PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN MINH PHƯƠNG

Xây dựng Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề rất mới ở Việt Nam và tương đối phức tạp. Do vậy, tham khảo pháp luật về LLTP của nước ngoài là điều cần thiết. Từ đó, chúng ta tiếp thu những yếu tố hợp lý, vận dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.

1. Pháp luật LLTP ở Cộng hòa liên bang Đức

Ở CHLB Đức, cơ quan chuyên cung cấp các thông tin cần thiết về công dân cho các cơ quan tư pháp và hành chính có tên gọi là Cơ quan Đăng ký liên bang trung ương (CQĐKTW), có trụ sở chính đặt tại Bonn. CQĐKTW do Văn phòng Tư pháp liên bang quản lý dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp liên bang.

Để các thông tin lưu trữ tại CQĐKTW được cập nhật kịp thời, liên tục và hiệu quả, hiện nay, có ba cơ quan đăng ký được duy trì tại CQĐKTW, đó là:

– Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên;

– Cơ quan đăng ký các vi phạm về thương mại và công nghiệp;

– Cơ quan đăng ký trung ương về thủ tục tố tụng đang diễn ra.

Ba cơ quan đăng ký nêu trên nằm trong CQĐKTW và hoạt động trên cơ sở công nghệ thông tin hiện đại.

Continue reading

NỢ VÀ VẤN ĐỀ PHÁ SẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

Một cấu trúc vốn thâm dụng nợ có thể là một cấu trúc vốn hướng tới mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp (DN) nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Một khi sử dụng nợ không dựa trên những phân tích phù hợp với chu kỳ sống, đặc điểm công ty….cộng với đầu tư vào những dự án kém hiệu quả thì có khả năng DN bị phá sản. Một DN khi đã có đầy đủ dấu hiệu của phá sản thiết nghĩ cũng nên nhanh chóng xử lý theo luật, nhằm hạn chế những tổn thất rủi ro cho các nhà đầu tư vào DN, hạn chế những tác đông xấu mang tính phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế

1. Nợ, cấu trúc vốn và vấn đề phá sản của DN

Trên thực tế sử dụng nợ không những đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của DN mà đối với quản trị tài chính DN thì đây còn là một vấn đề mang tính “nghệ thuật” trong việc họach định cấu trúc vốn nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hoá giá trị DN với những phân tích để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế .

Continue reading

CẦN QUI ĐỊNH TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI TRẢ NỢ

ĐỖ VĂN HỮU

Theo Điều 298 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (Điều 304 BLDS năm 1995), thì “nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”

Theo Điều 298 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (Điều 304 BLDS năm 1995), thì “nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”. Trong trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thanh toán phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

BLDS năm 2005 cũng như BLDS năm 1995 quy định về việc buộc những người cùng có lỗi trong việc gây thiệt hại phải liên đới bồi thường thiệt hại đã được đề cập, nhưng không  quy định buộc những người cùng có lỗi trong việc để người khác dùng tài sản của mình, hoặc tài sản của người thứ ba để thế chấp có nghĩa vụ liên đới trả nợ, dẫn đến tình trạng tại thời điểm vay, người vay đã dùng những giấy tờ có giá trị pháp lý để xác định số tài sản thế chấp thuộc sở hữu (hoặc quyền sử dụng đối với đất đai) của mình, nhưng sau đó có tranh chấp về phần tài sản này, Toà án xác định tài sản mà người vay mang thế chấp không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của họ. Toà án buộc người vay phải trả tài sản lại cho chủ cũ, đồng thời buộc người vay phải trả tiền đã vay cho người cho vay và buộc người cho vay phải trả chủ cũ giấy tờ thế chấp để họ làm thủ tục sang tên. Trong khi đó, người vay lại không có khả năng thanh toán khoản tiền vay gây thiệt hại cho người cho vay. Hai vụ kiện sau đây cho thấy điều này.

Continue reading

XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP

THS. LÊ VIỆT LONG

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ kinh tế quốc tế. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng được quan tâm hơn. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục có những giải pháp mạnh mẽ và có hiệu quả hơn.

1. Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ

Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-2007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngoài ra mỗi năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng ngàn vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong năm 2006, thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến hành kiểm tra 20.414 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm; đã cảnh cáo 519 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy phép kinh doanh của 160 cơ sở;

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ

image XT – VP. NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Sau hơn một năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), mặc dù phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được nhiều kết quả đáng khả quan. Trong đó, có sự đóng góp không nhỏ của lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán. Cụ thể:

1.Những kết quả đã đạt được

Trong thời gian qua, hoạt động thanh toán trong nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực với sự xuất hiện của nhiều loại hình dịch vụ thanh toán mới, hiện đại dựa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin. Nhờ đó, hoạt động thanh toán của Việt Nam ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của nền kinh tế và tiến dần đến việc phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế cũng như yêu cầu phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Tính đến nay, đã có trên 11,7 triệu thẻ với 150 thương hiệu thẻ của 37 tổ chức phát hành, trong đó 94% thẻ ghi nợ nội địa và 6% thẻ quốc tế.

Continue reading

VĂN HÓA CÔNG QUYỀN – QUI TRÁCH NHIỆM HAY TỰ NHẬN TRÁCH NHIỆM

LG. NGÔ NGỌC BỬU

Từ vụ sập nhà ở Phường 17 Quận Bình Thạnh, báo Tuổi trẻ ngày 11.01.2007 có đặt câu hỏi : SẬP NHÀ, TRÁCH NHIỆM CỦA AI ? Tác giả Thu An đã phân tích: “… Nhà nước ta đã tổ chức ra một bộ máy quản lý đô thị không nhỏ, nếu không muốn nói là khá cồng kềnh rải đều từ thành phố xuống đến tận quận, huyện, xã, phường. Nhiều người còn cho rằng bộ máy đó là dư sức thừa hành nhiệm vụ.

Thành phố thì có thanh tra xây dựng, quận/huyện thì có đội quản lý trật tự đô thị, phường, xã thì có tổ quản lý trật tự đô thị. Các bộ phận này có nhiệm vụ kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ, đề xuất xử lý các vi phạm liên quan đến công trình xây dựng trên địa bàn quản lý. Vậy trong sự cố vừa qua họ ở đâu và phải chịu trách nhiệm ra sao ?” Với tầm nhìn bình thường theo cơ chế quản lý xã hội hiện nay thì đã có một vài lời giải thích của nhà cầm quyền như sau :

(1) Lỗi của UBND phường vì đã theo dõi không sát, lẽ ra khi phát hiện đào móng xử lý thì phường phải yêu cầu ngưng thi công và báo cáo cho quận biết (Ý kiến của Trưởng Phòng quản lý đô thị);

Continue reading

LÀM LUẬT TRONG KHUNG CẢNH HỘI NHẬP

image TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – KHOA LUẬT ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Một năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cơ chế xây dựng pháp luật vẫn được giữ nguyên. Nhiều người cho rằng muốn đổi mới thì phải thay đổi cơ sở pháp lý là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vấn đề có phải như vậy không?

Nhiều người lý giải sự chậm trễ trong việc đổi mới hoạt động làm luật bằng cách viện dẫn các điều khoản ràng buộc của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành: bản thân việc làm luật đã được luật hóa; bởi vậy, muốn đổi mới, thì phải thay đổi cơ sở pháp lý. Hẳn việc sửa đổi luật, đang được thực hiện dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, xuất phát từ suy nghĩ đó.

Thực ra, có rất nhiều việc phải làm, chứ không chỉ đơn giản là sửa luật, để có được một cơ chế xây dựng pháp luật gọi là thích hợp với khung cảnh hội nhập.

Ở các nước tiên tiến, luật, một khi được cơ quan lập pháp thông qua, sẽ được áp dụng trong đời sống xã hội một cách trực tiếp mà không cần chờ sự hướng dẫn của cơ quan hành pháp. Văn bản lập quy chỉ có tác dụng tổ chức công việc của cơ quan hành pháp, đặc biệt là chỉ định ứng xử của công chức, trong khuôn khổ thi hành luật, chứ không phải là điều kiện để luật được thực thi.

Continue reading

CẦN NHÌN NHẬN LẠI BẢN CHẤT CỦA ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI VIỆC XÁC LẬP QUYỀN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NGƯỜI DÂN

HỒ QUANG HUY – Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm – Bộ Tư pháp

Theo chúng tôi, một trong những lý do dẫn đến tiến độ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm, cũng như những nỗ lực của Chính phủ nhằm kiểm soát tính minh bạch của thị trường bất động sản chưa thu được kết quả quan trọng là do chúng ta chưa hiểu đúng, toàn diện về bản chất của đăng ký quyền sử dụng đất (yếu tố cấu thành quan trọng và chủ yếu nhất của đăng ký bất động sản). Trong khi đó, xét từ giác độ khoa học pháp lý và pháp luật thực định thì việc xác định đúng bản chất của “đăng ký quyền sử dụng đất” có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến mục tiêu xây dựng, cũng như sự vận hành của hệ thống đăng ký bất động sản ở nước ta.

