VẤN ĐỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

image ĐẠI TÁ. PGS.TS. LẠI NGỌC HẢI – Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng

Nền kinh tế nước ta sau hơn 20 năm đổi mới, tuy đạt được những thành tựu hết sức to lớn nhưng nhìn tổng thể vẫn chưa thoát khỏi tính chất của một nền kinh tế nông nghiệp. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu để “…đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(1). Một trong những yếu tố bảo đảm thực hiện mục tiêu nói trên là, phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước. Là một quốc gia nông nghiệp, giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã, đang và sẽ còn là vấn đề có giữ vị trí nền tảng đối với quá trình giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những bức xúc trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở nước ta hiện nay

Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã có bước phát triển khá toàn diện và to lớn. Nông nghiệp phát triển ổn định và có xu hướng tái sản xuất theo chiều sâu, đời sống vật chất, tinh thần nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn thay đổi theo chiều hướng lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế – xã hội, góp phần quan trọng vào sự ổn định của đất nước, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn. Sự phát triển của nông nghiệp có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại và thiếu tính bền vững; nông thôn đang có chiều hướng tụt hậu; đời sống của nông dân nhìn chung còn thấp, ở nhiều vùng chậm được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.

Continue reading

MỘT SỐ QUI ĐỊNH MỚI VỀ CẤP BẢN SAO TỪ SỔ GỐC, CHỨNG THỰC BẢN SAO TỪ BẢN CHÍNH, CHỨNG THỰC CHỮ KÝ

PHAN THỦY – Vụ Hành chính Tư pháp – Bộ Tư pháp

Ngày 25 tháng 8 năm 2008 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 03/2008/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản bản chính, chứng thực chữ ký

Nội dung Thông tư chủ yếu tập trung vào một số vấn đề mà trong thời gian thực hiện Nghị định số 79 còn vướng mắc nay đã được Thông tư số 03 hướng dẫn chi tiết, cụ thể như: Việc chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp xã và Phòng Tư pháp cấp huyện; việc chứng thực tại huyện đảo chưa có đơn vị hành chính xã, thị trấn; Văn bản làm cơ sở để đối chiếu, chứng thực bản sao; chứng thực điểm chỉ; người dịch; cộng tác viên dịch thuật; thù lao dịch thuật; việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng; chế độ báo cáo và kiểm tra trong hoạt động chứng thực.

Việc chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp xã và Phòng Tư pháp cấp huyện hướng dẫn như sau:

Continue reading

BẢN NHẬN XÉT DỰ THẢO LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM (Dự thảo 7, Bản trình UBTVQH)

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Đại học Luật Hà Nội

Qua nghiên cứu Dự thảo 7 Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm*, tôi có nhận xét rằng nhìn chung Dự thảo 7 đã cơ bản đáp ứng được mục đích và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật đăng ký giao dịch bảo đảm. Bên cạnh đó, tôi cũng xin nêu một số vấn đề thắc mắc sau đây:

1) Về Khoản 3, Điều 4, có quy định một số giao dịch khác (không phải là giao dịch bảo đảm), nhưng cũng được đăng ký theo thủ tục quy định tại Mục 2 Chương III của Luật này. Đó là các giao dịch: cho thuê động sản có thời hạn thuê từ 1 năm trở lên, mua trả chậm, trả dần đối với tài sản là động sản có bảo lưu quyền sở hữu, bán có chuộc lại, bán thông qua đại lý, chuyển nhượng quyền đòi nợ, … Tuy nhiên, ở đây có 2 vấn đề cần làm rõ: Giá trị pháp lý của việc đăng ký các giao dịch này là gì? (Lưu ý rằng Bộ luật dân sự không có quy định thứ tự ưu tiên đối với các giao dịch này khi được đăng ký). Nếu áp dụng các quy định của Mục 2 Chương III đối với các giao dịch này thì sẽ xác định ai sẽ là người có quyền đăng ký?

