KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: BI KỊCH TRONG MỘT VỤ "ĐẺ MƯỚN" Ở ẤN ĐỘ

PHAN ANH

DÂN TRÍ – Tương lai của một bé gái 12 ngày tuổi được một phụ nữ Ấn Độ sinh ra đang trở nên mù mịt khi cặp vợ chồng người Nhật, những người đi thuê “đẻ mướn”, đã ly hôn.

Manji Yamada chào đời vào ngày 25/7 vừa qua sau khi các bác sỹ dùng tinh trùng của người đàn ông Nhật Bản, Ikufumi Yamada, 45 tuổi, thụ tinh cho trứng được một phụ nữ Ấn Độ “hiến tặng”, rồi cấy ghép vào tử cung của một phụ nữ “đẻ mướn” Ấn Độ khác.

Nhưng ông Ikufumi Yamada lại ly dị vợ sau đó và người vợ cũ của ông không còn muốn có em bé đó nữa.

Theo như ban đầu, em bé sau khi được sinh ra, có quốc tịch Ấn Độ, sẽ được cha đẻ người Nhật nhận nuôi. Tuy nhiên, luật pháp Ấn Độ lại không cho phép một người cha độc thân nhận nuôi con gái.

“Phức tạp ở chỗ, người cha này mới ly dị vợ, và luật cho nhận con nuôi của Ấn Độ không cho phép đàn ông độc thân nhận nuôi bé gái”, Sanjay Arya, vị bác sỹ hiện đang chăm sóc bé Manji cho biết.

Continue reading →

LIỆU CÓ GIỮ ĐƯỢC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VỀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

image PHẠM CHÍ DŨNG

Tại sao lại cần đặt vấn đề về bản sắc dân tộc đối với hoạt động đào tạo đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế? Liệu phạm trù này – vốn là một thành phần của bản sắc văn hóa dân tộc và do đó cần được giữ gìn và phát huy – có trở thành bảo thủ và mâu thuẫn với trào lưu mở cửa, tiếp nhận những yếu tố mới từ bên ngoài?

Trong bối cảnh VN gia nhập WTO, thực trạng hoạt động đào tạo tại nhiều trường đại học ở nước ta đang diễn ra hàng loạt mâu thuẫn nội tại mà có thể cản trở rất nhiều đối với sự nghiệp giáo dục chung.

Đó là tình cảnh mông lung về triết lý giáo dục; về tình trạng thương mại hóa đã và đang diễn ra quá sớm và quá nhanh ở nhiều trường đại học; là chủ trương đào tạo lấy sinh viên làm trọng tâm đang chỉ được gợi ra như một biểu tượng chứ chưa phải là một mục đích thiết thân, về làn sóng xâm nhập của các trường nước ngoài và việc chương trình đào tạo của nhiều trường trong nước đang bị du nhập hóa bởi nhiều sắc tố của nước ngoài trong khi các yếu tố lịch sử, địa lý, văn học và những môn học liên quan đến đạo lý truyền thống của VN đang bị xao lãng dần; hoặc cả dự cảm về cuộc cạnh tranh sôi nổi và ít có khả năng khoan nhượng giữa các trường đại học trong nước với nhau và với trường nước ngoài; trong khi hoạt động định hướng, xây dựng và triển khai chính sách vĩ mô, điều tiết hoạt động đào tạo, bảo hộ trường trong nước … của Bộ GDĐT vẫn hầu như chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới…

Continue reading →

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: VƯƠNG QUỐC ANH – NẠN NHÂN BỊ HIẾP TRONG KHI SAY RƯỢU VẪN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG

MINH NHỰT (Theo Daily Mail)

Báo Daily Mail (Anh) ngày 13-8 đưa tin: Chính phủ Anh vừa yêu cầu điều tra sau khi có thông tin một số nạn nhân bị cưỡng hiếp đã bị cắt xén đến 25% tiền bồi thường tổn thương vì có uống rượu trước khi bị cưỡng hiếp.

