BỒI THƯỜNG 1,6 TỶ ĐỒNG DO LÀM CHẾT 1.700 KG RÙA

Nguyên nhân chết 7.000 con rùa do vận chuyển mà không bảo quản đúng nhiệt độ và thông gió, Công ty liên doanh Gemartrans Việt Nam đã phải bồi thường 1,6 tỷ đồng cho Công ty cổ phần Thương mại Biên Mậu Trung Việt.

Sáng 7/12, toà phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh đã bác kháng cáo của bị đơn – Công ty Liên doanh Gemartrans Việt Nam (đặt tại quận 1, TP Hồ Chí Minh), tuyên buộc công ty phải có trách nhiệm bồi thường số tiền hơn 1,6 tỷ đồng như án sơ thẩm đã tuyên cho nguyên đơn là Công ty cổ phần Thương mại Biên Mậu Trung Việt (quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng).

Tháng 7/2001, Công ty cổ phần Thương mại Biên Mậu Trung Việt ký hợp đồng với LimKimWah (Malaysia) mua 7.000 con rùa sống trong tình trạng sức khoẻ tốt. Ngày 7/8/2001, LimKimWah gửi số rùa này cho Công ty Biên Mậu Trung Việt thông qua hãng OceanicStarLine, phát hành vận đơn vận chuyển số PK/HPG/0807.

Thực tế, hãng OceanicStarLine không trực tiếp vận chuyển số rùa trên mà thuê lại Công ty liên doanh Gemartrans Việt Nam vận chuyển về cảng Hải Phòng với điều kiện nhiệt độ 18 độ C, thông gió mở 100%, cước phí vận tải trả trước.

Khi hàng về đến cảng Sài Gòn, Công ty Gemartrans lại thuê tàu Hồng Bàng, thuộc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam vận chuyển tiếp tới cảng Hải Phòng. Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển, do container chứa 7.000kg rùa sống không được tàu Hồng Bàng cắm điện để bảo quản đúng nhiệt độ và thông gió nên toàn bộ số rùa đã chết.

Vì vậy, Công ty Biên Mậu Trung Việt đã làm khởi kiện, yêu cầu Công ty Gemartrans phải bồi thường thiệt hại lô hàng trên với số tiền hơn 1,86 tỷ đồng. Bản án dân sự sơ thẩm số 1926/DSST ngày 23/10/2002 TAND TP Hồ Chí Minh đã quyết định: Công ty Liên doanh Gemartrans có trách nhiệm bồi thường cho Công ty Biên Mậu Trung Việt số tiền 1,86 tỷ đồng. Sau khi có bản án, bị đơn kháng cáo.

Đến ngày 9/4/2003, Toà phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí Minh đã bác kháng cáo của bị đơn, tuyên y án sơ thẩm. Tuy nhiên, ngay sau đó, Viện trưởng VKSNDTC đã có quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên nên ngày 29/12/2004, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã xử giám đốc thẩm, quyết định hủy bản án trên và giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Hồ Chí Minh giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà sơ thẩm lần hai (xử ngày 23/8/2006), Công ty Biên Mậu Trung Việt vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đối với Công ty Gemartrans và yêu cầu bị đơn phải bồi thường tổng cộng số tiền là 2,4 tỷ đồng.

Toà đã chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, tuyên buộc Công ty Gemartrans Việt Nam phải bồi thường cho Công ty Biên Mậu Trung Việt số tiền hơn 1,6 tỷ đồng. Không đồng tình với phán quyết của toà án, một lần nữa Công ty Gemartrans lại làm đơn kháng cáo

Nguồn: Anh Huy – CAND

HƯỚNG DẪN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG GÂY RA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO–TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO-BỘ CÔNG AN-BỘ TƯ PHÁP-BỘ QUỐC PHÒNG-BỘ TÀI CHÍNH
******
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc – Tự do – Hạnh phúc
******

Số: 04/2006/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2006

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 388/NQ-UBTVQH11 NGÀY 17/3/2003 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ GÂY RA

Ngày 17/3/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thùơng thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 388).

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Nghị quyết nói trên, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

I. VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Các trường hợp được bồi thường thiệt hại

Điều 1 của Nghị quyết số 388 quy định cụ thể những trường hợp được bồi thường thiệt hại, tuy nhiên khi thi hành quy định của Điều này cần chú ý:

1.1. Người bị tạm giữ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 được bồi thường thiệt hại khi họ không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào và có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự hủy bỏ quyết định tạm giữ.

Ví dụ 1: Công an huyện T tạm giữ Nguyễn Văn A cùng 8 người khác trong vụ đánh bạc tại nhà C. Qua điều tra đã xác định tại thời điểm đó A sang nhà C để trả nợ rồi bị tạm giữ, nên Cơ quan Điều tra đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ đối với A. Trong trường hợp này Nguyễn Văn A được bồi thường thiệt hại.

Ví dụ 2: Bộ đội Biên phòng Đồn 56 huyện A bắt quả tang 10 người Việt Nam đang vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới từ Trung Quốc về Việt Nam và ra lệnh tạm giữ họ. Qua điều tra xác định được giá trị hàng hóa chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, vì vậy đã hủy bỏ lệnh tạm giữ để xử lý họ về hành chính. Trong trường hợp này họ đã có hành vi vi phạm pháp luật (vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới), nên không được bồi thường thiệt hại.

1.2. Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự hủy bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì được bồi thường thiệt hại.

1.3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, nếu trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự không bị tạm giữ, không bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định họ không thực hiện hành vi phạm tội, thì được bồi thường thiệt hại.

1.4. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan về một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù, thì được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần và thu nhập thực tế bị mất, tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá, so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành.

1.5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan về tội đã bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, thì được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần và thu nhập thực tế bị mất, tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá, so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành.

1.6. Người bị xét xử bằng nhiều bản án, tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan về một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù, thì được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần và thu nhập thực tế bị mất, tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá, so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành.

1.7. Những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 nếu có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Nghị quyết số 388. Đối với tài sản bị tạm giữ, thu giữ, kê biên, tịch thu của những người khác không thuộc các trường hợp nêu trên, thì không giải quyết việc bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số 388 mà được giải quyết theo thủ tục chung.

2. Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại

Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 388; cần chú ý là những trường hợp cụ thể sau đây cũng thuộc trường hợp không được bồi thường thiệt hại:

2.1. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nhưng vụ án đã được đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm;

2.2. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử, nhưng nay theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự;

2.3. Người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đã bị tạm giữ, bị khởi tố, bị tạm giam, bị truy tố, xét xử, thi hành án mà có quyết định, bản án của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự hủy bỏ quyết định, bản án đó chỉ vì lý do căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y là tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội người đó không có năng lực trách nhiệm hình sự.

2.4. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, hoặc tòa án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù, hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan về một hoặc một số tội mà không thuộc trường hợp quy định tại tiểu mục 1.4; 1.5; 1.6 mục 1 phần này thì không được bồi thường.

2.5. Đối với những người bị oan đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật tại thời điểm giải quyết bồi thường để bồi thường thiệt hại từ trước ngày Nghị quyết 388 có hiệu lực, thì không áp dụng Nghị quyết này để giải quyết bồi thường thiệt hại.

II. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VÀ MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

1. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần

1.1. Khi xác định thiệt hại do tổn thất về tinh thần đối với người bị oan bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc tại ngoại cần chú ý:

a) Phải tính cụ thể số ngày bị oan cho người bị oan kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội, trong đó cần xác định số ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù và số ngày tại ngoại (kể cả những ngày bị tạm giữ trước khi có quyết định khởi tố bị can). Sau khi xác định được số ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù và số ngày được tại ngoại, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 để tính số ngày lương tính theo mức lương tối thiểu mà người bị oan được bồi thường.

Ví dụ: Ngày 01/12/2003 M bị tạm giữ và bị khởi tố bị can; hết thời hạn tạm giữ 3 ngày tiếp tục bị tạm giam. Ngày 01/3/2004 M được tại ngoại. Ngày 20/3/2004 Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với M với lý do M không thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp này xác định số ngày mà M được bồi thường do bị oan như sau:

– Số ngày bị tạm giữ, tạm giam là: 31 ngày của tháng 12/2003 + 31 ngày của tháng 01/2004 + 29 ngày của tháng 02/2004 = 91 ngày.

– Số ngày không bị tạm giữ, tạm giam (tại ngoại) là: 20 ngày (từ ngày 01 đến ngày 20 tháng 3 năm 2004).

– Số ngày lương tính theo mức lương tối thiểu được bồi thường là:

(91 ngày x 3) + 20 ngày = 293 ngày.

b) Một ngày lương tối thiểu tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường được xác định bằng việc lấy mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường chia cho 22 là số ngày làm việc bình quân của mỗi tháng.

Ví dụ: Tại thời điểm ban hành Thông tư liên tịch này thì mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định là 450.000 đồng, do đó một ngày lương tối thiểu sẽ là: 450.000 đồng : 22 = 20.454 đồng.

1.2. Khi giải quyết việc bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần trong trường hợp người bị oan chết cần chú ý:

a) Chỉ giải quyết việc bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần nếu người bị oan chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà không phải do lỗi của chính họ hoặc không do sự kiện bất khả kháng.

b) Khoản tiền bù đắp về tinh thần ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường là khoản bồi thường chung cho những người có quan hệ thân thích gần gũi với người bị oan chết gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng người bị oan, không phụ thuộc vào số người được bù đắp về tinh thần nhiều hay ít và thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù là bao nhiêu. Trong trường hợp này không được tính bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 và theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 này.

c) Trường hợp người bị oan chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà do lỗi của chính họ hoặc do sự kiện bất khả kháng thì những người có quan hệ thân thích, gần gũi với người bị oan bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng người bị oan không được bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần là ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường. Trong trường hợp này người bị oan được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 và theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 này.

1.3. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần được bồi thường là thiệt hại độc lập với các thiệt hại quy định tại các Điều 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 388.

2. Thiệt hại về vật chất

2.1. Chi phí hợp lý quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6 và các khoản 1, 2 Điều 7 của Nghị quyết số 388 là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi, cụ thể như sau:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị oan trước khi chết quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 388 bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị oan đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế; chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị oan theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác trước khi người bị oan chết (nếu có).

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng người bị oan chết, quy định tại khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 388 bao gồm: chi phí mua quan tài, hương, hoa, nến, vải liệm, thuê xe tang và các khoản chi phí khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng người bị oan chết theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống linh đình, xây mộ, bốc mộ…

c) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị oan theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết số 388 bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.1 này và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị oan (nếu có).

2.2. Người bị oan hoặc người thân thích của họ được bồi thường thiệt hại về vật chất được hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 mục 2 này nếu họ là người đã thanh toán các chi phí hợp lý đo. Trong trường hợp các cơ quan nhà nước đã chi trả một phần hoặc toàn bộ các chi phí này, thì họ không được bồi thường các chi phí mà cơ quan nhà nước đã chi trả.

2.3. Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 388 được xác định như sau:

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị bao gồm tiền tàu, xe, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương (nếu có) của một trong những người thân thích của người bị oan do cần thiết hoặc do cơ sở y tế yêu cầu phải có người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị được xác định như sau:

b.1. Nếu người chăm sóc người bị oan có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị oan để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

b.2. Nếu người chăm sóc người bị oan có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị oan làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

b.3. Nếu người chăm sóc người bị oan chưa có việc làm, hoặc có tháng có làm việc, có tháng không, do đó hàng tháng không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm người đó chăm sóc người bị oan.

b.4. Trong thời gian chăm sóc người bị oan, nếu người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không được nhận khoản tiền bồi thường tương ứng.

2.4. Người bị oan mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc là người không còn khả năng thực hiện hoạt động sản xuất vật chất do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị oan mất khả năng lao động quy định tại khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người bị tàn tật ở địa phương nơi người bị oan cư trú.

2.5. Khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất của người bị oan quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 388 cần chú ý:

a) Người bị oan (kể cả trường hợp đã chết) chỉ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù.

b) Thu nhập ổn định thực tế bị mất của người bị oan được xác định như sau:

b.1. Trường hợp trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất;

b.2. Trường hợp trước khi tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định nhưng có mức thu nhập khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

b.3. Trường hợp trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan là nông dân, ngư dân, người làm muối, người trồng rừng, người làm thuê, người buôn bán nhỏ, thợ thủ công, lao động khác thực tế có thu nhập nhưng theo mùa vụ hoặc không liên tục thì lấy mức bình quân thu nhập thực tế chứng minh được của 6 tháng liền kề trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; nếu không xác định được mức bình quân thu nhập thực tế đó thì lấy mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

c) Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, nếu người bị oan vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, thì họ không được nhận khoản tiền bồi thường tương ứng.

2.6. Chỉ phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 nếu trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan thực tế đang có thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù bị chết, bị tổn hai về sức khỏe dẫn đến mất khả năng lao động. Những người đang được người bị oan cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Mức cấp dưỡng, phương thức, thời gian cấp dưỡng căn cứ vào các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

III. VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN

1. Việc bồi thường thiệt hại cần được giải quyết kịp thời, công khai và đúng pháp luật. Các thiệt hại mà người bị oan hoặc thân nhân của họ được bồi thường theo quy định của Nghị quyết số 388 phải được bồi thường một lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác. Đối với khoản cấp dưỡng cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 7 của nghị quyết số 388 nếu người được cấp dưỡng đồng ý nhận một lần thì bồi thường một lần cho họ; nếu họ không đồng ý nhận một lần thì cấp dưỡng hàng tháng trong thời gian họ được cấp dưỡng.

2. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào Điều 10 của Nghị quyết số 388. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như sau:

2.1. Cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện Kiểm sát, nhưng hết thời hạn tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện Kiểm sát mà vẫn tiếp tục tạm giữ, tạm giam không có lệnh tạm giữ, tạm giam hoặc tuy có lệnh tạm giữ, tạm giam song không được Viện Kiểm sát phê chuẩn có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trong trường hợp việc tạm giữ bị hủy bỏ vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc việc tạm giam bị hủy bỏ vì người bị tạm giam không thực hiện hành vi phạm tội, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

2.2. Khi xác định được một người bị oan thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cơ quan đã gây ra oan sau cùng, không phụ thuộc có cơ quan tiến hành tố tụng trước đó có xử lý oan một phần.

Ví dụ 1: Cơ quan Điều tra có kết luận điều tra đề nghị Viện Kiểm sát truy tố về nhiều tội, nhưng Viện Kiểm sát chỉ truy tố về một tội, song khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội thì Viện Kiểm sát có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

Ví dụ 2: Viện Kiểm sát truy tố bị can về nhiều tội, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử và tuyên bố bị cáo phạm một tội, song khi xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội vì không thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

Ví dụ 3: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo có tội, Tòa án cấp phúc thẩm hoặc cấp giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại; sau khi điều tra lại mà dẫn đến việc Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra bị can hoặc Viện Kiểm sát đình chỉ vụ án đối với bị can vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, mà không phụ thuộc vào việc Cơ quan điều tra đã có kết luận điều tra hoặc Viện Kiểm sát đã có Cáo trạng truy tố.

2.3. Nếu sau khi thụ lý vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định tạm giam bị can (hoặc bị cáo) để hoàn thành việc xét xử sơ thẩm, nhưng khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì Viện Kiểm sát ra quyết định truy tố có trách nhiệm bồi thường toàn thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

2.4. Nếu sau khi thụ lý vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm giam bị cáo để hoàn thành việc xét xử phúc thẩm, nhưng khi xét xử Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

2.5. Đối với tài sản của những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại, thì cơ quan đã ra quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu tài sản có trách nhiệm bồi thường.

IV. VIỆC CẤP, GỬI QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN

1. Quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội phải được cấp hoặc gửi cho những người được bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định của Nghị quyết số 388 và hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này.

2. Việc cấp, gửi quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội phải được thực hiện trong thời hạn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Đối với trường hợp pháp luật tố tụng hình sự không có quy định, thì thời hạn đó là 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định, bản án.

3. Trong trường hợp quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội có khiếu nại, đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại, thì cơ quan có thẩm quyền phải khẩn trương xem xét giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, đề nghị, yêu cầu và thông báo kết quả giải quyết cho người có khiếu nại, đề nghị, yêu cầu biết. Nếu cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nại, đề nghị, yêu cầu vẫn giữ nguyên quyết định, bản án đó thì việc bồi thường thiệt hại phải được thực hiện ngay.

V. VỀ THỦ TỤC KHÔI PHỤC DANH DỰ, YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI, THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TẠI TÒA ÁN

1. Thủ tục khôi phục danh dự

1.1. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan phải tiến hành việc xin lỗi, cải chính công khai trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan.

1.2. Người đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xin lỗi người bị oan là: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân (ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là Vụ trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự Trung ương được Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền); Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân (ở Tòa án nhân dân tối cao là Chánh tòa Tòa phúc thẩm hoặc Chánh tòa Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, Phó Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ủy quyền).

Địa điểm tiến hành xin lỗi là nơi cư trú hoặc tại nơi làm việc của người bị oan. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thông báo thời gian, địa điểm tiến hành xin lỗi cho cơ quan nơi người bị oan làm việc, chính quyền địa phương nơi người bị oan cư trú và tổ chức chính trị – xã hội mà người bị oan là thành viên để các cơ quan, tổ chức này cử người đại diện tham dự.

1.3. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải trực tiếp xin lỗi người bị oan và đăng cải chính trên một tờ báo trung ương (Báo Nhân dân hoặc báo Quân đội nhân dân) và một tờ báo địa phương (Báo của cơ quan Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) trong ba số liên tiếp, trừ trường hợp người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu không đăng báo.

2. Thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại

2.1. Người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ, quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 388 phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại phải ghi rõ các khoản thiệt hại có yêu cầu bồi thường, mức bồi thường để làm căn cứ cho việc thương lượng và các nội dung khác theo Mẫu đơn số 01a, 01b kèm theo Thông tư liên tịch này. Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau đây:

a) Quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật xác định người bị oan;

b) Bản sao hợp lệ một trong các loại giấy tờ tùy thân của người bị oan hoặc chứng minh quan hệ của họ đối với người bị oan như hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân… hoặc xác nhận của chính quyền địa phương nơi người bị oan cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị oan làm việc;

c) Các chứng từ hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị oan trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù.

Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải nhận đơn, các giấy tờ tài liệu kèm theo đơn và ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tự mình hoặc ủy quyền cho người khác tiến hành thương lượng với người bị oan hoặc thân nhân của họ về việc bồi thường thiệt hại.

2.2. Trong trường hợp người bị oan chết mà có nhiều thân nhân thì cần yêu cầu họ cử một người đại diện để tiến hành thương lượng về việc bồi thường thiệt hại. Việc cử người đại diện phải được lập thành văn bản. Nếu các thân nhân của người bị oan chết không cử được ai làm đại diện thì phải tiến hành thương lượng trực tiếp với họ.

2.3. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc người được ủy quyền hợp pháp tiến hành việc thương lượng bồi thường thiệt hại tại trụ sở cơ quan. Khi tiến hành thương lượng phải xem xét các khoản thiệt hại có yêu cầu bồi thường trong đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn. Căn cứ vào các khoản thiệt hại được bồi thường quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 388; các quy định khác về chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định (nếu có) và hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này để thương lượng về khoản thiệt hại nào được bồi thường, mức bồi thường.

2.4. Khi tiến hành thương lượng phải lập biên bản ghi lại đầy đủ diễn biến quá trình thương lượng. Trong trường hợp thương lượng thành, thì chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản thương lượng thành Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải ra quyết định bồi thường thiệt hại. Quyết định bồi thường thiệt hại phải ghi rõ các khoản tiền được bồi thường thiệt hại và người được bồi thường thiệt hại theo kết quả thương lượng thành được ghi trong biên bản (theo Mẫu 03a, 03b kèm theo Thông tư liên tịch này).

3. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại tại Tòa án

3.1. Người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại lập biên bản về việc thương lượng bồi thường thiệt hại không thành.

Trường hợp thương lượng không thành là trường hợp sau khi cơ quan có trách nhiệm bồi thường tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường của người bị oan, hoặc thân nhân của người bị oan và đã tiến hành thương lượng bồi thường thiệt hại theo quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 388, nhưng không có kết quả và không lập được biên bản thương lượng thành.

Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường không thể thực hiện việc yêu cầu trong thời hạn 30 ngày, thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

3.2. Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc tương đương nơi người bị oan cư trứ hoặc làm việc. Trong trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại, đồng thời là cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thì cần phân công thành phần Hội đồng xét xử là những người không có liên quan đến việc làm oan. Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

VI. VỀ KINH PHÍ VÀ CHI TRẢ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

1. Dự toán kinh phí bồi thường thiệt hại

Hàng năm, căn cứ thực tế bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra trong năm trước, cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự ở Trung ương (Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng bao gồm cả Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, Bộ Tư pháp và các cơ quan được giao quyền hạn điều tra như: Hải quan, Kiểm lâm…) phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường cho người bị oan để tổng hợp vào dự toán ngân sách Nhà nước trình Quốc hội.

2. Thủ tục chi trả tiền bồi thường thiệt hại

2.1. Trong thời hạn 2 ngày kể từ khi có quyết định bồi thường thiệt hại trong trường hợp thương lượng thành hoặc có bản án, quyết định của Tòa án về việc bồi thường thiệt hại có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải chuyển ngay hồ sơ đề nghị bồi thường về cơ quan chủ quản ở Trung ương bằng mọi hình thức; có thể bằng hình thức phát chuyển nhanh để đề nghị Bộ Tài chính cấp kinh phí bồi thường thiệt hại.

Hồ sơ đề nghị bồi thường thiệt hại gồm:

a) Văn bản đề nghị bồi thường có ghi đầy đủ cụ thể người được bồi thường thiệt hại, các khoản tiền bồi thường đối với các khoản thiệt hại cụ thể và tổng số tiền đề nghị Bộ Tài chính cấp để thực hiện việc bồi thường thiệt hại.

b) Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người được bồi thường bị oan.

c) Quyết định của cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thương lượng thành hoặc bản án, quyết định của tòa án về việc bồi thường thiệt hại đã có hiệu lực pháp luật.

2.2. Trong thời hạn 2 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị bồi thường, cơ quan chủ quản ở Trung ương phải có văn bản đề nghị Bộ Tài chính cấp kinh phí bồi thường.

2.3. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị cấp kinh phí bồi thường thiệt hại, Bộ Tài chính cấp kinh phí cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại để chi trả cho người bị oan.

2.4. Sau khi nhận được kinh phí do Bộ Tài chính cấp, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thực hiện ngay việc chi trả bồi thường cho người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

2.5. Trường hợp cơ quan chủ quản ở Trung ương hoặc Bộ Tài chính từ chối đề nghị cấp kinh phí bồi thường thì phải có thông báo đến cơ quan đã đề nghị, người bị oan và nêu rõ lý do của việc từ chối.

3. Quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại

Kết thúc năm tài chính, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan lập quyết toán kinh phí đã chi trả bồi thường thiệt hại báo cáo với cơ quan chủ quản ở Trung ương.

Cơ quan chủ quản ở Trung ương tổng hợp quyết toán kinh phí chi trả bồi thường thiệt hại trong toàn ngành để quyết toán với Bộ Tài chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Bộ Tài chính tổng hợp quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra vào tổng quyết toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

VII. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI GIỮA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trong quá trình thực hiện giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, nếu có tranh chấp trong nội bộ ngành, thì Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của ngành xem xét giải quyết; nếu có tranh chấp giữa các ngành thì Thủ trưởng của các ngành liên quan phối hợp với nhau để xem xét giải quyết.

VIII. VỀ HIỆU LỰC CỦA THÔNG TƯ

Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/3/2004.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn cần phải giải thích, hướng dẫn bổ sung, thì phản ánh cho Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN
THỨ TRƯỞNG
Lê Thế Tiệm
KT. CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN
Đặng Quang Phương
KT. VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Trần Thu
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP
THỨ TRƯỞNG
Đinh Trung Tụng
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Văn Được
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG
Trần Văn Tá

CÔNG VĂN CỦA TANDTC LIÊN QUAN ĐẾN QUI CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TÀI SẢN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 176/KHXX
V/v: Triển khai thực hiện các Nghị định
của Chính phủ về thi hành Luật thương mại
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2006 

Kính gửi : Các tòa án nhân dân và tòa án quân sự các cấp

Để thi hành Luật thương mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006  “Quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài” (sau đây viết tắt là Nghị định số 12) và Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 “Quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện” (sau đây viết tắt là Nghị định số 59). Nghị định số 59 thay thế Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 03/3/1999 “Về hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện; hàng hóa dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện”.

Để nhận thức đúng và thực hiện thống nhất một số quy định trong Nghị định số 12 và Nghị định số 59, ngày 13/9/2006, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức cuộc họp gồm đại diện của các cơ quan: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Thương mại, Văn phòng Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương 127/TW. Qua thảo luận, trao đổi, tất cả các đại biểu tham dự cuộc họp đều thống nhất các vấn đề cần được hướng dẫn và đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương sớm ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 12 và Nghị định số 59 của Chính phủ trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự một số tội phạm.

Nghị định số 12 và Nghị định số 59 đã có hiệu lực thi hành; do đó, trong khi chờ xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch, căn cứ vào kết luận tại cuộc họp nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao tạm thời hướng dẫn một số điểm sau đây:

I. VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH HÀNG CẤM

1. Điều 5 Nghị định số 12 đã quy định hàng hóa cấm xuất, nhập khẩu; do đó, đối với các trường hợp buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì việc xác định hàng cấm như sau:

a) Trường hợp xuất khẩu hàng hóa mậu dịch, phi mậu dịch; xuất, nhập khẩu hàng hóa tại khu vực biên giới với các nước láng giềng; hàng hóa viện trợ Chính phủ, phi Chính phủ, thì hàng hóa thuộc Danh mục quy định tại Phần I Phụ lục số 01 (ban hành kèm theo Nghị định số 12) là hàng cấm.

b) Trường hợp nhập khẩu hàng hóa mậu dịch, phi mậu dịch; xuất khẩu hàng hóa tại khu vực biên giới với các nước láng giềng; hàng hóa viện trợ Chính phủ, phi Chính phủ, thì hàng hóa thuộc Danh mục quy định tại Phần II Phụ lục số 01 (ban hành kèm theo Nghị định số 12) là hàng cấm.

c) Khi xác định hàng hóa thuộc Danh mục hàng cấm được hướng dẫn tại điểm a và điểm b mục 1 này, cần kiểm tra trong trường hợp cụ thể đó Thủ tướng Chính phủ có cho phép xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 12 hay không? Nếu trong trường hợp cụ thể đó, Thủ tướng Chính phủ cho phép xuất khẩu, nhập khẩu thì hàng hóa đó không phải là hàng cấm (cho nên đến thời điểm ban hành Công văn này Thủ tướng Chính phủ chưa cho phép trường hợp nào).

2. Điều 4 Nghị định số 59 quy định hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; do đó, đối với các trường hợp sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trong nước thì hàng hóa thuộc Danh mục quy định tại Phần A Phụ lục I (ban hành kèm theo Nghị định số 59) là hàng cấm.

Khi xác định hàng hóa thuộc Danh mục hàng cấm, cần kiểm tra trong trường hợp cụ thể đó, Thủ tướng Chính phủ có cho phép cung ứng hàng hóa theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 59 hay không? Nếu trong trường hợp cụ thể đó, Thủ tướng Chính phủ cho phép cung ứng thì hàng hóa đó không phải hàng cấm (cho đến thời điểm ban hành Công văn này Thủ tướng Chính phủ chưa cho phép trường hợp nào).

II. VỀ VIỆC XỬ LÝ MỘT SỐ HÀNH VI LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC LÁ ĐIẾU, XÌ GÀ SẢN XUẤT Ở NƯỚC NGOÀI

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 59 thì thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nói chung không phải là hàng cấm mà chỉ là hàng hóa hạn chế kinh doanh. Tuy nhiên, theo quy định của Chính phủ thì việc nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà sản xuất ở nước ngoài chỉ được phép thực hiện sau khi có hướng dẫn của Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp. Cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn về vấn đề này; do đó, việc xử lý một số hành vi liên quan đến thuốc lá điếu, xì gà sản xuất ở nước ngoài được thực hiện như sau:

1. Mọi hành vi buôn bán qua biên giới thuốc lá điếu, xì gà sản xuất ở nước ngoài, nếu có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 153 của BLHS, thì phải xét xử về tội “Buôn lậu”, nhưng không được áp dụng tình tiết “hàng cấm”.

2. Mọi hành vi vận chuyển qua biên giới thuốc lá điếu, xì gà sản xuất ở nước ngoài, nếu có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 154 của BLHS, thì phải xét xử về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”, nhưng không được áp dụng tình tiết “hàng cấm”.

3. Mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trong nước thuốc lá điếu, xì gà sản xuất ở nước ngoài, nếu bị truy tố thì không xét xử về tội “sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm”. Nếu chứng minh được có mục đích kinh doanh và có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 159 của BLHS, thì xét xử về tội “kinh doanh trái phép”.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Yêu cầu các đồng chí Chánh an Tòa án nhân dân địa phương, các đồng chí Chánh án Tòa án quân sự các cấp, các đồng chí Chánh tòa các Tòa phúc thẩm và Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao nhận được Công văn này cần tổ chức triển khai quán triệt trong cơ quan, đơn vị mình nhằm bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án các cấp đúng pháp luật.

2. Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề gì vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn bổ sung thì kịp thời phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao để có sự giải thích, hướng dẫn bổ sung.

Nơi nhận:
– Như trên;
– Các đơn vị và các Thẩm phán TANDTC;
– Đồng chí Chánh án (để báo cáo);
– VKSNDTC;
– Bộ Công an;
– Bộ Thương mại;
– Văn phòng Chính phủ;
– Ban chỉ đạo trung ương 127/TW;
– Lưu: VP, VKHXX (TANDTC).
 

KT. CHÁNH ÁN
 PHÓ CHÁNH ÁN THƯỜNG TRỰC
Đặng Quang Phương

CÔNG VĂN CỦA TANDTC VỀ VIỆC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN TRẢ LẠI TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 132/2005/KHXX
V/v: đòi cơ quan thi hành án trả lại tài sản

Hà Nội, ngày 13 tháng 06 năm 2005

Kính gửi: Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất – tỉnh Kiên Giang

Tòa án nhân dân tối cao nhận được Bản kiến nghị ngày 12-5-2005 của cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất và bản kiến nghị số 96/CV-THA ngày 20-5-2005 của Cơ quan thi hành án tỉnh Kiên Giang kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thụ lý đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Đẹp vợ ông Lưu Bỉnh Hiền (thụ lý số 97/DSST ngày 6-4-2005) đòi cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất trả lại số tiền 222.500.000đ đang bị kê biên tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho ông Hiền và việc triệu tập cơ quan thi hành án huyện Hoàn Đất tham gia hòa giải với tư cách là bị đơn trong vụ án là không đúng quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự.

Sau khi nghiên cứu nội dung các bản kiến nghị của cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất và cơ quan thi hành án tỉnh Kiên Giang cùng các tài liệu gửi kèm theo, Tòa án nhân dân tối cao lưu ý Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất một số vấn đề sau đây:

Bà Phạm Thị Đẹp có quan hệ sống chung với ông Lưu Bỉnh Hiền (Việt kiều tại Mỹ). Ông Lưu Bỉnh Hiền là người phải thi hành án theo bản án dân sự số 230/DSPT ngày 05-10-2000 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 03/QĐ-HGT ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang với tổng số tiền phải thi hành án là 222.500.000đ.

Số tiền 222.500.000đ mà Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, thu từ số tiền bà Đẹp, ông hiền bán nhà đất bị kê biên cho bà Phượng tương ứng với số tiền mà ông Hiền phải thi hành án. Nay bà Đẹp khởi kiện Cơ quan thi hành ánh huyện Hòn Đất ra Tòa án huyện Hòn Đất để đòi lại số tiền đó với lý do số tiền này là rài sản riêng của bà Đẹp.

Để xem xét giải quyết yêu cầu của bà Đẹp, Tòa án phải phân biệt như sau:

1. Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất đã kê biên thu giữ số tiền 222.500.000đ để thi hành án đối với ông Hiền.

Nếu bà Đẹp, ông Hiền cho rằng quyết định kê biên, giữ tài sản của Chấp hành viên Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đẹp và ông Hiền, thì bà Đẹp ông Hiền có quyền khêíu nại quyết định đó đến thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục quy định tại Điều 60 và Điều 62 của Pháp lệnh thi hành án dân sự mà không có quyền khởi kiện Chấp hành viên hoặc Cơ quan thi hành án ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.

2. Bà Đẹp chỉ có quyền khởi kiện ra Tòa án trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 41 Pháp lệnh thi hành án dân sự; cụ thể là:

“Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn ba tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện, thì tài sản bị kê biên được xử lý để thi hành án.

Trong trường hợp cần xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung mà các bên không thỏa thuận được, thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Như vậy, nếu bà Đẹp cho rằng khoản tiền mà Cơ quan thi hành án kê biên, thu giữ để bảo đảm thi hành án đối với ông Hiền là tài sản riêng của bà Đẹp thì bà đẹp phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác dịnh tài sản đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình mà không phải là tài sản riêng của ông Hiền hoặc tài sản chung với ông Hiền. Trong trường hợp bà Đẹp và ông Hiền đều cho rằng tài sản đó là của bà Đẹp, thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định quyền ở hữu đối với tài sản đó. Chỉ trong các trường hợp này, Tòa án mới thụ lý giải quyết.

Do đó, việc Tòa án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thụ lý đơn khởi kiện của bà đẹp đòi Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phải trả lại 222.500.000đ và xác định Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang là bị đơn là không đúng thẩm quyền và không đúng với các quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự.

Vì vậy, Tòa án cần căn cứ vào khỏan 2 Điều 192 Bộ luật ố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Tòa tham khảo trong việc giải quyết vụ án cụ tểh tại địa phương.

Nơi nhận:
– Như trên;
– TAND tỉnh Kiên Giang;(để biết)
– Thi hành án huyện Hòn Đất; (để biết)
– Thi hành án tỉnh Kiên Giang;(để biết)
– Đ/c Chánh án TAND TC (để báo cáo);
– Lưu VP, Viện KHXX (TANDTC).
KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN THƯỜNG TRỰC
Đặng Quang Phương

NGHỊ ĐỊNH SỐ 107/2007 HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CƯ TRÚ

Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2007 

NGHỊ ĐỊNH Số: 107/2007/NĐ-CP

QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CƯ TRÚ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật C­ư trú ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ tr­ưởng Bộ Công an,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và h­ướng dẫn thi hành khoản 2 Điều 8, Điều 12 và khoản 1 Điều 20 của Luật C­ư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi c­ư trú của công dân; thời hạn đăng ký thư­ờng trú; điều kiện đăng ký thư­ờng trú tại thành phố trực thuộc Trung ­ương.

Điều 2. Đối t­ượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, công dân Việt Nam, ngư­ời Việt Nam định c­ư ở n­ước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống.

Điều 3. Nghiêm cấm các hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

1. Quy định về hộ khẩu theo Luật Cư­ trú bao gồm các nội dung sau đây:

a) Đăng ký, quản lý thư­ờng trú;

b) Đăng ký, quản lý tạm trú;

c) Thông báo lư­u trú;

d) Khai báo tạm vắng.

2. Các hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị nghiêm cấm, gồm:

a) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản khác liên quan đến quy định về hộ khẩu mà làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân;

b) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản khác liên quan đến quy định về hộ khẩu trái với quy định của Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn Luật Cư trú;

c) Ban hành quy định hạn chế quyền tự do c­ư trú của công dân trái thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;

d) Đư­a ra các quy định về hộ khẩu làm điều kiện để hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trái với quy định của pháp luật;

đ) Cố ý giải quyết hoặc từ chối giải quyết các yêu cầu về hộ khẩu của công dân trái quy định của pháp luật cư trú, làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm:

a) Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác trong lĩnh vực quản lý của mình liên quan đến quy định về hộ khẩu để sửa đổi, bãi bỏ hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bãi bỏ những nội dung trái với Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn Luật Cư trú làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân;

b) Khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản khác thuộc thẩm quyền có liên quan đến quy định về hộ khẩu phải đảm bảo đúng với Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn Luật Cư trú; không được làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân;

c) Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trong việc thực hiện Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn Luật Cư trú. Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm đối với những cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý có hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền lợi ích hợp pháp của công dân.

4. Công dân có quyền phát hiện, thông báo kịp thời và giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền trong việc ngăn chặn, xử lý các hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Điều 4. Nơi c­ư trú của công dân

1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà ng­ười đó th­ường xuyên sinh sống. Nơi cư­ trú của công dân là nơi th­ường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho m­ượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

2. Tr­ường hợp không xác định đ­ược nơi cư­ trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này, thì nơi cư­ trú của công dân là nơi ng­ười đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, ph­ường, thị trấn.

3. Chỗ ở hợp pháp bao gồm:

a) Nhà ở;

b) Tàu, thuyền, ph­ương tiện khác nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân;

c) Nhà khác không thuộc điểm a, điểm b khoản này nh­ưng đư­ợc sử dụng nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

4. Không đăng ký th­ường trú khi công dân chuyển đến chỗ ở mới, thuộc một trong các tr­ường hợp sau đây:

a) Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hóa đã đ­ược xếp hạng;

b) Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn chiếm trái phép;

c) Chỗ ở đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà n­ước có thẩm quyền và chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng nh­ưng ch­ưa đ­ược giải quyết theo quy định của pháp luật (trừ trư­ờng hợp những ng­ười có quan hệ là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con chuyển đến ở với nhau);

d) Chỗ ở bị kê biên, tịch thu để thi hành án, trư­ng mua theo quyết định của cơ quan nhà nư­ớc có thẩm quyền;

đ) Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà n­ước có thẩm quyền.

Điều 5. Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp

1. Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký th­ường trú là một trong các giấy tờ sau đây:

a) Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của công dân là một trong các giấy tờ sau đây:

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ;

– Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó);

– Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp phải cấp giấy phép);

– Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà n­ước hoặc giấy tờ về hoá giá thanh lý nhà ở thuộc sở hữu nhà n­ước;

– Hợp đồng mua nhà ở hoặc giấy tờ chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư­ xây dựng để bán;

– Giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, ph­ường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã);

– Giấy tờ về giao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình th­ương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở cho cá nhân, hộ gia đình di dân theo kế hoạch của Nhà n­ước hoặc các đối tượng khác;

– Giấy tờ của Toà án hoặc cơ quan hành chính nhà n­ước có thẩm quyền giải quyết cho đ­ược sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;

– Giấy tờ có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên;

– Giấy tờ chứng minh về đăng ký tàu, thuyền, ph­ương tiện khác thuộc quyền sở hữu và địa chỉ bến gốc của ph­ương tiện sử dụng để ở. Tr­ường hợp không có giấy đăng ký thì cần có xác nhận của Ủy ban nhân nhân dân cấp xã về việc có tàu, thuyền, ph­ương tiện khác sử dụng để ở thuộc quyền sở hữu hoặc xác nhận việc mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế tàu, thuyền, ph­ương tiện khác và địa chỉ bến gốc của ph­ương tiện đó.

b) Giấy tờ chứng minh việc cho thuê, cho m­ượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là các loại hợp đồng, cam kết cho thuê, cho m­ượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (trường hợp hợp đồng, cam kết cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà của cá nhân phải có công chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã);

c) Giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo về việc công dân có chỗ ở thuộc trư­ờng hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 Điều 26 của Luật C­ư trú;

d) Giấy tờ của cơ quan, tổ chức do thủ trư­ởng cơ quan, tổ chức ký tên, đóng dấu chứng minh về việc đ­ược cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nh­ượng nhà ở, có nhà ở tạo lập trên đất do cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức) hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã là nhà ở đó không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.

2. Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký tạm trú là một trong các giấy tờ sau đây:

a) Một trong những giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Văn bản cam kết của công dân về việc có chỗ ở thuộc quyền sử dụng của mình và không có tranh chấp về quyền sử dụng nếu không có một trong các giấy tờ quy định tại điểm a khoản này.

3. Trong trường hợp các văn bản pháp luật về nhà ở có thay đổi thì Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn cụ thể các giấy tờ khác chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú, tạm trú phù hợp với văn bản pháp luật đó.