Về vấn đề này, hiện có 2 loại quan điểm trái ngược nhau, cụ thể là:

(i) Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền sử dụng đất của người dân được xác lập từ thời điểm đăng ký. Nói cách khác, việc đăng ký làm phát sinh quyền sử dụng đất của người dân.

Loại quan điểm này đang được thể hiện ngay trong chính các quy định hiện hành của pháp luật về đất đai. Trên nền tảng sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền năng sau khi đã được Nhà nước đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giao dịch về quyền sử dụng đất phải được sự đồng ý (chấp thuận) thông qua việc chỉnh lý hồ sơ địa chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới có hiệu lực pháp lý. Theo đó, đăng ký quyền sử dụng đất là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về bất động sản (Luật Đất đai). Đăng ký các quyền, giao dịch về nhà đất đang được đồng nhất với việc Nhà nước công nhận quyền đối với nhà, đất và thông qua đăng ký người dân mới có quyền sở hữu đối với bất động sản.

Continue reading

CẦN XEM LẠI ĐỊNH NGHĨA CỔ PHẦN

image MINH ĐỨC

Hẳn có những nhà đầu tư vẫn còn không ít băn khoăn về khái niệm rất quen thuộc này. Tham gia, quan tâm, tìm hiểu, biết về thị trường chứng khoán, hầu hết nhà đầu tư đều nằm lòng khái niệm “cổ phần”. Nhưng hẳn vẫn còn những định nghĩa chưa gãy gọn, hoặc đại khái.

Quanh việc định nghĩa khái niệm này cũng có những chi tiết không đơn giản, có trong những ý kiến đóng góp xây dựng dự thảo nghị định về chào bán cổ phần riêng lẻ.

Theo kế hoạch dự kiến trước đây, nghị định này sẽ được ban hành trong quý 1/2008, nhưng nay vẫn trong giai đoạn lấy ý kiến của các thành viên thị trường, cũng như các tổ chức, cá nhân, công chúng đầu tư.

Trong những ý kiến đóng góp đó, khái niệm cổ phần tưởng như đã quá quen thuộc, lại trở thành một vấn đề gây nhiều thắc mắc.

Khoản 1 Điều 4 của dự thảo nghị định giải thích khái niệm cổ phần như sau: “Cổ phần là một phần sở hữu của cổ đông đối với vốn điều lệ của tổ chức phát hành, bao gồm cả quyền mua cổ phần”. Giải thích này “vấp” phải những ý kiến phản biện đáng chú ý.

Continue reading

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM: CẦN ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

HOÀNG MAI HẰNG

Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 8, thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2006 đã đánh dấu một giai đoạn mới của quá trình phát triển hoạt động SHTT của Việt Nam. Cùng với Bộ Luật Dân sự 2005, Luật SHTT đã tạo thành một hệ thống các quy định hoàn chỉnh thống nhất về quyền SHTT thay thế cho các quy định trước đây.

Các văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật SHTT đã được ban hành và từng bước đi vào thực tiễn. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện Luật SHTT đã nảy sinh một số vướng mắc cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.

Xâm phạm quyền SHCN có thể bị truy tố

Ông Lê Xuân Thảo – Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam cho biết: Tại khoản 1 điều 211 của Luật SHTT có quy định các hành vi xâm phạm là đối tượng xử lý hành chính, trong đó có quy định: không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT mặc dù đã được chủ thể quyền SHTT thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó. Theo ông Thảo, trong bối cảnh hiện nay, hành vi xâm phạm có xu hướng ngày càng tinh vi, nếu như chủ thể quyền SHTT gửi văn bản thông báo đến người xâm phạm quyền thì sẽ tạo ra cơ hội cho người có hành vi xâm phạm thủ tiêu các chứng cứ, huỷ hàng tồn kho và do đó sẽ giảm hiệu quả thực thi của công tác đấu tranh chống xâm phạm quyền SHTT. Do vậy, nên bỏ phần thông báo bằng văn bản của chủ thể quyền ra khỏi điều kiện cần thiết để áp dụng quy định này. Đồng thời, điều kiện này cũng nên áp dụng tương tự với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp.