Tại rượu nên mới bị…

Vụ việc được đưa ra ánh sáng khi mới đây, cô Helen (tên đã thay đổi) nhận được thư của Cơ quan Bồi thường thương tích do tội phạm gây ra (CICA) thông báo tiền bồi thường cho cô từ 11.000 bảng bị giảm xuống còn 8.250 bảng (từ 350 triệu giảm còn 264 triệu đồng VN).

Cách đây bốn năm, cô Helen lúc đó 25 tuổi đã bị kẻ xấu hãm hiếp khi đi chơi đêm ở thủ đô London. Theo báo cáo của nhân viên cảnh sát có mặt tại hiện trường vụ án, cô Helen đã uống nhiều rượu và hành vi say xỉn của cô có thể đã tạo cơ hội cho bọn xấu gây án.

Continue reading →

THỰC THI QUYỀN TÁC GIẢ

imageTHS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH –  Khoa Luật dân sự – Trường Đại học Luật Hà Nội

I. Quy định pháp luật hiện hành về thực thi quyền tác giả

1. Các công ước quốc tế về thực thi quyền tác giả

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng như tổ chức thương mại thế giới (WTO) đều khẳng định rằng: khai thác quyền sở hữu trí tuệ là công cụ quan trọng trong việc tạo ra của cải và giảm đói nghèo. Các tổ chức này cũng kết luận: có luật sở hữu trí tuệ chưa đủ, điều quan trọng là luật sở hữu trí tuệ được thực thi như thế nào. Giá trị của các tài sản trí tuệ phụ thuộc đáng kể vào việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ; có được hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả là cách tốt nhất để hạn chế những hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo rằng người có quyền cũng như toàn xã hội có thể được hưởng lợi từ những tài sản trí tuệ[1].

Trong nỗ lực nhằm bảo hộ và thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng, nhiều công ước quốc tế về quyền tác giả đã ra đời[2]. Tuy nhiên, không phải trong mọi công ước quốc tế về quyền tác giả, các quốc gia thành viên đều đề cập đến vấn đề thực thi quyền này. Vấn đề thực thi quyền tác giả được quy định chủ yếu trong Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật kí kết tại Berne, Thuỵ Sĩ năm 1886, được bổ sung lần cuối cùng tại Paris năm 1979; và Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tụê (viết tắt là Hiệp định TRIPs), được kí kết ngày 15/4/1994 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995[3].

Continue reading →

CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI WTO TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM

1. Cung cấp dịch vụ qua biên giới

Theo Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Ban công tác về việc gia nhập WTO của VN, sau 5 năm gia nhập,doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ được phép thành lập các chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ tại VN. Tuy nhiên ngay từ thời điểm VN gia nhập WTO, các hãng bảo hiểm nước ngoài đã được tham gia thị trường VN qua phương thức “cung cấp qua biên giới” (dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác).

Cụ thể các công ty bảo hiểm nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại VN, được cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường. Riêng đối với dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc tế, các hãng bảo hiểm nước ngoài được tham gia bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không thương mại quốc tế và bảo hiểm hàng hóa đang vận chuyển quá cảnh quốc tế.

Continue reading →

TÍN DỤNG CHO SINH VIÊN – VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP

image PGS.TS. HOÀNG ĐỨC – ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan của mọi nền kinh tế hàng hóa xét về bản chất thì nó là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi thông qua mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay. Mối quan hệ này là mối quan hệ có lợi cho cả hai bên, xét ở cấp độ vĩ mô, đó là quan hệ điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, xét ở cấp độ vi mô là mối quan hệ giải quyết trực tiếp nhu cầu vốn của người đi vay và nhu cầu cho vay của người đang tạm thời thừa vốn.

Trong nền kinh tế thị trường hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu và quan trọng nhất, nó đã giải quyết được mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay bằng tiền tệ có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu cả về phía người đi vay và cả về phía ngân hàng thương mại là người cho vay. Nói đến tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế là nói đến quan hệ tín dụng bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế, ở đây chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa người đi vay là sinh viên các trường đại học, cao đẳng với người cho vay là các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách.