Điều 6. Thời hạn đăng ký th­ường trú

1. Trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới, người thay đổi chỗ ở hợp pháp hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thư­ờng trú tại chỗ ở mới.

2. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của ngư­ời có sổ hộ khẩu, ng­ười đ­ược ng­ười có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ của mình hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký th­ường trú.

3. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày trẻ em đ­ược đăng ký khai sinh, cha, mẹ hoặc đại diện hộ gia đình, ng­ười nuôi d­ưỡng, chăm sóc trẻ em có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký th­ường trú cho trẻ em đó.

Điều 7. Điều kiện công dân tạm trú được đăng ký th­ường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương

1. Các tr­ường hợp sau đây đ­ược coi là tạm trú liên tục từ một năm trở lên tại thành phố trực thuộc Trung ­ương:

a) Tạm trú liên tục tại một chỗ ở tại thành phố trực thuộc Trung ­ương mà thời hạn tạm trú tại chỗ ở đó từ một năm trở lên;

b) Tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở khác nhau tại thành phố trực thuộc Trung ­ương mà thời hạn tạm trú tại tất cả các chỗ ở đó từ một năm trở lên.

2. Thời hạn tạm trú đ­ược tính từ ngày công dân đăng ký tạm trú đến ngày công dân nộp hồ sơ đăng ký th­ường trú.

3. Giấy tờ chứng minh thời hạn tạm trú là một trong các giấy tờ sau đây:

a) Giấy tờ về tạm trú có thời hạn hoặc xác nhận của Công an phư­ờng, xã, thị trấn về thời gian tạm trú trư­ớc ngày 01 tháng 7 năm 2007;

b) Sổ tạm trú hoặc xác nhận của Công an xã, ph­ường, thị trấn về thời gian đăng ký tạm trú (đối với các tr­ường hợp đăng ký tạm trú như­ng không cấp sổ tạm trú).

Điều 8. Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm

1. Ng­ười nào vi phạm quy định của pháp luật cư­ trú thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi th­ường theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư­ trú. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo.

Điều 9. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Bãi bỏ Nghị định số 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 về đăng ký và quản lý hộ khẩu và Nghị định số 108/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 về đăng ký và quản lý hộ khẩu.

Điều 10. Trách nhiệm thi hành

1. Bộ tr­ưởng Bộ Công an có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, hư­ớng dẫn  thi hành Nghị định này.

2. Các Bộ trư­ởng, Thủ tr­ưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ tr­ưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ­ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

THÔNG TIN BỔ SUNG:

Các văn bản liên quan hiệu lực:

  1. Thông tư số 11/2005/TT-BCA-C11 về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu do Bộ Công an ban hành,để hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 51/CP ngày 10/5/1997 và Nghị định số 108/2005/NĐ-CP ngày 19/8/2005 về đăng ký và quản lý hộ khẩu

Các văn bản liên quan nội dung:

  1. Nghị định số 107/2007/NĐ-CP về cư­ trú do Chính Phủ ban hành, để quy định chi tiết và h­ướng dẫn thi hành một số điều của luật cư­ trú.
  2. Luật số 81/2006/QH11 về việc cư trú do Quốc Hội ban hành
  3. Thông tư số 11/2005/TT-BCA-C11 về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu do Bộ Công an ban hành,để hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 51/CP ngày 10/5/1997 và Nghị định số 108/2005/NĐ-CP ngày 19/8/2005 về đăng ký và quản lý hộ khẩu

AI LÀ NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CAO NHẤT TRONG TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC

Bắt đầu từ ngày 1/7/2004, Luật Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) năm 2003 chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên,câu hỏi “ai là người có thẩm quyền cao nhất trong Tổng công ty nhà nước (TCT)” dường như vẫn đang là băn khoăn của nhiều vị lãnh đạo các TCT.

Theo điều 29, Luật DNNN năm 2003, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại TCT, có quyền nhân danh TCT quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của TCT. Đối với quyền của Tổng giám đốc (TGĐ), điều 38, Luật DNNN năm 2003 quy định: TGĐ là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng ngày của TCT theo mục tiêu, kế hoạch, phù hợp với Điều lệ TCT và các nghị quyết, quyết định của HĐQT.

Có thể thấy, với “quyền nhân danh” của HĐQT và quyền điều hành của TGĐ, Chủ tịch HĐQT có thể đứng ở vị trí cao nhất trong TCT. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay là chế độ làm việc của HĐQT là họp ít nhất một lần trong quý nên các nghị quyết, quyết định của HĐQT không thể được ban hành quá cụ thể hoặc quá nhiều. Trong khi đó, TGĐ không thể điều hành một cách chung chung được. TGĐ với quyền đại diện theo pháp luật của TCT tiến hành các hoạt động như ký kết, phê duyệt… những dự án trong quyền hạn của mình. Nhiều khi, trong hoạt động kinh doanh, TGĐ không thể chờ đợi những cuộc họp của HĐQT để xin ý kiến. Và những điều tiếng đã xảy ra vì cho rằng, HĐQT “hữu danh vô thực” khi mọi quyền quyết định những vấn đề cụ thể của TCT đều trong tay của TGĐ. Thậm chí, nhiều Chủ tịch HĐQT than phiền về việc chỉ đến TCT khi được mời họp HĐQT…
Thêm vào đó, tình cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong mối quan hệ giữa Chủ tịch HĐQT và TGĐ hầu như khó tránh khỏi với những TCT được tổ chức lại và Chủ tịch HĐQT được điều đến từ nơi khác. Nếu như các TCT có Chủ tịch HĐQT và TGĐ là những “người cũ”, trong đó Chủ tịch HĐQT chính là TGĐ trước đây thì mối quan hệ cấp trên, cấp dưới dường như “thuận buồm xuôi gió”ù hơn, trong khi ở những TCT không có mối quan hệ tốt này, những mâu thuẫn về việc ai là người có thẩm quyền cao nhất luôn làm cản trở hoạt động của hai vị lãnh đạo TCT này…
Thực ra, về quy định pháp luật, quyền hạn và nghĩa vụ của HĐQT cũng như TGĐ đã được làm rõ. Đặc biệt, theo lý thông thường thì người chủ sở hữu, nghĩa là người có tiền, sẽ là người có tiếng nói quyết định. Ở đây, với vai trò đại diện chủ sở hữu tại TCT, HĐQT hay một cách cụ thể hơn thì chính Chủ tịch HĐQT là người có quyền cao nhất trong TCT. Thậm chí, theo quy định, HĐQT hoàn toàn có quyền miễn nhiệm TGĐ trong trường hợp TGĐ không chấp hành nghị quyết, quyết định của HĐQT sau khi được người quyết định thành lập TCT chấp thuận. Cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước ký hợp đồng với TGĐ TCT cũng đang được Bộ Nội vụ dự thảo. Điều này có nghĩa là HĐQT không chỉ là người có tiền mà sẽ thực sự là người có quyền. Vấn đề ở đây là Chủ tịch HĐQT có đủ trình độ và bản lĩnh để điều hành TCT thông qua TGĐ hay không?

SOURCE: CÔNG TY LUẬT GIA PHẠM

NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG CỦA LUẬT SƯ VIỆT NAM BÊN THỀM HỘI NHẬP

LS. NGUYỄN VĂN CHIẾN – Trưởng VPLS Nguyễn Chiến

Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác bởi lẽ ngoài những yêu cầu về trình độ và kiến thức chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp luật sư. Đây là một nét đặc thù rất riêng của nghề luật sư và điều đó tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư.

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy của xu thế toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư; đồng thời tiếp tục thực hiện tốt Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đối với yêu cầu cấp bách đòi hỏi đất nước nhằm có một đội ngũ luật sư tài năng và đạo đức như lời của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã phát biểu tại Hội nghị tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW và triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW: “…Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà…đội ngũ luật sư cần xác định rõ vai trò, vị trí của mình để phấn đấu vươn lên không chỉ về trình độ nghề nghiệp mà còn cả trong việc giữ gìn đạo đức nghề nghiệp”. Điều đó cho thấy những vấn đề liên quan đến luật sư và tổ chức, hoạt động luật sư, đặc biệt là kỹ năng hành nghề của luật sư luôn được Đảng và nhà nước quan tâm. Theo đó, việc hành nghề của luật sư hôm nay đòi hỏi phải có sự nâng cao và đổi mới về kỹ năng hành nghề để bắt kịp những yêu cầu của tiến trình đổi mới và hội nhập. Một trong các vấn đề xin được đề cập để các luật sư chúng ta cùng suy nghĩ và trao đổi trong hội thảo hôm nay là nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư Việt Nam bên thềm hội nhập.

Có thể nhận thấy rằng trong hệ thống tư pháp của Việt Nam hiện nay đã hình thành hai loại thủ tục tố tụng cơ bản và đặc thù – đó là tố tụng hình sự và tố tụng phi hình sự bao gồm tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Điều này cho thấy khi hành nghề, các luật sư cũng tham gia tranh tụng dưới hai hình thức chủ yếu là tranh tụng trong các VAHS và tranh tụng trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động và hành chính (được gọi chung là tranh tụng trong các vụ án phi hình sự). Đối với việc luật sư tham gia tranh tụng trong các VAHS thì mục đích chủ yếu nhất và thường xuyên nhất là nhằm bào chữa cho hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở đó để Toà án có sự ghi nhận về quan điểm của luật sư mà đưa ra một bản án có lợi cho bị cáo. Ngoài ra, các luật sư có thể tham gia tranh tụng trong các VAHS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác bị xâm hại là cá nhân hay tổ chức. Tuy nhiên sự tham gia của các luật sư trong trường hợp này không đồng nhất với sự tham gia của luật sư trong các vụ án phi hình sự bởi vì cái đích của luật sư hướng tới trong quá trình tranh tụng ở các vụ án phi hình sự là quyền lợi cụ thể đương sự trên cở sở yêu cầu của đương sự cần được giải quyết trong vụ án đó. Mặc dù khác biệt như vậy nhưng các kỹ năng tranh tụng của luật sư trong vụ án hình sự hay phi hình sự đều có các bước tiến hành mang tính chuyên nghiệp và được mô thức hoá cao đối với các công việc trước khi tham gia phiên toà, trong và sau khi tham gia phiên toà các cấp.

Hiện nay, bên cạnh hoạt động trợ giúp pháp lý tham gia các phiên toà hình sự theo sự chỉ định của Toà án trong các trường hợp pháp luật hình sự quy định, nhu cầu của bị can, bị cáo cũng như các đương sự cần đến sự giúp đỡ của luật sư trong các vụ án hình sự, phi hình sự ngày càng nhiều với những yêu cầu đa dạng, không giống nhau. Chúng ta biết rằng kỹ năng của luật sư khi bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng mà có thể đánh giá được sự thành công là những tác động và ảnh hưởng của luật sư xuyên suốt trong tiến trình tố tụng để duy trì quan điểm bào chữa, quan điểm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân luật sư, từ đó làm cho Toà án có quan điểm xét xử công bằng, nghiêm minh, tuyên án có lợi tối đa cho thân chủ của mình. Do vậy, trải qua các giai đoạn từ khi khách hàng tìm đến mình – chuẩn bị tham gia phiên toà – tham gia phiên toà xét xử các cấp và sau phiên toà thì luật sư cần lưu ý những vấn đề liên quan đến kỹ năng tranh tụng như sau:

I – NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRƯỚC KHI THAM GIA PHIÊN TOÀ

Trước khi tham gia phiên toà, kỹ năng tranh tụng của luật sư thể hiện trong giai đoạn này là một khâu quan trọng, có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành công của việc bào chữa hay bảo vệ quyền lơị cho khách hàng. Có rất nhiều công việc phải làm thông qua kỹ năng tác nghiệp, hành nghề của luật sư trong giai đoạn này. Tuy nhiên trong xu hướng tranh tụng hiện nay, chúng tôi chỉ có một vài ý kiến tham gia đối với một số vấn đề cần đổi mới sau đây:

Thứ nhất, hiện nay trình độ nhận thức pháp luật của khách hàng đã có sự thay đổi nâng cao hiểu biết hơn rất nhiều do những thay đổi và các điều kiện tác động của xã hội và cộng đồng. Điều này bắt buộc các luật sư phải chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng của mình. Vẫn biết rằng người hành nghề luật sư cần am hiểu về mọi lĩnh vực pháp luật, nhưng trong xu hướng hội nhập hiện nay các vụ án hình sự và phi hình sự rất đa dạng, xuất hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống cho nên luật sư cần xác định cho mình lĩnh vực tranh tụng chuyên sâu để hành nghề. Bên thềm hội nhập, chúng ta cũng không thể đi khác với xu hướng hành nghề của các luật sư trên thế giới hiên nay. Luật sư của các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law hay Common Law đều hành nghề theo hướng chuyên môn hoá một lĩnh vực cụ thể. Ở các nước đó chúng ta không xa lạ gì khi nghe đến tên gọi “luật sư hình sự”, “luật sư về thừa kế”, “luật sư về hôn nhân & gia đình”, “luật sư về ngân hàng”, “luật sư về chứng khoán”, “luật sư về bảo hiểm”, “luật sư về bất động sản”, thậm chí có “luật sư về bồi thường thiệt hại”, “luật sư chuyên về tai nạn giao thông”….Kỹ năng hành nghề đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư sẽ tác động trực tiếp đến quyền lợi của thân chủ, bởi vậy chỉ khi luật sư nhận vụ việc có kiến thức chuyên sâu, hiểu biết tường tận, cập nhật được toàn bộ các các quy định pháp luật về một lĩnh vực cụ thể để ứng dụng chúng như một thói quen, bên cạnh đó là sự kết hợp kinh nghiệm bản thân thường xuyên tham gia tranh tụng trong các vụ án thuộc lĩnh vực cụ thể đó thì mới có thể cho phép người luật sư ấy được khách hàng đặt trọn niềm tin. Khi nhận vụ việc từ khách hàng, luật sư với kiến thức thức chuyên sâu, kinh nghiệm tranh tụng cũng đã phần nào giúp cho thân chủ nhìn thấy yêu cầu của họ sẽ được các cơ quan tư pháp giải quyết tới đâu trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành, chưa kể đến các kỹ năng tác nghiệp với các chủ thể khác liên quan khi hành nghề. Mặt khác, khách hàng của luật sư hôm nay không chỉ dừng lại là những khách hàng mang quốc tịch Việt Nam mà họ còn là khách hàng mang quốc tịch của nhiều quốc gia khác. Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, các luật sư cần chủ động, linh hoạt hoàn thiện mọi điều kiện hành nghề cần thiết cho bản thân để mở rộng đối tượng phục vụ cho mình, hướng tới phục vụ cho cả các khách hàng nước là cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Ngoài ra, bên cạnh việc chuyên môn hoá lĩnh vực pháp luật cụ thể để nâng cao kỹ năng tranh tụng, luật sư phải căn cứ vào lĩnh vực chuyên sâu hành nghề của mình là gì để đáp ứng yêu cầu cập nhật kiến thức pháp luật mới, đặc biệt là pháp luật quốc tế liên quan cũng như các kiến thức ngoại ngữ, tin học. Điều này sẽ giúp cho luật sư hướng tới cơ hội tham gia tranh tụng tốt tại các phiên toà của các vụ việc có yếu tố nước ngoài hay xét xử tại nước ngoài. Xu hướng hội nhập buộc các luật sư trẻ của chúng ta phải tự hoàn thiện đầy đủ các kiến thức chuyên môn cũng như khả năng ngoại ngữ, tin học để tự tin hành nghề, độc lập tranh tụng tại bất cứ đâu, cho dù nơi xét xử nằm ngoài biên giới Việt Nam. Chúng ta sẽ không thể có các luật sư tranh tụng các vụ kiện kinh doanh – thương mại giỏi trên thương trường quốc tế nếu luật sư của chúng ta không có khả năng ngoại ngữ lưu loát khi tranh tụng, không hiểu biết về quy tắc UNCITRAL, về pháp luật của WTO liên quan tới GATT, GATS, TRIMS, TRIPS…cũng như pháp luật của các nước có chủ thể tham gia tố tụng hữu quan . Ngày nay, hình ảnh nhiều luật sư sử dụng thành thạo các phần mềm ứng dụng của công nghệ thông tin như truy cập Website, gửi nhận thư điện tử, truyền dữ liệu là hình ảnh, âm thanh…..không còn xa lạ với chúng ta khi nhìn thấy họ tác nghiệp và hành nghề. Vì vậy, việc đầu tiên để các luật sư nâng cao kỹ năng tranh tụng của mình trong các vụ án hình sự hay phi hình sự là yêu cầu chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng, hoàn thiện kiến thức chuyên môn, khả năng ngoại ngữ và tin học trước khi tiếp nhận vụ việc từ khách hàng và chuẩn bị tham gia phiên toà.

Thứ hai, bên cạnh việc chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng, giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ, tin học luật sư cần phải đổi mới kỹ năng tiếp xúc và làm việc với khách hàng khi nhận bào chữa hay bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Để làm được điều này, các VPLS cần giúp cho các luật sư các Form mẫu giấy tờ rõ ràng, mang tính chuyên nghiệp, đơn giản mà không mang nặng tính hành chính để giúp cho việc giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng được nhanh chóng, thuận tiện. Bên cạnh đó, cũng cần công khai Bảng tính mức thù lao, danh sách các luật sư được chuyên môn hoá trong từng lĩnh vực tranh tụng cụ thể, tiến trình tố tụng để giải quyết yêu cầu của khách hàng để khách hàng được biết trước khi ký Hợp đồng. Kỹ năng tiếp xúc khách hàng hiện nay buộc luật sư phải kết hợp và coi khách hàng như một người cộng sự trong quá trình giải quyết vụ việc của họ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc luật sư cần có sự nhận thức mới về quan hệ giữa luật sư với khách hàng. Đã qua đi cái thời mà khách hàng chẳng hiểu biết và cũng không cần biết về vụ việc, miễn là giao “trọn gói” cho luật sư thực hiện yêu cầu giúp đỡ pháp lý của mình. Tham gia tranh tụng hôm nay, luật sư chúng ta cần phải nhận thức là chúng ta đang “hợp tác” với khách hàng chứ không phải khách hàng đang “nhờ vả” chúng ta để chúng ta cho mình cái quyền quyết định mọi thứ không cần hỏi ý kiến khách hàng ngay cả khi họ là những người trình độ văn hoá thấp, thiếu hiểu biết pháp luật. Cho nên, luật sư trong quá trình trao đổi với khách hàng cần thông tin thường xuyên về tình hình công việc luật sư đang thực hiện, đặc biệt cần phải làm cho khách hàng nhận diện bản chất của vụ việc một cách trung thực, rõ ràng. Đối với những thông tin không cần thiết có ý kiến của khách hàng hoặc được xử lý trên cơ sở luật định, cần thông qua trợ lý luật sư hoặc tự mình luật sư có thể gửi thư điện tử, fax thông báo cho họ biết; còn đối với các thông tin mới phát sinh cần có sự trao đổi trực tiếp và luật sư cần biết ý kiến, quan điểm chính thức của khách hàng thì bắt buộc luật sư phải mời khách hàng tới làm việc tại VPLS để thống nhất theo quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Cuộc sống hôm nay trong điều kiện của nền kinh tế thị trường đa thành phần, mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng trở nên rất nhạy cảm bởi một bên yêu cầu dịch vụ pháp lý và một bên thực hiện dịch vụ ấy. Nếu chúng ta không có sử đổi mới nhận thức về quan hệ của chúng ta với khách hàng và không làm tốt tinh thần “hợp tác” của mối quan hệ ấy trên cơ sở luật định thì khó tránh khỏi các vụ khách hàng khiếu nại, khởi kiện luật sư, yêu cầu luật sư bồi thường thiệt hại…mà không cần biết luật sư có lỗi hay không hoặc có hay không thiệt có thực tế!