Continue reading

BẢN QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ: CẦN NHỮNG QUYẾT SÁCH MẠNH MẼ

HOÀNG DŨNG

Diễn đàn doanh nghiệp – Làm thế nào để bảo vệ hữu hiệu đối với những thành quả sáng tạo chân chính, tạo môi trường phát triển lành mạnh và bền vững cho thị trường bản quyền Việt Nam đang là vấn đề đặt ra không chỉ cho các cơ quan quản lý, cơ quan bảo vệ pháp luật sở hữu trí tuệ mà còn cho tất cả những ai quan tâm đến sở hữu trí tuệ.

Về hệ thống văn bản pháp luật quốc gia, để đáp ứng các điều kiện, yêu cầu về “tính đầy đủ” của hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ khi gia nhập WTO, chúng ta đã xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp luật quy định về bảo hộ, thực thi quyền tác giả, bao gồm:

Về các thỏa thuận và cam kết quốc tế, đến nay chúng ta đã tham gia 5 Điều ước quốc tế đa phương về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan, đó là Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống việc sao chép bất hợp pháp, Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng, Công ước Brussels về các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh được mã hóa… Như vậy, về mặt khung pháp lý, có thể nói Việt Nam đã có một hệ thống các quy định pháp luật tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi của các quy định này trên thực tế hiện vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn, đặc biệt là trong môi trường kỹ thuật số như hiện nay – khi mà vấn đề “văn hóa bản quyền” đang được đề cập ngày càng nhiều.

Continue reading

NÂNG CAO PHÁP CHẾ QUẢN LÝ CÔNG SẢN QUỐC GIA VÀ ĐÔ THỊ

image LG. NGÔ NGỌC BỬU

Thực trạng về công sản hiện nay ở nước ta, do chưa có luật quy định và chưa nắm bắt hết những định lệ quốc tế về công sản quốc gia (Domaine de l’Etat), cho nên mỗi chủ thể, mỗi pháp nhân có những suy nghĩ và hành động khác nhau trong việc quản lý, sử dụng công sản, cho mục tiêu công ích hay mục tiêu tư nhân.

Chưa có Luật công sản (Bài viết này được viết trước thời điểm Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua Ngày 12/6/2008 – Civillawinfor)

Hiến pháp năm 1992 và nội dung thể hiện trong các hiến pháp 1946, 1959, 1980 chúng ta có khái niệm sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, công hữu tài sản hay còn được gọi là tài sản xã hội chủ nghĩa, gọi chung là công sản của quốc gia. Những khái niệm này có phạm vi rất rộng, có tính triết học xã hội học xen lẫn với pháp lý, nhưng cho đến nay vẫn chưa được cụ thể hóa thành luật hay pháp quy một cách cụ thể như luật lệ của nhiều quốc gia trên thế giới.

Khái niệm công sản (domaine) theo luật hành chính là tài sản do cơ quan công quyền quản lý, bao gồm động sản và bất động sản, thường được gọi là công hữu tài sản hoặc công sản, do chính phủ trung ương và các pháp nhân hành chính hoặc tổ chức ở địa phương quản lý, sử dụng; có quyền nâng hạng và xuống hạng, nhưng không được chuyển nhượng bán buôn, cầm thế nếu không có một đạo luật quy định. Bởi vì, chế độ pháp lý về công sản quốc gia là đặc thù so với những quy định của tư pháp. Mỗi loại công sản, như công sản công dụng, công sản tư dụng còn có chế độ pháp lý riêng biệt, không thể áp dụng lẫn lộn với nhau.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM – NHỮNG ĐIỂM MỚI SO VỚI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Dự thảo Luật) quy định rõ đối tượng đăng ký, phân biệt các trường hợp đăng ký bắt buộc (khoản 1 Điều 4) và các trường hợp đăng ký tự nguyện (khoản 2 Điều 4) trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/11/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và các Thông tư hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, Dự thảo Luật không quy định đăng ký đối với tất cả các giao dịch bảo đảm theo quy định của Bộ luật dân sự, mà chỉ giới hạn trong phạm vi các biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Bên cạnh đó, Dự thảo Luật mở rộng phạm vi đối tượng đăng ký bao gồm các giao dịch khác như: cho thuê động sản có thời hạn thuê từ một năm trở lên; mua trả chậm, trả dần đối với tài sản là động sản có bảo lưu quyền sở hữu; bán có thỏa thuận chuộc lại hoặc bán hàng thông qua đại lý đối với tài sản là động sản; chuyển nhượng quyền đòi nợ… Đây là một điểm mới cơ bản của Dự thảo Luật phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội.