2) Khoản 1 Điều 9: Cần cân nhắc xem có nên ấn định một cách cứng nhắc thời hạn đăng ký là 5 năm không? Bộ luật dân sự quy định một cách rất hợp lý rằng đối với cầm cố, thế chấp thì thời hạn do các bên thỏa thuận. Nếu các bên không có thỏa thuận thì thời hạn cầm cố được tính cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm (Điều 329, Điều 344 BLDS 2005). Dự thảo nên quy định phù hợp với quy định này của Bộ luật dân sự. Việc quy định cứng nhắc thời hạn 5 năm chỉ thuận tiện cho cơ quan đăng ký chứ không thuận tiện cho các bên trong giao dịch.

Continue reading

CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH Y TẾ Ở MEXICO

THS. ĐOÀN TƯỜNG VÂN

1. Vài nét khái quát

Một hệ thống chắp vá tại thời điểm bắt đầu cải cách

Các thách thức mà Mexico phải đối mặt khi bắt đầu thực hiện cải cách năm 2003 là do thiết kế ban đầu của mô hình hệ thống y tế. Năm 1943, Bộ Y tế được thành lập và trong năm đó tổ chức an sinh xã hội (IMSS) cũng được hình thành để phục vụ khu vực chính quy, tư nhân, người lao động hưởng lương và gia đình của họ. Năm 1959, tổ chức an sinh và các dịch vụ xã hội cho công chức nhà nước (ISSSTE) bắt đầu bảo hiểm cho người làm việc trong khu vực công và gia đình của họ. Vì thế, hệ thống này bị phân thành từng mảng từ khi nó được thành lập xuyên suốt đến tận khi cải cách năm 2003 giữa những người được bảo hiểm (người làm việc trong khu vực chính quy, người làm việc trong khu vực công và gia đình của họ) với phần còn lại của dân số (người lao động tự do, thất nghiệp, người lao động trong khu vực phi chính quy, người lao động không được trả bằng lương và cả những người không làm việc). Tất cả người dân, trừ những người lao động hưởng lương, bị loại ra khỏi các chương trình BHXH chính thức. Các nhu cầu cơ bản về chăm sóc y tế của nhóm người “dư” ra này được Bộ Y tế cung cấp. Gói quyền lợi không được xác định và được hỗ trợ từ sự kết hợp của các quỹ Liên bang, ở mức độ thấp hơn là sự đóng góp ở mức độ Bang cũng như các gia đình phải trả phí dịch vụ. ở thời điểm chương trình cải cách được thông qua năm 2003, khoảng 40% dân số được bảo hiểm bởi IMSS, 7% được ISSSTE bảo hiểm và khoảng 2 – 3% dân số tham gia BHYT tư nhân. Hậu quả là diện bao phủ bảo hiểm (của cả hai IMSS và ISSSTE) thoái lui giữa các hộ gia đình và các Bang, chi tiêu tài chính cho hệ thống y tế chủ yếu dựa vào tiền túi của bệnh nhân và bần cùng hoá do chi tiêu cho y tế là phổ biến đặc biệt trong nhóm có thu nhập thấp nhất.

Continue reading

Kinh nghiệm hòa giải ở cơ sở THEO PHÁP LUẬT CỦA LIÊN BANG ÚC

ĐẶNG HOÀNG ANH – Bộ Tư pháp

1. LEADR (Hiệp hội các nhà Giải quyết Tranh chấp)

LEADR là một tổ chức phi lợi nhuận lớn, được thành lập năm 1989, hoạt động theo cơ chế thành viên nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ giải quyết tranh chấp ngoài Toà án (ADR). Đây là tổ chức liên lục địa Úc-Á, có văn phòng tại Australia, New Zealand, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản. Tổ chức này có chức năng đảm bảo các dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng ADR có chất lượng cao trong khu vực thông qua các hoạt động đào tạo và công nhận hoà giải viên và trọng tài; thúc đẩy đào tạo và nghiên cứu về ADR; cấp nhật các thông tin về ADR trong nước và quốc tế cho các thành viên; cung cấp các dịch vụ đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn một cách liên tục cho các hoà giải viên chuyên nghiệp; tạo điều kiện tiếp cận đơn giản và có hiệu quả với các hoà giải viên chuyên nghiệp; hỗ trợ các tổ chức trong việc phát triển các quy trình giải quyết tranh chấp bằng ADR có hiệu quả.