Thứ ba, một vấn đề nữa cần được đặt ra để nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư hiện nay là đổi mới phương pháp nghiên cứu Hồ sơ vụ án và đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ. Xuất phát từ yêu cầu của thân chủ mà luật sư xác định trọng tâm công việc cho mình để tham gia tranh tụng và đi vào nghiên cứu hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, luật sư cần phải biết rút ngắn thời gian nghiên cứu hồ sơ tại cơ quan Toà án bằng việc vận dụng các phương tiện kỹ thuật như dùng máy ảnh kỹ thuật số, máy scan để tăng khoảng thời gian nghiên cứu sâu hơn tại VPLS hoặc gia đình khi có điều kiện. Khi nghiên cứu hồ sơ, đòi hỏi các luật sư của chúng ta hôm nay phải có sự thay đổi về đánh giá chứng cứ. Trong tố tụng hình sự, các cơ quan và những người tiến hành tố tụng giữa vai trò chính trong việc thu thập chứng cứ, còn trong tố tụng phi hình sự (tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính) thì đương sự lại giữ vai trò chính trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ cho cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do vậy, bằng kỹ năng của mình luật sư cần phải nhận diện đúng về chứng cứ và nguồn chứng cứ được các bên cung cấp trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, tránh tình trạng tư duy sai lầm về tố tụng “án tại hồ sơ”. Luật sư không đọc hồ sơ để viết Bài bào chữa hay Bản luận cứ bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, mà luật sư phải nhận thức đọc hồ sơ để biết mình phải làm gì cho thân chủ, để chủ động đưa ra các kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng khi cần thiết, để phiên toà xét xử không chỉ mang tính thủ tục và hình thức mà phải diễn ra trên cơ sở tranh luận công khai tại phiên toà mới có thể ra đời một bản án hay quyết định công bằng, đúng pháp luật, bảo vệ tối đa quyền lợi của thân chủ chúng ta.

Thứ tư, một vấn đề tác động đến kỹ năng tranh tụng của luật sư là nhận thức của luật sư về đường hướng giải quyết yêu cầu của thân chủ. Bên cạnh việc tuân thủ đúng quy định pháp luật nội dung và hình thức để giải quyết vụ việc thì luật sư cần có nhận thức của chính mình về đường hướng giải quyết yêu cầu khách hàng đặt ra. Luật sư tham gia tranh tụng hôm nay phải nhận thức và đổi mới tư duy về quyền con người – bởi quyền con người luôn được tôn trọng và ngày một nâng cao cho dù thân chủ chúng ta là bị cáo, người bị hại hay các đương sự. Do vậy, đối với việc tham gia tranh tụng trong VAHS luật sư đừng quá lệ thuộc vào kết luận điều tra, cáo trạng hay quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án mà có tư duy làm sao để bảo vệ thân chủ tối đa – hãy quyết định đường hướng giải quyết vụ việc trong nhận thức của luật sư trên cơ sở luật định mặc dù trước đó đã có những chứng cứ buộc tội, bất lợi cho thân chủ. Còn trong tố tụng phi hình sự, xu hướng hiện đại cho thấy các vụ án đều hướng đến vấn đề hoà giải mà không cần tới việc xét xử của Toà án. Do vậy, đối với tranh tụng phi hình sự, bên cạnh việc quan tâm và bảo vệ lợi ích tối đa cho thân chủ luật sư phải nhận diện đúng yêu cầu của thân chủ, bản chất của vụ việc để có sự đánh giá khách quan và hướng thân chủ đến với hoà giải nếu điều đó cũng là mong muốn của thân chủ, hoặc thân chủ không mong muốn nhưng việc xét xử sau này sẽ bất lưọi cho họ nếu căn cứ theo quy định pháp luật…Chúng tôi cho rằng một xã hội dân sự có nền tư pháp dân chủ, văn minh là xã hội không phải có thật nhiều các bản án được tuyên thấu tình, đạt lý mà phải là xã hội ít tranh chấp, nếu có tranh chấp thì trước tiên phải được giải quyết bằng con đường hoà giải mà các bên vẫn đạt được quyền lợi cho mình chứ không chỉ tưu duy theo lối quyền lợi của mình chỉ có thể đạt được khi có bản án có hiệu lực của cơ quan Toà án. Chúng tôi muốn gợi ý để các luật sư tranh tụng phi hình sự quan tâm và đổi mới nhận thức về vấn đề này. Điều này cũng là xu hướng chung hiện nay được giới luật sư của các nước đang phát triển coi trọng và áp dụng.

II – NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG KHI THAM GIA PHIÊN TOÀ

Kỹ năng tranh tụng của luật sư trong giai đoạn tham gia phiên toà là kết quả của kỹ năng tranh tụng được chuẩn bị chu đáo từ giai đoạn trước. Có thể nói, không có quá nhiều vấn đề về kỹ năng tranh tụng của luật sư cần bàn đến trong giai đoạn này bởi vì chủ yếu luật sư phải giải quyết tốt công việc của mình theo một trình tự tố tụng tại Toà án được pháp luật quy định. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập của đất nước, xu hướng cải cách tư pháp được Đảng và nhà nước quan tâm và quyết tâm thực hiện, chúng tôi xin được trao đổi đôi điều về kỹ năng tranh tụng của luật sư như sau:

Một là, về vấn đề hoãn phiên toà. Chúng tôi cho rằng kỹ năng tranh tụng của luật sư giỏi không nằm ở việc có thể tìm biện pháp để đưa ra nhiều lý do vắng mặt của đương sự, của luật sư….để xin hoãn phiên toà, vì sớm muộn thì phiên toà vẫn được tiến hành theo quy định pháp luật và quyền lợi của thân chủ mình vẫn được thể hiện bằng việc tuyên án của Toà án. Vấn đề hoãn phiên toà sẽ gây tốn kém thời gian, vật chất, công sức cho rất nhiều chủ thể trong đó có luật sư chúng ta. Do vậy, chúng tôi muốn các luật sư trẻ ý thức hơn về vấn đề này để phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng làm sao cho phiên toà sớm được tiến hành, không phải hoãn đi hoãn lại nhiều lần. Đây là trách nhiệm của luật sư chúng ta và trong bối cảnh đổi mới của đất nước hôm nay, mong rằng vấn đề này sẽ được giới luật sư chúng ta ghi nhận khi thực hiện kỹ năng tranh tụng của mình trong giai đoạn tham gia phiên toà.

Hai là, vấn đề tranh luận tại phiên toà. Như đã đề cập trên đây về vấn đề phải loại bỏ tư duy sai lầm của luật sư về vấn đề “án tại hồ sơ” khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nay xin trở lại với vấn đề đó bởi giữa việc nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong hồ sơ với kỹ năng tranh luận tại phiên toà có mối liên hệ rất mật thiết. Nói như vậy không có nghĩa coi việc nghiên cứu quy định pháp luật, nghiên cứu hồ sơ vụ án là phụ mà chúng tôi chỉ muốn đề cập tới vấn đề làm sao để các luật sư đừng quá lệ thuộc vào hồ sơ vụ án, không chuẩn bị tốt cho mình kỹ năng phần tranh luận công khai tại phiên toà. Xu hướng tranh tụng gần đây và đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO buộc chúng ta phải tuân thủ các cam kết quốc tế và pháp luật quốc tế, chắc chắn vấn đề tranh tụng công khai tại phiên toà sẽ là con đường xác định sự công bằng, lẽ phải để tuyên án. Do vậy, các luật sư trẻ cần phải tích cực tham gia, tham dự các phiên toà nhiều hơn để đúc kết kinh nghiệm cho mình; đồng thời ngoài việc lập sẵn cho mình kế hoạch xét hỏi, cần biết dự đoán các vấn đề cần tranh tụng công khai tại phiên toà trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ kết hợp với quan điểm bào chữa/bảo vệ của luật sư. Để làm được điều này, các luật sư trẻ cần phải giành thời gian để tự hùng biện quan điểm bào chữa hay bảo vệ của mình đối với yêu cầu của thân chủ. Kỹ năng nói, tốc độ nói, giọng nói, phong thái, tư thế đi lại tại phiên toà là những vấn đề bắt buộc luật sư phải quan tâm và xử lý tốt mới giúp luật sư tự tin. Xu hướng hiên nay, các luật sư phải đặc biệt quan tâm nhiều hơn kỹ năng của mình đối với phần tranh luận công khai tại phiên toà. Do vậy bài bào chữa hay bản luận cứ nên để dưới dạng “mở” có thể thay đổi linh hoạt cho phù hợp với diễn biến phiên toà chứ không nên theo cách chuẩn bị cổ điển “đóng” bằng cách viết sẵn để đọc và trình bày trước Hội đồng xét xử. Luật sư của các nước theo pháp luật Common Law mặc dù chịu sự điều chỉnh rất lớn của các “án lệ” trước đó, nhưng không vì thế mà họ không thể hiện tốt kỹ năng tranh luận để bảo vệ tối đa cho thân chủ mình, trái lại tại các phần tranh luận luật sư luôn là người chủ động, điều khiển phần tranh luận theo đúng mục tiêu cần đạt tới của mình. Điều này có ý nghĩa quyết định đối với việc thuyết phục Hội đồng xét xử tuyên một bản án có lợi cho thân chủ mình hơn là việc ngồi để hoàn chỉnh Bài bào chữa/Bài bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.

Ba là, về Bài bào chữa hay Bài luận cứ bảo vệ quyền lợi cho thân chủ. Chúng tôi cho rằng xã hội hôm nay là xã hội pháp quyền, do vậy pháp luật vẫn là mục tiêu tối thượng buộc các chủ thể tố tụng phải hướng tới và tuân thủ. Xu hướng trình bày luận cứ bào chữa hay bảo vệ quyền lợi cho thân chủ hiện nay nên được luật sư trình bày đơn giản, ngắn gọn, mạch lạc dựa trên các căn cứ pháp luật, chứng cứ của hồ sơ vụ án, các tình tiết mới cũng như kết quả tranh luận tại phiên toà. Do vậy luật sư không nên đề cập qua nhiều tới phạm trù đạo đức, tình cảm con người để lấy đó làm lý lẽ gỡ tội hay bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình. Luật sư vẫn quan tâm tới việc chia xẻ với khách hàng nhưng không thể coi đó là cơ sở lập luận gỡ tội hay bảo vệ khách hàng. Để làm được điều này đòi hỏi các luật sư phải ý thức được vấn đề quyết định để gỡ tội hay bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình là các cơ sở pháp lý chứ không tranh tụng theo hướng “tình cảm” con người.

Cuối cùng, về văn phong diễn đạt của luật sư trình bày tại phiên toà. Đây cũng là một vấn đề tuy nhỏ những khá ảnh hưởng tới uy tín tranh tụng của luật sư. Nhà văn Ciceron khi biên tập cuốn sách “những bài viết hay nhất” được Nhà xuất bản xã hội tại Paris, Pháp xuất bản năm 1925 có đưa ra các yêu cầu về văn phong là 05 tiêu chuẩn: trong sáng, ngắn gọn, phù hợp, rõ ràng và dễ chấp nhận. Thiết nghĩ văn phong pháp lý của luật sư chúng ta trước tiên phải đảm bảo các yêu cầu chung đó bên cạnh các yêu cầu đặc thù của nghề luật như không dùng câu từ trìu tượng, không dùng ngôn ngữ đời thường hay dung văn phong cảm thán, khoa trương. Chúng tôi có điều kiện tham gia tranh tụng tại khá nhiều phiên toà hình sự và không ít lần được nghe một số luật sư trẻ trình bày luận cứ gỡ tội với cách gọi hơi thái quá, chẳng hạn “Vị đại diện VKS kính mến” hay “Hội đồng xét xử công minh”, “Bà hội thẩm tài ba” hay có những luật sư đưa ra nhận định rằng “lập luận của vị đại diện VKS là vô cùng trong sáng, vô tư…”!(?) …Thú thực lời lẽ của luật sư đó khi trình bày cho người nghe cảm giác thấy khó nghe và phản cảm bởi khi ở phiên toà, chúng ta hành nghề luật và hãy biết nói với nhau bằng luật và chỉ có vậy mới khẳng định được kỹ năng tranh tụng của luật sư. Để nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư tại phiên toà, thiết nghĩ cũng cần lưu tâm nhiều hơn nữa đến vấn đề mà chúng tôi đề cập trên đây.

III – NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG SAU PHIÊN TOÀ

Phần cuối, chúng tôi muốn đề cập tới kỹ năng của luật sư sau phiên toà – đây cũng là một nội dung rất có ý nghĩa và làm nổi bật vai trò cũng như kỹ năng tranh tụng của luật sư.

Trước hết, nói về Biên bản phiên toà. Hiện nay trong công cuộc cải cách tư pháp, các cơ quan và những người tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng để giải quyết các vụ việc một cách cẩn trọng, công minh và phù hợp. Theo đó, các công việc và thủ tục hành chính của họ có hướng mở hơn, không cứng nhắc, lệ thuộc như trước. Biên bản phiên toà là một trong những văn bản cho phép những người tham gia tố tụng khẳng định quyền của mình. Luật sư Việt Nam chúng ta ít có thói quen xem và bổ sung, kiến nghị sửa đổi Biên bản phiên toà, trong khi đối với luật sư các nước khác đây là văn bản quan trọng nhất khẳng định các quyền còn lại của thân chủ họ sau khi tuyên án. Bởi vậy, theo xu hướng hội nhập hôm nay, chúng tôi muốn trao đổi vấn đề nay để các luật sư chúng ta, đặc biệt là các luật sư trẻ mới hành nghề cần phát huy tối đa quyền của những người tham gia tố tụng để xin phép Toà án xem Biên bản phiên toà sau khi tuyên án. Hãy làm cho nó trở thành thói quen để buộc những người tiến hành tố tụng phải tuân thủ và bảo đảm việc ghi Biên bản phiên toà một cách trung thực, đầy đủ tránh ảnh hưởng tới lợi ích của thân chủ chúng ta.

Sau cùng, xin được bàn về quan hệ của luật sư với thân chủ sau phiên toà, các luật sư trẻ cần chú ý kỹ năng tiếp xúc khách hàng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ công việc luật sư thực hiện trên cơ sở Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký mà luật sư còn phải lưu tâm tới yếu tố tình cảm con người, lòng yêu thương đồng loại. Luật sư có kỹ năng tranh tụng giỏi hôm nay không chỉ là luật sư giỏi luật, bào chữa/bảo vệ hay, thuyết phục được Toà án ra bản án công bằng đảm bảo quyền lợi cho thân chủ mình mà luật sư còn phải biết chia xẻ với khách hàng sau xét xử. Về mặt pháp lý, Hợp đồng dịch vụ pháp lý được thanh lý đồng nghĩa với việc luật sư hoàn thành trách nhiệm của mình với thân chủ nhưng về mặt tình cảm, hợp đồng ấy còn đọng lại nơi khách hàng những ấn tượng về luật sư. Do vậy, nếu luật sư có thể hướng dẫn cho họ biết cách làm đơn kháng cáo, hướng dẫn cách thăm nuôi cho gia đình họ, tôn trọng và bảo đảm việc giữ bí mật cho khách hàng, giới thiệu những đồng nghiệp là các luật sư giởi chuyên sâu trong các vấn đề mới phát sinh mà luật sư nhận thấy mình không đáp ứng tốt được yêu cầu mới của thân chủ…thì chắc chắn quan hệ giữa luật sư chúng ta và khách hàng sẽ bền lâu và họ luôn coi chúng ta là người đầu tiên họ tìm đến khi cần giúp đỡ về các vấn đề pháp lý. Do vậy, trước những thay đổi của xã hội chúng ta bên thềm hội nhập, việc nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư không chỉ ở góc độ chuyên môn, kỹ năng hành nghề mà còn phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của luật sư với thân chủ ngay cả khi đã hoàn thành công việc luật sư đằng sau phiên toà. Điều này chỉ có thể đạt được trên cơ sở tôn trọng truyền thống đạo đức con người Việt Nam, có tình thương đồng loại và ý thức cộng đồng của luật sư. Nói điều này có thể ai đó sẽ nghĩ là sáo rỗng, nhưng thực tế cuộc sống đặt ra cho chúng ta phải nhận thức để hành động như vậy, bởi lẽ không luật sư nào mong muốn khách hàng quay lưng lại với luật sư và không có luật sư nào đang tâm quay lưng lại với khách hàng, cho dù họ là ai.

SOURCE: ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Minh bạch hóa pháp luật, công khai các phán quyết của tòa án TRONG TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI & THỰC TRẠNG CỦA VIỆT NAM

LS. PHẠM VĂN PHAI – Trưởng Văn phòng luật sư Bắc Hà

Tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO), bất kỳ Thành viên nào cũng phải tuân thủ nghĩa vụ về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” đã được cam kết trong các Hiệp định của (WTO).
Điều 10 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) chỉ ra rằng các luật, quy tắc, quyết định pháp luật và quy tắc hành chính có hiệu lực chung, được bất kỳ bên ký kết nào áp dụng sẽ được công bố khẩn trương bằng cách nào đó để các chính phủ hay các doanh nhân biết.

Điều 63 (1) của Hiệp định về các khía cạnh sở hữu trí tuệ (TRIPs là một Hiệp định nằm trong khuôn khổ WTO) quy định: “Các luật và các quy định, các quyết định xét xử và các quyết định hành chính cuối cùng có tính áp dụng chung, do Thành viên ban hành, liên quan đến đối tượng của Hiệp định này (khả năng đạt được, phạm vi, việc đạt được, thực thi và ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ) phải được công bố, hoặc nếu việc công bố không có khả năng thực hiện, phải tiếp cận được một cách công khai, bằng ngôn ngữ quốc gia, theo cách thức để các Chính phủ và những người nắm quyền có thể biết rõ về các Văn bản đó”.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên cứu về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết, quyết định của Toà án” để vận dụng trong việc thực thi các nghĩa vụ đã cam kết khi Việt Nam trở thành Thành viên của WTO, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các quyết định, bản án của Toà án” được quy định trong WTO và tầm quan trọng của về vấn đề này đối với các quốc gia thành viên nói chung và với Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

1. Minh bạch hoá pháp luật:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Nghiên cứu những đặc điểm và mối quan hệ giữa pháp luật và các nhân tố khác trong xã hội, chúng ta có thể thấy pháp luật có vai trò quan trọng trên các bình diện (i) Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước (ii) Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế xã hội (iii) Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới (iv) Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.

Vì vậy, “Minh bạch hoá pháp luật” có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó giúp cho các đối tượng bị tác động bởi các luật pháp đó nắm vững, hiểu được pháp luật để áp dụng, tránh những tranh chấp có thể xảy ra. “Minh bạch hoá pháp luật” là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin và là cơ sở để mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế. Nhờ đó mà nhà nước quản lý xã hội một cách tốt hơn, môi trường đầu tư thông thoáng hơn, đẩy mạnh tăng trưởng đầu tư, tăng việc làm, thúc đẩy lưu thông hàng hoá và dịch vụ và cơ cấu lại nền kinh tế đất nước.
Trong nhà nước pháp quyền, “Minh bạch pháp luật” còn là nguyên tắc cơ bản trong quá trình lập pháp và hành pháp, theo nguyên tắc này thì “Pháp luật phải được công chúng biết trước, ổn định theo thời gian, rõ ràng và không mập mờ và được áp dụng một cách thống nhất và không tùy tiện bởi một hội đồng xét xử độc lập và quyết định đưa ra sẽ được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp”.

Ở chừng mực mỗi quốc gia thành viên cho phép, “Minh bạch hoá pháp luật” còn giúp cho công dân và pháp nhân của các quóc gia thành viên khác góp ý kiến trong việc xây dựng luật và các văn bản luật liên quan đến hoạt động đầu tư, thương mại và sở hữu trí tuệ.

2. Công khai các phán quyết của Tòa án.

Trong khuôn khổ WTO, tất cả các quốc gia thành viên đều phải tuân thủ các quy định về công bố các phán quyết, quyết định của Toà án. Công bố các phán quyết, quyết định của Toà án nhằm công khai hoá toàn văn các phán quyết, quyết định của Toà án dưới dạng ấn phẩm hay internet hoặc dưới dạng cả hai phương tiện đến toàn thể công chúng, từ đó công chúng và các quan chức chính phủ có thể thấy được cách thức của Toà án áp dụng luật trong vụ án cụ thể.

Trong WTO, ở các quốc gia thành viên, Toà án đóng vai trò chính trong hệ thống luật pháp. Điều này được WTO ghi nhận và cụ thể hoá chúng trong điều 63 của TRIPs và điều 10 của GATT.
Đối với các quốc gia áp dụng hệ thống thông luật (Common Law) theo thuyết Án lệ bắt buộc, các quyết định của Toà án cấp phúc thẩm đều được coi là nguồn luật mà Toà án sử dụng các bản án trong các vụ án trước để áp dụng cho các vụ án tương tự sau này. Vì vậy, việc công bố các bản án, quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa quan trọng như công bố pháp luật.