Continue reading →

AN NINH TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PGS., TS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG

Vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đang ngày càng có xu hướng tăng lên và ảnh hưởng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam ngày càng lớn. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang là động lực to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế và không thể bỏ qua ảnh hưởng của khu vực này đối với an ninh kinh tế và tài chính của Việt Nam. An ninh trong khu vực này, có ảnh hưởng lớn đến phúc lợi quốc gia và an ninh của dân cư. Đây là một vấn đề phức tạp, do đó, cần có sự phân tích, luận giải mối quan hệ giữa vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài với vấn đề xây dựng hệ thống an ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Quan niệm về an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài

Theo từ điển tiếng Anh kinh doanh (Longman), an ninh (security) là một thuật ngữ được sử dụng tuỳ thuộc vào góc độ xem xét. Thứ nhất, dưới góc độ cá nhân hoặc con người, an ninh là trạng thái không bị đe dọa mất việc làm mà không có lý do chính đáng hoặc không được bồi hoàn. Đây là khái niệm được sử dụng để chỉ an ninh về việc làm và gắn với chế độ an sinh xã hội. Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, theo luật pháp Anh, an ninh là quyền chiếm hữu của một chủ sở hữu trong việc tiếp tục sử dụng hoặc sinh sống trên một tài sản được thuê sau khi kết thúc thời hạn thuê hoặc sau khi nhận được thông báo của chủ tài sản buộc người đi thuê phải rời khỏi nơi được thuê như hoạt động thuê ngắn hạn, thuê tài sản, đất và các công trình nông nghiệp, các cơ sở kinh doanh. Thứ ba, dưới góc độ tài chính – ngân hàng, thuật ngữ an ninh (security) được hiểu là một loại tài sản có giá trị mà người cho vay giao cho người đi vay để thực hiện ý định trả nợ như chứng chỉ sở hữu nhà ở, trái phiếu chính phủ và trái phiếu thương mại, các khoản nợ, cổ phiếu và cổ phần, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, giấy chứng nhận sở hữu hàng hoá, hoặc sự bảo đảm của bên thứ ba. Nếu khoản nợ không đươc hoàn trả, người cho vay có quyền thu hồi nợ, các khoản lãi đến hạn và các khoản phí khác bằng cách bán chứng khoán để lấy tiền. Theo A. Maslow- người đưa ra thuyết nhu cầu của con người, an ninh là một nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản của con người1. Đây cũng là nhu cầu gần như tự nhiên của con người.

Continue reading →

Ý NGHĨA CỦA LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

image THS. PHẠM THẾ LỰC – Viện Chính trị học – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị – pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị thế giới. So với các tư tưởng chính trị trong chế độ chuyên chế độc tài, lý thuyết phân quyền được coi là tư tưởng thời đại, đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ.

Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị – pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị thế giới. So với các tư tưởng chính trị trong chế độ chuyên chế độc tài, lý thuyết phân quyền được coi là tư tưởng thời đại, đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ. Sự hình thành và phát triển của lý thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội, hướng đến xác lập các mối quan hệ cơ bản giữa pháp luật và quyền lực, cá nhân và cộng đồng, công dân và nhà nước nhằm đảm bảo tính hiệu quả cao nhất của việc thực thi quyền lực. Chính vì vậy, phân quyền được coi là một tất yếu khách quan trong các nhà nước dân chủ, là điều kiện đảm bảo cho những giá trị tự do được phát huy, là tiêu chí đánh giá sự tồn tại và phát triển của nhà nước pháp quyền, nơi chủ quyền nhân dân giữ vai trò tối thượng.

Continue reading →

BÀI BÁO KHOA HỌC VÀ CÁCH TRÌNH BÀY MỘT BÀI BÁO KHOA HỌC

"Học kiến thức phải giỏi suy nghĩ, suy nghĩ, lại suy nghĩ. Chính nhờ cách ấy tôi đã trở thành nhà khoa học"

                                                               EINSTEIN

 

image PHẦN 1: THẾ NÀO LÀ MỘT BÀI BÁO KHOA HỌC?

