LÀM LUẬT TRONG KHUNG CẢNH HỘI NHẬP

image TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – KHOA LUẬT ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Một năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cơ chế xây dựng pháp luật vẫn được giữ nguyên. Nhiều người cho rằng muốn đổi mới thì phải thay đổi cơ sở pháp lý là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vấn đề có phải như vậy không?

Nhiều người lý giải sự chậm trễ trong việc đổi mới hoạt động làm luật bằng cách viện dẫn các điều khoản ràng buộc của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành: bản thân việc làm luật đã được luật hóa; bởi vậy, muốn đổi mới, thì phải thay đổi cơ sở pháp lý. Hẳn việc sửa đổi luật, đang được thực hiện dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, xuất phát từ suy nghĩ đó.

Thực ra, có rất nhiều việc phải làm, chứ không chỉ đơn giản là sửa luật, để có được một cơ chế xây dựng pháp luật gọi là thích hợp với khung cảnh hội nhập.

Ở các nước tiên tiến, luật, một khi được cơ quan lập pháp thông qua, sẽ được áp dụng trong đời sống xã hội một cách trực tiếp mà không cần chờ sự hướng dẫn của cơ quan hành pháp. Văn bản lập quy chỉ có tác dụng tổ chức công việc của cơ quan hành pháp, đặc biệt là chỉ định ứng xử của công chức, trong khuôn khổ thi hành luật, chứ không phải là điều kiện để luật được thực thi.

Continue reading →

CẦN NHÌN NHẬN LẠI BẢN CHẤT CỦA ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI VIỆC XÁC LẬP QUYỀN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NGƯỜI DÂN

HỒ QUANG HUY – Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm – Bộ Tư pháp

Theo chúng tôi, một trong những lý do dẫn đến tiến độ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm, cũng như những nỗ lực của Chính phủ nhằm kiểm soát tính minh bạch của thị trường bất động sản chưa thu được kết quả quan trọng là do chúng ta chưa hiểu đúng, toàn diện về bản chất của đăng ký quyền sử dụng đất (yếu tố cấu thành quan trọng và chủ yếu nhất của đăng ký bất động sản). Trong khi đó, xét từ giác độ khoa học pháp lý và pháp luật thực định thì việc xác định đúng bản chất của “đăng ký quyền sử dụng đất” có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến mục tiêu xây dựng, cũng như sự vận hành của hệ thống đăng ký bất động sản ở nước ta.

Về vấn đề này, hiện có 2 loại quan điểm trái ngược nhau, cụ thể là:

(i) Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền sử dụng đất của người dân được xác lập từ thời điểm đăng ký. Nói cách khác, việc đăng ký làm phát sinh quyền sử dụng đất của người dân.

Loại quan điểm này đang được thể hiện ngay trong chính các quy định hiện hành của pháp luật về đất đai. Trên nền tảng sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền năng sau khi đã được Nhà nước đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giao dịch về quyền sử dụng đất phải được sự đồng ý (chấp thuận) thông qua việc chỉnh lý hồ sơ địa chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới có hiệu lực pháp lý. Theo đó, đăng ký quyền sử dụng đất là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về bất động sản (Luật Đất đai). Đăng ký các quyền, giao dịch về nhà đất đang được đồng nhất với việc Nhà nước công nhận quyền đối với nhà, đất và thông qua đăng ký người dân mới có quyền sở hữu đối với bất động sản.

Continue reading →

CẦN XEM LẠI ĐỊNH NGHĨA CỔ PHẦN

image MINH ĐỨC

Hẳn có những nhà đầu tư vẫn còn không ít băn khoăn về khái niệm rất quen thuộc này. Tham gia, quan tâm, tìm hiểu, biết về thị trường chứng khoán, hầu hết nhà đầu tư đều nằm lòng khái niệm “cổ phần”. Nhưng hẳn vẫn còn những định nghĩa chưa gãy gọn, hoặc đại khái.

Quanh việc định nghĩa khái niệm này cũng có những chi tiết không đơn giản, có trong những ý kiến đóng góp xây dựng dự thảo nghị định về chào bán cổ phần riêng lẻ.

Theo kế hoạch dự kiến trước đây, nghị định này sẽ được ban hành trong quý 1/2008, nhưng nay vẫn trong giai đoạn lấy ý kiến của các thành viên thị trường, cũng như các tổ chức, cá nhân, công chúng đầu tư.

Trong những ý kiến đóng góp đó, khái niệm cổ phần tưởng như đã quá quen thuộc, lại trở thành một vấn đề gây nhiều thắc mắc.

Khoản 1 Điều 4 của dự thảo nghị định giải thích khái niệm cổ phần như sau: “Cổ phần là một phần sở hữu của cổ đông đối với vốn điều lệ của tổ chức phát hành, bao gồm cả quyền mua cổ phần”. Giải thích này “vấp” phải những ý kiến phản biện đáng chú ý.

Continue reading →

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM: CẦN ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

HOÀNG MAI HẰNG

Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 8, thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2006 đã đánh dấu một giai đoạn mới của quá trình phát triển hoạt động SHTT của Việt Nam. Cùng với Bộ Luật Dân sự 2005, Luật SHTT đã tạo thành một hệ thống các quy định hoàn chỉnh thống nhất về quyền SHTT thay thế cho các quy định trước đây.

Các văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật SHTT đã được ban hành và từng bước đi vào thực tiễn. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện Luật SHTT đã nảy sinh một số vướng mắc cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.

Xâm phạm quyền SHCN có thể bị truy tố

Ông Lê Xuân Thảo – Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam cho biết: Tại khoản 1 điều 211 của Luật SHTT có quy định các hành vi xâm phạm là đối tượng xử lý hành chính, trong đó có quy định: không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT mặc dù đã được chủ thể quyền SHTT thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó. Theo ông Thảo, trong bối cảnh hiện nay, hành vi xâm phạm có xu hướng ngày càng tinh vi, nếu như chủ thể quyền SHTT gửi văn bản thông báo đến người xâm phạm quyền thì sẽ tạo ra cơ hội cho người có hành vi xâm phạm thủ tiêu các chứng cứ, huỷ hàng tồn kho và do đó sẽ giảm hiệu quả thực thi của công tác đấu tranh chống xâm phạm quyền SHTT. Do vậy, nên bỏ phần thông báo bằng văn bản của chủ thể quyền ra khỏi điều kiện cần thiết để áp dụng quy định này. Đồng thời, điều kiện này cũng nên áp dụng tương tự với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp.

Continue reading →

BẢN QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ: CẦN NHỮNG QUYẾT SÁCH MẠNH MẼ

HOÀNG DŨNG

Diễn đàn doanh nghiệp – Làm thế nào để bảo vệ hữu hiệu đối với những thành quả sáng tạo chân chính, tạo môi trường phát triển lành mạnh và bền vững cho thị trường bản quyền Việt Nam đang là vấn đề đặt ra không chỉ cho các cơ quan quản lý, cơ quan bảo vệ pháp luật sở hữu trí tuệ mà còn cho tất cả những ai quan tâm đến sở hữu trí tuệ.

Về hệ thống văn bản pháp luật quốc gia, để đáp ứng các điều kiện, yêu cầu về “tính đầy đủ” của hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ khi gia nhập WTO, chúng ta đã xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp luật quy định về bảo hộ, thực thi quyền tác giả, bao gồm:

Về các thỏa thuận và cam kết quốc tế, đến nay chúng ta đã tham gia 5 Điều ước quốc tế đa phương về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan, đó là Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống việc sao chép bất hợp pháp, Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng, Công ước Brussels về các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh được mã hóa… Như vậy, về mặt khung pháp lý, có thể nói Việt Nam đã có một hệ thống các quy định pháp luật tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi của các quy định này trên thực tế hiện vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn, đặc biệt là trong môi trường kỹ thuật số như hiện nay – khi mà vấn đề “văn hóa bản quyền” đang được đề cập ngày càng nhiều.

Continue reading →