LEADR có quyền công nhận tư cách hoà giải viên theo Tiêu chuẩn Quốc gia về Hoà giải có hiệu lực vào ngày 1/1/2008. Với hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý hệ thống công nhận hoà giải viên của mình và sự hiểu biết sâu sắc về các Tiêu chuẩn quốc gia của Úc về Hoà giải viên mới được ban hành trên đây, LEADR cung cấp một quy trình công nhận hoà giải viên chuyên nghiệp và có uy tín. LEADR đánh giá kinh nghiệm và chất lượng đào tạo của các cá nhân để quyết định các yêu cầu đào tạo bổ sung, trên cơ sở đó đánh giá dựa trên năng lực về kỹ năng của hoà giải viên. Việc được LEADR công nhận sẽ là một sự đảm bảo về chất lượng dịch vụ cho các khách hàng của các hoà giải viên.

Continue reading

KINH NGHIỆM HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ THEO PHÁP LUẬT CỦA LIÊN BANG ÚC

ĐẶNG HOÀNG ANH – Bộ Tư pháp

1. LEADR (Hiệp hội các nhà Giải quyết Tranh chấp)

LEADR là một tổ chức phi lợi nhuận lớn, được thành lập năm 1989, hoạt động theo cơ chế thành viên nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ giải quyết tranh chấp ngoài Toà án (ADR). Đây là tổ chức liên lục địa Úc-Á, có văn phòng tại Australia, New Zealand, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản. Tổ chức này có chức năng đảm bảo các dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng ADR có chất lượng cao trong khu vực thông qua các hoạt động đào tạo và công nhận hoà giải viên và trọng tài; thúc đẩy đào tạo và nghiên cứu về ADR; cấp nhật các thông tin về ADR trong nước và quốc tế cho các thành viên; cung cấp các dịch vụ đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn một cách liên tục cho các hoà giải viên chuyên nghiệp; tạo điều kiện tiếp cận đơn giản và có hiệu quả với các hoà giải viên chuyên nghiệp; hỗ trợ các tổ chức trong việc phát triển các quy trình giải quyết tranh chấp bằng ADR có hiệu quả.

LEADR có quyền công nhận tư cách hoà giải viên theo Tiêu chuẩn Quốc gia về Hoà giải có hiệu lực vào ngày 1/1/2008. Với hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý hệ thống công nhận hoà giải viên của mình và sự hiểu biết sâu sắc về các Tiêu chuẩn quốc gia của Úc về Hoà giải viên mới được ban hành trên đây, LEADR cung cấp một quy trình công nhận hoà giải viên chuyên nghiệp và có uy tín. LEADR đánh giá kinh nghiệm và chất lượng đào tạo của các cá nhân để quyết định các yêu cầu đào tạo bổ sung, trên cơ sở đó đánh giá dựa trên năng lực về kỹ năng của hoà giải viên. Việc được LEADR công nhận sẽ là một sự đảm bảo về chất lượng dịch vụ cho các khách hàng của các hoà giải viên.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: 7 NGƯỜI CON KIỆN CHA GIÀ CHÍN TÁM TUỔI

QUỐC CƯỜNG – ĐỨC HẢI

Dân trí – Một câu chuyện đau lòng có thật tại tỉnh Hà Giang: Bảy người con, 2 trai, 5 gái, đồng đứng đơn tố cáo cha đẻ. Riêng cô út thương cha không ký vào đơn, nhưng cho các anh chị mượn xe ôtô lên tỉnh kiện cha.

