MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TƯ CÁCH PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP

DƯƠNG MỸ AN

Trong đời sống xã hội, con người giao tiếp với nhau trên rất nhiều lĩnh vực: tín ngưỡng, tình cảm, văn học nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, chính trị,  kinh doanh…Có thể nói ở  hầu hết hết các lĩnh vực đó đều có sự điều chỉnh của Nhà nước bằng công cụ pháp luật xuất phát từ yêu cầu quản lývà kiểm soát mọi hoạt động đang diễn ra trong xã hội nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị và an ninh trật tự công cộng.  Những quan hệ xã hội (quan hệ người – người) phù hợp quy định của pháp luật thì được Nhà nước bảo vệ và khuyến khích phát triển.

Ngược lại, những quan hệ bất hợp pháp sẽ bị ngăn chặn, xử lý. Nhằm xác định tính hợp pháp hay không đối với từng loại hoạt động nhất định, con người (cá thể hoặc nhóm) trước pháp luật được Nhà nước công nhận một tư cách pháp lý. Trong bài này, người viết muốn góp một số ý kiến về việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tư cách pháp lý của doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh.

1. Các loại tư cách pháp lý

Trong quan hệ giữa người với người, các bên được gọi là chủ thể. Trên nguyên tắc, mọi cá nhân đều có tư cách pháp lý, nhưng với tổ chức thì không phải. Để được Nhà nước công nhận có tư cách pháp lý, chủ thể cần phải đáp ứng ít nhất một hoặc cả hai điều kiện sau:

Continue reading

ỨNG DỤNG CỦA LUẬT SO SÁNH TRONG XÂY DỰNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường Đại học Luật Hà Nội

1. Lý do ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ

Luật so sánh được công nhận là công cụ đắc lực trợ giúp cho hoạt động lập pháp và sửa đổi pháp luật, giải thích pháp luật, hiểu các quy định pháp luật và hỗ trợ cho sự thống nhất, hài hoà hoá pháp luật[1]. Trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 của nước ta (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ)[2], Luật so sánh cũng đã chứng tỏ vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Việc thông qua Bộ luật dân sự (Bộ luật dân sự sửa đổi)[3]Luật sở hữu trí tuệ trong năm 2005 đã đánh dấu thành công trong hoạt động đổi mới hệ thống pháp luật, thể hiện thành công của tiến trình hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta. Trong bài viết này, tác giả bàn về vấn đề ứng dụng của Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ bằng việc giải quyết ba câu hỏi: Tại sao phải ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Luật so sánh được ứng dụng như thế nào trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ đem lại những kết quả ra sao?

Cho đến nay, còn nhiều ý kiến khác nhau về Luật so sánh, tuy nhiên, cho dù Luật so sánh là một môn khoa học hàn lâm hay một phương pháp nghiên cứu, mọi người đều thừa nhận rằng Luật so sánh có tính ứng dụng rất cao, bao gồm ứng dụng trong hoạt động lập pháp[4]. Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ xuất phát từ những lý do sau đây:

Continue reading

THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ TRẢ LƯƠNG QUA TÀI KHOẢN

imagePHẠM THỊ ÁNH HÒA – Ban Thanh toán Ngân hàng nhà nước Việt Nam

1. Những thành tựu đạt được

Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc hạn chế sử dụng tiền mặt, phát triển các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu của nền kinh tế, cũng như phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng là những mục tiêu mà hệ thống Ngân hàng Việt Nam đang hướng tới. Để đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt thì biện pháp cấp thiết đầu tiên là thực hiện trả lương qua tài khoản mà giai đoạn đầu của Đề án trả lương qua tài khoản là thực hiện trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Do đây là đối tượng tiên phong làm hình mẫu cho xã hội hình thành thói quen sử dụng tài khoản ngân hàng để giao dịch thanh toán trên cơ sở công nghệ mới tiên tiến, đặt nền móng thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Mặt khác, việc áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ góp phần hạn chế các giao dịch bất hợp pháp, tăng cường sự quản lý nhà nước đối với các chi tiêu tài chính từ ngân sách và vốn nhà nước, triển khai thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí cũng như Nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng.

