XÂY DỰNG, QUẢNG BÁ VÀ BẢO VỆ THƯƠNG HIỆU NÔNG SẢN VIỆT NAM

image PGS. TS. NGUYỄN ĐÔNG PHONG

1. Tình hình xây dựng thương hiệu nông sản nước ta

Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ, hay tổng hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm người) bán và phân biệt các sản phẩm đó với các đối thủ cạnh tranh.

Giá trị thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể mang lại cho doanh nghiệp trong tương lai. Thương hiệu mạnh không chỉ là tài sản vô hình của doanh nghiệp mà còn là tài sản của quốc gia. Một sản phẩm có thương hiệu uy tín bán giá cao hơn một sản phẩm không có thương hiệu.

Kim ngạch xuất khẩu  nông sản của Việt Nam qua các thị trường ngày một tăng lên chiếm 30% trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bộ thương mại đã có quyết định đưa các mặt hàng trọng điểm của công tác xúc tiến thương mại năm 2004. Trong đó có các mặt hàng nông sản là gạo, chè, cà phê chế biến, hạt tiêu chế biến, rau quả và rau quả chế biến.

Continue reading

LỢI ÍCH VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TWO

image TS. NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN

Lợi ích

Khi tham gia vào WTO, chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng lớn trên cả cấp vĩ mô và vi mô. Lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được từ hội nhập là thị trường xuất khẩu thuận lợi cho Việt Nam mở rộng. Do VN được hưởng qui chế MFN vô điều kiện, theo đó hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế và hạn ngạch như hiện nay nữa (Hiện nay, thương mại giữa các nước thành viên WTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới). Từ đó sẽ tăng cường tiềm lực kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể:

– Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng đối với hàng dệt may.

– WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thế bằng thuế đối với sản phẩm gạo.

– WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động.

Continue reading

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM “RA BIỂN LỚN” – THỰC TIỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

image PGS.TS. HOÀNG THỌ XUÂN – DOÃN CÔNG KHÁNH – Bộ Công thương

Do sự phát triển của khoa học công nghệ và tiến trình hội nhập, hình thức tổ chức thị trường và phương thức hoạt động thương mại cũng đã thay đổi. Thương mại điện tử ra đời và đang có những bước phát triển nhanh chóng. Thị trường là toàn cầu, định chế quản lý là WTO và các định chế của các khối kinh tế khu vực, chủ thể kinh doanh là các công ty xuyên quốc gia. Thương mại Việt Nam sau khi gia nhập WTO đang có thời cơ, vận hội để rút ngắn chặng đường phát triển mà lịch sử thế giới phải trải qua hàng trăm năm mới có. Vấn đề đặt ra là trong thời gian tới thương mại Việt Nam phải có bước đi và giải pháp hữu hiệu

1 – Từ thực tiễn

Toàn cầu hóa đã tạo lập nền tảng cho việc duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển xã hội ở nhiều quốc gia đang mở ra các cơ hội cho sự hợp tác và hội nhập hiệu quả về thương mại, đầu tư, dịch vụ giữa các quốc gia, các cộng đồng. Sau hơn một năm, tác động tổng thể của việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đối với thương mại Việt Nam thể hiện rõ nét trên các mặt sau:

– Mở rộng thị trường xuất khẩu. Khả năng tiếp cận thị trường đối với hàng hóa xuất khẩu của nước ta được đẩy nhanh do được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) thường xuyên và vô điều kiện (điều mà trước đây chưa được áp dụng ở một số thị trường, hoặc chỉ áp dụng trong thời hạn nhất định ở một số thị trường khác) trong việc xuất khẩu hàng sang các nước này. Hàng hóa của nước ta sẽ có cơ hội và bình đẳng hơn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế. Do điều kiện tự nhiên và chi phí lao động rẻ, Việt Nam có lợi thế trong một số ngành, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp, dệt may, da giày.

Continue reading