Nguyễn Văn Tuấn

TẠP CHÍ TIA SÁNG – Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nó không chỉ là sản phẩm tri thức, mà còn là một loại tiền tệ của giới làm khoa học, bởi vì qua đó mà người ta có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất khoa học của nhà nghiên cứu. Nhưng ngay cả trong giới khoa bảng và giáo sư đại học, có khá nhiều người vẫn chưa biết thế nào là một bài báo khoa học nghiêm chỉnh và có lẽ vì hiểu sai cho nên một số giáo sư đã trình bày trong lí lịch khoa học của mình một cách thiếu chính xác. Nói một cách ngắn gọn, bài báo khoa học (tiếng Anh: “scientific paper” hay có khi viết ngắn là paper) là một bài báo có nội dung khoa học được công bố trên một tập san khoa học (scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt (peer-review) của tập san. Ở đây có ba vế của định nghĩa mà bài này sẽ lần lược bàn đến: nội dung bài báo, tập san, và cơ chế bình duyệt.

Nội dung bài báo khoa học

Giá trị khoa học của một bài báo tùy thuộc một phần lớn vào nội dung của bài báo. Bởi vì báo cáo khoa hoc xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, giá trị của chúng cũng không nhất thiết đồng nhất. Sau đây là một số bài báo khoa học thông thường và tôi xếp loại theo thang giá trị (cao nhất đến thấp nhất).

Continue reading →

LỊCH HỌC MÔN LUẬT DÂN SỰ CÁC LỚP CHÍNH QUI K32 ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

* Lịch này áp dụng từ ngày 11/8/2008 đến 31/12/2008

* Các lớp thuộc Khoa Hành chính (HC), Khoa Dân sự (DS), Khoa Luật hình sự (HS) học theo học chế tín chỉ Modul1 – Luật dân sự

Các từ viết tắt trong lịch giảng:

– LT: Giờ lý thuyết

– TL: Giờ thảo luận

– TV: Giờ tư vấn

* Các lớp thuộc Khoa Luật kinh tế (KT), Khoa Luật quốc tế (QT) học niên chế học phần 1, 2 – Luật dân sự

* K30 học 20 tiết Chuyên đề chuyển quyền sử dụng đất  vào chiều thứ bảy hàng tuần (4 tiết/tuần; 10 tiết LT và 10 tiết TL)

Continue reading →

VẤN ĐỀ CẠNH TRANH LÀNH MẠNH VÀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

GS.TS. HỒ ĐỨC HÙNG

Trước hết, chúng ta có thể hiểu cạnh tranh xuất phát từ hai góc độ:

Nếu xuất phát từ góc độ khách hàng, thì cạnh tranh là quyền tự do của khách hàng trong lựa chọn sản phẩm/dịch vụ theo nhu cầu, mong muốn và khả năng thanh toán của họ.  Điều 4, khoản 1, Nghị định 69/2001 có nêu rõ: “Phải bảo đảm cung cấp hàng hóa, dịch vụ để người tiêu dùng lựa chọn. Người tiêu dùng có quyền mua hoặc không mua, chấp nhận hoặc không chấp nhận bất kỳ kiểu loại hàng hóa, dịch vụ hoặc phương thức, điều kiện kinh doanh nào đó. 

Còn nếu xuất phát từ góc độ doanh nghiệp, thì cạnh tranh là quyền tự do ra quyết định về sản xuất – kinh doanh có liên quan đến 3 vấn đề: 

–  Một là, sản xuất cái gì? Tức sản phẩm/dịch vụ gì nhằm đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng. 

–  Hai là, sản xuất bằng cách nào ? Tức là quyền tự do lựa chọn phương thức sản xuất – kinh doanh, kỹ thuật – công nghệ phù hợp. 

–  Ba là, sản xuất cho ai ? Nghĩa là quyền tự do lựa chọn khách hàng, thị trường nào để đáp ứng nhu cầu. 