Continue reading

PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA AUSTRALIA VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ: Mô hình lập pháp, quản lý nhà nước một cách hiệu quả và thông lệ hòa giải phổ biến nhất

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

1. Bộ Tư pháp Chính quyền tiểu Bang Victoria, Australia(Bộ phận xây dựng và thực thi chính sách ADR):

Bộ Tư pháp Tiểu bang Victoria đã tổng kết hoạt động giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án tại tiểu bang nhằm tìm hiểu thực trạng ADR và đánh giá hiệu quả của những hoạt động này trong việc đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Trên cơ sở tổng kết đó, Bộ đã xây dựng Chiến lược ADR nhằm cung cấp cho người dân Victoria thêm nhiều phương thức giải quyết tranh chấp ít tốn kém mà lại  hiệu quả. Dự án Chiến lược ADR mới triển khai đã công bố một công trình nghiên cứu thực trạng ADR tại Tiểu bang Victoria và đề xuất những kiến  nghị mới nhằm cải thiện chế định này.

Thông qua buổi thảo luận, trao đổi, Đoàn đã nắm được những vấn đề tồn tại và các thách thức trong việc xây dựng các chuơng trình ADR ở Tiểu bang Victoria, đặc biệt là những nội dung liên quan đến giám sát và quản lý hành chính. Đặc biệt, Đoàn rất quan tâm đến các thông tin đã thu nhận được về Chiến lược, chính sách, các quy định và những hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các chương trình ADR tại cộng đồng – một mô hình của Australia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Những kinh nghiệm điển hình này sẽ được kiến nghị xem xét, áp dụng trong quá trình hoàn thiện thể chế về hòa giải sắp tới.

Continue reading

PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA AUSTRALIA VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ: MÔ HÌNH LẬP PHÁP, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC MỘT CÁCH HIỆU QUẢ VÀ THÔNG LỆ HÒA GIẢI PHỔ BIẾN NHẤT

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Pháp luật và thực tiễn của Australia về hoà giải ở cơ sở: Mô hình lập pháp, Quản lý nhà nước một cách hiệu quả và Thông lệ̣ Hòa giải Phổ biến nhất

1. Bộ Tư pháp Chính quyền tiểu Bang Victoria, Australia(Bộ phận xây dựng và thực thi chính sách ADR):

Bộ Tư pháp Tiểu bang Victoria đã tổng kết hoạt động giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án tại tiểu bang nhằm tìm hiểu thực trạng ADR và đánh giá hiệu quả của những hoạt động này trong việc đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Trên cơ sở tổng kết đó, Bộ đã xây dựng Chiến lược ADR nhằm cung cấp cho người dân Victoria thêm nhiều phương thức giải quyết tranh chấp ít tốn kém mà lại  hiệu quả. Dự án Chiến lược ADR mới triển khai đã công bố một công trình nghiên cứu thực trạng ADR tại Tiểu bang Victoria và đề xuất những kiến  nghị mới nhằm cải thiện chế định này.

Thông qua buổi thảo luận, trao đổi, Đoàn đã nắm được những vấn đề tồn tại và các thách thức trong việc xây dựng các chuơng trình ADR ở Tiểu bang Victoria, đặc biệt là những nội dung liên quan đến giám sát và quản lý hành chính. Đặc biệt, Đoàn rất quan tâm đến các thông tin đã thu nhận được về Chiến lược, chính sách, các quy định và những hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các chương trình ADR tại cộng đồng – một mô hình của Australia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Những kinh nghiệm điển hình này sẽ được kiến nghị xem xét, áp dụng trong quá trình hoàn thiện thể chế về hòa giải sắp tới.

Continue reading

LUẬT SƯ NHẬN ỦY QUYỀN SAI, CÓ BỊ XỬ LÝ?

Bà Nguyễn Thị Loan (đã mất năm 1978 ) có căn nhà số 66 Tăng Bạt Hổ, TP Pleiku (Gia Lai). Năm 1975, bà Loan lập giấy ủy quyền cho cha là ông Nguyễn Thế Chương quản lý, toàn quyền sử dụng căn nhà này. Vài tháng sau, Ban tự quản khóm 42 phường Yên Đỗ đã mượn nhà để làm trụ sở khóm. Sau đó, khóm lại cho một ngân hàng mượn để làm trụ sở giao dịch…

Mãi đến năm 1991, ông Chương mới làm đơn gửi đến các cơ quan chức năng đòi lại nhà. Việc đòi nhà cứ lùng nhùng qua nhiều cơ quan không có kết quả cho đến năm 1998 thì ông Chương mất. Gần 10 năm sau, vợ ông (mẹ kế của bà Loan) đã ủy quyền cho luật sư Đinh Công Hưng (Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai, đồng thời là con rể) làm thủ tục đòi lại nhà. Việc ủy quyền đã được UBND phường Yên Đỗ chứng thực.