Mâu thuẫn gia đình vì chuyện đất đai

Cụ Nguyễn Văn Nghĩa, nhà ở tổ 1, khu phố Quang Sơn, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang (Hà Giang) năm nay đã 89 tuổi, gẫy 2 chân, đi lại phải dùng nạng. Ở cái tuổi gần đất xa trời, cụ lại phải hứng chịu nỗi đau khổ, nhục nhã lớn nhất trong cuộc đời: bị chính những người con đẻ lập đơn kiện. Có lẽ cụ còn là người Việt Nam đầu tiên bị đông con kiện đến như vậy.
Khi chúng tôi tìm đến nhà cụ Nghĩa, hàng xóm xung quanh đều biết chuyện gia đình cụ và tỏ ý thương cảm cho hoàn cảnh trớ trêu, đau buồn của cụ.

Tám đứa con của cụ, “đứa” ít tuổi nhất cũng đã… 43 tuổi, nhiều nhất là gần 65, cũng đã lên tuổi ông bà. Nhà đứa kém nhất cũng thuộc hàng khá giả, có của ăn của để ở thị trấn phố huyện này. Người làm nghề buôn vàng, người buôn hàng đồ sắt, người xây khách sạn, có người trong tay nắm gần chục chiếc xe khách đường dài… Vậy vì đâu mà xảy ra câu chuyện trớ trêu ngày hôm nay?

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐÒI TIỀN… LÀM CHỒNG?

HOÀNG YẾN

TAND TP.HCM vừa xử phúc thẩm một vụ ly hôn khá lạ: Người chồng đòi vợ trả tiền… làm chồng trong thời gian chung sống và một mực đòi tòa phải trả lại “sự đứng đắn” cho mình chứ không thể tuyên như cấp sơ thẩm.

Có 300 triệu việc này mới xong…

Tháng 5, bà N. nộp đơn xin ly hôna ra TAND quận X. Trong đơn, bà trình bày rằng bà cùng ông K. chung sống từ năm a2001, có đăng ký kết hôn nhưng không có con chung, tài sản chung cũng nahư không có nợ chung và nghĩa vụ dân sự. Nay bà nộp đơn xin ly hôn với ông K. vì bà đã nhiều lần yêu cầu ông đi chữa bệnh để có con nhưng ông từ chối. Đời sống gia đình chỉ đủ ăn nhưng ông đã không cùng bà vun vén cuộc sống lại còn tiêu xài hoang phí. Chưa kể ông có thói gia trưởng, không thương yêu vợ nên từ năm 2005, hai ông bà đã ly thân, mỗi người tự lo cuộc sống riêng…

Trong nhiều phiên hòa giải tại tòa quận X, ông K. nhất định không chịu ly hôn, đặt điều kiện nếu muốn ly hôn thì bà N. phải đưa cho ông 300 triệu đồng tiền… ông đã chung sống với bà. Yêu cầu này của ông K. đã không được tòa chấp nhận ngay từ đầu bởi tòa xét tài sản chung của hai người không có và bà N. chẳng việc gì phải đưa số tiền trên cho chồng cả.

Continue reading

XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN THEO LUẬT CẠNH TRANH NĂM 2004

 THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM

Đánh giá về tầm quan trọng của việc xác định thị trường liên quan, Cục thương mại công bằng của Anh đã nhận định: “định nghĩa thị trường là một giai đoạn rất quan trọng trong bất cứ cuộc điều tra nào về hành vi lạm dụng. Bởi lẽ, thị phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định. Do đó, nếu thị trường được xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường đều không hoàn thiện” (1). Pháp luật cạnh tranh của các nước cho đến nay vẫn đang nỗ lực tìm kiếm những căn cứ và phương pháp hiệu quả để đánh giá chính xác thị trường liên quan.

