thời đại và nền văn hoá, đồng thời sở hữu trí tuệ cũng đánh dấu sự tiến triển của thế giới, có đóng góp trong qúa trình lịch sử cho tiến bộ xã hội.[4]

Nhận thức được tầm quan trọng của tài sản vô hình cũng như quyền sở hữu trí tuệ và yêu cầu hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từ nhiều thế kỷ trước, các quốc gia đã có chính sách, chiến lược thích hợp cho việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tụê[5]. Hiện nay, đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, cơ sở pháp lý cho sở hữu trí tuệ đã ở mức độ hoàn thiện. Tuy vậy, ở Việt nam, văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ được ban hành rất muộn và những quy định pháp luật hiện hành về quyền sở hữu trí tuệ bộc lộ quá nhiều hạn chế. Để bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả những giá trị to lớn của tài sản trí tuệ, đồng thời thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế[6], chúng ta cần phải nghiêm túc, thận trọng, và khách quan xem xét những bất cập của các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện các quy định này. Có như vậy, sở hữu trí tuệ mới thực sự là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BỒI TỤ GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU TRONG KINH DOANH

Brand_Name_page ĐÀO MINH ĐỨC

Vai trò của bộ phận quản trị nhãn hiệu

Bồi tụ giá trị cho nhãn hiệu chỉ là một trong các hoạt động tác nghiệp quản trị nhãn hiệu mà bản chất của các hành vi quản trị này là sự điều hòa và cân bằng giữa:

+ Các đòi hỏi vô hạn của thị trường với các nguồn lực hữu hạn của doanh nghiệp;

+ Cảm nhận tổng hòa được bộc lộ không rõ nét của người tiêu dùng về nhãn hiệu, với quy trình tổ chức sản xuất được kế hoạch hóa chặt chẽ trong doanh nghiệp;

+ Phong cách và hình ảnh của nhãn hiệu trong chiến lược dài hạn, với áp lực về doanh số và lợi nhuận trong ngắn hạn;

+ Phong cách và hình ảnh của từng nhãn hiệu với phong cách kinh doanh và hình ảnh chung của hệ thống biểu tượng của doanh nghiệp (thương hiệu, lô gô, các nhãn hiệu và các chỉ dẫn thương mại khác).

Do vậy, hoạt động quản trị nhãn hiệu thường chỉ có thể đạt hiệu quả tối ưu nếu được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các chức danh lãnh đạo doanh nghiệp có thẩm quyền liên kết chiến lược nhãn hiệu vào chiến lược kinh doanh. Ở cấp độ tác nghiệp, trong bộ phận quản trị nhãn hiệu của các tập đoàn đa quốc gia, nhất là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, mỗi nhãn hiệu hoặc một nhóm nhãn hiệu thường được giao cho một quản trị viên nhãn hiệu (brand manager) phụ trách, và có thể có các trợ lý nhãn hiệu (brand assistant) giúp việc. Tùy theo quy mô các ngành hàng và cấu trúc doanh nghiệp, có thể có thêm chức danh giám đốc nhãn hiệu (brand director) phụ trách chung toàn bộ hoạt động quản trị nhãn hiệu và nếu không có chức danh này, các quản trị viên nhãn hiệu thường được đặt dưới sự lãnh đạo của giám đốc tiếp thị (marketing director). Trong lĩnh vực hàng tiếp thị công nghiệp, quản trị viên nhãn hiệu có khi còn là quản trị viên sản phẩm (product manager).

Continue reading

THẾ GIỚI QUAN – CHIẾC LA BÀN ĐỊNH HƯỚNG CUỘC SỐNG

BÙI QUANG MINH

Giới thiệu: Hành trang cuộc sống của mỗi người luôn luôn cần tới những tri thức, trí tuệ sâu sắc. Thế giới quan là thứ không thể thiếu được trong hành trang trí tuệ ấy của mỗi người. Nó là cái cần phải được từng người tự học hỏi, chăm lo, đổi mới để có thể nhìn, hiểu và làm theo những luận điểm tổng quát góp phần như một chiếc la bàn định hướng cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm hiệu quả, hạnh phúc và thành đạt. Bài viết này làm rõ khái niệm thế giới quan, các thành phần của nó, ý nghĩa/ vai trò của nó, nguồn tư liệu để xây dựng thế giới quan và nhu cầu xây dựng một thế giới quan mới hiện đại.