Trên tinh thần đó, ngày 24/8/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Chỉ thị 20). Sau 6 tháng triển khai thực hiện Chỉ thị 20 đã được một số kết quả khả quan như sau:

Sự hưởng ứng tích cực của xã hội tạo điều kiện triển khai rộng khắp toàn quốc, đạt được kết quả khả quan, đặc biệt là tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: 13 NĂM ĐI KIỆN CHƯA XONG

T.TÂM – P.THƯ

Qua chín lần xét xử, kéo dài suốt 13 năm nay, một vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại vừa phải quay trở về trình tự ban đầu chỉ vì các tòa “chọi” nhau về nhận định…

Mới đây, trong vụ ông Đạo và ông Vinh kiện Công an TP.HCM đòi bồi thường thiệt hại vì “giam xe oan”, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã hủy án sơ thẩm để xử lại từ đầu vì cấp sơ thẩm không tính đến khoản mất thu nhập từ hai chiếc xe này.

Giữ xe sai

Đây đã là phiên xử thứ chín của một vụ kiện “vắt qua hai thế kỷ”. Theo hồ sơ, tháng 2-1992, ông Đạo đại diện cho 10 chủ xe tải ký hợp đồng vận chuyển gỗ cho Công ty Xuất nhập khẩu với Campuchia (Bộ Thương mại, gọi tắt là Vikamex) từ Campuchia về TP.HCM. Trong một chuyến chở gỗ về đến Sông Bé, một số xe tải đã đổ gỗ xuống đây theo “lệnh riêng” của vài người trong Vikamex. Ông Đạo báo lại cho Vikamex và rắc rối bắt đầu phát sinh.

Vikamex cho rằng ông Đạo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nên yêu cầu Công an TP.HCM tạm giữ hai chiếc xe, một của ông Đạo, một của ông Vinh nhưng không lập biên bản… Sau 19 tháng tạm giữ xe và điều tra không có kết quả gì, Công an TP.HCM đành đình chỉ vụ án, trả lại hai xe cho các khổ chủ.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA: NGƯỜI TRONG CUỘC VẤT VẢ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

BÌNH HUYỀN

Sau 8 tháng nhận quyết định đình chỉ điều tra, ông Nguyễn Văn Triều (49 tuổi, ĐKTT tại số 55, khu vực 5, phường Ba Láng, quận Cái Răng, TP Cần Thơ) và ông Nguyễn Văn Tuân, chú ruột của ông Triều, vẫn chạy đôn, chạy đáo, gõ cửa khắp nơi để đòi bồi thường thiệt hại.

Lật lại hồ sơ

Năm 1984, trở về từ chiến trường Campuchia với quân hàm Thiếu úy, người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Văn Triều được người chú ruột Nguyễn Văn Tuân cho miếng đất nhỏ để cất nhà ở cùng vợ con. Đến năm 1990 thì miếng đất đó lại xảy ra tranh chấp với người khác. Không đồng tình với cách xử lý của chính quyền địa phương nên hai chú cháu tiếp tục khiếu nại. Chẳng ngờ đến ngày 10/3/1996, cả hai chú cháu bị khởi tố bị can về tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.

Sau quá trình điều tra, Công an huyện Châu Thành cũ (nay là Công an quận Cái Răng) đã kết thúc điều tra chuyển hồ sơ cho Viện KSND cùng cấp đề nghị truy tố. Tuy nhiên, ngày 13/7/1996, trong phiên xét xử sơ thẩm, HĐXX của TAND huyện phát hiện hồ sơ truy tố có sai sót nên đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với ông Triều (trước đó ông bị tạm giam – PV).

Continue reading