Quên luật?

Trên cơ sở ủy quyền, luật sư Hưng đã gửi đơn đến nhiều cơ quan để đòi lại nhà cho mẹ vợ. Ngày 4-4-2008, UBND tỉnh Gia Lai đã ra công văn không chấp nhận đơn khiếu nại của luật sư Hưng, đồng thời yêu cầu chủ tịch UBND TP Pleiku chỉ đạo xử lý hành vi chứng thực trái pháp luật giấy ủy quyền giữa vợ ông Chương và luật sư Hưng của UBND phường Yên Đỗ.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 90/2008/NĐ-CP NGÀY 13/8/2008 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHỐNG THƯ RÁC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002;
Căn cứ Pháp lệnh Quảng cáo ngày 16 tháng 11 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về chống thư rác; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có liên quan tới dịch vụ trao đổi thư điện tử và tin nhắn tại Việt Nam.

Trường hợp Điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động chống thư rác mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.

Continue reading

CÁC PHƯƠNG THỨC ĐỂ ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

image AN HÒA

Nếu như trong sự phát triển của mỗi con người vấn đề sức khoẻ là quan trọng nhất thì trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường nói chung – thị trường bất động sản nói riêng – các yếu tố hiệu quả, ổn định và an toàn được đặt lên hàng đầu. Những năm vừa qua, dưới sự tác động của chính sách, pháp luật đất đai – nhà ở, thị trường bất động sản ở VN đã hình thành, tồn tại à có ảnh hưởng mạnh mẽ nhiều mặt tới nhịp độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thị trường bất động sản bao gồm mọi hành vi, hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và những tài sản khác gắn liền với đất đai; các giao dịch cho thuê nhà, thế chấp quyền sử dụng đất và nhà, cũng như các dịch vụ liên quan đến những tài sản đó. Sự hình thành, tồn tại thị trường bất động sản đã góp phần chuyển dịch cơ cấu đất đai – nhà ở theo hướng tích cực, hiệu quả; kích thích, thu hút những hoạt động và lượng vốn đáng kể đầu tư phát triển bất động sản; góp phần điều chỉnh, cải thiện điều kiện, môi trường cư trú, sinh hoạt và đi lại của đa số nhân dân; tác động trực tiếp tới thị trường tài chính – tiền tệ và quan hệ mật thiết với sự vận hành, hoạt động hiệu quả của thị trường vốn, thị trường hàng hoá, thị trường thông tin, thị trường sức lao động thông qua những động thái của chỉ số (chỉ số giá, lượng giao dịch, vòng quay bất động sản…); góp phần đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trong nền kinh tế và hạch toán giá đất vào giá thành sản phẩm; tạo ra sự sôi động trong những lĩnh vực liên quan như kinh doanh xây dựng, phát triển giao thông vận tải, tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội…

Continue reading

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI: THÀNH, BẠI LÀ DO DOANH NGHIỆP

Người đại biểu nhân dân – Theo kết quả khảo sát mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có tới hơn 74% hiệp hội trong nước không có bộ phận chuyên trách về pháp luật; 81% hiệp hội chỉ biết một vài nội dung cơ bản của Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ (BTA). Hạn chế này rất đáng ngại đối với các doanh nghiệp Việt Nam, bởi đi cùng với sự phát triển của trao đổi thương mại quốc tế là những nguy cơ về tranh chấp thương mại ngày càng nhiều hơn.

Theo VCCI, hơn 10 năm qua, thế giới có hơn 4.000 vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, trong đó có 31 vụ kiện liên quan tới doanh nghiệp Việt Nam. Nguy cơ bị khởi kiện tiềm ẩn ở hầu hết các mặt hàng lớn, như: mặt hàng thủy sản có cá tra, cá ba sa, tôm; Các mặt hàng công nghiệp có giày da, xe đạp, đèn huỳnh quang… Thế nhưng, nhiều doanh nghiệp, ngành hàng trong nước vẫn chưa chú trọng tới việc tìm hiểu luật pháp quốc tế và các vụ tranh chấp thương mại, hiểu biết về luật pháp chưa đầy đủ dẫn đến bị động và thua thiệt trước hầu hết các vụ kiện.

Continue reading