TÒA ÁN CÓ ĐỘC LẬP KHI TÒA ÁN XÉT XỬ SAI KHÔNG?

LÊ TRỌNG DŨNG – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội

Nguyên tắc độc lập của toà án là nguyên tắc quan trọng trong các nguyên tắc điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động của toà án. Chính hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của thẩm phán nhằm mục đích bảo đảm quyền con người, quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật. Vì nhiều lý do khác nhau mà nguyên tắc này chưa được thực hiện triệt để ở Việt Nam.

Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng, nếu xem xét trách nhiệm của thẩm phán thì nguyên tắc này không được đảm bảo, thậm chí còn mất đi tính độc lập. Tác giả bài viết này cho rằng, vì pháp luật của chúng ta còn thiếu hụt, mâu thuẫn, có lỗ hổng, phải hoàn thiện nên thẩm phán có thể xử kiểu gì cũng được. Để khắc phục tình trạng này người thẩm phán phải chịu trách nhiệm trong các phán quyết và có lương tâm khi xét xử.

Hoạt động xét xử là việc phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp các hành vi của chủ thể pháp luật. Một phán quyết của thẩm phán liên quan trực tiếp sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân. Nó còn ảnh hưởng tới những lợi ích của nhà nước, của các tổ chức và những giá trị được thừa nhận chung trong xã hội. Do đó, nảy sinh nhu cầu hoạt động xét xử cần phải đảm bảo tính cẩn trọng, kỹ lưỡng, tỷ mỷ. Đây chính là cơ sở của việc thẩm phán phải chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình. Khi thẩm phán phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình thì những phán quyết của thẩm phán sẽ cẩn trọng hơn, kỹ lưỡng hơn. Từ đó, việc xét xử sẽ đúng người, đúng tội đảm bảo công lý, bất bình đẳng không xảy ra.

Continue reading

BÀN VỀ NĂNG LỰC PHÁP LUẬT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

image TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN – Khoa Pháp luật kinh tế ĐHL Hà Nội

1. Quan niệm về năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại

Năng lực pháp luật của một chủ thể pháp luật nói chung, được hiểu là khả năng hành động trong đời sống pháp luật. Khả năng này của chủ thể pháp luật bao gồm hai thành tố cơ bản: năng lực hưởng quyền và năng lực thực hiện các quyền đó bằng hành vi của mình (năng lực hành vi) (1). Đối với các thể nhân – với tư cách là chủ thể tự nhiên của pháp luật, trong pháp luật dân sự có sự phân biệt rất rõ ràng giữa năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Còn đối với các pháp nhân – với tư cách là chủ thể nhân tạo của pháp luật thì vấn đề cấu trúc năng lực pháp luật của pháp nhân có sự khác biệt nhất định. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, do pháp nhân không phải là con người tự nhiên, không có đời sống tâm lý và sinh lý, không có nhận thức và tất nhiên cũng không có những hoạt động ý thức giống như con người nên trong khoa học pháp lý, người ta sử dụng khái niệm “năng lực pháp luật của pháp nhân” với dụng ý chỉ khả năng hưởng quyền của pháp nhân cũng như khả năng thực hiện các quyền đó thông qua những người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Việc pháp nhân luôn luôn và chỉ có thể thực hiện các quyền của mình thông qua những người đại diện hợp pháp, chính là một trong những đặc trưng quan trọng để phân biệt năng lực pháp luật của pháp nhân với năng lực pháp luật của thể nhân trong đời sống pháp luật. Về thực chất, do ngân hàng thương mại cũng là một pháp nhân nên đặc trưng này hiển nhiên cũng đúng với ngân hàng thương mại.

Continue reading

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

ĐỖ THÚY LAN – VỤ HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP BỘ TƯ PHÁP

Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII và năm 2008 đã đưa Luật Lý lịch tư pháp vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008 (chương trình chính thức). Hiện nay, Bộ Tư pháp đã hoàn tất Dự án Luật này trình Chính phủ. Dự thảo Luật Lý lịch tư pháp quy định những vấn đề cơ bản về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, thiết lập Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu.

1. Phạm vi quản lý lý lịch tư pháp

Phạm vi quản lý lý lịch tư pháp là những nội dung mà lý lịch tư pháp cần ghi nhớ để quản lý là nội dung gì, thuộc phạm vi nào. Xác định phạm vi quản lý lý lịch tư pháp là vấn đề hết sức quan trọng trong việc xây dựng Dự thảo Luật lý lịch tư pháp vì vấn đề này có ý nghĩa quyết định toàn bộ nội dung, quy mô và cơ chế quản lý lý lịch tư pháp.

Trong quá trình soạn thảo Dự án Luật, về cơ bản có hai loại ý kiến khác nhau về phạm vi quản lý lý lịch tư pháp. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng phạm vi quản lý lý lịch tư pháp chỉ giới hạn ở những nội dung về án tích; loại ý kiến thứ hai cho rằng cần mở rộng phạm vi quản lý lý lịch tư pháp bao gồm cả tiền sự, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2002/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 2002 VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

CẨM VÂN

Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã tạo ra một sự thay đổi căn bản, chuyển biến tích cực trong việc giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị định 68 là rất cần thiết trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị tham gia Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế, nhất là đáp ứng yêu cầu hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn để soạn thảo Luật Nuôi con nuôi.

Cơ chế mới trong xử lý vấn đề nuôi con nuôi quốc tế

Mặc dù còn một số tồn tại, khiếm khuyết cần tiếp tục được khắc phục, song Nghị định 68 có bước tiến vượt bậc so với Nghị định 184/CP ngày 30/11/1994 trong việc cải cách cơ chế, quy trình, thủ tục, giấy tờ giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài theo hướng minh bạch, rõ ràng, cụ thể hơn, tiệm cận với thông lệ quốc tế, với các nguyên tắc của Công ước La Hay.

Continue reading