Đối với các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), việc công bố các bản án quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Để minh hoạ cho những lợi ích to lớn mà việc công bố các bản án, quyết định của Toà án mang lại cho một nền kinh tế, dù là quốc gia áp dụng hệ thống thông luật hay áp dụng hệ thống dân luật, chúng tôi viện dẫn 7 tác dụng dưới đây của nó đã được ngài Virginia Wise, Giảng viên luật, Trường luật Harward tổng kết trong Báo cáo về thực tế công bố các quyết định của Toà án ở một số nước điển hình và một số đề xuất với Việt Nam trong Dự án Star – Việt Nam tháng 12 năm 2001.

  1. Cải thiện khả năng lập luận và soạn thảo quyết định.
  2. Cải thiện chất lượng “hồ sơ xét xử” và từ đó nâng cao chất lượng của việc xem xét (phúc thẩm) theo thủ tục pháp lý.
  3. Tăng hiệu quả của hệ thống tư pháp và tránh việc khiếu kiện lại những vấn đề Toà án đã ra quyết định.
  4. Hỗ trợ các chức năng giáo dục và đào tạo.
  5. Hỗ trợ việc áp dụng luật một cách đồng bộ, nhất quán (không tuỳ tiện) và có thể dự đoán được trên cả nước ở mọi thời điểm.
  6. Trợ giúp tìm kiếm và sửa chữa các vấn đề, làm rõ các vấn đề còn mơ hồ, giải quyết các điểm chưa thống nhất và giảm bớt các kết quả không lường trước trong khi áp dụng luật.
  7. Tăng cường công khai và rừ đó tăng được sự tự tin và tín nhiệm vào hệ thống Toà án.

Với những ý nghĩa trên đây, “Minh bạch hoá pháp luật, công bố công khai các phán quyết của Toà án” trong môi trường đầu tư và thương mại quốc tế có tác dụng to lớn không chỉ đối với các chủ thể tham gia vào các giao dịch quốc tế mà còn có tác dụng ngay cả với những thẩm phán của Toà án, nó hạn chế được sự tuỳ tiện hoặc lạm dụng của cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền thực thi pháp luật từ đó hạn chế được sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế trong việc áp dụng pháp luật.

Tóm lại, thực hiện cam kết “Minh bạch hoá pháp luật, công khai phán quyết của Toà án” không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng môi trường pháp lý ổn định và dễ dự đoán cho các chủ thể thực hiện các giao dịch quốc tế mà còn có ý nghĩa khẳng định việc tuân thủ những nghĩa vụ đã được cam kết trong các Hiệp định quốc tế từ đó làm tăng giá trị thực tiễn của các cam kết mà các bên ký kết đã chấp thuận trong các Hiệp định đó.

Để đảm bảo cho cơ chế này được thực thi, WTO quy định cơ chế kiểm điểm chính sách đã cam kết trong các điều ước mà họ tham gia, theo đó hàng năm các quốc gia thành viên phải kiểm điểm việc tuân thủ các yêu cầu của WTO đồng thời củng cố lại hệ thống pháp luật, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thành viên nhằm làm cho chúng phù hợp và tương thích với những quy định trong WTO và thông lệ quốc tế.

3. Thực trạng về “Minh bạch hoá và công khai các phán quyết của Toà án” tại Việt Nam

Trong những thập kỷ qua của thế kỷ XX, Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường bằng việc thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế thông qua việc thúc đẩy tự do hoá thương mại khu vực và tham gia các liên kết kinh tế trong khu vực châu lục cũng như trên thế giới như: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1994, tham gia sáng lập Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1997. Đồng thời với việc gia nhập các liên kết kinh tế, Việt Nam cũng đã ký kết nhiều Hiệp định thương mại song phương với 86 nước, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, ký Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 46 nước, ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 40 nước.

Trong các liên kết kinh tế và các Hiệp định song phương mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết, “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” cũng được quy định trong các liên kết kinh tế và trong các Hiệp định. Cụ thể, APEC quy định về nguyên tắc đảm bảo công khai minh bạch hoá “Mội luật lệ, chính sách hiện hành tại các quốc gia thành viên trong APEC phải được công khai minh bạch hoá, phải đảm bảo tính trong sáng của các luật lệ chính sách”. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) Chương VI điều 1 quy định: “Mỗi bên công bố một cách định kỳ và kịp thời tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung, liên quan đến bất kỳ vấn đề nào được quy định trong Hiệp định này…” , điều 6 quy định : “Các bên điều hành một cách thống nhất , vô tư và hợp lý tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung của mình thuộc tất cả các loại được nêu tại khoản 1 điều của điều này”. Khoản 3 điều 11 Chương II về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định cũng quy định rất cụ thể về việc cung cấp các phán quyết của Toà án cho các bên trong vụ kiện.

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy Nhà nước Việt Nam đã tích cực thực hiện các nghĩa vụ cũng như những cam kết về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” bằng việc đăng tải một cách công khai các luật, văn bản luật trên các phương tiện như Công báo và cơ sở dữ liệu luật của Quốc hội (lawdata). Ngoài việc công bố công khai các luật và văn bản pháp luật Việt Nam còn chuyển các dự thảo luật cho nhân dân lấy ý kiến trước khi các dự luật được Quốc hội chính thức thông qua và ban hành. Kết quả của “Minh bạch hoá pháp luật” đã cho phép Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong việc phát triển nền kinh tế bền vững, thúc đẩy đầu tư, thương mại và dịch vụ. Một trong những thành tựu quan trọng mà Việt Nam đạt được là năm 2006 Việt Nam đã thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 10,2 tỷ Đô la Mỹ.

Cùng với “Minh bạch hoá pháp luật”, Tuy bị hạn chế về kỹ thuật và năng lực tài chính nhưng Ngành Toà án Việt Nam đã đăng tải hai tập các Bản án và Quyết định của Toà án cấp cao nhất năm 2003 – 2004. Việc đăng tải các bản án này của Ngành Toà án đã có tác dụng tích cực đối với xã hội nói chung và phát huy tác dụng đối với các thẩm phán, các luật sư, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà làm luật, cán bộ giảng dạy trong các cơ sở đào tạo nói riêng và giúp cho Việt Nam phát triển Án lệ trong quá trình hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới.

“Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” trong thời gian qua đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, là tiền đề cho việc thực hiện chỉ thị “Từng bước thực hiện công khai các bản án….” trong Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO./. Continue reading

MINH BẠCH HOÁ PHÁP LUẬT, CÔNG KHAI CÁC PHÁN QUYẾT CỦA TOÀ ÁN TRONG TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI & THỰC TRẠNG CỦA VIỆT NAM

LS. PHẠM VĂN PHAI – Trưởng Văn phòng luật sư Bắc Hà

Tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO), bất kỳ Thành viên nào cũng phải tuân thủ nghĩa vụ về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” đã được cam kết trong các Hiệp định của (WTO).
Điều 10 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) chỉ ra rằng các luật, quy tắc, quyết định pháp luật và quy tắc hành chính có hiệu lực chung, được bất kỳ bên ký kết nào áp dụng sẽ được công bố khẩn trương bằng cách nào đó để các chính phủ hay các doanh nhân biết.

Điều 63 (1) của Hiệp định về các khía cạnh sở hữu trí tuệ (TRIPs là một Hiệp định nằm trong khuôn khổ WTO) quy định: “Các luật và các quy định, các quyết định xét xử và các quyết định hành chính cuối cùng có tính áp dụng chung, do Thành viên ban hành, liên quan đến đối tượng của Hiệp định này (khả năng đạt được, phạm vi, việc đạt được, thực thi và ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ) phải được công bố, hoặc nếu việc công bố không có khả năng thực hiện, phải tiếp cận được một cách công khai, bằng ngôn ngữ quốc gia, theo cách thức để các Chính phủ và những người nắm quyền có thể biết rõ về các Văn bản đó”.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên cứu về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết, quyết định của Toà án” để vận dụng trong việc thực thi các nghĩa vụ đã cam kết khi Việt Nam trở thành Thành viên của WTO, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các quyết định, bản án của Toà án” được quy định trong WTO và tầm quan trọng của về vấn đề này đối với các quốc gia thành viên nói chung và với Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

1. Minh bạch hoá pháp luật:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Nghiên cứu những đặc điểm và mối quan hệ giữa pháp luật và các nhân tố khác trong xã hội, chúng ta có thể thấy pháp luật có vai trò quan trọng trên các bình diện (i) Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước (ii) Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế xã hội (iii) Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới (iv) Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.

Vì vậy, “Minh bạch hoá pháp luật” có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó giúp cho các đối tượng bị tác động bởi các luật pháp đó nắm vững, hiểu được pháp luật để áp dụng, tránh những tranh chấp có thể xảy ra. “Minh bạch hoá pháp luật” là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin và là cơ sở để mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế. Nhờ đó mà nhà nước quản lý xã hội một cách tốt hơn, môi trường đầu tư thông thoáng hơn, đẩy mạnh tăng trưởng đầu tư, tăng việc làm, thúc đẩy lưu thông hàng hoá và dịch vụ và cơ cấu lại nền kinh tế đất nước.
Trong nhà nước pháp quyền, “Minh bạch pháp luật” còn là nguyên tắc cơ bản trong quá trình lập pháp và hành pháp, theo nguyên tắc này thì “Pháp luật phải được công chúng biết trước, ổn định theo thời gian, rõ ràng và không mập mờ và được áp dụng một cách thống nhất và không tùy tiện bởi một hội đồng xét xử độc lập và quyết định đưa ra sẽ được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp”.

Ở chừng mực mỗi quốc gia thành viên cho phép, “Minh bạch hoá pháp luật” còn giúp cho công dân và pháp nhân của các quóc gia thành viên khác góp ý kiến trong việc xây dựng luật và các văn bản luật liên quan đến hoạt động đầu tư, thương mại và sở hữu trí tuệ.

2. Công khai các phán quyết của Tòa án.

Trong khuôn khổ WTO, tất cả các quốc gia thành viên đều phải tuân thủ các quy định về công bố các phán quyết, quyết định của Toà án. Công bố các phán quyết, quyết định của Toà án nhằm công khai hoá toàn văn các phán quyết, quyết định của Toà án dưới dạng ấn phẩm hay internet hoặc dưới dạng cả hai phương tiện đến toàn thể công chúng, từ đó công chúng và các quan chức chính phủ có thể thấy được cách thức của Toà án áp dụng luật trong vụ án cụ thể.

Trong WTO, ở các quốc gia thành viên, Toà án đóng vai trò chính trong hệ thống luật pháp. Điều này được WTO ghi nhận và cụ thể hoá chúng trong điều 63 của TRIPs và điều 10 của GATT.
Đối với các quốc gia áp dụng hệ thống thông luật (Common Law) theo thuyết Án lệ bắt buộc, các quyết định của Toà án cấp phúc thẩm đều được coi là nguồn luật mà Toà án sử dụng các bản án trong các vụ án trước để áp dụng cho các vụ án tương tự sau này. Vì vậy, việc công bố các bản án, quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa quan trọng như công bố pháp luật.

Đối với các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), việc công bố các bản án quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Để minh hoạ cho những lợi ích to lớn mà việc công bố các bản án, quyết định của Toà án mang lại cho một nền kinh tế, dù là quốc gia áp dụng hệ thống thông luật hay áp dụng hệ thống dân luật, chúng tôi viện dẫn 7 tác dụng dưới đây của nó đã được ngài Virginia Wise, Giảng viên luật, Trường luật Harward tổng kết trong Báo cáo về thực tế công bố các quyết định của Toà án ở một số nước điển hình và một số đề xuất với Việt Nam trong Dự án Star – Việt Nam tháng 12 năm 2001.

  1. Cải thiện khả năng lập luận và soạn thảo quyết định.
  2. Cải thiện chất lượng “hồ sơ xét xử” và từ đó nâng cao chất lượng của việc xem xét (phúc thẩm) theo thủ tục pháp lý.
  3. Tăng hiệu quả của hệ thống tư pháp và tránh việc khiếu kiện lại những vấn đề Toà án đã ra quyết định.
  4. Hỗ trợ các chức năng giáo dục và đào tạo.
  5. Hỗ trợ việc áp dụng luật một cách đồng bộ, nhất quán (không tuỳ tiện) và có thể dự đoán được trên cả nước ở mọi thời điểm.
  6. Trợ giúp tìm kiếm và sửa chữa các vấn đề, làm rõ các vấn đề còn mơ hồ, giải quyết các điểm chưa thống nhất và giảm bớt các kết quả không lường trước trong khi áp dụng luật.
  7. Tăng cường công khai và rừ đó tăng được sự tự tin và tín nhiệm vào hệ thống Toà án.

Với những ý nghĩa trên đây, “Minh bạch hoá pháp luật, công bố công khai các phán quyết của Toà án” trong môi trường đầu tư và thương mại quốc tế có tác dụng to lớn không chỉ đối với các chủ thể tham gia vào các giao dịch quốc tế mà còn có tác dụng ngay cả với những thẩm phán của Toà án, nó hạn chế được sự tuỳ tiện hoặc lạm dụng của cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền thực thi pháp luật từ đó hạn chế được sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế trong việc áp dụng pháp luật.

Tóm lại, thực hiện cam kết “Minh bạch hoá pháp luật, công khai phán quyết của Toà án” không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng môi trường pháp lý ổn định và dễ dự đoán cho các chủ thể thực hiện các giao dịch quốc tế mà còn có ý nghĩa khẳng định việc tuân thủ những nghĩa vụ đã được cam kết trong các Hiệp định quốc tế từ đó làm tăng giá trị thực tiễn của các cam kết mà các bên ký kết đã chấp thuận trong các Hiệp định đó.

Để đảm bảo cho cơ chế này được thực thi, WTO quy định cơ chế kiểm điểm chính sách đã cam kết trong các điều ước mà họ tham gia, theo đó hàng năm các quốc gia thành viên phải kiểm điểm việc tuân thủ các yêu cầu của WTO đồng thời củng cố lại hệ thống pháp luật, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thành viên nhằm làm cho chúng phù hợp và tương thích với những quy định trong WTO và thông lệ quốc tế.

3. Thực trạng về “Minh bạch hoá và công khai các phán quyết của Toà án” tại Việt Nam

Trong những thập kỷ qua của thế kỷ XX, Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường bằng việc thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế thông qua việc thúc đẩy tự do hoá thương mại khu vực và tham gia các liên kết kinh tế trong khu vực châu lục cũng như trên thế giới như: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1994, tham gia sáng lập Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1997. Đồng thời với việc gia nhập các liên kết kinh tế, Việt Nam cũng đã ký kết nhiều Hiệp định thương mại song phương với 86 nước, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, ký Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 46 nước, ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 40 nước.

Trong các liên kết kinh tế và các Hiệp định song phương mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết, “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” cũng được quy định trong các liên kết kinh tế và trong các Hiệp định. Cụ thể, APEC quy định về nguyên tắc đảm bảo công khai minh bạch hoá “Mội luật lệ, chính sách hiện hành tại các quốc gia thành viên trong APEC phải được công khai minh bạch hoá, phải đảm bảo tính trong sáng của các luật lệ chính sách”. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) Chương VI điều 1 quy định: “Mỗi bên công bố một cách định kỳ và kịp thời tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung, liên quan đến bất kỳ vấn đề nào được quy định trong Hiệp định này…” , điều 6 quy định : “Các bên điều hành một cách thống nhất , vô tư và hợp lý tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung của mình thuộc tất cả các loại được nêu tại khoản 1 điều của điều này”. Khoản 3 điều 11 Chương II về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định cũng quy định rất cụ thể về việc cung cấp các phán quyết của Toà án cho các bên trong vụ kiện.

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy Nhà nước Việt Nam đã tích cực thực hiện các nghĩa vụ cũng như những cam kết về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” bằng việc đăng tải một cách công khai các luật, văn bản luật trên các phương tiện như Công báo và cơ sở dữ liệu luật của Quốc hội (lawdata). Ngoài việc công bố công khai các luật và văn bản pháp luật Việt Nam còn chuyển các dự thảo luật cho nhân dân lấy ý kiến trước khi các dự luật được Quốc hội chính thức thông qua và ban hành. Kết quả của “Minh bạch hoá pháp luật” đã cho phép Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong việc phát triển nền kinh tế bền vững, thúc đẩy đầu tư, thương mại và dịch vụ. Một trong những thành tựu quan trọng mà Việt Nam đạt được là năm 2006 Việt Nam đã thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 10,2 tỷ Đô la Mỹ.

Cùng với “Minh bạch hoá pháp luật”, Tuy bị hạn chế về kỹ thuật và năng lực tài chính nhưng Ngành Toà án Việt Nam đã đăng tải hai tập các Bản án và Quyết định của Toà án cấp cao nhất năm 2003 – 2004. Việc đăng tải các bản án này của Ngành Toà án đã có tác dụng tích cực đối với xã hội nói chung và phát huy tác dụng đối với các thẩm phán, các luật sư, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà làm luật, cán bộ giảng dạy trong các cơ sở đào tạo nói riêng và giúp cho Việt Nam phát triển Án lệ trong quá trình hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới.

“Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” trong thời gian qua đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, là tiền đề cho việc thực hiện chỉ thị “Từng bước thực hiện công khai các bản án….” trong Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO./.

source: ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

Nên hiểu và sử dụng “THUẬT NGỮ” NHƯ THẾ NÀO?

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ “Thương hiệu”. Các từ điển tiếng Việt được ấn hành tại miền Bắc trước đây và ở Việt Nam từ 1975 tới nay đều không có từ “thương hiệu”. Có lẽ chỉ duy nhất có “Từ điển Việt Nam” do Thanh Nghị soạn mới có từ này và được giải nghĩa như sau, “Thương hiệu” là tên của hiệu buôn. Thuật ngữ “thương hiệu” cũng được sử dụng trong một số văn bản luật của chế độ cũ (Ví dụ: ngày 1/4/1952 của Bảo Đại quy định các nhãn hiệu; Luật số 13/57 ngày 1/8/1957 của Ngô Đình Diệm quy định về nhãn hiệu chế độ và thương hiệu). Trong cả hai văn bản này, “thương hiệu” được dùng để chỉ “nhãn hiệu thương phẩm” hay “nhãn hiệu chế tạo” và được gọi chung là “nhãn hiệu”.

Đối chiếu với các văn bản pháp luật, có thể thấy rằng có 4 loại đối tượng khác nhau đã được quy định rõ, đó là: Nhãn hiệu hàng hoá (hay “nhãn hiệu”) được nêu trong nghị định 1797/HĐBT ngày 14/2/1982, sau đó là pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989, Bộ luật dân sự năm 1995, NĐ 63/CP ngày 24/10/1996… dùng để chỉ dấu hiệu (“hiệu”) nhằm phân biệt hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ được gắn lên hàng hoá, sản phẩm, phương tiện dịch vụ (“nhãn”). Thuộc về lĩnh vực này có Vinataba, Trung Nguyên, Coca Cola, Song… Tên gọi xuất xứ hàng hoá (cũng được nêu trong các văn bản trên) dung để chỉ các địa danh, nơi xuất xứ hàng hoá đặc thù; Ví dụ: Phú Quốc (nước mắm), Tân Cương (Chè)… Chỉ dẫn địa lý của hàng hoá (được nêu trong NĐ số 54/2000/NĐ-CP ngày 6/3/2000) dùng để chỉ các địa danh hoặc biểu tượng của một vùng địa lý, nơi xuất xứ các hàng hoá có uy tín (kể cả hàng hoá đặc thù), Ví dụ như Phúc Trạch (Bưởi), Hưng Yên (Nhãn), Hà Nội (bia)… Tên thương mại (được nêu trong NĐ 4/2000 NĐ-CP ngày 6/3/2000) được dùng để chỉ tên Công ty, DN, ví dụ Vinataba, Vietnam Petro…

Phải phân biệt 4 loại đối tượng khác nhau như trên, bởi lẽ chúng khác nhau về chức năng, công dụng cũng như về cách đối xử của pháp luật. Sự phân biệt như trên là tập quán quốc tế. Các điều ước Paris về SHCN, Hiệp định TRIPS-WTO; Hiệp định thương mại Việt -Mỹ. Hiệp định Việt Nam -Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ cũng đều để cập đến các đối tượng trên với tên tương  ứng: Trandemark of origin -tên gọi xuất xứ hàng hoá. Geographical in dication -chỉ dẫn địa lý; Tradename -tên thương mại.

(Nguồn Bộ KH – CN)

NÊN HIỂU VÀ SỬ DỤNG “THUẬT NGỮ” NHƯ THẾ NÀO?

   Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ “Thương hiệu”. Các từ điển tiếng Việt được ấn hành tại miền Bắc trước đây và ở Việt Nam từ 1975 tới nay đều không có từ “thương hiệu”. Có lẽ chỉ duy nhất có “Từ điển Việt Nam” do Thanh Nghị soạn mới có từ này và được giải nghĩa như sau, “Thương hiệu” là tên của hiệu buôn. Thuật ngữ “thương hiệu” cũng được sử dụng trong một số văn bản luật của chế độ cũ (Ví dụ: ngày 1/4/1952 của Bảo Đại quy định các nhãn hiệu; Luật số 13/57 ngày 1/8/1957 của Ngô Đình Diệm quy định về nhãn hiệu chế độ và thương hiệu). Trong cả hai văn bản này, “thương hiệu” được dùng để chỉ “nhãn hiệu thương phẩm” hay “nhãn hiệu chế tạo” và được gọi chung là “nhãn hiệu”.

    Đối chiếu với các văn bản pháp luật, có thể thấy rằng có 4 loại đối tượng khác nhau đã được quy định rõ, đó là: Nhãn hiệu hàng hoá (hay “nhãn hiệu”) được nêu trong nghị định 1797/HĐBT ngày 14/2/1982, sau đó là pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989, Bộ luật dân sự năm 1995, NĐ 63/CP ngày 24/10/1996… dùng để chỉ dấu hiệu (“hiệu”) nhằm phân biệt hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ được gắn lên hàng hoá, sản phẩm, phương tiện dịch vụ (“nhãn”). Thuộc về lĩnh vực này có Vinataba, Trung Nguyên, Coca Cola, Song… Tên gọi xuất xứ hàng hoá (cũng được nêu trong các văn bản trên) dung để chỉ các địa danh, nơi xuất xứ hàng hoá đặc thù; Ví dụ: Phú Quốc (nước mắm), Tân Cương (Chè)… Chỉ dẫn địa lý của hàng hoá (được nêu trong NĐ số 54/2000/NĐ-CP ngày 6/3/2000) dùng để chỉ các địa danh hoặc biểu tượng của một vùng địa lý, nơi xuất xứ các hàng hoá có uy tín (kể cả hàng hoá đặc thù), Ví dụ như Phúc Trạch (Bưởi), Hưng Yên (Nhãn), Hà Nội (bia)… Tên thương mại (được nêu trong NĐ 4/2000 NĐ-CP ngày 6/3/2000) được dùng để chỉ tên Công ty, DN, ví dụ Vinataba, Vietnam Petro…

Phải phân biệt 4 loại đối tượng khác nhau như trên, bởi lẽ chúng khác nhau về chức năng, công dụng cũng như về cách đối xử của pháp luật. Sự phân biệt như trên là tập quán quốc tế. Các điều ước Paris về SHCN, Hiệp định TRIPS-WTO; Hiệp định thương mại Việt -Mỹ. Hiệp định Việt Nam -Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ cũng đều để cập đến các đối tượng trên với tên tương  ứng: Trandemark of origin -tên gọi xuất xứ hàng hoá. Geographical in dication -chỉ dẫn địa lý; Tradename -tên thương mại.

(Nguồn Bộ KH – CN)

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

DỰ THẢO ngày 05 tháng 9 năm 2007

NGHỊ ĐỊNH

Về chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ

_____________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong các cơ quan nhà nước sau:

a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

b) Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã;

c) Văn phòng Quốc Hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng;

d) Tòa án nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;

đ) Cơ quan đại diện nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam ở nước ngoài;

e) Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

2. Những người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này cũng phải thực hiện chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

1. ”Chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức”: là các quy định của Nhà nước yêu cầu cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ phải làm và những việc cán bộ, công chức không được làm, nếu cán bộ, công chức vi phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2. ”Nhiệm vụ, công vụ”: là những hoạt động do cán bộ, công chức, viên chức tiến hành theo quy định của pháp luật được cấp có thẩm quyền phân công.

Điều 3. Căn cứ xác định trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

1. Nghĩa vụ và những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm quy định tại Pháp lệnh cán bộ, công chức;

2. Chức trách, nhiệm vụ cụ thể và quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền giao và phân công;

3. Nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Nghị định này.

Điều 4. Các hình thức trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có hành vi vi phạm

1. Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ phải chịu một hoặc nhiều hình thức trách nhiệm sau đây:

a) Trách nhiệm kỷ luật;

b) Trách nhiệm dân sự;

c) Trách nhiệm vật chất;

d) Trách nhiệm hình sự;

đ) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

2. Trách nhiệm kỷ luật: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải bị xử lý kỷ luật theo các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

3. Trách nhiệm dân sự: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị đến mức phải chịu trách nhiệm dân sự thì ngoài việc xử lý kỷ luật phải bị xử lý về trách nhiệm dân sự. Việc xử lý trách nhiệm dân sự đối với cán bộ, công chức, viên chức phải tuân theo quy định của pháp luật dân sự.

4. Trách nhiệm vật chất: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ làm mất mát, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc gây ra thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của pháp luật.

5. Trách nhiệm hình sự: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với cán bộ, công chức, viên chức phải tuân theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Chương II

CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM

ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

Điều 5. Nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

Cán bộ, công chức, viên chức khi thực thi nhiệm vụ, công vụ phải chịu trách nhiệm về các nội dung sau:

1. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức và chấp hành nghiêm những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm do pháp luật quy định;

2. Tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ, công vụ được cấp trên giao theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm nhiệm vụ, công vụ được thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, đúng thời gian, thời hạn quy định; bảo đảm số lượng và chất lượng đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả nhiệm vụ, công vụ đã thực hiện. Trường hợp khi giải quyết công việc cần thiết phải kéo dài thời gian quy định thì phải có trách nhiệm báo cáo cho cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc công dân liên quan biết rõ lý do;

3. Tổng hợp, tham mưu, đề xuất các ý kiến để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định đúng quy định của pháp luật;

4. Thực hiện đúng quyền hạn, chức trách và nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm chấp hành nội quy, quy chế, quy trình và phối hợp đối với đồng nghiệp khi thực thi nhiệm vụ, công vụ;

5. Bảo vệ và quản lý tài sản công, tài chính công, trang thiết bị được giao sử dụng trong và sau khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, không để xảy ra hư hỏng, mất mát, thất thoát và không sử dụng vào việc riêng;

6. Tuân thủ và bảo đảm an ninh, phòng chống cháy nổ và an toàn lao động tại cơ quan; thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;

7. Thực hiện các quy tắc ứng xử và văn hóa công sở, đấu tranh chống mọi biểu hiện hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân, tổ chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ;

8. Thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật;

9. Tích cực tham gia thực hiện Quy chế dân chủ trong cơ quan, bảo đảm đoàn kết, thực hiện việc khiếu nại, tố cáo và phát ngôn theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 6. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc phân công, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức

1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị (sau đây gọi chung là người đứng đầu) phải có trách nhiệm phân công, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với phẩm chất, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức.

2. Khi phân công và bố trí cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ, người đứng đầu phải quy định và thông báo rõ ràng, cụ thể quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ của người được bố trí;

3. Khi phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu phải bảo đảm các điều kiện về chế độ, chính sách, về trang, thiết bị và điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật để cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao;

4. Khi phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu phải thông báo rõ yêu cầu chất lượng, thời hạn hoàn thành và các yêu cầu khác (nếu có) để cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm thực hiện.

Điều 7. Những trường hợp xử lý vi phạm chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

Cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

1. Vi phạm nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Điều 5 Nghị định này;

2. Vi phạm pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ để xảy ra hậu quả;

3. Đề xuất, tham mưu, trình lãnh đạo ký và ban hành văn bản trái pháp luật;

4. Không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hoặc báo cáo sai sự thật;

Điều 8. Trách nhiệm khi thực thi nhiệm vụ, công vụ theo nhóm

Trong trường hợp nhiệm vụ, công vụ được giao cho một nhóm cán bộ, công chức, viên chức (từ hai người trở lên) thực hiện, nếu vi phạm chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này thì xử lý vi phạm đối với từng cán bộ, công chức, viên chức trong nhóm theo quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người.

Chương III

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 9. Khen thưởng

Cán bộ, công chức, viên chức thực hiện tốt chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ thì được xem xét khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Xử lý vi phạm

1. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này thì tuỳ theo mức độ nặng, nhẹ phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ nếu gây thiệt hại cho người khác thì ngoài việc phải xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này còn phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Điều 11. Nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm

Khi xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật hiện hiện hành, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau:

1. Căn cứ sự phân công, phân cấp của cơ quan quản lý và sử dụng để xác định mức độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức;

2. Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức được giao.

Điều 12. Trường hợp loại trừ, giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

1. Cán bộ, công chức, viên chức được loại trừ trách nhiệm trong các trường hợp sau:

a) Trường hợp bất khả kháng như thiên tai, địch họa, tai nạn rủi ro: cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ đã có biện pháp phòng chống nhưng vẫn bị ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức vắng mặt tại cơ quan, đơn vị có lý do chính đáng và được cấp có thẩm quyền đồng ý;

c) Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức phải chấp hành quyết định của cấp trên; khi có căn cứ để cho là quyết định đó trái pháp luật đã báo cáo ngay với người ra quyết định; nếu vẫn phải chấp hành quyết định đã báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.

2. Cán bộ, công chức vi phạm chế độ trách nhiệm được xem xét giảm nhẹ một hình thức ký luật khi xử lý kỷ luật nếu người đó có thái độ thành khẩn, có bản tự kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và đã kịp thời khắc phục hậu quả.

3. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm bị xem xét tăng nặng khi xử lý kỷ luật trong các trường hợp sau:

a) Khi phát hiện cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm chế độ trách nhiệm, cấp trên đã chỉ đạo kịp thời nhưng cán bộ, công chức, viên chức không thực hiện hoặc không chấm dứt hành vi vi phạm chế độ trách nhiệm;

b) Cán bộ, công chức, viên chức đã bị xử lý kỷ luật về vi phạm chế độ trách nhiệm mà lại tái phạm hoặc thiếu trung thực, không tiếp thu phê bình, kiểm điểm, cố tình né tránh, đùn đẩy trách nhiệm;

c) Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm, lợi dụng vị trí công tác và nhiệm vụ được giao để tham mưu hoặc ra quyết định trái với các quy định của pháp luật.

Điều 13. Thẩm quyền xử lý vi phạm chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ

Việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ thực hiện theo phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức.

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 14. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 15. Trách nhiệm quy định cụ thể và kiểm tra

1. Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra việc thi hành Nghị định này đối với cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã;

3. Người đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước (Văn phòng Quốc Hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp) quy định cụ thể và kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc quyền quản lý.

4. Cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị hướng dẫn việc áp dụng Nghị định này đối với cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

Điều 16. Trách nhiệm thi hành

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, người đứng đầu các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này và cán bộ, công chức, viên chức chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG MÔ VÀ TRUNG TÂM ĐIỀU PHỐI QUỐC GIA VỀ GHÉP BỘ PHÂN CƠ THỂ NGƯỜI

NGHị địNH (DỰ THẢO)

Quy định về tổ chức, hoạt động của ngân hàng mô

và Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người

CHíNH PHủ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

Nghị định:

Chương I

Ngân hàng mô

Mục I

thành lập Ngân hàng mô

Điều 1. Địa vị pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng mô

Ngân hàng mô có địa vị pháp lý, chức năng và nhiệm vụ theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 35 của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.

Điều 2. Loại hình ngân hàng mô

1. Ngân hàng mô trực thuộc Bộ Y tế.

2. Ngân hàng mô thuộc bệnh viện, trường đại học y, dược trực thuộc Bộ Y tế hoặc thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ.

3. Ngân hàng mô trực thuộc Sở Y tế.

4. Ngân hàng mô thuộc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế.

5. Ngân hàng mô tư nhân; ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục.

Điều 3. Thẩm quyền thành lập và cho phép thành lập ngân hàng mô

1. Thẩm quyền thành lập ngân hàng mô

a) Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định thành lập ngân hàng mô trực thuộc Bộ Y tế, ngân hàng mô thuộc bệnh viện, viện, trường trực thuộc Bộ Y tế hoặc thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ;

b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập ngân hàng mô trực thuộc Sở Y tế, ngân hàng mô thuộc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế.

2. Thẩm quyền cho phép thành lập ngân hàng mô

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định cho phép thành lập Ngân hàng mô tư nhân; ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục trên địa bàn quản lý.

Điều 4. Hồ sơ, thủ tục thành lập và cho phép thành lập Ngân hàng mô

1. Hồ sơ thành lập và cho phép thành lập ngân hàng mô:

a) Đề án thành lập ngân hàng mô bao gồm các nội dung chính sau đây:

– Sự cần thiết và cơ sở pháp lý thành lập ngân hàng mô;

– Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng mô;

– Loại hình ngân hàng mô cần thành lập;

– Cơ cấu của ngân hàng mô;

– Các yếu tố cần thiết bảo đảm cho ngân hàng mô hoạt động, trong đó dự kiến về nhân sự, biên chế, kinh phí hoạt động, trụ sở làm việc và trang thiết bị chuyên môn, các phương tiện cần thiết khác của ngân hàng mô;

– Phương án thành lập và lộ trình hoạt động của ngân hàng mô;

– Kiến nghị của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân xây dựng đề án thành lập ngân hàng mô;

b) Tờ trình đề nghị thành lập ngân hàng mô bao gồm các nội dung chính sau đây:

– Sự cần thiết và cơ sở pháp lý của việc thành lập ngân hàng mô;

– Những nội dung chính của đề án thành lập ngân hàng mô;

– Những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề cần xin ý kiến của cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập ngân hàng mô.

2. Thủ tục thành lập và cho phép thành lập ngân hàng mô

a) Đối với ngân hàng mô trực thuộc Bộ Y tế hoặc ngân hàng mô thuộc bệnh viện, viện, trường trực thuộc Bộ Y tế hoặc thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ;

– Hồ sơ đề nghị thành lập Ngân hàng mô được gửi về Bộ Y tế.

– Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, Bộ Y tế ra quyết định thành lập ngân hàng mô; nếu không ra quyết định thành lập thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

b) Đối với ngân hàng mô trực thuộc Sở Y tế, ngân hàng mô thuộc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế;

– Hồ sơ thành lập gửi về Sở Y tế nơi ngân hàng mô đặt trụ sở.

– Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, Sở Y tế trình ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập ngân hàng mô trong vòng 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp; nếu không ra quyết định thành lập thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

c) Đối với ngân hàng mô tư nhân, ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục;

– Hồ sơ thành lập gửi về Sở Y tế nơi ngân hàng mô đặt trụ sở.

– Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, Sở Y tế trình ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định cho phép thành lập ngân hàng mô tư nhân, ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục trên địa bàn quản lý trong vòng 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp; nếu không cho phép thành lập thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Mục 2

Hoạt động của ngân hàng mô

Điều 5. Địa điểm, đối tượng lấy mô và điều kiện cần thiết khác:

1. Lấy mô ở người hiến chết:

a) Việc lấy mô được thực hiện trong phòng mổ, nhà xác hoặc nơi có thi thể của người hiến mô;

b) Trước khi lấy mô, các thiết bị, dụng cụ phục vụ việc lấy mô phải được tiệt trùng theo quy trình vệ sinh chuyên môn của cơ sở y tế; mô được lấy phải bảo đảm vô trùng theo kỹ thuật phẫu thuật chuẩn;

2. Lấy mô ở người hiến sống:

a) Việc lấy mô ở người hiến sống được thực hiện tại phòng mổ của cơ sở y tế có đủ điều kiện, chức năng lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người;

b) Trước khi lấy mô phải tiến hành kiểm tra các thông số kỹ thuật, tư vấn đầy đủ cho người hiến theo quy định của Bộ Y tế;

c) Các thiết bị, dụng cụ phục vụ việc lấy mô phải được tiệt trùng; mô được lấy phải bảo đảm vô trùng theo kỹ thuật phẫu thuật chuẩn.

Điều 6. Đóng gói, bảo quản và vận chuyển mô sau khi lấy đến ngân hàng mô

1. Mô phải được đóng gói ngay sau khi được lấy; được để trong hộp đựng mô vô trùng, được bảo quản bằng hóa chất hoặc dung dịch; được lưu giữ ở nhiệt độ thích hợp và không được phép mở cho đến khi được giao cho ngân hàng mô.

2. Hộp đựng mô phải được dán nhãn có tên loại mô; tên người cho; tên, địa chỉ của cơ sở lấy mô và ngân hàng mô.

Điều 7. Tiếp nhận mô

1. Trước khi tiếp nhận mô từ cơ sở y tế đã lấy mô, ngân hàng mô phải:

a) Kiểm tra hồ sơ do cơ sở y tế đã lấy mô chuyển đến bao gồm các thông tin về tên người cho; ngày, giờ và nơi thực hiện lấy mô; tên của người trực tiếp lấy mô; loại mô và các thông tin y tế liên quan đến người hiến và mô đã lấy;

b) Kiểm tra hộp đựng mô về sự nguyên vẹn, so sánh nhãn với hồ sơ quy định tại điểm a, khoản này.

2. Sau khi kiểm tra hồ sơ, thùng đựng mô, nếu bảo đảm các quy định tại khoản 1 Điều này, ngân hàng mô sẽ tiếp nhận, đánh giá chất lượng và xử lý mô.

Đối với các mô được chuyển tới từ các ngân hàng mô khác hoặc từ hợp tác hoặc viện trợ quốc tế, ngân hàng mô kiểm tra, đối chiếu với các thông tin trên hồ sơ và thùng đựng mô và thời hạn sử dụng để xác định sơ bộ chất lượng mô trước khi tiếp nhận mô.

Điều 8. Đánh giá chất lượng và xử lý mô

1. Sau khi tiếp nhận, trước khi xử lý, mô phải được đánh giá chất lượng nhằm loại bỏ những mô không bảo đảm chất lượng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

2. Các phương pháp xử lý mô bao gồm:

a) Ngâm chất tẩy hoặc dung dịch bảo quản có kháng sinh;

b) Bảo quản lạnh;

c) Đông lạnh;

d) Khử nước hoàn toàn;

đ) Chiếu xạ;

e) Tiệt trùng bằng Ethylene Oxide;

g) Đông khô;

h) Các phương pháp xử lý khác.

3. Bộ Y tế xây dựng, ban hành quy trình xử lý mô thích ứng với từng phương pháp quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 9. Đóng gói và dán nhãn mô đã qua xử lý

1. Mô đã qua xử lý đều phải được đóng gói riêng và được để trong thùng chứa mô.

2. Mỗi sản phẩm mô, thùng đựng mô đều phải được dán nhãn với đầy đủ các thông số sau:

a) Loại mô;

b) Tên, địa chỉ ngân hàng mô;

c) Số nhận dạng mô;

d) Ngày hết hạn.

3. Mỗi thùng đựng mô, bên cạnh việc dán nhãn phải có tài liệu đính kèm, bao gồm các nội dung sau:

a) Số lượng, khối lượng hoặc kích thước hoặc tất cả những thông số trên khi cần thiết;

b) Phương pháp xử lý;

c) Số lô, nếu được áp dụng;

d) Các dư chất tiềm năng của hóa chất, dung dịch được đưa thêm vào quá trình xử lý và bảo quản;

đ) Các điều kiện lưu giữ được khuyến cáo;

e) Các chỉ định và chống chỉ định cho sử dụng mô khi cần thiết;

g) Các nội dung có liên quan khác.

Điều 10. Mã hoá thông tin về mô

1. Mọi thông tin về nguồn gốc mô phải được mã hoá trên nguyên tắc vô danh; không ghi tên, tuổi, địa chỉ của người hiến; mỗi lần lấy mô của người hiến sẽ được cấp một mã xác định riêng.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mã số cho việc mã hóa thông tin đối với từng ngân hàng mô.

Điều 11. Lưu giữ

1. Việc lưu giữ mô phải bảo đảm điều kiện về nhiệt độ, tại khu vực riêng biệt, cách ly hoàn toàn với mô chưa qua xử lý và trong môi trường sạch, không có sự lây nhiễm vi sinh vật.

2. Ngân hàng mô phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình lưu giữ mô.

3. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định cụ thể quy trình lưu giữ mô.

Điều 12. Phân phối

1. Việc phân phối mô phải bảo đảm tra cứu được nguồn gốc giữa người cho, ngân hàng mô và người nhận, kể cả giữa các ngân hàng mô.