Dưới góc độ kinh tế, thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nhất định. Nếu như các sản phẩm trên thị trường có thể thay thế hoàn toàn cho nhau (giống hệt nhau) thì người tiêu dùng có thể lựa chọn bất cứ doanh nghiệp nào trong số các doanh nghiệp đang cung cấp sản phẩm trên thị trường. Lúc này, mỗi nhà cung cấp đều phải chịu sức ép cạnh tranh từ doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy, rất hiếm khi tồn tại một thị trường mà các sản phẩm lại có thể thay thế hoàn toàn cho nhau. Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để dị biệt hoá sản phẩm của mình trước thói quen tiêu dùng của khách hàng. Kinh tế học lý giải về tính dị biệt hoá của sản phẩm trên thị trường từ góc độ của cạnh tranh và độc quyền. Theo nhà kinh tế học người Mỹ, Edward H. Chamberlin, trong kinh doanh, mỗi sản phẩm mang lại tính độc đáo bằng đặc điểm riêng có của nó trong việc hình thành như thương hiệu, khác biệt về chất lượng, cung cách phục vụđiều này thể hiện khía cạnh độc quyền của nó. Mỗi sản phẩm là đối tượng cạnh tranh của sản phẩm khác. Việc dị biệt hoá đã làm cho cả độc quyền và cạnh tranh cùng có mặt (2).

Continue reading

PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. BÙI SĨ HIỂN – Bộ Xây dựng

Có một thực tế hiện nay là số lượng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta nhiều nhưng rất chồng chéo, thiếu tính đồng bộ, hệ thống. Quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư xây dựng nói riêng, vẫn đang bộc lộ nhiều yếu kém. Phân tích về thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế này, tác giả cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần ban hành Luật Đầu tư xây dựng và quan trọng hơn là thực thi chúng một cách nghiêm chỉnh, minh bạch, tạo lực đẩy mới cho mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng ở nước ta.

Hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay đang được điều chỉnh bằng nhiều văn bản ở các cấp độ pháp lý khác nhau. Trong khi nội dung các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành chưa bao quát một cách có hệ thống, đồng bộ và đầy đủ các hoạt động đầu tư xây dựng trong nước, khi chúng ta chưa có Luật Đầu tư để áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Nghị quyết số 36/2004/QH11 về công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước và Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình được xem là những văn bản có tính pháp lý cao nhất, cùng với các văn bản khác do các bộ, ngành và địa phương ban hành, đã tạo thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng làm cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nước ngoài thực hiện việc đầu tư và quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng trên phạm vi cả nước. (Xem hộp 1) Continue reading

Vấn đề chất lượng sản phẩm, hàng hóa THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

THS. CHU ĐỨC NHUẬN

Ngày nay, chất lượng sản phẩm, hàng hoá không những là thước đo quan trọng khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đặt vấn đề

Ngày nay, chất lượng sản phẩm, hàng hoá không những là thước đo quan trọng khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chất lượng sản phẩm, hàng hoá liên quan trực tiếp đến sự an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, tài sản và môi trường. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi để lưu thông, trao đổi hàng hóa, các nước cũng cần ngăn cản các sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, không bảo đảm an toàn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ sản xuất trong nước và lợi ích quốc gia. Vì yêu cầu đó nên liên tục những năm gần đây, nhiều nước đã ban hành các đạo luật chuyên ngành để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá[1]. Để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá, nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá năm 1990 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1999) với gần một trăm văn bản hướng dẫn thi hành. Continue reading

VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

THS. CHU ĐỨC NHUẬN

Ngày nay, chất lượng sản phẩm, hàng hoá không những là thước đo quan trọng khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đặt vấn đề

Ngày nay, chất lượng sản phẩm, hàng hoá không những là thước đo quan trọng khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chất lượng sản phẩm, hàng hoá liên quan trực tiếp đến sự an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, tài sản và môi trường. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi để lưu thông, trao đổi hàng hóa, các nước cũng cần ngăn cản các sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, không bảo đảm an toàn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ sản xuất trong nước và lợi ích quốc gia. Vì yêu cầu đó nên liên tục những năm gần đây, nhiều nước đã ban hành các đạo luật chuyên ngành để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá[1]. Để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá, nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá năm 1990 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1999) với gần một trăm văn bản hướng dẫn thi hành. Continue reading

CÔNG TY LUẬT VÀ BA SUY NGẪM PHÁP LÝ

image TRẦN PHƯƠNG MINH (Theo Business Power Law)

