NHỮNG BẤT CẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Mở đầu

Bên cạnh tài sản hữu hình, tài sản vô hình (trong đó bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ)[1] cũng khẳng định vai trò thiết yếu của nó đối với không chỉ các nhà sản xuất, các doanh nghiệp[2] mà còn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Theo ngài Kamil Idris – Tổng giám đốc Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), “Mặc dù tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều này không còn đúng nữa. Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên tri thức”[3]. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cũng khẳng định rằng: Sở hữu trí tuệ thuộc về tất cả các dân tộc, liên hệ tới mọi thời đại và nền văn hoá, đồng thời sở hữu trí tuệ cũng đánh dấu sự tiến triển của thế giới, có đóng góp trong qúa trình lịch sử cho tiến bộ xã hội.[4]

Nhận thức được tầm quan trọng của tài sản vô hình cũng như quyền sở hữu trí tuệ và yêu cầu hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từ nhiều thế kỷ trước, các quốc gia đã có chính sách, chiến lược thích hợp cho việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tụê[5]. Hiện nay, đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, cơ sở pháp lý cho sở hữu trí tuệ đã ở mức độ hoàn thiện. Tuy vậy, ở Việt nam, văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ được ban hành rất muộn và những quy định pháp luật hiện hành về quyền sở hữu trí tuệ bộc lộ quá nhiều hạn chế. Để bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả những giá trị to lớn của tài sản trí tuệ, đồng thời thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế[6], chúng ta cần phải nghiêm túc, thận trọng, và khách quan xem xét những bất cập của các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện các quy định này. Có như vậy, sở hữu trí tuệ mới thực sự là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BỒI TỤ GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU TRONG KINH DOANH

Brand_Name_page ĐÀO MINH ĐỨC

Vai trò của bộ phận quản trị nhãn hiệu

Bồi tụ giá trị cho nhãn hiệu chỉ là một trong các hoạt động tác nghiệp quản trị nhãn hiệu mà bản chất của các hành vi quản trị này là sự điều hòa và cân bằng giữa:

+ Các đòi hỏi vô hạn của thị trường với các nguồn lực hữu hạn của doanh nghiệp;

+ Cảm nhận tổng hòa được bộc lộ không rõ nét của người tiêu dùng về nhãn hiệu, với quy trình tổ chức sản xuất được kế hoạch hóa chặt chẽ trong doanh nghiệp;

+ Phong cách và hình ảnh của nhãn hiệu trong chiến lược dài hạn, với áp lực về doanh số và lợi nhuận trong ngắn hạn;

+ Phong cách và hình ảnh của từng nhãn hiệu với phong cách kinh doanh và hình ảnh chung của hệ thống biểu tượng của doanh nghiệp (thương hiệu, lô gô, các nhãn hiệu và các chỉ dẫn thương mại khác).

Do vậy, hoạt động quản trị nhãn hiệu thường chỉ có thể đạt hiệu quả tối ưu nếu được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các chức danh lãnh đạo doanh nghiệp có thẩm quyền liên kết chiến lược nhãn hiệu vào chiến lược kinh doanh. Ở cấp độ tác nghiệp, trong bộ phận quản trị nhãn hiệu của các tập đoàn đa quốc gia, nhất là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, mỗi nhãn hiệu hoặc một nhóm nhãn hiệu thường được giao cho một quản trị viên nhãn hiệu (brand manager) phụ trách, và có thể có các trợ lý nhãn hiệu (brand assistant) giúp việc. Tùy theo quy mô các ngành hàng và cấu trúc doanh nghiệp, có thể có thêm chức danh giám đốc nhãn hiệu (brand director) phụ trách chung toàn bộ hoạt động quản trị nhãn hiệu và nếu không có chức danh này, các quản trị viên nhãn hiệu thường được đặt dưới sự lãnh đạo của giám đốc tiếp thị (marketing director). Trong lĩnh vực hàng tiếp thị công nghiệp, quản trị viên nhãn hiệu có khi còn là quản trị viên sản phẩm (product manager).

Continue reading

THẾ GIỚI QUAN – CHIẾC LA BÀN ĐỊNH HƯỚNG CUỘC SỐNG

BÙI QUANG MINH

Giới thiệu: Hành trang cuộc sống của mỗi người luôn luôn cần tới những tri thức, trí tuệ sâu sắc. Thế giới quan là thứ không thể thiếu được trong hành trang trí tuệ ấy của mỗi người. Nó là cái cần phải được từng người tự học hỏi, chăm lo, đổi mới để có thể nhìn, hiểu và làm theo những luận điểm tổng quát góp phần như một chiếc la bàn định hướng cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm hiệu quả, hạnh phúc và thành đạt. Bài viết này làm rõ khái niệm thế giới quan, các thành phần của nó, ý nghĩa/ vai trò của nó, nguồn tư liệu để xây dựng thế giới quan và nhu cầu xây dựng một thế giới quan mới hiện đại.

Suy nghĩ triết lý và Thế giới quan là gì?

– Vượt trên việc suy nghĩ những vấn đề “ăn để sống”, “mối lợi vật chất” hằng ngày, con người còn “vươn tâm hồn mình” suy ngẫm thêm những vấn đề cuộc sống sâu sắc khác như “Ta nên sống vì cái gì?”, “thực ra hạnh phúc là gì?”, “làm sao để có được hạnh phúc lâu bền?”, “nên bắt đầu làm gì để cải thiện được cuộc sống hàng ngày tốt hơn?” hay những câu hỏi triết lý lớn như triết gia Kant đã nêu ra cho cuộc đời: “Tôi có thể biết gì? Tôi cần phải làm gì? Tôi có thể hy vọng vào cái gì? Tôi là ai?”. Những câu hỏi này hoàn toàn mang nội dung cụ thể gắn với thực tế đời sống, có giá trị cải thiện chất lượng sống. Tuy nhiên, không ít người cảm tưởng rằng những điều quan tâm triết lý đó là thừa, xa rời điều họ thường ngày quan tâm.

Continue reading

THỰC HIỆN CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

image PGS.TS. NGÔ NGỌC THẮNG – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I

Đổi mới giáo dục đại học để đáp ứng những mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bắt đầu trước hết từ đổi mới tư duy. Đồng thời, cần rất tỉnh táo, sáng tạo để phát triển giáo dục đại học bảo đảm tính chất và định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với tình hình và điều kiện của Việt Nam.

Cần đổi mới tư duy, chấp nhận cơ chế thị trường trong giáo dục

Kinh tế và giáo dục có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động qua lại với nhau, trong đó sự phát triển giáo dục phụ thuộc vào sự phát triển và cơ chế vận hành của nền kinh tế và chế độ chính trị – xã hội nói chung. Đất nước ta đã trải qua hơn 20 năm thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề: nền kinh tế thị trường đó có ảnh hưởng như thế nào đối với giáo dục, và có thể vận dụng cơ chế thị trường vào giáo dục được không? Tựu trung, theo chúng tôi, có ba loại quan điểm chủ đạo sau:

Continue reading