Suy nghĩ triết lý và Thế giới quan là gì?

– Vượt trên việc suy nghĩ những vấn đề “ăn để sống”, “mối lợi vật chất” hằng ngày, con người còn “vươn tâm hồn mình” suy ngẫm thêm những vấn đề cuộc sống sâu sắc khác như “Ta nên sống vì cái gì?”, “thực ra hạnh phúc là gì?”, “làm sao để có được hạnh phúc lâu bền?”, “nên bắt đầu làm gì để cải thiện được cuộc sống hàng ngày tốt hơn?” hay những câu hỏi triết lý lớn như triết gia Kant đã nêu ra cho cuộc đời: “Tôi có thể biết gì? Tôi cần phải làm gì? Tôi có thể hy vọng vào cái gì? Tôi là ai?”. Những câu hỏi này hoàn toàn mang nội dung cụ thể gắn với thực tế đời sống, có giá trị cải thiện chất lượng sống. Tuy nhiên, không ít người cảm tưởng rằng những điều quan tâm triết lý đó là thừa, xa rời điều họ thường ngày quan tâm.

Continue reading

THỰC HIỆN CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

image PGS.TS. NGÔ NGỌC THẮNG – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I

Đổi mới giáo dục đại học để đáp ứng những mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bắt đầu trước hết từ đổi mới tư duy. Đồng thời, cần rất tỉnh táo, sáng tạo để phát triển giáo dục đại học bảo đảm tính chất và định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với tình hình và điều kiện của Việt Nam.

Cần đổi mới tư duy, chấp nhận cơ chế thị trường trong giáo dục

Kinh tế và giáo dục có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động qua lại với nhau, trong đó sự phát triển giáo dục phụ thuộc vào sự phát triển và cơ chế vận hành của nền kinh tế và chế độ chính trị – xã hội nói chung. Đất nước ta đã trải qua hơn 20 năm thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề: nền kinh tế thị trường đó có ảnh hưởng như thế nào đối với giáo dục, và có thể vận dụng cơ chế thị trường vào giáo dục được không? Tựu trung, theo chúng tôi, có ba loại quan điểm chủ đạo sau:

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN (NHÀ Ở)

LÊ LANH – Thi hành án Dân sự  TP Tuy Hòa, Phú Yên

Trong quá trình kinh doanh với nhau, vợ chồng bà A có vay mượn của ông B, số tiền 100 triệu đồng với lãi suất 1,1%/tháng. Quá trình kinh doanh thua lỗ vợ chồng A không có tiền trả nợ, cho nên ông B khởi kiện dân sự và trong quá trình hoàn giải hai bên thống nhất thoả thuận và được Toà án ra quyết định công nhận sự tự nguyện của các đương sự số 102/QD-DSST ngày 30/5/2005 với nội dung thoả thuận như sau:

Vợ chồng A chấp nhận trả nợ 100 triệu đồng và lãi suất 1,1%/tháng và đồng ý trả nợ gốc và lãi hàng năm cho ông B với thời gian và phương thức như sau:

– Năm 2005, trả gốc 10 triệu đồng cộng lãi hàng tháng/nợ gốc với lãi suất 1,1% và thời hạn cuối vào ngày 31/12/2005. Năm 2006 và những năm tiếp theo trả 15triệu với lãi suất như trên cho đến khi hết nợ ngày 31/12/2011. Trường hợp A không trả gốc và lãi đúng hạn cho B theo như thoả thuận thì ông B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi nhà 180 đường S để bán trả nợ gốc và lãi một lần cho B.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở, GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở, GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Ban hành kèm theo Quyết định số 54/2007/QĐ-UBND ngày 30 tháng 3 năm 2007 của Ủy ban nhân dân thành phố)

Chương 1

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi chung là Giấy chứng nhận) theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân và người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 2. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận

1. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp cho chủ sở hữu nhà ở đồng thời là chủ sử dụng đất ở, chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư.

2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp cho chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở.

3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người sử dụng đất theo từng thửa đất đối với mọi loại đất (trừ trường hợp đất ở được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 1 của Điều này); và các trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người sử dụng đất theo hướng dẫn tại Công văn số 5256/BTNMT-ĐKTKĐĐ ngày 28 tháng 11 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm:

Continue reading

LẠM PHÁT- NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

PGS.TS. TRẦN HOÀNG NGÂN & THS. VÕ THỊ TUYẾT ANH

1. Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ta từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng với tỷ lệ cao trên 7% trong hơn 20 năm qua (trong 5 năm 2003-2007 GDP tăng bình quân trên 8%/năm). Đời sống nhân dân được tăng lên, thu nhập GDP bình quân đầu người từ 402 USD năm 2000 tăng lên 836 USD năm 2007, số hộ nghèo giảm dần, đời sống nông dân cải thiện rõ rệt, nhiều công trình kinh tế xã hội được hoàn thành, hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu VN năm 2007 chiếm 156% GDP), gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO,.. VN được các nước trên thế giới đánh giá tốt và khen ngợi,.

Hiện nay nước ta đang đứng trước khó khăn thực sự, chỉ số giá cả tiêu dùng tăng nhanh năm 2007 là 12.63% và 3 tháng đầu năm 2008 tăng trên 9%, đặc biệt là cán cân thương mại năm 2007 thâm hụt lớn, nhập khẩu 62,7 tỷ USD tăng +39.6% so với năm 2006, xuất khẩu 48.6 tỷ USD tăng 21,9%, nhập siêu 14,1 tỷ USD (năm 2006 nhập siêu 5 tỷ USD), nhập siêu chiếm tỷ lệ rất đáng lo ngại 19,8%GDP (lưu ý việc nhập siêu tăng nhanh có yếu tố giá cả thế giới (xăng dầu, sắt thép, sợi bông, chất dẻo..) tăng cao do đồng USD yếu), cán cân vãng lai thâm hụt ở tỷ lệ cao trên 6% GDP ở mức đáng lo ngại…

Continue reading

QUI CHẾ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 45/2008/QĐ-BGD ĐT

ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

____________________________

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối t­ượng áp dụng

1. Văn bản này quy định về đào tạo trình độ thạc sĩ bao gồm: cơ sở đào tạo; tuyển sinh; ch­ương trình đào tạo; tổ chức đào tạo; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm.

2. Văn bản này áp dụng đối với các đại học, học viện, trường đại học được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ (sau đây gọi chung là cơ sở đào tạo), các tổ chức và cá nhân tham gia đào tạo trình độ thạc sĩ.

Điều 2. Mục tiêu đào tạo

Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc ngành, chuyên ngành được đào tạo.

Continue reading

RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN NHƯ THẾ NÀO KHI TÒA ÁN TỔNG HỢP KHOẢN TIỀN PHẠT BỔ SUNG CỦA 02 BẢN ÁN DO HAI TÒA ÁN KHÁC NHAU XÉT XỬ?

HÀ TUẤN PHƯƠNG – THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÁI NGUYÊN

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án là trường hợp một người đã bị kết án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa chấp hành hoặc chấp hành chưa xong thì lại bị xét xử về một hoặc nhiều tội khác.

Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 phân biệt cụ thể 03 trường hợp: Tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này; tổng hợp hình phạt khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới hoặc tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp. Có thể tổng hợp hình phạt chính hoặc các hình phạt bổ sung. Tuy nhiên việc tổng hợp hình phạt trong thực tiễn xét xử không phải bao giờ cũng đơn giản, gây lúng túng cho cơ quan Thi hành án dân sự. Vụ việc dưới đây là một ví dụ:

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THI HÀNH ÁN CẤP DƯỠNG NUÔI CON