Trên thị trường cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý nhiều cạnh tranh gay gắt như hiện nay, rất nhiều công ty luật đang phải đối mặt với sức ép kinh doanh và quản lý để duy trì sự tồn tại của mình. Nói chung, cũng như nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác, các công ty luật vẫn thường bị áp lực nặng nề từ phía cổ đông. Thêm vào đó, thực tế kinh doanh đã khiến nhiều công ty luật rơi vào cảnh “giật gấu vá vai” để rồi phải tìm kiếm sự hợp nhất và hợp tác mới trên thị trường như là một trong những biện pháp cắt giảm chi phí pháp lý và nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn của mình.

Các công ty luật có “của ăn, của để” cũng không chịu ngồi yên. Họ vẫn không ngừng tìm kiếm các đối tác hay đồng minh phù hợp với mô hình tổ chức, thông hiểu hoạt động kinh doanh của mình để có thể cùng nhau đưa ra nhiều định hướng kinh doanh và dịch vụ tư vấn hiệu quả.

Đối với những công ty luật may mắn có mặt trong danh sách các đơn vị tư vấn đáng tin cậy của khách hàng, họ thường nhận ra một chân lý rằng để thành công trong hoạt động kinh doanh thì không chỉ cần cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn pháp lý chất lượng với chi phí hợp lý mà còn phải làm bất cứ những gì có thể nhằm tạo dựng mối quan hệ gần gũi và tin tưởng với khách hàng, thậm chí với cả những công ty luật khác, vì những điều tốt đẹp hơn cho uy tín của công ty cũng như cho khách hàng.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: NGƯ DÂN THẮNG KIỆN CÔNG TY BẢO HIỂM

Tiền Phong- TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa Cty cổ phẩn bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) và ngư dân Nguyễn Văn Á, chủ tàu cá BV 0746 TS, Phước Tỉnh, Long Điền.

Ông Nguyễn Văn Á có hai chiếc tàu cá biển số BV 0746TS và BV 0648TS, cả hai tàu đều mua bảo hiểm của Bảo Long tại Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT). Trong đó, tàu BV 0746TS có giấy chứng nhận bảo hiểm số 1A.1026/0173/06-VT ngày 1/8/2006.

Ngày 23/8/2006, tàu BV 0746TS đang đánh bắt cá tại vùng biển Bình Thuận gặp phải mưa to gió lớn (gió giật cấp 6 biển động) nước tràn vào tàu. Thuyền trưởng và các thuyền viên ra sức tìm mọi cách để cứu tàu, nhưng sau hơn hai giờ vật lộn với sóng to gió lớn, tàu BV 0746TS bị chìm vào lúc 3 giờ sáng ngày 24/8/2006. Các thành viên đi trên tàu BV 0746TS được tàu BV 0648TS cứu vớt đưa về đất liền.

Continue reading

"BẪY" TRONG HỢP ĐỒNG GÓP VỐN MUA NỀN NHÀ, CĂN HỘ

M.T.P

Với “độc chiêu” mà công ty kinh doanh bất động sản H.Q đưa vào hợp đồng với khách hàng là: “Trường hợp bên A (Cty H.Q) chậm thực hiện nghĩa vụ của mình sau 3 tháng kể từ ngày đến hạn, bên A phải trả lãi một lần duy nhất cho bên B khi giao giấy chứng nhận quyền sử dụng nền đất với lãi suất 1,5% trên số tiền mà bên B đã thanh toán cho bên A”.
Với thỏa thuận này thì Cty H.Q muốn trễ hẹn bao nhiêu năm cũng được miễn sao sau khi giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trả lãi suất một lần bằng 1,5% là được.

Trong kinh doanh, nhất là ở lĩnh vực bất động sản thì lời – lỗ là chuyện thường tình và không ít doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận lỗ nặng để giữ chữ tín với khách hàng. Thế nhưng, cũng có nhiều đơn vị kinh doanh chỉ biết phần lợi cho mình, khi gặp khó khăn thì đổ hết thiệt thòi cho khách hàng gánh chịu. Để thực hiện toan tính đó, họ bắt đầu từ những hợp đồng mưu mẹo.