2. Ngân hàng mô phải có phương tiện chuyên dụng vận chuyển phù hợp để vận chuyển mô đến tận nơi nhận bảo đảm chất lượng.

Điều 13. Chế độ lưu trữ hồ sơ và báo cáo.

1. Ngân hàng mô phải lập và lưu trữ toàn bộ hồ sơ có liên quan đến mô từ khâu tiếp nhận, xử lý, đóng gói, lưu giữ cho đến khâu vận chuyển, phân phối mô.

2. Sáu tháng một lần, các ngân hàng mô phải báo cáo Bộ Y tế về tình hình hoạt động của ngân hàng mô.

Trường hợp có sự cố không mong muốn hoặc phản ứng phụ nghiêm trọng xảy ra trong quá trình tiếp nhận, lấy, lưu giữ, cung cấp và ghép mô, giám đốc cơ sở y tế có chức năng ghép mô có trách nhiệm thông báo cho Ngân hàng mô để báo cáo ngay cho Bộ Y tế.

Điều 14. Trách nhiệm trong việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hoạt động chuyên môn của ngân hàng mô

Trên cơ sở các điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định này, Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hoạt động chuyên môn của ngân hàng mô để áp dụng thống nhất trong cả nước.

Điều 15. Nguyên tắc xác định chi phí hoạt động của ngân hàng mô

Ngân hàng mô được phép thu giá dịch vụ trên nguyên tắc không vì mục đích thương mại nhằm lấy thu bù chi bao gồm các chi phí sau:

1. Tiếp nhận, xử lý, đánh giá, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển mô.

2. Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp.

3. Khấu hao cơ sở vật chất, tài sản, trang thiết bị và các chi phí phát sinh hợp lý khác.

Chương II

Trung tâm điều phối quốc gia

về ghép bộ phận cơ thể người

Điều 16. Tổ chức Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người

1. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người là tổ chức sự nghiệp, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng, trực thuộc Bộ Y tế.

2. Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và các nhiệm vụ cụ thể khác như sau:

a) Tiếp nhận lập danh sách người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống và ở người sau khi chết. Quản lý việc cấp thẻ và danh sách người hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống và ở người sau khi chết đã được cấp thẻ;

b) Quản lý các thông tin về sức khỏe và các thông tin khác có liên quan đến người hiến, người có chỉ định ghép mô, bộ phận cơ thể người;

c) Lập và quản lý danh sách người có chỉ định ghép mô, bộ phận cơ thể trong toàn quốc;

d) Đối chiếu với danh sách đăng ký hiến và danh sách đăng ký ghép để điều phối việc lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người giữa các cơ sở y tế.

3. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.

Điều 17. Mối quan hệ điều phối giữa Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người và các cơ sở y tế

1. Cơ sở y tế khi nhận được đơn của người tình nguyện hiến bộ phận cơ thể người có trách nhiệm thông báo tên, tuổi, địa chỉ cùng các chỉ số y học liên quan đến tình trạng sức khỏe của người đó với Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người để đưa vào danh sách người hiến bộ phận cơ thể người.

2. Cơ sở y tế khi khám bệnh, chữa bệnh mà có chỉ định ghép bộ phận cơ thể cho người bệnh có trách nhiệm thông báo tên, tuổi, địa chỉ cùng các chỉ số y học liên quan đến tình trạng sức khỏe của người đó với Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người để đưa vào danh sách người có chỉ định ghép bộ phận cơ thể người.

3. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người tiếp nhận các thông tin quy định tại khoản 1 và 2 Điều này và chịu trách nhiệm điều phối hoạt động ghép bộ phận cơ thể người trong toàn quốc theo các nguyên tắc quy định tại Điều 37, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phân cơ thể người và hiến, lấy xác.

Điều 18. Mối quan hệ điều phối giữa Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người và các ngân hàng mô

1. Ngân hàng mô có trách nhiệm thông báo số lượng, chủng loại mô hiện có với Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.

2. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, căn cứ theo số lượng, chủng loại mô của các ngân hàng mô trên cả nước chịu trách nhiệm điều phối hoạt động trong việc cung cấp mô.

Chương III

Điều khoản thi hành

Điều 19. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 20. Hướng dẫn thi hành

1. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thực hiện Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

QUẢNG BÌNH: THI HÀNH ÁN THEO KIỂU “SỐNG CHẾT MẶC BAY”

 DƯƠNG SÔNG LAM

Một vụ tranh chấp đất giữa hai người dân nghèo không đến mức căng thẳng. Nhưng vì tòa phán quyết theo kiểu “cho xong chuyện”, nên thi hành án cũng “sống chết mặc bay”. Hậu quả để lại làm cho những người dân nghèo rơi hết nước mắt vì chạy theo bản án.

Tòa xử di dời cây

Vào tháng 5/2001, vợ chồng anh Lưu Đức Tiến, ở xã Phú Định, huyện Bố Trạch, Quảng Bình thấy khoảnh đất đồi gần nhà mình bỏ hoang lâu ngày, anh Tiến xin phép trưởng thôn được khai hoang để trồng mía, sau đó anh trồng cao su và bạch đàn.

Sau hơn 3 năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, hơn 1ha cao su của vợ chồng anh đã lên xanh tốt chuẩn bị cho thu hoạch. Nhưng niềm vui của vợ chồng anh Tiến chỉ thoảng qua khi vợ chồng anh Lê Văn Dương cùng thôn đem sổ đỏ đến và nói miếng đất mà vợ chồng anh Tiến trồng cao su là của anh Dương. Hai bên đưa nhau ra tòa.

Tòa sơ thẩm và phúc thẩm ở Quảng Bình đều xử án rằng: Gia đình anh Tiến đã khai hoang trái phép trên đất của gia đình anh Dương, vậy nên tòa hai cấp đã tuyên án gia đình anh Tiến trả lại đất cho gia đình anh Dương. Cả hai gia đình đều đồng thuận sự việc này.

Tuy nhiên vụ án chưa kết thúc bởi sự phán quyết lạ đời của tòa ở chỗ: Vợ chồng anh Tiến đã trồng 325 cây cao su và 571 cây bạch đàn chuẩn bị thu hoạch, toà phán: Buộc gia đình anh Tiến phải di dời ngay số cây cao su và bạch đàn trên ra khỏi diện tích đất phải trả.

Tòa cũng tính luôn công khai hoang 1ha cho gia đình anh Tiến là 4,5 triệu đồng và buộc gia đình anh Dương sau khi lấy lại đất phải hoàn trả tiền công khai hoang này. Riêng tiền giống, công chăm bón 3 năm của vợ chồng anh Tiến, Tòa nói không có cơ sở tính đến.

Làm sao có thể di dời ngay 325 cây cao su và 571 cây bạch đàn ra khỏi khu đất tranh chấp được khi mà nó đang xanh tốt? Bản án phi thực tế đó đã để lại những hậu quả mà tòa không tính đến.

Thi hành án tùy tiện

Cán bộ thi hành án huyện Bố Trạch thừa nhận bản án tòa tuyên không thể thực thi được, nhưng nhiệm vụ thi hành án vẫn phải thực hiện. Vậy nên ngày 17/10, lực lượng thi hành án kéo nhau rầm rộ hàng chục người vừa lập biên bản vừa tiến hành di dời cây bằng cách chặt phá cả ha cao su, bạch đàn của vợ chồng anh Tiến.

Nhiều người dân ở xã Phú Định cho biết: Có gần 30 người làm nghề xe ôm, lao động tự do ở thị trấn Hoàn Lão, Bố Trạch cũng được huy động lên chặt phá cao su của anh Tiến. Giờ đây số người trên anh Dương cho là của Đội Thi hành án thuê, còn cơ quan thi hành án lại cho là người nhà của anh Dương.

Thấy đám người hung hăng chặt phá, còn vợ chồng anh Tiến lạy xin nên một số người dân xung quanh rất bức xúc đã vào can ngăn. Còn chính quyền lại như vô cảm.

Ai cũng cho rằng bản án tòa tuyên là phi thực tế, song chính quyền xã Phú Định, lãnh đạo huyện Bố Trạch và Đội Thi hành án hiểu vấn đề nhưng lại làm theo kiểu “sống chết mặc bay”, không hề có một bản kiến nghị để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân, mà lại nhắm mắt cho di dời bằng cách chặt phá.

Kiểu làm việc tắc trách nói trên của các cơ quan chức năng ở Quảng Bình đang đẩy vợ chồng anh Lưu Đức Tiến cùng đường khốn khó, buộc anh phải tiếp tục đi gõ cửa các cơ quan chức năng để tìm sự công bằng

SOURCE: BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN

CẦN CHẤN CHỈNH CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ HỘ TỊCH, HỘ KHẨU VÀ GIẤY KHAI SINH

 THÁI BÌNH

Nhà anh H. ở tận Xẻo Nhàu A, xã Tân Thạnh, huyện An Minh (Kiên Giang) được một người quen trong ngành giáo dục cho nhiều bản sao giấy khai sinh khống có đóng dấu và chữ ký của Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh, huyện An Minh. Thấy bất thường, anh H. đi hỏi một số người mới biết làm vậy là sai luật. Cũng may là anh đã cẩn thận…

Vất vả vì chuyện ngày, tháng, năm sinh…

Những ngày đầu tháng 12, chúng tôi có chuyến công tác đến Cà Mau – một trong những địa phương thời gian qua có án hiếp dâm trẻ em xảy ra khá cao so với các tỉnh khác cùng khu vực ĐBSCL.

Trung tá Đoàn Trọng Phúc – Phó Trưởng phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC14) Công an tỉnh cho biết, anh vừa ký văn bản số 260 đề xuất lãnh đạo Công an tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo, Sở Tư pháp chỉ đạo rà soát lại công tác đăng ký quản lý hộ tịch, hộ khẩu trên địa bàn một cách chặt chẽ.

Lật hồ sơ dày cộm trên bàn cho tôi xem, Trung tá Phúc nói: “Nếu không sớm khắc phục tình trạng này thì công việc của những điều tra viên như chúng tôi lại tiếp tục phải thường xuyên đối mặt với thực tế vất vả”.

Võ Trung Ngươn (24 tuổi) hiếp dâm em Nguyễn Cẩm T. Vụ án xảy ra đầu năm 2007 từng gây xôn xao dư luận tại xã Khánh Hội, huyện U Minh (Cà Mau). Các điều tra viên đề nghị gia đình nạn nhân cung cấp tất cả các giấy tờ có liên quan nhưng thật bất ngờ, chẳng có giấy tờ nào thể hiện ngày, tháng, năm sinh của em này. Theo quy định, cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định tuổi cho em T.

Tương tự, vụ tên Nguyễn Trọng Nguyễn (16 tuổi, ngụ tại xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, Cà Mau) hiếp dâm em Nguyễn Cẩm N. vào ngày 13/8. Vì các giấy tờ có liên quan đến em N. không thể hiện ngày tháng sinh nên buộc phải trưng cầu giám định độ tuổi. Kết quả giám định, em N. có độ tuổi từ 12 năm 6 tháng đến 13 năm tuổi.  

Còn vụ Chung Văn Kết hiếp dâm Ngô Bảo N. (7 tuổi) xảy ra ngày 11/3/2006 ở Lương Thế Trân, huyện Cái Nước. Thật vất vả cho cơ quan điều tra vì kiểm tra giấy tờ của tên Kết, có rất nhiều ngày, tháng, năm sinh khác nhau. Trường hợp này cũng giống như vụ Lê Quốc Khánh (ngụ thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời). khi xâm hại Lê Thị Bé T. (14 tuổi) vào ngày 3/4. Kết luận giám định độ tuổi cho biết Khánh khoảng 16 năm 6 tháng đến 17 năm tuổi.

Không phải chỉ gặp khó trong những vụ án hiếp dâm, cơ quan điều tra cũng gặp rắc rối trong những vụ trọng án khác. Lãnh đạo Phòng PC14 Công an Cà Mau cho tôi xem hồ sơ vụ cướp tài sản xảy ra ngày 7/4, tại xã Việt Thắng, huyện Phú Tân (Cà Mau). Vụ này do tên Huỳnh Vũ Ca, có tên khác là Vũ “ca nhỏ” (15 tuổi) cùng với 2 tên khác gần nhà là Võ Văn Cỏl (13 tuổi) và Võ Văn Kiệt (26 tuổi) thực hiện. Bị hại là Đặng Hoàng Giang (24 tuổi) và Trương Văn Minh (19 tuổi).

Kết quả giám định độ tuổi, tên Vũ Ca ở tuổi 14 năm 9 tháng đến 15 năm 2 tháng; còn tên Cỏl khoảng 13 năm 9 tháng đến 14 năm 3 tháng tuổi. Do các giấy tờ có liên quan của 2 đối tượng kể trên không thể hiện rõ ngày, tháng, năm sinh, vì vậy, tính theo nguyên tắc có lợi cho bị can thì Cỏl không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Một điều tra viên của PC14 Công an Bạc Liêu cho biết: “Trong thực tế công tác điều tra xử lý tội phạm ở các vụ án đã xảy ra bao gồm trẻ em và người chưa thành niên phạm tội, người trên 16 đến dưới 18 tuổi, người có tuổi cặp kê 13 – 14 tuổi, 15 – 16 tuổi, chúng tôi thường gặp đa số khai sinh, hộ khẩu không được ghi đầy đủ ngày tháng sinh, hoặc không khai sinh, không hộ khẩu nên buộc phải giám định.

Có rất nhiều trường hợp thể hiện cán bộ làm công tác đăng ký không ghi đầy đủ, chính xác ngày, tháng sinh, giữa giấy khai sinh và hộ khẩu, học bạ không khớp độ tuổi với nhau. Các giấy tờ phổ biến như văn bằng, chứng chỉ, kể cả CMND… cũng không khớp với hộ khẩu, giấy khai sinh, học bạ. Có những trường hợp có đến 3 – 4 năm sinh khác nhau, đều do người, cơ quan có thẩm quyền ký tên, đóng dấu. Đó chính là cái khó cho cơ quan điều tra nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng”.

Tại Cần Thơ, hẳn nhiều người còn nhớ vụ nhân viên làm thuê giết chết bà chủ. Đó là tên Nguyễn Văn Tuấn (22 tuổi, quê Cà Mau) dùng dao đâm chết bà Khưu Lái Huê (57 tuổi) – chủ Trung tâm điện máy điện lạnh Tân Phước vào lúc 1h ngày 5/5/2005. Tại phiên tòa xét xử, luật sư bào chữa cho Tuấn đã chứng minh được rằng, khi gây án Tuấn chưa đủ 18 tuổi. Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Tuấn được tuyên án có thời hạn là 18 năm. 

Chính quyền xã làm liều

Đó là ông Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh ký hàng loạt giấy khai sinh (bản sao) khống rồi giao cho cha mẹ đứa bé muốn điền sao thì điền. Tìm hiểu việc khó tin này, tôi được giới thiệu gặp một người dân tên H.

Nhà anh H. ở tận Xẻo Nhàu A, xã Tân Thạnh, huyện An Minh (Kiên Giang). Anh kể, anh được một người quen trong ngành giáo dục cho nhiều bản sao giấy khai sinh (bản sao) khống có đóng dấu và chữ ký của ông Lê Văn Dần – Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh, huyện An Minh.

Người đưa bản sao giấy khai sinh trên cho anh H. căn dặn rằng: “Anh cầm giấy này muốn đánh máy điền tên con, sinh ngày, tháng, năm nào cũng được”(?). Thấy việc này có vấn đề gì đó bất thường nên anh H. đi hỏi một số người mới biết, nếu làm như vậy là sai pháp luật. Vì vậy anh H. đã từ bỏ ý định ghi tên cho con vào những tờ giấy khai sinh được ký khống này.

Chúng tôi mới biết xã Đông Thạnh hiện nay đã được tách ra thành Tân Thạnh và Đông Thạnh. Một người dân gần nhà anh H. từng làm giấy khai sinh cho con mình kể: “Lúc đó do bận việc nhà nên tới ngày xin con đi học tôi đã nhờ người đến UBND xã Đông Thạnh làm giúp giấy khai sinh. Tôi cũng nhận được tờ giấy khai sinh được ông Dần – Chủ tịch UBND xã ký khống như vậy. Khi về, tôi mướn người đánh máy nội dung vào. Ngày sinh tháng đẻ, tên tuổi địa chỉ của mình, con mình muốn đánh sao thì đánh”(?)

Trung tá Đoàn Trọng Phúc cho biết, ngành chức năng cần chỉ đạo ngay việc đăng ký khai sinh, đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, CMND, học bạ, bằng cấp, chứng chỉ. Những loại giấy tờ quan trọng này phải được ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh và các tiêu chí cần thiết theo yêu cầu của biểu mẫu; quản lý chặt chẽ, hồ sơ, sổ sách, hộ tịch, hộ khẩu để quản lý xã hội.

Đây cũng là biện pháp góp phần vào công tác cải cách hành chính mà cả nước đang quan tâm thực hiện

SOURCE: BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI SẮP ĐƯỢC MUA NHÀ Ở

TUẤN KHÔI

Sắp tới, người nước ngoài đầu tư, làm việc tại Việt Nam sẽ được sở hữu nhà theo quy định. Trong ảnh: Cô giáo nước ngpoài đưa các học sinh tham quan thành phố. Ảnh: HTD

Người nước ngoài được sở hữu nhà tối đa 70 năm. Hiện có 25.000 người nước ngoài đầu tư, trên 54.000 người đang làm việc… tại Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có văn bản chỉ đạo Bộ trưởng Bộ Xây dựng chuẩn bị để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về chính sách thí điểm người nước ngoài được mua nhà gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Nếu đề án được thông qua, người nước ngoài sẽ được quyền mua và sở hữu nhà tại Việt Nam thay vì chỉ được thuê như hiện nay.

Cho mua nhà: Thu hút nhiều nhà đầu tư hơn

Theo tờ trình của Bộ Xây dựng, hiện pháp luật chưa cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua nhà ở tại Việt Nam. Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở quy định tổ chức nước ngoài được quyền thuê đất để đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua. Nếu tổ chức nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì được nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở trên đất thuê, nếu xây dựng nhà ở để bán thì nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở cho người mua. Tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam từ ba tháng liên tục trở lên thì được thuê nhà ở tại Việt Nam. Riêng những người nước ngoài khác (tham gia các dự án đầu tư, nhà khoa học, người có công với cách mạng, các chuyên gia được mời vào Việt Nam làm việc…) thì Luật Nhà ở chưa cho phép họ được sở hữu nhà ở.

HTD

Bộ Xây dựng cho rằng cơ chế thí điểm cho người nước ngoài được sở hữu nhà ở nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong sinh sống và làm việc của người nước ngoài tại Việt Nam. Từ đó góp phần thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển.

Mỗi cá nhân chỉ được mua một căn nhà

Theo đề án của Bộ Xây dựng, tổ chức, cá nhân nước ngoài sẽ được mua nhà ở nếu đủ điều kiện (xem bảng). Việc mua nhà phải nhằm mục đích để bản thân và gia đình ở chứ không nhằm mục đích kinh doanh. Người nước ngoài được sở hữu nhà tối đa 70 năm. Quá thời hạn này mà không được phép gia hạn thì phải bán hoặc tặng cho nhà ở cho người khác.

Người nước ngoài được sở hữu một nhà ở trong thời gian sinh sống, làm việc tại Việt Nam và chỉ được bán sau một năm kể từ khi được cấp “giấy hồng”. Họ cũng sẽ được ủy quyền cho người khác quản lý nhà, được thế chấp nhà ở, được để thừa kế và được bồi thường khi giải tỏa nhà. Người nước ngoài không được sở hữu nhiều nhà ở trong thời gian cư trú tại Việt Nam. Trường hợp đang sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà được thừa kế hoặc tặng cho nhà ở khác thì họ chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

Cũng theo đề án này, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam được mua và sở hữu một hoặc một số nhà ở để cho những người nước ngoài đang làm việc tại doanh nghiệp đó thuê để ở. Các doanh nghiệp này không được mua nhà ở để bán lại hoặc cho những người nước ngoài khác ngoài doanh nghiệp thuê.