Continue reading →

CÁC LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TRONG XÂY DỰNG CƠ BẢN HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ

TS. TRẦN HUY HOÀNG

Bảo lãnh ngân hàng là nghiệp vụ nhằm ràng buộc các bên có trách nhiệm nhất định để thực hiện 1 hợp đồng đã thống nhất, trong đó ngân hàng đóng vai trò trung gian rất quan trọng. 

Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, một số loại hình bảo lãnh của các ngân hàng thương mại như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh hợp đồng, bảo lãnh bảo hành,… thường xuyên xảy ra đã góp phần cho việc thực hiện thành công trong quan hệ hợp đồng. Ngân hàng với tư cách là người bảo lãnh cho nhà thầu một khoản tiền theo qui định, cam kết với chủ đầu tư về việc thực hiện hợp đồng của nhà thầu. Nếu nhà thầu vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại trong quá trình xây dựng thì ngân hàng sẽ đứng ra trả tiền cho chủ đầu tư với số tiền đã bảo lãnh. 

Chính sách kinh tế nước ta đã xác định phát triển theo nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì bảo lãnh là một nghiệp vụ rất cần thiết. Đây cũng chính là các hợp đồng song phương giữa ngân hàng và chủ đầu tư, giữa ngân hàng và nhà thầu, nhằm thống nhất xử lý các mối quan hệ hôp đồng. Mỗi thành viên phải có nhiệm vụ làm đúng trách nhiệm của mình. 

Continue reading →

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY, MÂU THUẪN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT

image PGS.TS. NGUYỄN TẤN HÙNG

Thực hiện công bằng xã hội đòi hỏi phải nhận thức và giải quyết đúng đắn, hài hoà các mối quan hệ lợi ích. Song, ở đây lại thường nảy sinh những mâu thuẫn đòi hỏi phải được nghiên cứa và giải quyết. Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, những mâu thuẫn nảy sinh đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải quyết là: 1) Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, 2) Mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Nhà nước, 3) Mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động, 4) Mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo.

1. Công bằng xã hội và vai trò của nó đối với sự ổn định và phát triển xã hội

Thuật ngữ “công bằng được dùng trong tiếng Việt theo nghĩa hẹp hơn so với trong một số tiếng nước ngoài. “Justice” trong tiếng Anh và tiếng Pháp, được hiểu theo nghĩa rộng hơn, là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ phải, công lý… Do đó khi đề cập đến “social justice”, trước hết, người ta nói đến khía cạnh pháp lý của nó. Vấn đề phân phôi chỉ là một trong những khía cạnh của công bằng xã hội. Ngoài ra, vấn đề tự do cá nhân, quyền con người, vấn đề môi trường… cũng được coi là những khía cạnh khác nhau của công bằng xã hội.

Continue reading →

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN TIỀN TỆ

THS. NGUYỄN PHÚ QUỐC

Trên thị trường ngoại hối có 5 nghiệp vụ cơ bản được giao dịch đó là: giao ngay (spot), kỳ hạn (forward), hoán đổi (swap), tương lai (future) và quyền chọn (Option). Trong đó, giao ngay được xem là nghiệp vụ cơ bản, các nghiệp vụ còn lại được xem là phái sinh. Phải nói rằng giao dịch quyền chọn tiền tệ là tương đối phức tạp, bởi lẽ trong mỗi giao dịch có tới hai đồng tiền là đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá; và có tới hai tỷ giá là tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra.

Định nghĩa quyền chọn tiền tệ

Các hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hoán đổi và tương lai luôn phải được thanh lý giữa các đối tác tham gia. Cho dù một thực tế rằng, các hợp đồng tương lai có thể được chyển nhượng và những khoản phụ trội trên tài khoản ký quỹ có thể được rút ra: và chúng ta có thể thoát ra khỏi trạng thái của hợp đồng kỳ hạn bằng cách tiến hành một giao dịch kỳ hạn đối ứng (offsetting forward contract). Nhưng, cuối cùng thì mọi hợp đồng tương lai và kỳ hạn khi đáo hạn đều phải được các bên chấp nhận và thanh toán. Như vậy, những người nắm giữ hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và tương lai khi đến hạn phải giao dịch thanh toán với nhau. Điều này hàm ý, các đối tác không có bất cứ sự lựa chọn nào ngoài việc tiến hành thanh toán hợp đồng khi đáo hạn, kể cả trong những trường hợp bất lợi với họ.