Những hợp đồng “ưu việt”

Nhiều người mua căn hộ cao cấp Tân Hồng Ngọc (xây dựng tại phường Tân Thới Hòa, Tân Phú, TP Hồ Chí Minh) của Công ty cổ phần Tân Hoàng Thắng phản ánh, theo như hợp đồng mà công ty này ký với họ thì thời gian giao nhận căn hộ chậm nhất là đến ngày 31/12/2007.

Continue reading

6 CÁCH ĐỂ SUY NGHĨ NHƯ EINSTEIN

NGUYỄN BÍCH DUYÊN (theo Futurist/Utne Reader)

Làm thế nào các thiên tài cho ra đời những phát minh? Đâu là mối liên hệ giữa hai lối suy nghĩ, một đã tạo ra Mona Lisa với một đã phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn? Chúng ta học được gì từ cách thức suy nghĩ của những Galileo, Edison và Mozart trong lịch sử?

Trong nhiều năm, những học giả đã cố gắng nghiên cứu các thiên tài bằng phương pháp phân tích thống kê. Năm 1904, Havelock Ellis nhận thấy hầu hết các thiên tài đều sinh ra khi người cha trên 30 tuổi, mẹ dưới 25 và thường đau ốm khi còn bé. Những công trình nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng nhiều thiên tài sống độc thân (như Descartes), mồ côi cha (như Dickens) hay mồ côi mẹ (Darwin). Cuối cùng, những dữ liệu trên cũng không nói lên được điều gì.

Các nhà nghiên cứu cũng cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa trí thông minh và thiên tài Nhưng họ nhận thấy rằng những nhà vật lý học bình thường lại có chỉ số là cao hơn nhiều so với những người đoạt giải Nobel và cả thiên tài phi thường Richard Feynman, người có chỉ số là kha khá: 122. Thiên tài không phải là người thông thạo 14 thứ tiếng lúc mới 7 tuổi hay thậm chí thông minh một cách đặt biệt. Năng lực sáng tạo không đồng nghĩa với trí thông minh.

Continue reading

CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUẢN LÝ?

image NGUYỄN VĂN MINH

Lâu nay, giáo dục vẫn luôn là lĩnh vực luôn được xã hội quan tâm nhất. Không chỉ vì “hiền tài là nguyên khí quốc gia” mà đơn giản giáo dục là tương lai. Tương lai của mỗi gia đình, tương lai của cả dân tộc. Cải cách giáo dục vì thế luôn luôn nằm dưới áp lực giám sát chặt chẽ của toàn xã hội. Nhưng có vẻ người dân ngày càng không hài lòng về chất lượng giáo dục nước nhà, đặc biệt là từ khi chúng ta chính thức trở thành thành viên của WTO, áp lực cạnh tranh về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng gia tăng. Làm thế nào để cải thiện chất lượng giáo dục hiện nay? Câu chuyện cũ, nhưng vấn đề không hề cũ. Với bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn đóng góp với bạn đọc một cách nhìn về chất lượng giáo dục từ phương diện khoa học quản lý.

Chất lượng giáo dục là gì?

Câu hỏi có vẻ như hơi thừa, người ta đã bàn ầm ầm về chất lượng giáo dục từ mấy chục năm nay, không tin bạn cứ lên mạng mà xem. Đúng, lên mạng, vào google.com.vn gõ cụm từ “nâng cao chất lượng giáo dục”, kết quả tìm được thật ấn tượng – 48.600 văn bản. Thế còn “chất lượng giáo dục là gì?” thì sao? Thật khó tin – đáp số chỉ vẻn vẹn có 4 hàng. Đã thế, nếu xem kỹ thì 4 hàng này cũng là phiên bản chép lại của một văn bản gốc mà thôi. Sao vậy nhỉ? Có nhẽ đâu, lâu nay, chúng ta vẫn bàn say sưa về cách nâng cao chất lượng của cái mà mình không biết rõ là cái gì? Chắc là không phải, bởi chỉ với một lần nhấp chuột mà đã khẳng định như thế, thật là hồ đồ.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA – NHIỀU KẼ HỞ ĐỂ TRỤC LỢI CÁ NHÂN