LÊ LANH

Thi hành án dân sự về cấp dưỡng là một trong những loại việc khó thi hành, mất nhiều thời gian công sức và không đơn giản để kết thúc nhanh một vụ việc thi hành án. (Trừ trường hợp hai bên đương sự tự nguyện thoả thuận thi hành trực tiếp với nhau). Loại việc này, đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, chịu khó và rèn luyện kỹ năng thuyết phục hai bên đương sự hoặc theo dõi thi hành dần hàng tháng, hàng quí…

Có những vụ việc phải thi hành mãi cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt mới kết thúc được hồ sơ. Một chuỗi thời gian khá dài phải tính đến hàng năm để thuyết phục hai bên đương sự tự nguyện thi hành với nhau . Bởi vì, thi hành án dân sự về cấp dưỡng đa số là loại việc thi hành dần trong một số vụ án về “ Vi phạm… an toàn giao thông; hôn nhân và gia đình…” số tiền cấp dưỡng chỉ từ 100.000đ đến 300.000đ/ tháng/ một cháu. Nếu đối tượng phải thi hành án không tự nguyện thi hành và điều kiện thi hành án của đối tượng đó vẫn có đủ đi chăng nữa, thì cơ quan thi hành án đôi khi cũng không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế để kê biên tài sản nhanh được. Bỡi lẽ số tiền đưa ra thi hành rất ít so với giá trị tài sản kê biên.

Continue reading

MỘT DỰ ÁN LUẬT THIẾU TÍNH HIỆN THỰC

LÊ KIÊN

Đó là nhận định của ủy ban pháp luật quốc hội về dự án luật đăng ký bất động sản. Đây là lần thứ hai dự án luật này không vượt được “vũ môn”.

Ngày 25/8/2008, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho ý kiến về dự án Luật Đăng ký bất động sản (ĐKBĐS). Ủy ban Pháp Luật của QH cho rằng “Nếu như những gì Chính phủ trình thì không cần thiết phải ban hành đạo luật về ĐKBĐS”. Dự luật này đã từng bị Ủy ban Pháp luật của QH khóa XI bác bỏ và sau đó Chính phủ đã xin rút ra khỏi chương trình xây dựng luật và pháp lệnh năm 2005 do có quá nhiều ý kiến khác nhau.

Chính phủ: một cửa, tiện lợi

Trình bày tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết: Quản lý nhà nước về ĐKBĐS hiện nay còn phân tán, không tách bạch giữa quản lý hành chính về bất động sản (BĐS) như giao đất, cho thuê đất với quản lý nhà nước về ĐKBĐS. Ví dụ như Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý đất đai và đăng ký quyền sử dụng đất, Bộ Xây dựng quản lý xây dựng và đăng ký quyền sở hữu nhà ở và các công trình khác. Việc tồn tại nhiều đầu mối như trên gây khó khăn, phiền hà cho người dân do phải qua nhiều cửa để yêu cầu đăng ký và tìm hiểu thông tin về BĐS. “Thêm vào đó, việc lẫn lộn giữa quản lý nhà nước về BĐS với hoạt động ĐKBĐS – một dịch vụ công nhằm phục vụ người dân thực hiện các quyền của mình đối với BĐS đã làm người dân không mặn mà đăng ký các giao dịch BĐS và các giao dịch ngầm tiếp tục phát sinh” – ông Cường nhấn mạnh.

Continue reading

NĂNG LỰC ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH THỌ – TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

Là thành viên chính thức của WTO, trong bối cảnh tốc độ toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới diễn ra với tốc độ ngày càng cao, mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt hơn, Việt Nam (VN) có nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều thách thức. Một trong những thách thức đó là mức độ cạnh tranh tại thị trường trong nước ngày càng gay gắt hơn.

Để có thể tồn tại và phát triển, doanh nghiệp VN (DNVN) cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình vì nó là chìa khóa dẫn đến thành công của tất cả các doanh nghiệp. Để tạo ra lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp phải có nguồn lực phù hợp. Vì vậy, một yêu cầu cấp bách cho DNVN là họ phải nhận dạng, nuôi dưỡng và phát triển các nguồn lực có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh cho mình một cách bền vững để có thể cạnh tranh được trên thị trường nội địa và từng bước, trên thị trường quốc tế.

Continue reading