Continue reading →

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TƯ CÁCH PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP

DƯƠNG MỸ AN

Trong đời sống xã hội, con người giao tiếp với nhau trên rất nhiều lĩnh vực: tín ngưỡng, tình cảm, văn học nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, chính trị,  kinh doanh…Có thể nói ở  hầu hết hết các lĩnh vực đó đều có sự điều chỉnh của Nhà nước bằng công cụ pháp luật xuất phát từ yêu cầu quản lývà kiểm soát mọi hoạt động đang diễn ra trong xã hội nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị và an ninh trật tự công cộng.  Những quan hệ xã hội (quan hệ người – người) phù hợp quy định của pháp luật thì được Nhà nước bảo vệ và khuyến khích phát triển.

Ngược lại, những quan hệ bất hợp pháp sẽ bị ngăn chặn, xử lý. Nhằm xác định tính hợp pháp hay không đối với từng loại hoạt động nhất định, con người (cá thể hoặc nhóm) trước pháp luật được Nhà nước công nhận một tư cách pháp lý. Trong bài này, người viết muốn góp một số ý kiến về việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tư cách pháp lý của doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh.

1. Các loại tư cách pháp lý

Trong quan hệ giữa người với người, các bên được gọi là chủ thể. Trên nguyên tắc, mọi cá nhân đều có tư cách pháp lý, nhưng với tổ chức thì không phải. Để được Nhà nước công nhận có tư cách pháp lý, chủ thể cần phải đáp ứng ít nhất một hoặc cả hai điều kiện sau:

Continue reading →

ỨNG DỤNG CỦA LUẬT SO SÁNH TRONG XÂY DỰNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường Đại học Luật Hà Nội

1. Lý do ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ

Luật so sánh được công nhận là công cụ đắc lực trợ giúp cho hoạt động lập pháp và sửa đổi pháp luật, giải thích pháp luật, hiểu các quy định pháp luật và hỗ trợ cho sự thống nhất, hài hoà hoá pháp luật[1]. Trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 của nước ta (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ)[2], Luật so sánh cũng đã chứng tỏ vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Việc thông qua Bộ luật dân sự (Bộ luật dân sự sửa đổi)[3] và Luật sở hữu trí tuệ trong năm 2005 đã đánh dấu thành công trong hoạt động đổi mới hệ thống pháp luật, thể hiện thành công của tiến trình hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta. Trong bài viết này, tác giả bàn về vấn đề ứng dụng của Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ bằng việc giải quyết ba câu hỏi: Tại sao phải ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Luật so sánh được ứng dụng như thế nào trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ đem lại những kết quả ra sao?

Cho đến nay, còn nhiều ý kiến khác nhau về Luật so sánh, tuy nhiên, cho dù Luật so sánh là một môn khoa học hàn lâm hay một phương pháp nghiên cứu, mọi người đều thừa nhận rằng Luật so sánh có tính ứng dụng rất cao, bao gồm ứng dụng trong hoạt động lập pháp[4]. Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ xuất phát từ những lý do sau đây:

Continue reading →

THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ TRẢ LƯƠNG QUA TÀI KHOẢN

imagePHẠM THỊ ÁNH HÒA – Ban Thanh toán Ngân hàng nhà nước Việt Nam

1. Những thành tựu đạt được

Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc hạn chế sử dụng tiền mặt, phát triển các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu của nền kinh tế, cũng như phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng là những mục tiêu mà hệ thống Ngân hàng Việt Nam đang hướng tới. Để đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt thì biện pháp cấp thiết đầu tiên là thực hiện trả lương qua tài khoản mà giai đoạn đầu của Đề án trả lương qua tài khoản là thực hiện trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Do đây là đối tượng tiên phong làm hình mẫu cho xã hội hình thành thói quen sử dụng tài khoản ngân hàng để giao dịch thanh toán trên cơ sở công nghệ mới tiên tiến, đặt nền móng thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Mặt khác, việc áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ góp phần hạn chế các giao dịch bất hợp pháp, tăng cường sự quản lý nhà nước đối với các chi tiêu tài chính từ ngân sách và vốn nhà nước, triển khai thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí cũng như Nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng.

