NỢ VÀ VẤN ĐỀ PHÁ SẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

Một cấu trúc vốn thâm dụng nợ có thể là một cấu trúc vốn hướng tới mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp (DN) nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Một khi sử dụng nợ không dựa trên những phân tích phù hợp với chu kỳ sống, đặc điểm công ty….cộng với đầu tư vào những dự án kém hiệu quả thì có khả năng DN bị phá sản. Một DN khi đã có đầy đủ dấu hiệu của phá sản thiết nghĩ cũng nên nhanh chóng xử lý theo luật, nhằm hạn chế những tổn thất rủi ro cho các nhà đầu tư vào DN, hạn chế những tác đông xấu mang tính phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế

1. Nợ, cấu trúc vốn và vấn đề phá sản của DN

Trên thực tế sử dụng nợ không những đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của DN mà đối với quản trị tài chính DN thì đây còn là một vấn đề mang tính “nghệ thuật” trong việc họach định cấu trúc vốn nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hoá giá trị DN với những phân tích để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế .

Continue reading

CẦN QUI ĐỊNH TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI TRẢ NỢ

ĐỖ VĂN HỮU

Theo Điều 298 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (Điều 304 BLDS năm 1995), thì “nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”

Theo Điều 298 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (Điều 304 BLDS năm 1995), thì “nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”. Trong trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thanh toán phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

BLDS năm 2005 cũng như BLDS năm 1995 quy định về việc buộc những người cùng có lỗi trong việc gây thiệt hại phải liên đới bồi thường thiệt hại đã được đề cập, nhưng không  quy định buộc những người cùng có lỗi trong việc để người khác dùng tài sản của mình, hoặc tài sản của người thứ ba để thế chấp có nghĩa vụ liên đới trả nợ, dẫn đến tình trạng tại thời điểm vay, người vay đã dùng những giấy tờ có giá trị pháp lý để xác định số tài sản thế chấp thuộc sở hữu (hoặc quyền sử dụng đối với đất đai) của mình, nhưng sau đó có tranh chấp về phần tài sản này, Toà án xác định tài sản mà người vay mang thế chấp không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của họ. Toà án buộc người vay phải trả tài sản lại cho chủ cũ, đồng thời buộc người vay phải trả tiền đã vay cho người cho vay và buộc người cho vay phải trả chủ cũ giấy tờ thế chấp để họ làm thủ tục sang tên. Trong khi đó, người vay lại không có khả năng thanh toán khoản tiền vay gây thiệt hại cho người cho vay. Hai vụ kiện sau đây cho thấy điều này.

Continue reading

XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP

THS. LÊ VIỆT LONG

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ kinh tế quốc tế. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng được quan tâm hơn. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục có những giải pháp mạnh mẽ và có hiệu quả hơn.

1. Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ

Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-2007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngoài ra mỗi năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng ngàn vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong năm 2006, thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến hành kiểm tra 20.414 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm; đã cảnh cáo 519 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy phép kinh doanh của 160 cơ sở;

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ

image XT – VP. NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Sau hơn một năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), mặc dù phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được nhiều kết quả đáng khả quan. Trong đó, có sự đóng góp không nhỏ của lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán. Cụ thể:

1.Những kết quả đã đạt được

Trong thời gian qua, hoạt động thanh toán trong nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực với sự xuất hiện của nhiều loại hình dịch vụ thanh toán mới, hiện đại dựa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin. Nhờ đó, hoạt động thanh toán của Việt Nam ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của nền kinh tế và tiến dần đến việc phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế cũng như yêu cầu phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Tính đến nay, đã có trên 11,7 triệu thẻ với 150 thương hiệu thẻ của 37 tổ chức phát hành, trong đó 94% thẻ ghi nợ nội địa và 6% thẻ quốc tế.

Continue reading

VĂN HÓA CÔNG QUYỀN – QUI TRÁCH NHIỆM HAY TỰ NHẬN TRÁCH NHIỆM

LG. NGÔ NGỌC BỬU

Từ vụ sập nhà ở Phường 17 Quận Bình Thạnh, báo Tuổi trẻ ngày 11.01.2007 có đặt câu hỏi : SẬP NHÀ, TRÁCH NHIỆM CỦA AI ? Tác giả Thu An đã phân tích: “… Nhà nước ta đã tổ chức ra một bộ máy quản lý đô thị không nhỏ, nếu không muốn nói là khá cồng kềnh rải đều từ thành phố xuống đến tận quận, huyện, xã, phường. Nhiều người còn cho rằng bộ máy đó là dư sức thừa hành nhiệm vụ.

Thành phố thì có thanh tra xây dựng, quận/huyện thì có đội quản lý trật tự đô thị, phường, xã thì có tổ quản lý trật tự đô thị. Các bộ phận này có nhiệm vụ kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ, đề xuất xử lý các vi phạm liên quan đến công trình xây dựng trên địa bàn quản lý. Vậy trong sự cố vừa qua họ ở đâu và phải chịu trách nhiệm ra sao ?” Với tầm nhìn bình thường theo cơ chế quản lý xã hội hiện nay thì đã có một vài lời giải thích của nhà cầm quyền như sau :

(1) Lỗi của UBND phường vì đã theo dõi không sát, lẽ ra khi phát hiện đào móng xử lý thì phường phải yêu cầu ngưng thi công và báo cáo cho quận biết (Ý kiến của Trưởng Phòng quản lý đô thị);

Continue reading