THỰC THI QUYỀN TÁC GIẢ

imageTHS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH –  Khoa Luật dân sự – Trường Đại học Luật Hà Nội

I. Quy định pháp luật hiện hành về thực thi quyền tác giả

1. Các công ước quốc tế về thực thi quyền tác giả

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng như tổ chức thương mại thế giới (WTO) đều khẳng định rằng: khai thác quyền sở hữu trí tuệ là công cụ quan trọng trong việc tạo ra của cải và giảm đói nghèo. Các tổ chức này cũng kết luận: có luật sở hữu trí tuệ chưa đủ, điều quan trọng là luật sở hữu trí tuệ được thực thi như thế nào. Giá trị của các tài sản trí tuệ phụ thuộc đáng kể vào việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ; có được hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả là cách tốt nhất để hạn chế những hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo rằng người có quyền cũng như toàn xã hội có thể được hưởng lợi từ những tài sản trí tuệ[1].

Trong nỗ lực nhằm bảo hộ và thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng, nhiều công ước quốc tế về quyền tác giả đã ra đời[2]. Tuy nhiên, không phải trong mọi công ước quốc tế về quyền tác giả, các quốc gia thành viên đều đề cập đến vấn đề thực thi quyền này. Vấn đề thực thi quyền tác giả được quy định chủ yếu trong Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật kí kết tại Berne, Thuỵ Sĩ năm 1886, được bổ sung lần cuối cùng tại Paris năm 1979; và Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tụê (viết tắt là Hiệp định TRIPs), được kí kết ngày 15/4/1994 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995[3].

Continue reading

CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI WTO TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM

1. Cung cấp dịch vụ qua biên giới

Theo Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Ban công tác về việc gia nhập WTO của VN, sau 5 năm gia nhập,doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ được phép thành lập các chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ tại VN. Tuy nhiên ngay từ thời điểm VN gia nhập WTO, các hãng bảo hiểm nước ngoài đã được tham gia thị trường VN qua phương thức “cung cấp qua biên giới” (dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác).

Cụ thể các công ty bảo hiểm nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại VN, được cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường. Riêng đối với dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc tế, các hãng bảo hiểm nước ngoài được tham gia bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không thương mại quốc tế và bảo hiểm hàng hóa đang vận chuyển quá cảnh quốc tế.

Continue reading

TÍN DỤNG CHO SINH VIÊN – VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP

image PGS.TS. HOÀNG ĐỨC – ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan của mọi nền kinh tế hàng hóa xét về bản chất thì nó là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi thông qua mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay. Mối quan hệ này là mối quan hệ có lợi cho cả hai bên, xét ở cấp độ vĩ mô, đó là quan hệ điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, xét ở cấp độ vi mô là mối quan hệ giải quyết trực tiếp nhu cầu vốn của người đi vay và nhu cầu cho vay của người đang tạm thời thừa vốn.

Trong nền kinh tế thị trường hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu và quan trọng nhất, nó đã giải quyết được mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay bằng tiền tệ có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu cả về phía người đi vay và cả về phía ngân hàng thương mại là người cho vay. Nói đến tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế là nói đến quan hệ tín dụng bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế, ở đây chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa người đi vay là sinh viên các trường đại học, cao đẳng với người cho vay là các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách.

Continue reading

AN NINH TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PGS., TS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG

Vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đang ngày càng có xu hướng tăng lên và ảnh hưởng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam ngày càng lớn. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang là động lực to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế và không thể bỏ qua ảnh hưởng của khu vực này đối với an ninh kinh tế và tài chính của Việt Nam. An ninh trong khu vực này, có ảnh hưởng lớn đến phúc lợi quốc gia và an ninh của dân cư. Đây là một vấn đề phức tạp, do đó, cần có sự phân tích, luận giải mối quan hệ giữa vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài với vấn đề xây dựng hệ thống an ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Quan niệm về an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài

Theo từ điển tiếng Anh kinh doanh (Longman), an ninh (security) là một thuật ngữ được sử dụng tuỳ thuộc vào góc độ xem xét. Thứ nhất, dưới góc độ cá nhân hoặc con người, an ninh là trạng thái không bị đe dọa mất việc làm mà không có lý do chính đáng hoặc không được bồi hoàn. Đây là khái niệm được sử dụng để chỉ an ninh về việc làm và gắn với chế độ an sinh xã hội. Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, theo luật pháp Anh, an ninh là quyền chiếm hữu của một chủ sở hữu trong việc tiếp tục sử dụng hoặc sinh sống trên một tài sản được thuê sau khi kết thúc thời hạn thuê hoặc sau khi nhận được thông báo của chủ tài sản buộc người đi thuê phải rời khỏi nơi được thuê như hoạt động thuê ngắn hạn, thuê tài sản, đất và các công trình nông nghiệp, các cơ sở kinh doanh. Thứ ba, dưới góc độ tài chính – ngân hàng, thuật ngữ an ninh (security) được hiểu là một loại tài sản có giá trị mà người cho vay giao cho người đi vay để thực hiện ý định trả nợ như chứng chỉ sở hữu nhà ở, trái phiếu chính phủ và trái phiếu thương mại, các khoản nợ, cổ phiếu và cổ phần, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, giấy chứng nhận sở hữu hàng hoá, hoặc sự bảo đảm của bên thứ ba. Nếu khoản nợ không đươc hoàn trả, người cho vay có quyền thu hồi nợ, các khoản lãi đến hạn và các khoản phí khác bằng cách bán chứng khoán để lấy tiền. Theo A. Maslow- người đưa ra thuyết nhu cầu của con người, an ninh là một nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản của con người1. Đây cũng là nhu cầu gần như tự nhiên của con người.

Continue reading

Ý NGHĨA CỦA LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

image THS. PHẠM THẾ LỰC – Viện Chính trị học – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị – pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị thế giới. So với các tư tưởng chính trị trong chế độ chuyên chế độc tài, lý thuyết phân quyền được coi là tư tưởng thời đại, đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ.

Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị – pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị thế giới. So với các tư tưởng chính trị trong chế độ chuyên chế độc tài, lý thuyết phân quyền được coi là tư tưởng thời đại, đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ. Sự hình thành và phát triển của lý thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội, hướng đến xác lập các mối quan hệ cơ bản giữa pháp luật và quyền lực, cá nhân và cộng đồng, công dân và nhà nước nhằm đảm bảo tính hiệu quả cao nhất của việc thực thi quyền lực. Chính vì vậy, phân quyền được coi là một tất yếu khách quan trong các nhà nước dân chủ, là điều kiện đảm bảo cho những giá trị tự do được phát huy, là tiêu chí đánh giá sự tồn tại và phát triển của nhà nước pháp quyền, nơi chủ quyền nhân dân giữ vai trò tối thượng.

Continue reading