Trên tinh thần đó, ngày 24/8/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Chỉ thị 20). Sau 6 tháng triển khai thực hiện Chỉ thị 20 đã được một số kết quả khả quan như sau:

Sự hưởng ứng tích cực của xã hội tạo điều kiện triển khai rộng khắp toàn quốc, đạt được kết quả khả quan, đặc biệt là tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

Continue reading →

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: 13 NĂM ĐI KIỆN CHƯA XONG

T.TÂM – P.THƯ

Qua chín lần xét xử, kéo dài suốt 13 năm nay, một vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại vừa phải quay trở về trình tự ban đầu chỉ vì các tòa “chọi” nhau về nhận định…

Mới đây, trong vụ ông Đạo và ông Vinh kiện Công an TP.HCM đòi bồi thường thiệt hại vì “giam xe oan”, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã hủy án sơ thẩm để xử lại từ đầu vì cấp sơ thẩm không tính đến khoản mất thu nhập từ hai chiếc xe này.

Giữ xe sai

Đây đã là phiên xử thứ chín của một vụ kiện “vắt qua hai thế kỷ”. Theo hồ sơ, tháng 2-1992, ông Đạo đại diện cho 10 chủ xe tải ký hợp đồng vận chuyển gỗ cho Công ty Xuất nhập khẩu với Campuchia (Bộ Thương mại, gọi tắt là Vikamex) từ Campuchia về TP.HCM. Trong một chuyến chở gỗ về đến Sông Bé, một số xe tải đã đổ gỗ xuống đây theo “lệnh riêng” của vài người trong Vikamex. Ông Đạo báo lại cho Vikamex và rắc rối bắt đầu phát sinh.

Vikamex cho rằng ông Đạo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nên yêu cầu Công an TP.HCM tạm giữ hai chiếc xe, một của ông Đạo, một của ông Vinh nhưng không lập biên bản… Sau 19 tháng tạm giữ xe và điều tra không có kết quả gì, Công an TP.HCM đành đình chỉ vụ án, trả lại hai xe cho các khổ chủ.

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA: NGƯỜI TRONG CUỘC VẤT VẢ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

BÌNH HUYỀN

Sau 8 tháng nhận quyết định đình chỉ điều tra, ông Nguyễn Văn Triều (49 tuổi, ĐKTT tại số 55, khu vực 5, phường Ba Láng, quận Cái Răng, TP Cần Thơ) và ông Nguyễn Văn Tuân, chú ruột của ông Triều, vẫn chạy đôn, chạy đáo, gõ cửa khắp nơi để đòi bồi thường thiệt hại.

Lật lại hồ sơ

Năm 1984, trở về từ chiến trường Campuchia với quân hàm Thiếu úy, người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Văn Triều được người chú ruột Nguyễn Văn Tuân cho miếng đất nhỏ để cất nhà ở cùng vợ con. Đến năm 1990 thì miếng đất đó lại xảy ra tranh chấp với người khác. Không đồng tình với cách xử lý của chính quyền địa phương nên hai chú cháu tiếp tục khiếu nại. Chẳng ngờ đến ngày 10/3/1996, cả hai chú cháu bị khởi tố bị can về tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.

Sau quá trình điều tra, Công an huyện Châu Thành cũ (nay là Công an quận Cái Răng) đã kết thúc điều tra chuyển hồ sơ cho Viện KSND cùng cấp đề nghị truy tố. Tuy nhiên, ngày 13/7/1996, trong phiên xét xử sơ thẩm, HĐXX của TAND huyện phát hiện hồ sơ truy tố có sai sót nên đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với ông Triều (trước đó ông bị tạm giam – PV).

Continue reading →