LÊ NHUNG

image“Lâu nay vẫn có hai xu thế, một cho là nếu cổ phần hóa (CPH) sẽ làm mất vai trò chủ đạo của Nhà nước, hai thì cho rằng chưa cổ phần hóa DNNN là vẫn còn khó khăn cho nền kinh tế. Cả hai quan điểm này đều lệch lạc, vì vậy sau CPH đang có hiện tượng buông lỏng quản lý”, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách QH Phùng Quốc Hiển nói.

Ủy ban này vừa kết thúc đợt giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về xử lý đất đai, mua bán cổ phiếu trong CPH các DNNN. Những thống kê đưa ra trong ngày họp đầu tiên của phiên họp thứ 11 UBTVQH ngày 21/8 đã nhận được rất nhiều ý kiến tranh luận trái chiều.

“Chệch choạc ngay từ đầu”

Mặc dù đoàn giám sát đánh giá đa số DN sau CPH đều “kinh doanh có  lãi, tăng doanh thu, vốn điều lệ, thu hút thêm và cải thiện đời sống người lao động”, các DN giai đoạn đầu đều được hưởng ưu đãi về thuế, nhưng khảo sát cho thấy 6 tháng đầu năm nay mới chỉ tiến hành CPH xong vỏn vẹn 30 DN, trong khi suốt năm 2007 là 150.

“Mục tiêu là đến 1/7/2010, phải chuyển đổi xong nhưng dự kiến sẽ có khoảng 700 DN chưa thể CPH”, ông Phùng Quốc Hiển thông báo.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA VÀNG VÀ NGOẠI TỆ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM

image XT- VP NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

I. Biến động của thị trường vàng và tác động đến điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) tại Việt Nam

Do ảnh hưởng của khủng hoảng dầu lửa vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, giá vàng thế giới đạt mức kỷ lục 850 USD/ounce vào tháng 10/1980, sau đó liên tục giảm và xuống dưới 260 USD/ounce vào giữa năm 1999. Nhờ biện pháp chống bán phá giá, nên giá vàng phục hồi dần, nhưng đã tăng mạnh sau sự kiện 11/9/2001 và đạt đỉnh điểm 730 USD/ounce vào ngày 12/5. Khi đó, giá vàng trong nước cũng lên tới 1,5 triệu đ/chỉ. Giá vàng tăng đã ảnh hưởng đến tâm lý người dân về giá trị VND, tác động đến thị trường bất động sản, qua đó tác động gián tiếp đến giá cả hàng hóa trong nước. Tuy nhiên, do tỷ giá trong thời gian qua biến động ít nên đã hạn chế sức ép tăng giá trong nước.

Tại Việt Nam, vàng được đưa vào lưu thông rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã, nhưng thị trường vàng trong nước phụ thuộc vào vàng nhập khẩu, cả về khối lượng và giá cả. Hàng năm, nước ta nhập khoảng 60 tấn vàng, đáp ứng trên 90% nhu cầu trong nước, nhưng vàng không ảnh hưởng đến mục tiêu điều hành CSTT, mặc dù một bộ phận người dân vẫn sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán mua bán nhà đất, cất trữ vàng làm tài sản hộ thân, gửi ngân hàng và vay vốn bằng vàng tại ngân hàng. Trên thực tế, tỷ trọng vàng sử dụng trong thanh toán cũng như giao dịch gửi và vay ngân hàng là không đáng kể so với M2, tổng vốn huy động và cho vay tại các TCTD. Hơn nữa, NHNN chỉ có thể can thiệp vào thị trường vàng thông qua biện pháp hành chính và quản lý như cấp phép nhập khẩu vàng, bán vàng ra để can thiệp, chứ không thể sử dụng công cụ CSTT để điều hành thị trường này.

Continue reading