Bộ Xây dựng kiến nghị chỉ áp dụng cơ chế thí điểm này tại TP.HCM và Hà Nội, nơi có nhiều người nước ngoài sinh sống và làm việc. Sau khi cơ quan có thẩm quyền thông qua đề án, Thủ tướng có thể quyết định một số địa phương có nhiều dự án đầu tư nước ngoài được thực hiện cơ chế này. Sau 3-5 năm thí điểm, Chính phủ sẽ tổng kết, đánh giá và đề nghị cho phép áp dụng rộng hơn. Trường hợp không tiếp tục thực hiện chính sách này nữa thì người đã mua nhà ở vẫn được thực hiện các quyền chủ sở hữu đến hết thời hạn được sở hữu nhà ở theo quy định.

Sáu đối tượng dự kiến được sở hữu nhà ở tại Việt Nam là:

– Người vào trực tiếp hoạt động đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật đầu tư.

– Người nước ngoài có công đóng góp với đất nước được tặng bằng khen từ cấp bộ trở lên.

– Nhà văn hóa, nhà khoa học.

– Người kết hôn với công dân Việt Nam và hiện đang sinh sống tại Việt Nam.

– Người được Chủ tịch nước công nhận là công dân danh dự.

– Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không có chức năng kinh doanh bất động sản đang hoạt động tại Việt Nam (doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp có người nước ngoài làm việc trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh).

Những tổ chức, cá nhân trên phải được phép cư trú, hoạt động tại Việt Nam từ một năm liên tục trở lên.

——————————-

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỘT SẢN PHỤ BỊ XÉT NGHIỆM NHẦM HIV

H.THÂN – T.TÙNG

Chị Nguyễn Thị Thanh, người bị bác sĩ “tuyên án HIV” đang trình bày sự việc.

Án tòa tuyên buộc bệnh viện bồi thường đã có hiệu lực pháp luật nhưng bệnh viện vẫn dây dưa không chịu chấp hành…

Sau hai năm kể từ ngày bị bác sĩ ở Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh “phán nhầm” nhiễm HIV, chị Nguyễn Thị Thanh, ngụ phường Tân Giang (TP Hà Tĩnh) đã phải sống trong cảnh dằn vặt, mệt mỏi. Sự nhầm lẫn đáng trách ấy gây ra biết bao sóng gió, đau khổ cho gia đình chị nhưng đến nay, bản án tòa tuyên buộc bệnh viện bồi thường đã có hiệu lực pháp luật mà bệnh viện vẫn không chịu chấp hành.

Xét nghiệm ẩu, lọt thông tin

Chị Thanh kể, ngày 19-8-2005, chị vào khoa Sản Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh sinh con. Vì thai nhi lớn nên bệnh viện quyết định cho chị sinh mổ. Theo nguyên tắc, trước khi sinh mổ chị phải làm xét nghiệm máu. Thật bất ngờ, sau ba lần xét nghiệm, các bác sĩ ở đây kết luận chị bị dương tính với virus HIV.

Sau đó, ca sinh mổ của chị Thanh thành công nhưng thông tin chị bị nhiễm HIV không hiểu sao lại nhanh chóng lọt ra ngoài, truyền đi khắp nơi (theo quy định, thông tin về người bị nhiễm HIV phải được bệnh viện giữ kín). Chưa hết choáng váng vì hung tin, chị Thanh đã phải đối mặt với lời xầm xì của dư luận. Cả khu phố soi mói, xa lánh khiến chị ăn không ngon, ngủ không yên. Hai bên gia đình thì hoang mang đủ đường, vợ chồng chị thì nghi kỵ lẫn nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Không những thế, chị còn không dám cho con bú sữa mẹ vì sợ cháu bị lây nhiễm.

Một thời gian sau, bệnh viện mới lập danh sách chị Thanh bị nhiễm HIV và gửi sang Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh xét nghiệm tiếp. Khi chị đến đây đòi kết quả xét nghiệm của mình thì hỡi ôi, chị hoàn toàn khỏe mạnh! Quá vui mừng nhưng để chắc ăn, gia đình đưa chị ra Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Nghệ An xét nghiệm lại. Lần này, các bác sĩ đều khẳng định chị hoàn toàn không bị nhiễm HIV!

Phải bồi thường!

Bức xúc, chị Thanh khởi kiện Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh ra TAND TP này đòi bồi thường thiệt hại hơn 53 triệu đồng vì đã xét nghiệm sai và tiết lộ thông tin bệnh nhân bị nhiễm HIV. Theo chị Thanh trình bày, trước đó gia đình chị đã nhiều lần yêu cầu bệnh viện cải chính thông tin nhưng không được đáp ứng.

Ngày 31-5-2007, TAND TP Hà Tĩnh đã xử sơ thẩm, nhận định Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh có lỗi trong việc tuyên truyền thông tin sai lệch ra ngoài và thiếu trách nhiệm trong việc khắc phục hậu quả xét nghiệm sai. Bệnh viện chậm gửi mẫu máu sang Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh theo quy định, thiếu sự đốc thúc Trung tâm trả lời nhanh kết quả xét nghiệm của sản phụ… Các sơ sót trên đã dẫn tới việc chị Thanh bị khủng hoảng tinh thần, làm gia đình chị xảy ra mâu thuẫn, con chị bị mất sức vì không được bú sữa mẹ.

Từ đó, TAND TP Hà Tĩnh đã tuyên buộc bệnh viện phải bồi thường 14,5 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần và tiền mua sữa ngoài nuôi con cho chị Thanh. Ngoài ra, tòa cũng yêu cầu lãnh đạo bệnh viện phải trực tiếp đến nhà chị Thanh xin lỗi gia đình với sự chứng kiến của cán bộ khu phố và chính quyền địa phương.

Sau phiên xử, bệnh viện làm đơn kháng cáo lên TAND tỉnh, cho rằng tòa sơ thẩm xử như thế là chưa khách quan. Tuy nhiên ngay sau đó, bệnh viện đã rút đơn kháng cáo và chấp nhận bản án sơ thẩm.

Không chịu thi hành án

Án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, tháng Chín, chị Thanh làm đơn gửi Thi hành án dân sự (THA) TP Hà Tĩnh yêu cầu bệnh viện bồi thường như phán quyết của tòa.

Bà Nguyễn Thị Bích Lợi, Trưởng THA TP Hà Tĩnh, cho biết THA TP đã gửi hai công văn qua đường bưu điện nhưng bệnh viện trả lời là không nhận được. Sau đó, chấp hành viên hai lần trực tiếp đến làm việc với giám đốc bệnh viện nhưng chỉ nhận được lời hứa là… sẽ THA. Nguyên nhân của sự dây dưa, chậm trễ là Ban giám đốc bệnh viện quyết định chỉ “chịu” một nửa số tiền tòa xử, số còn lại sẽ do khoa sản trả, chừng nào gom đủ tiền từ khoa sản mới nộp THA.

Theo Phó Giám đốc bệnh viện Lê Quế, các bác sĩ của khoa Sản đưa ra nhận định sai nên phải bỏ tiền túi ra cùng với bệnh viện đền cho bệnh nhân. Khi chúng tôi hỏi khoa Sản cũng thuộc chính bệnh viện, ông Quế tỉnh queo: “Lấy tiền ở đâu thì kệ anh em trong khoa, bệnh viện không biết!”. Trong khi đó, một số cán bộ khoa Sản lại không đồng ý với cách giải quyết này.

Chính sự thờ ơ, đá qua đổ lại trách nhiệm từ phía Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh mà đến nay chị Thanh vẫn chưa nhận được một đồng bồi thường nào. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc.

Bệnh viện phải đứng ra bồi thường!

Nhiều chuyên gia cho biết việc Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh lấy lý do đợi khoa Sản nộp tiền để chây ỳ THA là thiếu thiện chí và hoàn toàn sai pháp luật.

Theo Chánh án TAND quận 2 (TP.HCM) Phạm Thao, trong bản án tòa đã ghi rõ bệnh viện phải bồi thường cho chị T. thì nhất định bệnh viện phải làm theo, không thể đổ lỗi là chờ đợi người này người kia. Chuyện liên đới bồi thường với cơ quan, cá nhân nào đó trong nội bộ là việc của bệnh viện sau này. Nếu khoa sản không chịu nộp tiền thì sau này bệnh viện có thể kiện khoa sản.

Đồng tình, luật sư Cao Minh Triết (Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang) cũng cho rằng trách nhiệm THA dứt khoát thuộc bệnh viện vì bản án đã ghi rõ bệnh viện phải bồi thường chứ không phải là khoa sản. Thậm chí theo luật, ngay cả trong trường hợp tòa tuyên nhiều bên liên đới bồi thường thì THA cũng có quyền chọn bên nào có khả năng nhất để buộc bồi thường nhằm đảm bảo quyền lợi cho người được THA. Chẳng hạn, tòa tuyên chủ xe và tài xế liên đới bồi thường cho người bị tai nạn giao thông, THA có thể “xiết” chủ xe lấy tiền bồi thường cho nạn nhân trước, còn phần chủ xe, phần tài xế thì tự tính với nhau.

====================================

HÀ TĨNH : “Sản phụ HIV” đã được bồi thường

H.KHA – T.TÙNG – K.GỖ

Báo Pháp luật TP.HCM ngày 30-11 đã đăng bài “Một sản phụ bị xét nghiệm nhầm HIV” phản ánh việc tháng 8-2005, do phải sinh mổ nên chị NTT bị các bác sĩ ở khoa Sản Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh xét nghiệm nhầm HIV rồi để lộ thông tin ra ngoài.

Vì chuyện này, suốt một thời gian dài gia đình chị T. đã phải lục đục, mâu thuẫn, gánh chịu bao lo lắng, khổ sở cùng sự kỳ thị của lối xóm. Sau khi có kết quả xét nghiệm lại là bệnh viện tỉnh đã “phán nhầm”, chị T. đã gửi đơn kiện và được tòa tuyên buộc bệnh viện bồi thường thiệt hại 14,5 triệu đồng. Tuy nhiên sau đó, bệnh viện dây dưa không chịu thi hành án.

Mới đây, bà Nguyễn Thị Bích Lợi, Trưởng THA TP Hà Tĩnh, cho biết đại diện Bệnh viện đa khoa tỉnh vừa tự nguyện mang 14,5 triệu đồng nộp cho cơ quan THA. Ngay sau đó, THA TP Hà Tĩnh đã giao lại số tiền này cho chị T. Được biết, bệnh viện cũng đã cử đoàn bác sĩ đến nhà trực tiếp xin lỗi chị T. và gia đình.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬT BỎ NGỎ VIỆC CÔNG NHẬN CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH "CHUI"

ĐỨC MINH

ĐỌC DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH TẠI ĐÂY

Hà Vy (tạm gọi tên này) vừa chi 7.000 USD phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Việc xác định lại giới tính trong gấy tờ hộ tịch của Hà Vy tùy thuộc vào việc được tổ chức y tế xác định có lệch lạc giới tính hay không.

Nếu có khuyết tật về giới tính, được tổ chức y tế chứng nhận thì giải phẫu trong hay ngoài nước, trước hay sau Nghị định 158 vẫn được cải chính hộ tịch.

Sở Tư pháp TP.HCM vừa có Công văn hướng dẫn Phòng tư pháp quận Gò Vấp thực hiện việc xác định lại giới tính từ nữ sang nam theo đơn yêu cầu của một công dân. Đây là trường hợp hy hữu được phép cải chính giới tính. Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính – Tư pháp (Bộ Tư pháp).

. Thưa ông, theo pháp luật hiện nay trường hợp nào được cải chính về giới tính?

+ Vấn đề xác định lại giới tính được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 và được cụ thể hóa tại Nghị định 158. Xác định lại giới tính, bản chất là cải chính, có hai góc độ. Một là xác định lại giới tính cho một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Thứ hai, giới tính của đứa trẻ là nam thật hoặc nữ thật, không có gì bất bình thường nhưng khi đăng ký, do tắc trách của cán bộ tư pháp, của bố mẹ… mà đăng ký nhầm giới tính của đứa trẻ.

. Trong trường hợp đầu tiên, điều kiện để được xác định lại giới tính là gì, thưa ông?

+ Việc thay đổi không phải là miễn cưỡng mà là hết sức tự nhiên, do sự phát triển không bình thường, nay trả lại “giá trị đích thực” cho họ bằng một tác động y học. Nghị định 158 quy định rõ, trường hợp xác định lại giới tính, thì phải có văn bản kết luận của tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính làm căn cứ cho việc xác định lại giới tính.

. Kết luận đó là của cơ quan, tổ chức y tế nước ngoài thì có được chấp nhận không?

+ Nghị định 158 chỉ quy định chung, không nói rõ là trong nước hay nước ngoài, như vậy về nguyên tắc là không có sự phân biệt. Trường hợp này sẽ quay lại nguyên tắc chung là đương sự phải chứng minh được tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính cho họ có chức năng làm việc này hay không. Các giấy tờ có liên quan phải được hợp pháp hóa lãnh sự, được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

. Trường hợp đương sự đã thực hiện việc can thiệp xác định lại giới tính trước khi Nghị định 158 có hiệu lực thì có được pháp luật thừa nhận hay không?

+ Không có ảnh hưởng gì cả. Nếu họ có những giấy tờ chứng minh được họ đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Nghị định 158 thì đều có thể làm thủ tục xác định lại giới tính.

. Thưa ông, với trường hợp không có cơ sở xác định việc lệch lạc giới tính nhưng họ đã đi nước ngoài chuyển đổi giới tính do nhu cầu tâm lý, họ có được làm thủ tục xác định lại giới tính hay không?

+ Thực tế, có nhiều người đã ra nước ngoài thực hiện việc phẫu thuật, chuyển đổi giới tính và có nguyện vọng cải chính lại giới tính. Những trường hợp đó hiện nay pháp luật chưa cho phép. Cá nhân tôi cho rằng, về một mặt nào đó, đây là quyền của cá nhân.

Cần có một nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, thực tế diễn ra như vậy thì hướng xử lý như thế nào, có chấp nhận hay không chấp nhận? Tôi chưa được tham dự cuộc hội thảo nào về vấn đề này, nhưng đúng là hiện nay có một nhu cầu thực sự như thế. Có không ít trường hợp chúng ta vẫn quen gọi là pêđê, họ là nam nhưng để tóc dài, nói năng như con gái… và muốn chuyển thành nữ thì như thế nào? Hay hiện nay cũng có không ít trường hợp dở khóc dở cười, họ đã thực hiện việc chuyển đổi giới tính, hình thức là nữ đấy nhưng giấy tờ hộ tịch vẫn là nam… Đây là vấn đề pháp luật còn “bỏ ngỏ” nhưng tương lai cũng sẽ phải tính đến…

. Thủ tục xác định lại giới tính ra sao, thưa ông?

+ Theo Nghị định 158, người yêu cầu xác định lại giới tính phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính giấy khai sinh của người cần xác định lại giới tính và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho xác định lại giới tính. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc xác định lại giới tính có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, cán bộ Tư pháp hộ tịch cấp xã hoặc cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp cấp huyện ghi vào sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và quyết định cho phép xác định lại giới tính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định cho phép xác định lại giới tính. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá năm ngày.

. Xin cảm ơn ông!

Xác định giới tính ngay sau khi sinh

Bác sĩ Ngô Minh Xuân, Trưởng khoa Sơ sinh Bệnh viện Từ Dũ, cho biết như sau: Sau khi sản phụ sinh, các bác sĩ tiếp nhận em bé và khám kỹ về phần sinh dục ngoài và xác định giới tính của em bé để ghi vào bệnh án. Khi có bất thường về bộ phận sinh dục ngoài sẽ siêu âm để xác định em bé là trai hay gái. Nếu là bé trai thường thì có tinh hoàn, còn em bé gái thì thấy tử cung, buồng trứng bên trong. Tuy nhiên cần phải lấy máu của em bé để xem nhiễm sắc thể đồ của bé là trai hay gái. Khi nhiễm sắc đồ của đứa bé có bệnh rối loạn như về gen và di truyền thì phát hiện được. Các bác sĩ sẽ xem mức độ của em bé như thế nào để giúp đỡ, giới thiệu để khám chuyên khoa. Xác suất của việc này không cao, một năm chỉ khoảng vài ca.

DUY TÍNH

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VỤ ÁN: BỖNG NHIÊN CHỒNG CŨ ĐÒI CHIA ĐẤT

VĂN ĐOÀN

Sau 16 năm bỏ đi sống với những người phụ nữ khác, ông chồng lù lù quay về, đòi bà vợ chia tài sản…

TAND quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ) vừa hoãn phiên xử sơ thẩm lần hai vụ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T. và bà Đ. theo yêu cầu của phía ông T.

Đòi chia đất sau 16 năm xa cách

Năm 1976, vợ ông T. mất, để lại cho ông năm người con. Trong cảnh gà trống nuôi con vất vả, ông T. tìm được người ý hợp tâm đầu là bà Đ. và hai bên kết hôn với nhau.

Trước đó, bà Đ. có một căn nhà riêng. Lấy ông T., bà đã để cho ông và các con ông về ở cùng, cho ông cùng đứng tên chung trên giấy tờ căn nhà này. Thế rồi, sau vài năm chăm chỉ làm lụng, tích cóp, hai vợ chồng mua thêm được một mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2 tại quận Ninh Kiều.

Năm 1987, sau khi đã có với bà Đ. ba mặt con, ông T. cương quyết dứt áo bỏ bà, ra đi theo “tiếng gọi con tim” và xuống Bạc Liêu sống với “bà ba”. Khi đi, ông làm giấy ủy quyền cho bà Đ. được toàn quyền sử dụng, mua bán ngôi nhà và mảnh vườn mà không cần có chữ ký của ông. Năm 1999, sau khi có thêm hai người con với “bà ba” ở Bạc Liêu, lại một lần nữa ông T. dứt áo bỏ “bà ba” mà ra đi về chung sống với “bà tư”.

Suốt thời gian này, một mình bà Đ. cặm cụi làm ăn, nuôi dưỡng tám người con nên người (ba con ruột và năm con riêng của ông T.). 16 năm xa cách biền biệt, mẹ con bà những tưởng ông T. đã an phận với các “bà ba” và “bà tư”, nào ngờ đầu năm 2003, ông T. từ đâu lù lù xuất hiện, gửi đơn lên tòa kiện đòi bà phải chia cho ông 1/3 mảnh vườn (1.000 m2) với lý do đây là tài sản chung của hai người.

Mỗi tòa một nhận định

Tháng 4-2006, TAND quận Ninh Kiều đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm, nhận định ông T. không có công sức đóng góp gì trong khối tài sản chung với bà Đ. Cụ thể là ông đã bỏ mặc vợ con để đi chung sống với người khác. Vì thế, công sức tạo lập duy trì, phát triển khối tài sản chung này do bà Đ. bỏ ra, ông T. chỉ có tên trên cơ sở pháp lý nguồn gốc đất mà thôi. Vì thế, tòa quyết định chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của ông T. là buộc bà Đ. phải chia lại cho ông hơn 300 m2 đất.

Sau phiên sơ thẩm, cả ông T. lẫn bà Đ. đều không hài lòng và làm đơn kháng cáo. Ông T. thì muốn bà Đ. chia cho ông 1/3 mảnh vườn để có tiền dưỡng già (năm nay ông đã 77 tuổi). Ngược lại, bà Đ. bảo ông T. bỏ bà lao đao, cực khổ để đi tìm hạnh phúc mới bao năm trời nay thì làm gì có chuyện chia đất. Hơn nữa, theo bà trước khi bỏ đi, ông có làm giấy cho bà toàn quyền định đoạt nhà đất nên bây giờ xem như ông đã mất quyền đòi được chia gia sản.

Tháng 7-2006, TAND TP Cần Thơ đã xử phúc thẩm vụ án. Theo tòa, cấp sơ thẩm đã giải quyết chưa chuẩn xác, chưa triệt để việc chia tài sản chung của vợ chồng ông T. trong thời kỳ hôn nhân.

Trước hết, về mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2, nếu cấp sơ thẩm đã xác định đây là tài sản chung thì giả sử bà Đ. đã “bán” xong theo ủy quyền của ông T., số tiền “bán” đất đó cũng vẫn là tài sản chung của hai người. Cạnh đó, khi giải quyết quan hệ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cấp sơ thẩm cũng cần phải tính toán dứt điểm những tài sản khác của họ. Cụ thể là với căn nhà, theo tòa phúc thẩm, trong giấy tờ chủ quyền có cả tên ông T. nên nó cũng phải được coi là tài sản chung. Ngoài ra, còn những tài sản khác như xe cộ, giường tủ… cũng chưa được cấp sơ thẩm xét đến.

Từ các phân tích trên, TAND TP Cần Thơ đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của quận Ninh Kiều để xét xử lại. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc khi có diễn tiến mới.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH