Filed under: THÔNG TIN TƯ VẤN | Leave a comment »
AI BỒI THƯỜNG NGƯỜI SỬ DỤNG NƯỚC TƯƠNG UNG THƯ VÀ VÔ SINH DO THANH TRA CHẬM CÔNG BỐ?
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ sáu, 25/05/2007
* 69/213 mẫu kiểm nghiệm mới nhất trên cả nước có 3-MCPD
* Tác hại của 3-MCPD: gây ung thư và làm giảm khả năng sinh sản
* Bộ Y tế: Chậm trễ công bố là do Thanh tra Sở Y tế TP.HCM
* Nam Dương thu hồi toàn bộ các sản phẩm nước tương truyền thống
Theo thông tin chúng tôi nắm được, kết quả kiểm nghiệm mới nhất về hàm lượng chất 3-MCPD có trong nước tương của các cơ sở sản xuất nước tương trên cả nước cho thấy: trong số 213 mẫu nước tương được gửi về kiểm nghiệm tại Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) từ tháng 1.2006 đến ngày 30.4.2007, thì có đến 69 mẫu “dính” hàm lượng chất 3-MCPD vượt mức cho phép (1mg/kg – theo tiêu chuẩn của Việt Nam)!
———————————————————————————–
Tác hại của chất 3-MCPD
3-MCPD là một dạng ô nhiễm của acid thủy phân protein thực vật có vị mặn, được sinh ra trong quá trình thủy phân các protein thực vật (như đậu tương) bằng HCl.
Theo tư liệu mà Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cập nhật được từ các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy:
1/ Thí nghiệm về tính độc hại của 3-MCPD bằng cách cho chuột cống uống 3-MCPD liên tục với liều 1 mg/kg thể trọng/ngày thì thấy tinh trùng giảm khả năng hoạt động và giảm khả năng sinh sản của chuột đực.
2/ Với liều từ 10 mg – 20 mg/kg thể trọng/ngày hoặc cao hơn sẽ gây tổn thương tinh hoàn chuột đực, biến đổi hình dạng tinh trùng, giảm khả năng sinh sản của con đực ở động vật có vú khác.
3/ Với liều 25 mg hoặc cao hơn liên quan đến tổn thương thần kinh trung ương. Với liều 30 mg/kg kéo dài trong 4 tuần sẽ làm tăng trọng lượng thận của chuột.
4/ Còn nghiên cứu tính gây độc và gây ung thư dài ngày trên chuột cống cho thấy, với liều 19 mg/kg thể trọng/ngày của chất 1,3 DCP (được hình thành từ 3-MCPD) đã gây khối u thận, gan, biểu mô miệng, lưỡi, tuyến giáp và biểu hiện ung thư do biến đổi gen…
————————————————————————————–
Mức vượt thấp nhất là 1,40 mg/kg và mức vượt cao nhất lên đến 3.029 mg/kg (nghĩa là vượt gấp hơn 3 ngàn lần so với mức cho phép!). Đáng chú ý hơn, một đề tài nghiên cứu, khảo sát của một thạc sĩ của Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) còn cho thấy sự hiện diện của chất 3-MCPD trong nước tương còn ghê gớm hơn nữa. Qua khảo sát nước tương của 41 cơ sở trên địa bàn TP.HCM thì có tới 33 mẫu nước tương có chất 3-MCPD vượt mức quy định từ 2 mg/kg – 55.000 mg/kg! trong số 8 mẫu còn lại đạt yêu cầu, chỉ có 2 mẫu nước tương của cơ sở trong nước (1 của tư nhân và 1 của liên doanh với nước ngoài), 6 mẫu còn lại thuộc về nước tương nhập khẩu!
Nhận định về tình trạng nước tương lưu hành trên thị trường có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép quá cao, bác sĩ Nguyễn Xuân Mai – Viện phó Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) nói: “Sở dĩ phần lớn nước tương có hàm lượng chất 3-MCPD vượt mức cho phép là vì các cơ sở sản xuất không chịu áp dụng quy trình sản xuất nước tương theo kiểu cổ truyền – là phương pháp lên men, bởi vì phương pháp này cho ra sản phẩm chậm. Để có sản phẩm nhanh, các cơ sở thường áp dụng phương pháp sản xuất dùng HCl (acid Chlohydric) để thủy phân, 3-MCPD sinh ra từ đó”.
Thực ra, không phải chất 3-MCPD được nói đến khi nước tương Chinsu bị nước ngoài phát hiện có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép vào tháng 7.2005, mà vào năm 2001 trong nước đã có cuộc thảo luận về loại chất này. Lẽ ra, từ đó cho đến nay đã 7 năm trôi qua, các nhà sản xuất phải ý thức được sự tác hại đến sức khỏe của hàng triệu người tiêu dùng khi hằng ngày phải dùng nước tương có hàm lượng 3-MCPD vượt mức quy định nhiều lần, tự biết mình cần phải thay đổi quy trình sản xuất, thì đến nay tình hình vẫn vậy! Thậm chí có loại nước tương, hàm lượng chất 3-MCPD năm sau còn cao hơn năm trước nhiều lần! Bác sĩ Nguyễn Xuân Mai cho rằng: “Đây là sự tham lam của các cơ sở, tham lam hơn khi họ dùng HCl dạng công nghiệp chứ không phải HCl dùng trong thực phẩm, điều đó càng độc hại hơn cho người sử dụng, bởi HCl dạng công nghiệp có nhiều tạp chất!”.
Bên cạnh việc nhiều cơ sở không đặt lợi ích sức khỏe người tiêu dùng lên hàng đầu để làm ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh, thì cơ quan quản lý cũng vậy. Lẽ ra cơ quan chức năng phải sớm công bố rộng rãi thông tin về những sản phẩm không đạt chuẩn, để người tiêu dùng biết mà tránh, thì lại giấu giếm kết quả kiểm tra! Cụ thể, trong quý 3 năm 2005, Thanh tra Sở Y tế TP.HCM đã kiểm tra 30 cơ sở sản xuất nước tương, thì có đến 20 cơ sở có nước tương chứa hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép, vậy mà không ai biết!
Chính vì cơ quan chức năng không công bố rộng rãi thông tin, điều đó đã tạo sự “lờn mặt” cho các cơ sở sản xuất, nên nhiều cơ sở vẫn không cải thiện, tiếp tục vi phạm. Chỉ tội nghiệp người tiêu dùng “lãnh” lấy hậu quả lâu dài! Hôm qua, khi đọc thông tin về nước tương trên Báo Thanh Niên , chị P. (ngụ ở Q.4, TP.HCM) đã gọi điện cho chúng tôi tỏ ra lo lắng: “Nhà sản xuất và cơ quan chức năng phải có biện pháp thế nào, chứ để tình trạng nước tương thế này, thì người tiêu dùng chúng tôi rất lo lắng khi phải sử dụng mỗi ngày…!”.
Bộ Y tế: Chậm trễ công bố là do Thanh tra Sở Y tế TP.HCM
Việc kiểm tra các cơ sở sản xuất nước tương đã được Sở Y tế TP.HCM thực hiện từ cuối năm 2006 và mẫu cuối cùng thực hiện vào ngày 2.3.2007. Tuy nhiên, thời điểm cuối tháng 3.2007, Bộ Y tế đã nhận được thông tin “cơ quan kiểm nghiệm và Thanh tra Sở Y tế từ chối cung cấp có bao nhiêu cơ sở sản xuất nước tương bị phát hiện hàm lượng chất 3-MCPD cao quá mức cho phép”.
Vì vậy, ngày 26.3, Thanh tra Bộ Y tế đã có văn bản gửi Chánh thanh tra Sở Y tế TP.HCM đề nghị: “Để kịp thời đánh giá thực trạng việc chấp hành các quy định của Bộ Y tế đối với các cơ sở sản xuất nước tương tại TP.HCM cũng như thông tin cần thiết để trả lời báo chí và lãnh đạo Bộ Y tế, đề nghị đồng chí Chánh thanh tra Sở Y tế báo cáo cụ thể về Thanh tra Bộ kết quả thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở sản xuất nước tương trên địa bàn TP.HCM trong thời gian qua”.
Cũng trong văn bản này, Thanh tra Bộ nêu rõ: “Đối với việc công bố các cơ sở vi phạm hành chính đã bị xử lý theo quy định hiện hành cho cơ quan báo chí, đề nghị Thanh tra Sở Y tế báo cáo với lãnh đạo Sở trước khi cung cấp thông tin. Thanh tra Bộ xin lưu ý: nếu hết thời hạn khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở vi phạm theo quy định của pháp luật kể từ ngày ban hành quyết định thì Thanh tra Sở có trách nhiệm phải cung cấp thông tin khi cơ quan báo chí yêu cầu”. Tuy nhiên, Thanh tra Bộå cho biết: phải đến hơn một tháng sau, đầu tháng 5 vừa rồi mới nhận được báo cáo kết quả thanh tra các cơ sở sản xuất nước tương tàu vị yểu của Thanh tra Sở Y tế (văn bản ngày 7.5.2007).
Trả lời câu hỏi về chất lượng của nước tương Chinsu (Công ty Vitec food), Thanh tra Bộ Y tế cho biết: thời điểm 2005, kiểm tra lần một,
công ty này vi phạm và đã xử phạt, lần hai tái kiểm tra đã đạt tiêu chuẩn. Trong năm 2006, công ty này đã liên tục chủ động lấy mẫu xét nghiệm theo lô, báo cáo kết quả, có thay đổi dây chuyền công nghệ mới và đã đạt tiêu chuẩn cho phép.
Một chuyên gia cho rằng: việc kiểm tra nhắc nhở các công ty có sản phẩm chưa đạt chuẩn là rất cần thiết và cần công khai sản phẩm không đạt để người tiêu dùng lựa chọn. Đồng thời, khi doanh nghiệp có khắc phục cũng cần thông tin công khai. Chỉ khi thông tin đầy đủ, chính xác thì người tiêu dùng mới có cơ hội được sử dụng sản phẩm an toàn.
Theo ông Nguyễn Thanh Phong, Phó cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, các địa phương hoàn toàn có quyền chủ động về thông tin kết quả thanh kiểm tra. Vừa qua, Hà Nội cũng đã rất chủ động trong việc công bố lịch kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm để báo chí tham gia trực tiếp. Với các sản phẩm nước tương đã phát hiện không đạt tiêu chuẩn, cần thu hồi và cấm lưu hành. Các cơ sở có sản phẩm này cần phải thay đổi quy trình sản xuất, sản phẩm chỉ được phép lưu hành trở lại khi đã đạt tiêu chuẩn cho phép. Cơ quan chức năng cũng cần tăng cường lấy mẫu bất kỳ, ngẫu nhiên để xét nghiệm và còn phải kiểm tra điều kiện vệ sinh nhà xưởng…
Nguồn: Thanh Tùng-LiênChâu – Báo Thanh niên
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn, Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »
LẦN ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM MỘT BLOGGER BỊ KIỆN RA TÒA
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ hai, 29/10/2007
Ngày 26/10, TAND quận Tân Bình, TPHCM đã chính thức thụ lý đơn kiện của ca sĩ Phương Thanh khởi kiện blogger Cogaidolong. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng, một blogger bị kiện ra toà.
Thể theo yêu cầu của tòa, trong buổi làm việc hôm qua, luật sư Nguyễn Văn Hậu, người bảo vệ quyền lợi cho ca sĩ Phương Thanh đã cung cấp thêm cho cơ quan xét xử một số chứng cứ mới, đủ điều kiện cho vụ án được thụ lý. Cụ thể là xác định đầy đủ tên tuổi của người bị kiện là Lê Nguyễn Hương Trà, ngụ quận Tân Bình và những bằng chứng để chứng minh blogger Cogaidolong là chính là nhà báo Hương Trà. Ngoài ra, nguyên đơn còn đưa thêm một số chứng cứ khác để biện luận cho yêu cầu khởi kiện của mình.
Cũng theo luật sư Hậu, mọi vấn đề liên quan đến vụ kiện sẽ được ông trực tiếp đảm trách và hoàn tất vì Phương Thanh đang phải đi diễn ở Hà Nội.
Vị luật sư của đoàn TPHCM cũng bày tỏ, ông rất tự tin về vụ kiện này. Dù đây là loại án mới nhưng vẫn đủ cơ sở để giải quyết theo luật tố tụng. “Hình thức vi phạm là sử dụng mạng điện tử để xúc phạm hay ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, điều này luật pháp không cho phép. Đối với việc khôi phục những dấu tích của blogger Cogaidolong là hoàn toàn có thể”, vị luật sư nói.
Còn theo ông Phan Văn Hải, chánh án TAND quận Tân Bình, yêu cầu nguyên đơn xác định rõ một số nội dung khởi kiện đã được đáp ứng, hồ sơ kiện của Phương Thanh hội đủ chứng cứ và điều kiện để thụ lý theo đúng pháp luật. Hiện ông vẫn chưa quyết định chuyển hồ sơ cho thẩm phán nào giải quyết.
Tám ngày trước đó, tòa án Tân Bình tỏ ra lúng túng khi nhận được đơn khởi kiện và chứng cứ mà Phương Thanh cung cấp chỉ là những bản photo lấy từ blog của Cogaidolong. Vị chánh tòa từng cho biết: “Đây là vụ án rất mới, phức tạp nên phải nghiên cứu rất kỹ và trao đổi với thành phố”. Tiếp đó, tòa đã yêu cầu nguyên đơn Phương Thanh cung cấp thêm nhiều bằng chứng để chứng minh blogger Cogaidolong có phải là Hương Trà hay không? Nội dung của các bản photo đó đã gây ảnh hưởng xấu và cụ thể như thế nào với cô? Từ đó mới có căn cứ buộc trách nhiệm với Hương Trà.
Ngày 16/10, ca sĩ Phương Thanh đã nộp đơn khởi kiện blogger Cogaidolong, (người mà theo cô là nhà báo có bút danh Hương Trà) vì đã xúc phạm danh dự của cô khi thông tin sai về liveshow “Mưa”. Ngoài ra, ca sĩ cũng cho rằng entry “Chuyện của… Cờ” trên blog cogaidolong ám chỉ, xúc phạm tới chị nên yêu cầu blogger Hương Trà phải xin lỗi trên 3 tờ báo.
Trong đơn, Phương Thanh yêu cầu tòa án quyết định buộc blogger Cogaidolong phải công khai xin lỗi với nội dung: “Tôi xin lỗi Phương Thanh vì đã viết không đúng sự thật”.
Nguồn: Vũ Mai -VnExpres
——————————————————–
NHÂN VỤ CA SĨ PHƯƠNG THANH KIỆN BLOGGER Cogaidolong
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ sáu, 12/10/2007
9-10, ca sĩ Phương Thanh đã gởi đơn đến TAND TPHCM kiện blogger CogaiDolong. Nguyên nhân vụ kiện, theo ca sĩ Phương Thanh, vì 2 entry của blogger (người viết blog) này “bôi nhọ danh dự” và xuyên tạc live show Mưa của cô.
Blog CogaiDolong thể hiện blogger này và ca sĩ Phương Thanh từng chơi rất thân
Dư luận đặt câu hỏi, thực chất của vụ lùm xùm này là gì, khi chính hai người từng có thời kỳ chơi rất thân với nhau; và sau live show Mưa không thành công lắm của chính ca sĩ này?
Dù bất kỳ lý do gì, vụ kiện hy hữu này cho thấy nhiều vấn đề về văn hóa blog, quản lý blog… trở nên rất thời sự.
Kiện tụng vì blog ngày càng phổ biến
Ranh giới giữa quyền tự do phát biểu ý kiến cá nhân và bôi nhọ một cá nhân khác trên blog của mình khá mong manh. Dù điều bạn nói là sự thật thì bạn vẫn có thể bị “bắt giò”
Thực ra trên thế giới, những vụ kiện như vậy gần như bình thường. 11,5 triệu kết quả khi tìm kiếm bằng Google với các từ “các vụ kiện + những người viết blog” bằng tiếng Anh (bloggers + lawsuits). Con số khủng khiếp này cho thấy, việc kiện tụng liên quan đến blogger được cộng đồng blogger lẫn báo chí quan tâm đến mức nào.
Theo thống kê của website chuyên về thế giới blog Technorati, trong hai năm 2004 – 2005, khi thế giới có hơn 50 triệu blog thì có 50 vụ kiện blogger. Chuyện kiện tụng blogger vì những thông tin, nhận xét mà họ viết trên blog ở nước ngoài đã khá phổ biến trong 3 năm gần đây.
Phần lớn người đứng đơn kiện đều cho rằng chủ nhân blog phỉ báng, bôi nhọ mình. Cũng có công ty kiện blogger vì cho rằng thông tin trên blog gây thiệt hại cho công việc kinh doanh của họ.
Đầu năm nay, Rafe Banks, một luật sư ở Mỹ, đã bị thân chủ David Milum của mình bêu riếu trên blog sau một vụ bào chữa thất bại. Ông Milium cho rằng, luật sư Banks đã nhận tiền của bên bị và hối lộ quan tòa. Hậu quả, blogger Milium phải bồi thường danh dự cho luật sư Banks 50.000 USD.
Cũng đầu năm nay, một công ty chuyên về thanh toán trực tuyến GreenZap đã kiện 2 công ty cung cấp dịch vụ blog là Liquid Web và Vodien đòi bồi thường thiệt hại 57,5 triệu USD, do 2 công ty này đã không can thiệp khi các blogger đưa thông tin thất thiệt gây thiệt hại cho việc làm ăn của GreenZap.
Lằn ranh mỏng manh
Blog phản ánh chủ nghĩa cá nhân rõ nét nhất nhưng phải tôn trọng pháp luật và đặc biệt là phải có nền tảng văn hóa, bởi nó là loại nhật ký mở, có tính báo chí, nên có tác động xã hội. Blog là ngôi nhà riêng của blogger. Có những ngôi nhà cửa đóng then cài, chỉ có chính chủ nhân hay vài bạn bè thân hữu mới được lui tới; nhưng cũng có những vị chủ nhà mở toang cửa cho mọi người vào xem, bình luận.
Nếu bạn là chủ một ngôi nhà mở, cẩn thận trong ngôn từ không bao giờ thừa. Ranh giới giữa quyền tự do phát biểu ý kiến cá nhân và bôi nhọ một cá nhân khác trên blog của mình khá mong manh. Các vụ blogger thua kiện ở nước ngoài phần lớn cũng do bị bắt bẻ ở một số câu chữ nhạy cảm, khiến bên đi kiện có đủ chứng lý cho rằng họ bị vu khống.
Có một blogger khá nổi tiếng cho rằng, phát ngôn trên blog cũng như nói chuyện trong quán cà phê. Không hoàn toàn như vậy nếu blog đặt ở chế độ public – cho xem tự do, tức là bạn đứng nói trước một đám đông hàng ngàn người.
Chính vì sự mỏng manh của lằn ranh này mà Biên giới Điện tử (EFF), một tổ chức chuyên bảo vệ sự tự do trong thế giới số, đã đưa ra bản hướng dẫn blogger làm sao để tránh bị quy tội bôi nhọ cá nhân theo luật ở Mỹ. (Có thể tham khảo tại http://www.eff.org/bloggers/lg/faq-defamation.php). Một chi tiết rất đáng để các blogger lưu ý trước khi “hạ phím”: Dù điều bạn nói là sự thật thì bạn vẫn có thể bị “bắt giò” nếu không chứng minh được trước tòa. Và như vậy, dù không nói sai, không bịa đặt nhưng blogger vẫn bị quy là “bôi nhọ cá nhân”.
Vấn đề pháp lý ở VN
Một diễn biến khác: Blogger CogaiDolong dọa kiện ngược Phương Thanh, vì các fan của ca sĩ này đã có những comment lăng nhục CogaiDolong! Với thực tế luật pháp ở nước ta, những “chứng cứ ảo” có đủ sức buộc tội lẫn nhau? Có luật sư cho rằng, Luật Giao dịch điện tử cũng đủ giá trị pháp lý, giá trị làm chứng. Điều này vẫn chưa chắc, khi công tác quản lý blog vẫn còn nhiều lỗ hổng (không có trong Luật Báo chí).
Theo ông Đỗ Quý Doãn, Thứ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông, công tác quản lý blog sẽ có bằng văn bản quy phạm pháp luật, trên cơ sở sẽ sửa đổi Quyết định 27 của Bộ VHTT trước đây. Nhưng nên nhớ rằng mọi hành vi của blogger – công dân đều được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự. Blogger hoàn toàn có thể phạm tội nếu đủ chứng cứ buộc tội.
Một số luật gia cho rằng, các entry đã post lên blog khó có thể được coi là chứng cứ, vì chúng có thể bị sửa đổi… Vấn đề này có thể giải quyết được, với điều kiện có sự hợp tác của những nhà cung cấp dịch vụ. Nhưng điều này không khả thi, bởi họ không vì… CogaiDolong! CogaiDolong đâu có “tầm” cỡ như… Bin Laden để các nhà cung cấp dịch vụ phải nhọc công!
Đặt vấn đề về văn hóa blog
Trên Báo NLĐ, chúng tôi từng đặt vấn đề này. Có lẽ đây là nền tảng căn bản để phát huy được tính ưu việt của blog, biến nó thành những kênh chia sẻ thông tin, chia sẻ tình cảm, suy nghĩ tích cực, có ích. Vấn đề viết gì ở blog của mình là quyền tự do của blogger đó trong khuôn khổ luật pháp, miễn là không chống lại đất nước, không xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác…
Rất cần một quy tắc ứng xử được xây dựng để làm cơ sở tạo nên một cộng đồng blogger VN lành mạnh. Nhưng vấn đề cũng không đơn giản, bởi ai, tổ chức nào là người đứng ra làm nhiệm vụ này, khi mỗi blogger là một cá tính riêng biệt?
Cuối cùng, vẫn chỉ là trách nhiệm công dân.
Những nghệ sĩ – nạn nhân của blog
– Ca sĩ Hồ Ngọc Hà: Tôi là nạn nhân của rất nhiều blog. Tôi cũng chỉ đọc và biết thế thôi chứ không muốn tìm chủ nhân của blog đó ra để đôi chối. Dù có biết blogger đó là ai thì tôi cũng chẳng làm ầm lên làm chi, chẳng hay ho gì cho cả hai bên.
– NSƯT Ngọc Giàu: Có lần tôi dự phiên tòa xét xử con một người bạn sử
dụng, mua bán chất ma túy. Hôm sau tôi nhận được thông tin trên một blog có hình tôi ngồi trong phiên tòa và “chua” thêm câu: “Ngọc Giàu ra tòa vì bị giựt hụi”! Tôi thật sự bị sốc!
– NS Vũ Luân: Một số blogger là fan cải lương lên án việc tôi không thích diễn chung với Tú Sương; thích “cặp bồ”, làm “kép nhí” của Thoại Mỹ… Gần đây có một blog cá nhân đã ám chỉ tôi với những lời lẽ xúc phạm rằng tôi yêu chị Thoại Mỹ để “đào của” !?
– NSƯT Diệu Hiền: Gần đây tôi nghe bạn bè nói có blog đưa hình ảnh tôi đang diễn tại Mỹ lên và bình luận: “Nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại đi ăn xin”. Tôi vô cùng buồn và đã bật khóc…
Nguồn: LƯU NHI DŨ – ĐỒNG PHƯỚC VINH – NLĐ
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn, Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »
KIỆN HÀNG XÓM VÌ ĐƯA TIN CHO BÁO
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ tư, 21/11/2007
Cho rằng bà hàng xóm cung cấp thông tin để báo chí “nói xấu” mình, ông láng giềng kiện ra tòa đòi bồi thường 30 triệu đồng vì “tổn thương danh dự, nhân phẩm…”
Dự kiến sáng 26-11 tới, TAND TP sẽ xử phúc thẩm một vụ án khá ngộ nghĩnh: Ông K., ngụ quận 12 kiện đòi bà X., hàng xóm bồi thường 30 triệu đồng vì cho rằng bà X. cung cấp thông tin sai lệch cho báo chí nhằm bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của ông.
Bài báo và lá thư cảm ơn 
Theo đơn kiện ngày 27-7-2006, dựa trên thông tin bà X. cung cấp, báo T. đã đăng bài viết “Một căn nhà “ngang nhiên cười cợt” Nghị định 36” (phản ánh việc ông K. cất nhà chiếm lề đường, nằm ngay trên tuyến lắp đặt hệ thống cấp nước, ngang nhiên tồn tại…). Sau đó ngày 18-8-2006, bà X. có thư gửi tổng biên tập báo T. với “nhiều lời lẽ không đúng sự thật” về ông K.
Theo ông K., bài báo “bóp méo sự thật” và lá thư “bôi nhọ” của bà X. đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của ông. Ông bị bạn bè làm ăn cắt quan hệ, ngay chính vợ con cũng nghi kỵ. Bản thân ông phải nhiều lần giải trình với các cơ quan chính quyền địa phương. Tinh thần ông bị ảnh hưởng, ức chế nên không thể làm ăn được.
Ông K. xác định với tòa là mỗi tháng ông thu nhập trung bình 2,5 triệu đồng. Từ tháng 8-2006 đến tháng 9-2007, ông không làm được gì, thiệt hại là 22,5 triệu đồng nhưng ông chỉ đòi bồi thường 15 triệu đồng. Ngoài ra, ông đòi bà X. bồi thường danh dự 15 triệu đồng. Như vậy, tổng số tiền mà ông đòi bà X. bồi thường là 30 triệu đồng.
Về phần mình, bà X. xác nhận rằng có phản ánh việc ông K. xây nhà lấn chiếm đến báo T. Sau đó phóng viên báo này đã tự đi thu thập tư liệu viết bài chứ bà không cung cấp thông tin gì khác. Đồng thời, bà cũng xác nhận là có viết thư vào ngày 18-8-2006 gửi tổng biên tập báo T., nội dung nhằm “cám ơn báo T. đã đăng đúng sự thật”. Bà chỉ gửi thư cho tổng biên tập báo T. chứ không gửi cho tờ báo nào khác, lại không xúc phạm gì đến ông K. nên bà không đồng ý bồi thường.
Tòa bác yêu cầu
Tháng 7 vừa qua, TAND quận 12 đã xử sơ thẩm, cho rằng nếu bà X. có đơn khiếu nại, cung cấp thông tin cho báo chí thì cũng là quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong trường hợp báo T. đăng sai sự thật thì ông K. có quyền yêu cầu báo T. xin lỗi, đính chính, bồi thường thiệt hại theo quy định.
Về bức thư 18-8-2006 của bà X. gửi tổng biên tập báo T., tòa nhận định dù có những câu chữ chưa đúng nhưng không có những lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của ông K. Đồng thời bà X. không phát tán nội dung thư cho những người khác mà chỉ gửi cho tổng biên tập báo T. Vì vậy việc này không ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông K.
Ngoài ra theo tòa, ông K. không cung cấp được chứng cứ chứng minh những thiệt hại thực tế mà ông phải gánh chịu, cũng như chi phí hợp lý để ngăn chặn thiệt hại. Ông K. cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh hành vi của bà X. là nguyên nhân dẫn đến các thiệt hại của ông.
Từ các phân tích trên, TAND quận 12 đã tuyên bác yêu cầu bồi thường của ông K. Ngay sau đó, ông K. đã làm đơn kháng cáo gửi TAND TP.
Quyền cung cấp thông tin cho báo chí
Vụ kiện trên tuy nhỏ nhưng đưa ra được khá nhiều khía cạnh pháp lý thú vị.
Một thẩm phán TAND TP.HCM nhận xét, vụ án xoay quanh ba vấn đề: quyền và trách nhiệm giữa công dân với cơ quan chức năng; công dân với cơ quan báo chí và báo chí với cơ quan chức năng. Nếu vụ án không được giải quyết thấu đáo thì e rằng sẽ tạo tiền lệ xấu như từ nay không ai dám cung cấp thông tin cho báo chí vì sợ bị kiện hoặc ngược lại, tha hồ đưa tin sai lệch, “mượn tay” báo chí bôi nhọ danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác.
Theo thẩm phán này, trước hết phải xem xét bài báo có liên quan. Nếu nội dung bài báo là đúng đắn thì việc ông K. khởi kiện tờ báo đã đưa tin là sai, chưa nói gì đến việc kiện bà X. Ngược lại, nếu bài báo viết không khách quan, sai sự thật thì thẩm phán này và nhiều chuyên gia khác cũng đồng tình rằng lẽ ra ông K. nên kiện tờ báo chứ không phải kiện bà X. Bởi thông tin cung cấp của bà X. chỉ là thông tin ban đầu. Tiếp nhận thông tin đó, tờ báo T. phải đi xác minh, tìm hiểu rồi mới chủ động quyết định có phản ánh hay không trước công luận.
Như vậy, tờ báo T. phải chịu trách nhiệm về chuyện này. Còn bà X. không thể buộc báo phải đăng thông tin bà cung cấp. Bà chỉ thực hiện quyền và trách nhiệm công dân của bà đối với những gì bà cho là không đúng, không hợp lý. Có thể những gì bà cung cấp là chưa đúng, chưa đủ nhưng đó là do những hạn chế trong việc thu thập chứng cứ, nhận xét sự việc của người dân bình thường. Vì thế bà mới gửi đơn nhờ báo, đài xác minh, làm rõ việc bà cho là sai trái…
Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin tới bạn đọc về kết quả phiên xử phúc thẩm.
Kiện cả báo
Ông K. đã nộp đơn khởi kiện đến TAND quận Tân Bình, đòi báo T. bồi thường 60 triệu đồng thiệt hại vật chất và tinh thần và đăng đính chính bài báo trên. Tòa án quận Tân Bình đã thụ lý nhưng sau đó chuyển hồ sơ ra Hà Nội vì tờ báo T. có trụ sở chính tại đây. Đến nay, vụ án này chưa được đưa ra xét xử.
Nguồn: Hoàng Yến-Báo Pháp Luật.TP-HCM
Filed under: LDS - Tình huống thực tiễn, Quyền nhân thân, Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »
VỤ ÁN: CHỖ THOÁT NƯỚC MƯA
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ ba, 13/11/2007
Tòa chỉ dựa vào thông lệ để buộc một bên đập tường, lấy chỗ cho hàng xóm thoát nước mưa. Án tuyên không thực tế, thi hành án bó tay!

Nhà ông Nguyễn Đắc Diệp và nhà bà Đặng Thị Điểu liền kề nhau ở đường Nguyễn Trãi, phường 5, TP Tuy Hòa (Phú Yên). Lâu nay tình làng nghĩa xóm êm đẹp, nước mưa từ mái sau nhà bà Điểu vẫn đổ thoải mái sang khuôn viên đất trống nhà ông Diệp.
Mâu thuẫn giữa hai bên phát sinh từ năm 2004 khi ông Diệp xây sửa nhà. Ông vừa xây xong cũng là lúc bà Điểu phát đơn khiếu nại.
Đòi thoát nước mưa trên đất người khác
Theo đơn của bà Điểu, 20 năm trước, ông nội của ông Diệp có chừa 0,5 m đất từ phía vách hậu nhà bà để mái sau nhà bà thoát nước mưa.
Nay ông Diệp sửa lại nhà đã xây tường sát vách hậu nhà bà, khiến mái sau nhà bà không còn chỗ thoát nước mưa nữa. Do vậy, bà yêu cầu ông Diệp phải đập bỏ tường xây và phục hồi nguyên trạng.
Ông Diệp thì bảo vách tường này được xây trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của ông, được UBND tỉnh Phú Yên cấp “giấy hồng” năm 2003 (có chữ ký công nhận giáp ranh của các hộ liền kề, trong đó có cả bà Điểu). Dù vậy, trước khi sửa nhà ông vẫn qua nói chuyện với bà Điểu.
Hai bên thống nhất là ông chịu trách nhiệm làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước chảy bên hông nhà bà Điểu. Chẳng hiểu vì sao bà Điểu lại đổi ý, không chịu làm hệ thống thoát nước mưa nữa mà quay sang buộc ông trả lại hiện trạng ban đầu.
“Tôi đã đề xuất hướng giải quyết hợp lý mà bà ấy chẳng chịu. Chẳng lẽ đất của tôi mà lại phải để cho bà ấy sử dụng hay sao?” – ông Diệp bức xúc.
Xử theo thông lệ
Sau đó, dù chính quyền địa phương đã ba lần tổ chức hòa giải, động viên hai bên theo hướng ông Diệp làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước cho bà Điểu nhưng bà Điểu vẫn khăng khăng đòi đập bỏ tường nhà ông Diệp. Thế là vụ việc phải chuyển đến tòa án.
Tháng 6-2006, TAND TP Tuy Hòa cho rằng việc xây dựng vách tường nhà ông Diệp đã xâm hại đến quyền lợi của bà Điểu, khiến mái sau nhà bà Điểu không có chỗ thoát nước mưa nên tuyên buộc ông Diệp phải tháo dỡ vách tường này.
Ông Diệp kháng cáo. Sau đó, xử phúc thẩm, dù công nhận vách tường nằm trong phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Diệp, không lấn chiếm đất của bà Điểu nhưng TAND tỉnh Phú Yên bảo theo thông lệ địa phương, người dân thường làm mái ngói phía sau nhà kéo dài so với vách nhà ít nhất hai miếng ngói (khoảng 0,4 m) để thoát nước mưa.
Từ đó, TAND tỉnh Phú Yên đã y án sơ thẩm, quyết định cắt 0,4 m đất của ông Diệp để giao cho bà Điểu làm chỗ thoát nước mưa.
Có hợp tình hợp lý?
Luật hiện hành không có quy định nào buộc chủ sở hữu bất động sản liền kề phải cho nhà kế bên đổ nước mưa qua. Ngược lại, theo Điều 269 Bộ luật Dân sự, chủ sở hữu nhà có nghĩa vụ phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề.
Hơn nữa ở đây, nhà bà Điểu vẫn còn phương pháp thoát nước mưa khác là làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước, không phải chỉ có một cách bắt buộc duy nhất là cho đổ nước mưa xuống đất ông Diệp.
Đáng nói là phương án làm hệ thống máng này đã được ông Diệp đề nghị đứng ra lo liệu và bà Điểu từng đồng ý trước khi ông Diệp xây nhà.
Như vậy, phán quyết của cả hai cấp tòa đều chưa đúng quy định của Bộ luật Dân sự. Chưa kể việc TAND tỉnh Phú Yên dựa vào “thông lệ địa phương” thay cho luật để xét xử liệu đã đúng chưa bởi theo Điều 3 Bộ luật Dân sự, tòa án có thể áp dụng tập quán nhưng chỉ trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận, trong khi ở đây quy định thì đã có rồi.
Bế tắc, Thi hành án kiến nghị
Phán quyết của tòa không chỉ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của ông Diệp mà còn dẫn đến việc bản án đến nay vẫn không thể thi hành được.
Theo Thi hành án (THA) dân sự TP Tuy Hòa, nếu tháo gỡ vách tường nhà ông Diệp như bản án thì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu ngôi nhà, hậu quả là nhà có thể sập. Vậy mà khi xét xử, cả hai cấp tòa đều không xem xét đến việc tháo gỡ có ảnh hưởng đến những vật kiến trúc liên quan khác hay không.
Giả sử nếu cơ quan THA thẳng tay làm mà sập cả ngôi nhà của ông Diệp thì ai phải chịu trách nhiệm?
Bế tắc, tháng 1-2007, THA dân sự TP Tuy Hòa có công văn gửi TAND tỉnh Phú Yên đề nghị giải thích rõ các nội dung trên. Sau bốn tháng chờ đợi vẫn không nhận được văn bản hồi âm nên tháng 4, THA Dân sự TP Tuy Hòa phải kiến nghị Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét lại bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Phú Yên theo trình tự giám đốc thẩm.
Nguồn: Hoàng Văn-Báo Pháp Luật TP
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn, Quyền sở hữu | Leave a comment »
HAI PHỤ NỮ 13 NĂM ĐI ĐÒI MỘ
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ ba, 11/09/2007
Đó là hai chị em bà Nguyễn Thị Tuyết Oanh – Nguyễn Thị Tuyết Khuê, trú ở phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội, đồng nguyên đơn trong vụ kiện dân sự khá hy hữu: Đòi nghĩa địa của dòng họ bị người khác chiếm dụng.
Qua gần chục phiên tòa (hai lần giám đốc thẩm), vụ án lại trở về điểm xuất phát. Suốt quá trình hồ sơ “ngâm” ở tòa và ngay cả khi bản án đã có hiệu lực thi hành, phía bị đơn vẫn liên tục xâm hại quyền lợi hợp pháp của phía nguyên đơn.
…Tại phòng tiếp bạn đọc báo Tiền phong, sau hơn 4 năm, tôi gặp lại hai phụ nữ vóc dáng bé nhỏ, ăn mặc lịch sự, nói năng nhỏ nhẹ.
“Tài sản” bà Oanh, bà Khuê khởi kiện để đòi lại bao gồm nhà thờ, nhà văn bia, gần ba mươi ngôi mộ, và dĩ nhiên là cả diện tích đất bao quanh các công trình kiến trúc đặc biệt ấy; toàn bộ khối tài sản hiện thuộc địa bàn phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Hơn 4 năm trước tôi đã nhận đơn, hồ sơ, và sau khi xác minh, đã viết bài về vụ kiện của họ. Bài báo có nhan đề “8 lần mở toà, vẫn chưa kết thúc?!” đăng trên Tiền phong số ra ngày 9/4/2003. Chuyện đáo tụng đình không tránh được phải nêu tên các cấp toà, ngày tháng xét xử, nội dung các bản án.
Vụ kiện của bà Oanh – bà Khuê được TAND TP Hà Nội xét xử sơ thẩm lần đầu ngày 21/8/1995, tức đến nay đã sang năm thứ 13. Phiên toà ấy đã bác bỏ hoàn toàn yêu cầu của bà Oanh – bà Khuê.
Hai bà chống án. TANDTC xử phúc thẩm ngày 10/5/1996, sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu đòi nhà thờ, nhà văn bia, còn thì bác các yêu cầu khác. Bà Oanh, bà Khuê tiếp tục khiếu nại.
Tòa thượng thẩm (Ủy ban thẩm phán TANDTC) họp ngày 11/9/1999, ra bản án giám đốc thẩm, tuyên hủy cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm, trả hồ sơ lại cho TAND TP Hà Nội xét xử theo hướng buộc phía bị đơn phải giao lại cho nguyên đơn ngoài nhà thờ, nhà văn bia, còn có các ngôi mộ, và một phần đất hợp lý trong khu nghĩa địa xưa để phía nguyên đơn có đường vào thăm viếng, hương khói các phần mộ ông bà tổ tiên.
Đường hướng của toà thượng thẩm hóa ra lại không dễ được tòa sơ thẩm chấp nhận. Hai lần TAND TP Hà Nội ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, hai lần bà Oanh, bà Khuê phải kháng án, và TANDTC phải vào cuộc để bác bỏ. Ngày 30/7/2002, TAND TP Hà Nội buộc phải mở phiên sơ thẩm lần hai (phiên toà thứ tám của vụ kiện), ra bản án theo hướng bản án giám đốc thẩm đã tuyên.
Ngày ấy, khi bà Oanh, bà Khuê tìm đến báo Tiền phong, phiên phúc thẩm lần hai sắp được mở theo đơn kháng án của họ. Điều hai bà lo lắng (đã được họ nêu trong đơn kháng án), đó là bản án của TAND TP Hà Nội không tuyên rõ ràng, chẳng hạn vị trí các ngôi mộ, rồi kích thước, vị trí các mô mốc để xác định các khoảng cách.
Mà không làm rõ được, thì không thi hành được án; gia đình, dòng họ bà Oanh, bà Khuê lại rơi vào cảnh không có đường vào các ngôi mộ, phía bị đơn tiếp tục có điều kiện xâm hại, chiếm dụng. Thực tế chứng minh vụ án càng kéo dài thì càng có thêm nhiều ngôi mộ của dòng họ bà Oanh bị các công trình kiến trúc từ tạm bợ đến kiên cố xây đè lên.
Bản án không thi hành được lại là cơ hội thuận lợi để phía bị đơn tiếp tục xây các công trình từ tạm bợ đến kiên cố… Bà Oanh, bà Khuê buốt ruột, không biết làm gì hơn ngoài việc gửi đơn khiếu nại đi các nơi.
Ngày 5/7/2006, TANDTC mở phiên giám đốc thẩm lần hai (lần này do Hội đồng thẩm phán xét xử), ra quyết định tuyên hủy các bản án trước đó để xét xử lại.
Quyết định này ghi: “Lẽ ra trường hợp phía bị đơn không hợp tác, cản trở tòa án xác minh, đo vẽ các diện tích nhà, đất, công trình kiến trúc, thì toà án phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, buộc giữ nguyên hiện trạng; có như vậy mới đảm bảo chính xác và đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự”.
Gặp PV Tiền phong lần này, bà Oanh bức xúc trình bày: “Chúng tôi mới mất thêm nhiều ngôi mộ do phía bị đơn xây nhà đè lên, còn nhiều ngôi mộ khác chúng tôi không thể hương khói được vì không có đường vào”.
Bà Khuê nói thêm: “Chúng tôi đến Công an quận Cầu Giấy trình báo, người ta yêu cầu phải có xác nhận của Công an phường Nghĩa Đô. Chúng tôi đến Công an phường Nghĩa Đô, họ nói để qua bầu cử đã. Qua bầu cử chúng tôi đến, họ nói lãnh đạo đi vắng”.
Bà Oanh buồn bã: “Nếu là tranh chấp đất đai thông thường, có lẽ chúng tôi đã bỏ cuộc. Nhưng đây là việc hiếu đễ, theo phong tục của người Việt Nam, còn sống ngày nào, chúng tôi vẫn còn phải theo ngày ấy”.
Vụ kiện của bà Oanh, bà Khuê sẽ kết thúc trong năm thứ 13 này, hay kéo sang năm thứ 14, 15, 16…? Dễ thấy nó càng kéo dài thì phía bị đơn càng lấn được nhiều đất, càng dễ hoà cả làng.
Còn người bị thiệt đâu chỉ có gia đình bà Oanh, bà Khuê, còn phải kể đến các cơ quan tố tụng nữa. Bởi những vụ án kiểu này càng kéo dài bao nhiêu thì niềm tin của người dân vào các cơ quan tố tụng càng giảm sút bấy nhiêu.
Nguồn: Đinh Anh Tuấn-Báo Tiền phong
Filed under: LDS - Tình huống thực tiễn, Quyền nhân thân, Trách nhiệm dân sự, TTDS - Tình huống tố tụng | Leave a comment »
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế.
Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp của GATT 1947 như: tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ; giải quyết tích cực các tranh chấp; cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa được phép của WTO. Nguyên tắc cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của hệ thống thương mại toàn cầu.
Những bài học từ vụ EC kiện Mỹ
Tuy nhiên, nguyên tắc này không bao hàm rõ ràng ý có cấm các nước thành viên không được đơn phương xác định các hành vi của nước thành viên khác có vi phạm các hiệp định của WTO hay không. Lợi dụng sự không rõ ràng này nên một số nước thành viên phát triển như Mỹ, EU vẫn tiếp tục đơn phương áp dụng các đạo luật của riêng mình như điều khoản Super 301 trong luật thương mại Mỹ hoặc quy định 384/96 của Hội đồng châu Âu để “kết án” và trừng phạt các nước thành viên WTO khác.
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, quy chế ‘nhóm chuyên gia’ và cơ quan phúc thẩm thường trực
– Cơ quan giải quyết tranh chấp: Viết tắt theo tiếng Anh là DSB (Dispute Settlement Body) có quyền quyết định thành lập và thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia và nhóm phúc thẩm, giám sát việc thực hiện các quyết định về giải quyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hiệp định thương mại với một nước thành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt.
– Nhóm chuyên gia: Công việc chính về giải quyết tranh chấp do các nhóm chuyên gia thực hiện. Các nhóm chuyên gia này do DSB thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và giải thể sau khi kết thúc nhiệm vụ. Khác với cơ cấu nhóm chuyên gia thời kỳ GATT 1947 chủ yếu được ưu tiên lựa chọn trong các quan chức chính phủ các nước thành viên, nhóm chuyên gia thời WTO được ưu tiên lựa chọn trong số những chuyên gia (expert) độc lập, không làm việc cho chính phủ, có uy tín quốc tế về chính sách hoặc luật thương mại quốc tế. Thành phần của mỗi nhóm chuyên gia từ 3-5 người.
Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia là giúp cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO làm sáng tỏ nội dung tranh chấp và khuyến nghị một giải pháp để các bên hữu quan giải quyết tranh chấp của họ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan. Trong quá trình xem xét sự việc, nhóm chuyên gia có quyền tìm kiếm thông tin từ mọi nguồn và trưng cầu ý kiến giám định của các chuyên gia bên ngoài về những vấn đề kỹ thuật.
Toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp từ thời điểm các bên tranh chấp tự thương lượng với nhau cho đến khi nhóm chuyên gia đệ trình báo cáo lên DSB tối đa không quá một năm, trong đó thời gian kể từ thời điểm thành lập nhóm chuyên gia cho đến khi đệ trình báo cáo tối đa không quá sáu tháng.
Báo cáo của nhóm chuyên gia sẽ được gửi đến cho các bên tranh chấp trong vòng sáu tháng, trong trường hợp tranh chấp liên quan đến những hàng hoá dễ hư hỏng trong vòng ba tháng và gửi đến tất cả các thành viên của WTO sau đó ba tuần. Sau 60 ngày, báo cáo của nhóm chuyên gia sẽ tự động trở thành quyết định của DSB nếu không có sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên WTO, kể cả hai bên tranh chấp bác bỏ nội dung của báo cáo.
– Cơ quan phúc thẩm thường trực: Một trong những nét mới của bộ máy giải quyết tranh chấp của WTO là việc thành lập cơ quan phúc thẩm thường trực. Cơ quan này có 7 thành viên, do cơ quan giải quyết tranh chấp bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm, là những chuyên gia pháp lý và thương mại quốc tế có kinh nghiệm lâu năm. Cơ quan này có chức năng xem xét theo thủ tục “phúc thẩm” báo cáo của nhóm chuyên gia, theo đề nghị của một trong các bên tranh chấp.
Tuy nhiên, phạm vi ‘phúc thẩm’ chỉ áp dụng đối với những kết luận và giải thích pháp lý được đưa ra trong báo cáo của nhóm chuyên gia. Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ lập ra một nhóm phúc thẩm riêng biệt cho mỗi một vụ tranh chấp, bao gôm 3 thành viên. Nhóm phúc thẩm có thẩm quyền hoặc giữ nguyên, thay đổi hoặc huỷ bỏ những giải thích và kết luận pháp lý nêu trong báo cáo của nhóm chuyên gia.
Báo cáo của nhóm phúc thẩm sẽ được đệ trình lên DSB để thông qua. Việc thông qua báo cáo phúc thẩm được thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực và gần như mang tính chất tự động. Các bên tranh chấp có nghĩa vụ thực hiện vô điều kiện quyết định cuối cùng của DSB trên cơ sở báo cáo phúc thẩm. Thời hạn xem xét phúc thẩm là 60 ngày, có thể được gian hạn nhưng không quá 90 ngày.
Thực hiện quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp và áp dụng biện pháp trả đũa
Quyết định về giải quyết tranh chấp được DSB thông qua theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực có giá trị pháp lý và có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên tranh chấp. Thông thường thì bên thua kiện có nghĩa vụ bãi bỏ các quy định hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp mà nhóm chuyên gia kết luận là vi phạm điều khoản trong các hiệp định có liên quan của WTO.
Để bảo đảm là bên thua kiện sẽ thực hiện nghiêm túc quyết định của DSB và để tránh tình trạng ‘rơi vào im lặng’, WTO đề ra một cơ chế theo dõi và giám sát việc thực hiện quyết định trong vòng 30 ngày kể từ ngày thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia, bên thua kiện phải thông báo cho DSB biết về những biện pháp mà nước này dự định áp dụng để thực hiện khuyến nghị của nhóm chuyên gia.
Nếu nước này vì lý do nào đó không thể thực hiện ngay khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì DSB có thể cho phép nước này được thực hiện trong một thời hạn “hợp lý”. Và nếu trong thời hạn ‘hợp lý’ đó bên thua kiện vẫn không thể thực hiện được khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì nước này có nghĩa vụ thương lượng với bên thắng kiện về mức độ bồi thường thiệt hại, ví dụ như giảm thuế quan đối với một sản phẩm nào đó có lợi cho bên thắng kiện.
Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày chấm dứt thời hạn hợp lý, các bên tranh chấp không đạt được thoả thuận về mức độ bồi thường thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa, cụ thể là tạm ngưng việc cho bên thua kiện hưởng những nhân nhượng thuế quan hoặc tạm ngưng thực hiện những nghĩa vụ đối với bên thua kiện theo hiệp định có liên quan.
Biện pháp trả đũa phải tương ứng với mức độ thiệt hại và phải được thực hiện trong lĩnh vực (sector) thương mại mà bên thua kiện bị thiệt hại. Để bảo đảm tính hiệu quả của các biện pháp trả đũa và rút kinh nghiệm, WTO quy định trong trường hợp việc áp dụng biện pháp trả đũa mà lĩnh vực bị thiệt hại là không thực tế hoặc không có hiệu quả thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong một lĩnh vực khác (trả đũa chéo).
Chẳng hạn một nước đang phát triển sẽ khó có thể áp dụng một cách hiệu quả biện pháp trả đũa trong lĩnh vực thương mại hàng hoá đối với một nước phát triển nhưng nếu trả đũa trong lĩnh vực thương mại dịch vụ hoặc sở hữu trí tuệ thì có thể sẽ hiệu quả hơn. Hơn thế nữa, trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bên thắng kiện còn có thể yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong những lĩnh vực thuộc các hiệp định thương mại khác với hiệp định thương mại mà bên thua kiện vi phạm.
Tuy nhiên, để bảo đảm sự công bằng và trong trường hợp có tranh chấp về mức độ trả đũa, WTO cũng dành cho bên thua kiện quyền đưa tranh chấp nói trên ra giải quyết theo phương thức trọng tài. Quyết định trọng tài về vấn đề này là quyết định cuối cùng và có giá trị thi hành đối với tất cả các bên.
Các phương thức giải quyết tranh chấp khác
Ngoài cơ chế của DSB, các nước thành viên WTO còn có thể sử dụng những phương thức giải quyết tranh chấp khác trong Công pháp quốc tế như trọng tài liên quốc gia (interstate arbitration), trung gian (mediation) và hoà giải (conciliation). Điều 25 Thoả thuận DSU quy định các nước thành viên có thể giải quyết tranh chấp với nhau thông qua trọng tài đối với những tranh chấp nếu các nước này thoả thuận nhất trí sử dụng cơ chế này và chấp nhận tuân thủ quyết định của trọng tài.
Các nước cũng có thể sử dụng cơ chế trung gian hoặc hoà giải của một bên thứ ba. Riêng đối với những tranh chấp mà một bên là nước kém phát triển nhất thì Tổng giám đốc có thể đứng ra làm trung gian hoặc hoà giải.
Ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp chung ra, một số hiệp định thương mại đa biên của WTO cũng quy định những cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt. Ví dụ như Hiệp định về trợ cấp có quy định thủ tục riêng về giải quyết tranh chấp liên quan đến hàng dệt trước Cơ quan giám sát hàng dệt. Trong trường hợp các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt khác với những quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp chung thì những quy định trong cơ chế đặc biệt thắng thế.
Các nước đang phát triển và Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Mặc dù luôn chiếm đa số tại GATT, nhưng vì những lý do lịch sử (đa số các nước đang phát triển đã từng là thuộc địa của các nước phát triển) nên các nước đang phát triển thường có thái độ ‘nghi ngờ’ và ‘e dè’ đối với những cơ chế do các nước phương Tây đặt ra. Trong một nghiên cứu được công bố vào năm 1985, Uỷ ban thương mại quốc tế của Mỹ (USIC) đã chỉ ra một số nguyên nhân làm cho các nước đang phát triển ít sử dụng đến Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT:
-Thứ nhất, các nước đang phát triển không có đội ngũ chuyên gia pháp lý có chuyên môn và kinh nghiệm trong việc tham gia xử lý các tranh chấp thương mại quốc tế và cũng không có khả năng tài chính để đi thuê các chuyên gia phương Tây;
– Thứ hai, tâm lý lo sợ rằng nếu đi kiện cáo các nước phát triển thì có khi họ phải chịu thiệt nhiều hơn là được lợi, ‘chưa được vạ thì má đã sưng’. Sự phụ thuộc vào thị trường và các nguồn giúp đỡ về tài chính của phương Tây là một trong những lý do khiến các nước đang phát triển rất ngại va chạm với các nước phát triển và nếu có tranh chấp thì các nước này chủ trương xử lý song phương, kín đáo và thường là sẵn sàng nhượng bộ;
– Thứ ba, các nước đang phát triển nhận thức được rằng cho dù họ có thắng kiện và dám dũng cảm áp đặt các biện pháp trả đũa hợp pháp chăng nữa thì cũng không đem lại hiệu quả và có thể có một ảnh hưởng tích cực đến cách cư xử của các nước phát triển;
– Thứ tư, tuy tham gia GATT ngay từ khi mới thành lập, nhưng các nước đang phát triển vẫn còn giữ thái độ lưỡng lự trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Đa số các nước này cho rằng Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng chỉ là một trong những công cụ của các nước phương Tây sử dụng để ép buộc họ mở cửa thị trường.
Vì những lý do nói trên, quan điểm chung của các nước đang phát triển đối với Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT trong khoảng 30 năm (từ 1948-1979) là ‘phớt lờ’ cơ chế này. Trong khoảng thời gian này, số vụ kiện của các nước đang phát triển chỉ chiếm có 12% tổng số các vụ kiện tại GATT và đa số là kết thúc thông qua thương lượng trước khi nhóm chuyên gia của GATT thông qua báo cáo cuối cùng.
Chỉ đến thời kỳ sau Vòng Tokyo, các nước đang phát triển, đặc biệt là một số nước NIC như Brazil, Mexico, Ấn Độ, Argentina mới thực sự quan tâm và sử dụng thường xuyên hơn Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT. Sự thay đổi này xuất phát từ những lý do sau. Thứ nhất, sự giảm sút của thương mại thế giới những năm 1970 do tác động của hai cuộc khủng hoảng dầu lửa đã dẫn đến việc trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển.
Thứ hai, quá trình công nghiệp hoá tại một số nước đang phát triển đã đem lại những thành quả đầu tiên, nổi bật nhất là trong một số ngành sản xuất công nghiệp và chế biến, các nước NIC đã đạt được ưu thế cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của phương Tây và đã bắt đầu dư thừa năng lực sản xuất trong một số lĩnh vực như may mặc, điện tử dân dụng, thép.
Các nước này bắt đầu nhận thức được cần phải sử dụng nhiều công cụ để tiếp cận thị trường tiêu thụ của các nước phương Tây và khi cần thiết sử dụng cả Cơ chế giải quyết tranh chấp. Ngoài ra việc thành lập một Bộ phận pháp lý (Legal Office) trực thuộc Ban thư ký GATT đã giúp cung cấp những trợ giúp kỹ thuật có hiệu quả cho các nước đang phát triển trong việc nghiên cứu về cơ cấu thể chế và pháp lý của GATT và tư vấn pháp lý cho các nước này trong quá trình chuẩn bị các tài liệu và thủ tục khiếu kiện.
Trong vòng 15 năm (1979-1994), số lượng các vụ kiện của các nước đang phát triển chống lại các nước phát triển đã tăng lên đến 25% tổng số các vụ kiện tại GATT (25/117 vụ).
Ở Vòng đàm phán Uruguay, Brazil đã đưa ra đề nghị cần thiết phải áp dụng nguyên tắc đối xử đặc biệt đối với các nước đang phát triển khi áp dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT. Đề nghị này đã được chấp nhận và thể hiện trong Thoả thuận về Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO. Cụ thể như sau:
– Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Tổng giám đốc WTO đứng ra làm trung gian, hoà giải trong trường hợp có tranh chấp với nước phát triển;
– Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành viên là công dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quan không yêu cầu như vậy;
– Thời gian để giải quyết tranh chấp với các nước đang phát triển có thể được kéo dài hơn so với quy định chung;
– Các nước phát triển cần có thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả đũa với bên thua kiện là nước đang phát triển;
– Các nước phát triển có thể được phép áp dụng các biện pháp trả đũa chéo đối với bên thua kiện là nước phát triển;
– Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Ban Thư ký WTO trợ giúp pháp lý khi có tranh chấp;
– Các nước đang phát triển có thể áp dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp được Đại hội đồng GATT thông qua theo Quyết định ngày 5-4-1966.
Các nước đang phát triển đã nhanh chóng nhận thức được lợi ích từ việc sử dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và chỉ sau gần 5 năm, các nước đang phát triển đã trở thành nhóm các nước sử dụng nhiều nhất cơ chế giải quyết tranh chấp mới của WTO.
Tính đến ngày 31-12-1998, các nước đang phát triển dẫn đầu số lượng các vụ kiện (37%) nhiều hơn Mỹ (34%) và EU (21%) và 80% trong số đó kết thúc thắng lợi. Có thể nói Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được các nước đang phát triển sử dụng như một công cụ có hiệu quả để giải quyết tranh chấp thương mại với các nước phát triển. Và xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát triển tiến bộ theo hướng công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tếÁPO
NGUỒN: THUVIENPHAPLUAT.COM
Filed under: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ | Leave a comment »
AI BỒI THƯỜNG NGƯỜI SỬ DỤNG NƯỚC TƯƠNG UNG THƯ VÀ VÔ SINH DO THANH TRA CHẬM CÔNG BỐ?
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ sáu, 25/05/2007
* 69/213 mẫu kiểm nghiệm mới nhất trên cả nước có 3-MCPD
* Tác hại của 3-MCPD: gây ung thư và làm giảm khả năng sinh sản
* Bộ Y tế: Chậm trễ công bố là do Thanh tra Sở Y tế TP.HCM
* Nam Dương thu hồi toàn bộ các sản phẩm nước tương truyền thống
Theo thông tin chúng tôi nắm được, kết quả kiểm nghiệm mới nhất về hàm lượng chất 3-MCPD có trong nước tương của các cơ sở sản xuất nước tương trên cả nước cho thấy: trong số 213 mẫu nước tương được gửi về kiểm nghiệm tại Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) từ tháng 1.2006 đến ngày 30.4.2007, thì có đến 69 mẫu “dính” hàm lượng chất 3-MCPD vượt mức cho phép (1mg/kg – theo tiêu chuẩn của Việt Nam)!
———————————————————————————–
Tác hại của chất 3-MCPD
3-MCPD là một dạng ô nhiễm của acid thủy phân protein thực vật có vị mặn, được sinh ra trong quá trình thủy phân các protein thực vật (như đậu tương) bằng HCl.
Theo tư liệu mà Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cập nhật được từ các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy:
1/ Thí nghiệm về tính độc hại của 3-MCPD bằng cách cho chuột cống uống 3-MCPD liên tục với liều 1 mg/kg thể trọng/ngày thì thấy tinh trùng giảm khả năng hoạt động và giảm khả năng sinh sản của chuột đực.
2/ Với liều từ 10 mg – 20 mg/kg thể trọng/ngày hoặc cao hơn sẽ gây tổn thương tinh hoàn chuột đực, biến đổi hình dạng tinh trùng, giảm khả năng sinh sản của con đực ở động vật có vú khác.
3/ Với liều 25 mg hoặc cao hơn liên quan đến tổn thương thần kinh trung ương. Với liều 30 mg/kg kéo dài trong 4 tuần sẽ làm tăng trọng lượng thận của chuột.
4/ Còn nghiên cứu tính gây độc và gây ung thư dài ngày trên chuột cống cho thấy, với liều 19 mg/kg thể trọng/ngày của chất 1,3 DCP (được hình thành từ 3-MCPD) đã gây khối u thận, gan, biểu mô miệng, lưỡi, tuyến giáp và biểu hiện ung thư do biến đổi gen…
————————————————————————————–
Mức vượt thấp nhất là 1,40 mg/kg và mức vượt cao nhất lên đến 3.029 mg/kg (nghĩa là vượt gấp hơn 3 ngàn lần so với mức cho phép!). Đáng chú ý hơn, một đề tài nghiên cứu, khảo sát của một thạc sĩ của Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) còn cho thấy sự hiện diện của chất 3-MCPD trong nước tương còn ghê gớm hơn nữa. Qua khảo sát nước tương của 41 cơ sở trên địa bàn TP.HCM thì có tới 33 mẫu nước tương có chất 3-MCPD vượt mức quy định từ 2 mg/kg – 55.000 mg/kg! trong số 8 mẫu còn lại đạt yêu cầu, chỉ có 2 mẫu nước tương của cơ sở trong nước (1 của tư nhân và 1 của liên doanh với nước ngoài), 6 mẫu còn lại thuộc về nước tương nhập khẩu!
Nhận định về tình trạng nước tương lưu hành trên thị trường có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép quá cao, bác sĩ Nguyễn Xuân Mai – Viện phó Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) nói: “Sở dĩ phần lớn nước tương có hàm lượng chất 3-MCPD vượt mức cho phép là vì các cơ sở sản xuất không chịu áp dụng quy trình sản xuất nước tương theo kiểu cổ truyền – là phương pháp lên men, bởi vì phương pháp này cho ra sản phẩm chậm. Để có sản phẩm nhanh, các cơ sở thường áp dụng phương pháp sản xuất dùng HCl (acid Chlohydric) để thủy phân, 3-MCPD sinh ra từ đó”.
Thực ra, không phải chất 3-MCPD được nói đến khi nước tương Chinsu bị nước ngoài phát hiện có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép vào tháng 7.2005, mà vào năm 2001 trong nước đã có cuộc thảo luận về loại chất này. Lẽ ra, từ đó cho đến nay đã 7 năm trôi qua, các nhà sản xuất phải ý thức được sự tác hại đến sức khỏe của hàng triệu người tiêu dùng khi hằng ngày phải dùng nước tương có hàm lượng 3-MCPD vượt mức quy định nhiều lần, tự biết mình cần phải thay đổi quy trình sản xuất, thì đến nay tình hình vẫn vậy! Thậm chí có loại nước tương, hàm lượng chất 3-MCPD năm sau còn cao hơn năm trước nhiều lần! Bác sĩ Nguyễn Xuân Mai cho rằng: “Đây là sự tham lam của các cơ sở, tham lam hơn khi họ dùng HCl dạng công nghiệp chứ không phải HCl dùng trong thực phẩm, điều đó càng độc hại hơn cho người sử dụng, bởi HCl dạng công nghiệp có nhiều tạp chất!”.
Bên cạnh việc nhiều cơ sở không đặt lợi ích sức khỏe người tiêu dùng lên hàng đầu để làm ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh, thì cơ quan quản lý cũng vậy. Lẽ ra cơ quan chức năng phải sớm công bố rộng rãi thông tin về những sản phẩm không đạt chuẩn, để người tiêu dùng biết mà tránh, thì lại giấu giếm kết quả kiểm tra! Cụ thể, trong quý 3 năm 2005, Thanh tra Sở Y tế TP.HCM đã kiểm tra 30 cơ sở sản xuất nước tương, thì có đến 20 cơ sở có nước tương chứa hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép, vậy mà không ai biết!
Chính vì cơ quan chức năng không công bố rộng rãi thông tin, điều đó đã tạo sự “lờn mặt” cho các cơ sở sản xuất, nên nhiều cơ sở vẫn không cải thiện, tiếp tục vi phạm. Chỉ tội nghiệp người tiêu dùng “lãnh” lấy hậu quả lâu dài! Hôm qua, khi đọc thông tin về nước tương trên Báo Thanh Niên , chị P. (ngụ ở Q.4, TP.HCM) đã gọi điện cho chúng tôi tỏ ra lo lắng: “Nhà sản xuất và cơ quan chức năng phải có biện pháp thế nào, chứ để tình trạng nước tương thế này, thì người tiêu dùng chúng tôi rất lo lắng khi phải sử dụng mỗi ngày…!”.
Bộ Y tế: Chậm trễ công bố là do Thanh tra Sở Y tế TP.HCM
Việc kiểm tra các cơ sở sản xuất nước tương đã được Sở Y tế TP.HCM thực hiện từ cuối năm 2006 và mẫu cuối cùng thực hiện vào ngày 2.3.2007. Tuy nhiên, thời điểm cuối tháng 3.2007, Bộ Y tế đã nhận được thông tin “cơ quan kiểm nghiệm và Thanh tra Sở Y tế từ chối cung cấp có bao nhiêu cơ sở sản xuất nước tương bị phát hiện hàm lượng chất 3-MCPD cao quá mức cho phép”.
Vì vậy, ngày 26.3, Thanh tra Bộ Y tế đã có văn bản gửi Chánh thanh tra Sở Y tế TP.HCM đề nghị: “Để kịp thời đánh giá thực trạng việc chấp hành các quy định của Bộ Y tế đối với các cơ sở sản xuất nước tương tại TP.HCM cũng như thông tin cần thiết để trả lời báo chí và lãnh đạo Bộ Y tế, đề nghị đồng chí Chánh thanh tra Sở Y tế báo cáo cụ thể về Thanh tra Bộ kết quả thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở sản xuất nước tương trên địa bàn TP.HCM trong thời gian qua”.
Cũng trong văn bản này, Thanh tra Bộ nêu rõ: “Đối với việc công bố các cơ sở vi phạm hành chính đã bị xử lý theo quy định hiện hành cho cơ quan báo chí, đề nghị Thanh tra Sở Y tế báo cáo với lãnh đạo Sở trước khi cung cấp thông tin. Thanh tra Bộ xin lưu ý: nếu hết thời hạn khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở vi phạm theo quy định của pháp luật kể từ ngày ban hành quyết định thì Thanh tra Sở có trách nhiệm phải cung cấp thông tin khi cơ quan báo chí yêu cầu”. Tuy nhiên, Thanh tra Bộå cho biết: phải đến hơn một tháng sau, đầu tháng 5 vừa rồi mới nhận được báo cáo kết quả thanh tra các cơ sở sản xuất nước tương tàu vị yểu của Thanh tra Sở Y tế (văn bản ngày 7.5.2007).
Trả lời câu hỏi về chất lượng của nước tương Chinsu (Công ty Vitec food), Thanh tra Bộ Y tế cho biết: thời điểm 2005, kiểm tra lần một, công ty này vi phạm và đã xử phạt, lần hai tái kiểm tra đã đạt tiêu chuẩn. Trong năm 2006, công ty này đã liên tục chủ động lấy mẫu xét nghiệm theo lô, báo cáo kết quả, có thay đổi dây chuyền công nghệ mới và đã đạt tiêu chuẩn cho phép.
Một chuyên gia cho rằng: việc kiểm tra nhắc nhở các công ty có sản phẩm chưa đạt chuẩn là rất cần thiết và cần công khai sản phẩm không đạt để người tiêu dùng lựa chọn. Đồng thời, khi doanh nghiệp có khắc phục cũng cần thông tin công khai. Chỉ khi thông tin đầy đủ, chính xác thì người tiêu dùng mới có cơ hội được sử dụng sản phẩm an toàn.
Theo ông Nguyễn Thanh Phong, Phó cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, các địa phương hoàn toàn có quyền chủ động về thông tin kết quả thanh kiểm tra. Vừa qua, Hà Nội cũng đã rất chủ động trong việc công bố lịch kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm để báo chí tham gia trực tiếp. Với các sản phẩm nước tương đã phát hiện không đạt tiêu chuẩn, cần thu hồi và cấm lưu hành. Các cơ sở có sản phẩm này cần phải thay đổi quy trình sản xuất, sản phẩm chỉ được phép lưu hành trở lại khi đã đạt tiêu chuẩn cho phép. Cơ quan chức năng cũng cần tăng cường lấy mẫu bất kỳ, ngẫu nhiên để xét nghiệm và còn phải kiểm tra điều kiện vệ sinh nhà xưởng…
Nguồn: Thanh Tùng-LiênChâu – Báo Thanh niên
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn, Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »
MỘT CÔ DÂU VIỆT CÓ THỂ KHÔNG ĐÒI ĐƯỢC HAI CON
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ ba, 24/07/2007
——————————————————————————-
Chuyện của Hà
Ngày 9-7-2007, báo điện tử www.hani.co.kr đăng bài của tác giả Kim Nam Il “Bản tố cáo của một cô dâu Việt”, viết về trường hợp một cô gái VN lấy chồng Hàn Quốc, sau khi sinh hai con mới phát hiện mình chỉ là công cụ đẻ thuê.
Đau đớn vì mất con, vì bị lừa gạt, không chốn nương thân giữa xứ người, cô tìm đến Trung tâm Hỗ trợ người lao động nước ngoài ở Seoul. Tại đó, luật sư So Ra Mi đã nhận lời giúp cô tìm lại con của mình. Nhà báo Kim Nam Il gọi cô gái là Thu Hà (đã được đổi tên).
Chồng Hà là một người đàn ông HQ đã 47 tuổi, có một đời vợ nhưng không có con cái. Kết hôn được một tháng Hà có thai. Hai lần sinh hai đứa con chồng Hà đều giấu đi. Sau đó ông ta ép Hà ly hôn và từ bỏ quyền làm mẹ.
Sau khi bài báo về thân phận của Hà được đăng tải, dư luận HQ rất phẫn nộ, họ cho rằng đây là vụ lừa đảo đầu tiên và người phụ nữ đã bị coi như một thứ công cụ sinh sản.
———————————————————————————–
– Cuộc gặp dự kiến diễn ra ngày 19-7 giữa cô dâu Thu Hà bị lấy mất con với người chồng lừa đảo đã không được tổ chức. Theo bà So Ra Mi, luật sư của Đoàn luật sư công ích Gonggam, cuộc gặp không còn cần thiết vì người chồng đã thú nhận sắp đặt mọi chuyện để sử dụng nạn nhân Thu Hà như công cụ đẻ thuê.
CTV báo Tuổi Trẻ tại Seoul (Hàn Quốc) đã có cuộc gặp luật sư So Ra Mi – người đang đại diện cho quyền lợi

Luật sư So Ra Mi tại văn phòng – Ảnh: Kiều Oanh
của Thu Hà.
* Với diễn tiến như vậy, xin luật sư cho biết bao giờ mới mở phiên tòa?
– Thông thường sau khi đã nhận đơn và thu thập các bằng chứng thì để phán xử cũng phải mất mấy tháng.
* Bà đã đảm nhận giúp đỡ về mặt pháp lý cho Hà trong hoàn cảnh nào?
– Chính từ Trung tâm Hỗ trợ người nước ngoài. Hà đã đến đó nhờ can thiệp, họ liên hệ đoàn luật sư Gonggam và tôi đã nhận bảo vệ Hà.
* Theo luật sư, có bao nhiêu phần trăm khả năng Hà đòi lại được con?
– Đòi lại con không phải là chuyện dễ mặc dù chồng Thu Hà thú nhận đã lừa cô để có con. Bởi vì về điều kiện nuôi dưỡng con cái thì anh ta có lợi thế hơn.
Thứ nhất: Luật pháp sẽ xem xét khía cạnh việc nuôi con là vấn đề quan trọng, ai là người nuôi những đứa trẻ thì tốt hơn cho chúng. Nếu xét hoàn cảnh bây giờ, người đang nuôi đứa bé sẽ nuôi tốt hơn vì tình trạng kinh tế của Hà không ổn định, hơn nữa cô ấy không biết tiếng Hàn Quốc (HQ), chưa phải là công dân HQ. Hai đứa trẻ đã có quốc tịch HQ và cũng chính là con của chồng Hà nên điều kiện chăm sóc sẽ tốt hơn.
Thứ hai: Những đứa bé này đang ở trong môi trường ổn định như vậy, nếu đột nhiên lại thay đổi hoàn cảnh chúng có thể bị sốc hoặc stress. Ví dụ nếu Hà không đòi được con thì cô ấy vẫn có thể đòi quyền thăm nom con định kỳ và sẽ được bồi thường về mặt dân sự.
Tuy nhiên, đó chỉ là những phỏng đoán về phía luật sư thôi. Còn tất cả phải đợi vào sự phán xử của luật pháp.
* Theo luật HQ, chồng Hà có thể bị hình phạt nào?
– Luật pháp HQ hiện nay chưa có khung hình phạt nào với chồng Hà. Tuy nhiên anh ta sẽ phải bồi thường cho Hà về mặt dân sự khi đem ra tòa xử.
* Bà có cảm thấy như thế là bất công cho Hà không?
– Vì tòa án vẫn chưa xử nên tôi không thể nói gì hơn được.
* Là luật sư chuyên bảo vệ phụ nữ, bà mong muốn điều gì trong trường hợp của Hà?
– HQ nên có thêm nhiều luật mới để đưa ra hình phạt đối với những đối tượng như chồng của Hà nhằm ngăn chặn tổn hại cho các cô dâu nước ngoài. Tôi mong rằng Chính phủ HQ và VN hợp tác với nhau nhiều hơn nữa nhằm giúp các cô dâu Việt biết nhiều thông tin về HQ hơn để khỏi bị sốc trước đời sống văn hóa xã hội mới. Và một điều rất quan trọng là cả hai bên phải đứng ra ngăn chặn tình trạng môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Ở đây nó gần như là lừa đảo: chẳng hạn như vị hôn phu HQ tâm thần có vấn đề nhưng trung tâm môi giới hôn nhân lại ém nhẹm, rồi vị hôn phu không có công ăn việc làm ổn định nhưng lại nói là có việc làm tốt. Đại loại như là nói tốt quá sự thật về các ông chồng Hàn khiến các cô dâu Việt tin là thật dẫn đến những trường hợp đau lòng như của Hà.
Qua vấn đề của Hà cần phải cho dư luận VN biết nhiều hơn nữa về việc lấy chồng nước ngoài để có những cảnh báo cho các cô gái. Trường hợp của Hà là trường hợp cô dâu Việt đầu tiên ở HQ mà tôi đảm nhiệm và cũng là trường hợp đặc biệt ở chỗ cô dâu Việt bị lừa thành công cụ đẻ thuê.
* Bà có thể cho biết tình trạng của Hà hiện nay ra sao?
– Tình trạng của Hà khi tôi gặp là rất nghiêm trọng. Hà kể chuyện cho tôi nghe và khóc suốt. Tinh thần của cô ấy vô cùng yếu đuối. Cô rất nhớ các con của mình. Chồng Hà cũng là người đàn ông đầu tiên của cô ấy. Hà không muốn phải chia tay nhưng chồng Hà đã đẩy Hà vào tình trạng bi đát này. Hiện tại, nếu bên cạnh Hà có gia đình hay bạn bè thường xuyên thăm hỏi, động viên giúp đỡ cô sẽ nhanh bình phục hơn.
* Bà suy nghĩ như thế nào về các cô dâu VN hiện đang sinh sống tại HQ? Bà có lời khuyên nào cho họ?
– Các cô dâu VN hay các cô dâu nước ngoài khác khi lựa chọn lấy chồng HQ đều mong muốn cuộc sống tốt hơn, tìm được hạnh phúc. Tuy nhiên việc lấy chồng và sống ở HQ không phải là điều dễ dàng. Nếu lấy được một người chồng tốt biết chăm lo sẽ đỡ khổ. Nhưng nếu không may lấy phải người chồng như trường hợp của Hà thì chắc chắn sẽ khổ hơn so với ở nhà. Chính vì vậy các cô dâu VN phải cố gắng gấp nhiều lần so với hồi sống ở trong nước và sẽ phải chịu rất nhiều thiệt thòi. Chẳng hạn như nếu nhỡ xảy ra việc khó khăn sẽ không có nơi nương tựa, không có ai để giúp đỡ.
Lời khuyên cho các cô dâu Việt trước khi lấy chồng Hàn phải suy nghĩ thật kỹ càng. Bình thường nếu lấy chồng trong nước phải suy nghĩ một lần thì lấy chồng Hàn phải suy nghĩ tới 10 lần. Thứ hai nữa là phải vô cùng cố gắng, nếu bản thân mình không cố gắng, mạnh mẽ lên trong mọi trường hợp thì việc sống ở HQ quả là một khó khăn. Và đặc biệt các cô dâu Việt cần phải biết nhiều thông tin về luật hôn nhân gia đình hơn để chẳng may nếu có xảy ra vấn đề như trường hợp của Hà, sự am hiểu về luật pháp sẽ giúp các cô dâu tránh khỏi những thiệt thòi.
Nguồn: HOÀNG ĐIỆP – KIỀU OANH (thực hiện từ Seoul) – BÁO TUỔI TRẺ
Filed under: Kết hôn, LHNGD - HNGD có yếu tố nước ngoài, LHNGD - TÌnh huống thực tiễn | Leave a comment »
THIỆT HẠI VÌ ĐÀO ĐƯỜNG
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ bảy, 26/05/2007
Sở Giao thông công chánh TP.HCM thông báo: Tạm ngưng thi công đào đường để lắp đặt các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn Thành phố trong thời gian từ ngày 15/5/2007 đến hết ngày 20/5/2007 (ngoại trừ Dự án Vệ sinh Môi Trường Thành phố – lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Dự án Cải thiện môi trường và Đại lộ Đông Tây, Dự án Nâng cấp mở rộng đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Nguyễn Văn Trỗi). Thế nhưng….
Thiệt hại biết kiện ai?
Chính thông báo này của Sở Giao thông Công chánh TP.HCM (SGTCC) đã làm cơ sở “pháp lý” cho những đơn vị thi công được phép đủng đà đủng đỉnh trong các dự án được ngoại trừ nêu trên.
Chính sự ngoại trừ này mà khi báo chí lên tiếng phản ánh những bức xúc của người dân thì không một ai lên tiếng chịu trách nhiệm. Đường Trần Đình Xu – Q.1 bị đào xới lên đã 7 tháng nay nhưng công trình này vẫn còn kéo dài chưa biết đến bao giờ xong.
Tiến độ thi công rùa bò như vậy làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của người dân.

Chị T – chủ một quán cơm trên đường Trần Đình Xu cho biết: “Tôi không biết đến bao giờ công trình cải tạo hệ thống thoát nước này xong, nhưng bảy tháng nay doanh thu của chúng tôi giảm 50%”.
Kế bên là câu lạc bộ bi-da máy lạnh, chủ nhân đầu tư vài trăm triệu nhưng 7 tháng nay chẳng có khách nào đến chơi vì đường vào bị đào xới lung tung, ngổn ngang ống cống với xe cuốc xe ủi…
Đối diện là nhà in báo Công an Nhân dân, 7 tháng nay ban giám đốc của nhà máy này phải dời cơ sở in đi chỗ khác vì xe chở giấy không vào được…
Tất cả những cơ sở kinh doanh này đều thiệt hại nặng nề nhưng họ không biết kiện ai vì công trình là của Nhà nước, khiếu nại đến Ban quản lý công trường thì ở đâu cũng gặp sự im lặng.
Nếu có trả lời thì đó là một lời hứa kiểu tiếp thu ý kiến, rồi người dân cứ dài cổ chờ và chờ. Một chủ nhà trên đường Nguyễn Văn Trỗi bức xúc nói:
“Tháng trước tôi xây nhà, chỉ vài viên gạch lấn ra lề đường lập tức chính quyền địa phương đến lập biên bản và xử phạt. Nay trước nhà tôi họ đổ hàng đống gạch cát, xà-bần, đào hố rồi để đó, con tôi bị sụp hố gãy chân không thấy cơ quan nào xử phạt họ cả, và tôi cũng chẳng biết bắt đền ai?”.
Khách sạn Quê Hương II nằm trên đường Hàm Nghi – Q1. Khi các cơ quan có quyền đào đường đào một cái hố to đùng tại ngã tư Hàm Nghi – Lê Công Kiều là đồng nghĩa với việc bít lối vào khách sạn – vì đây là đoạn đường một chiều. Hiện nay khách muốn vào khách sạn thì phải điu ngược chiều từ ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Hàm Nghi, nên khách sạn rất vắng khách.
Quản lý khách sạn cho chúng tôi xem một hợp đồng của đoàn tham quan du lịch Thụy Sĩ gồm 40 người, lưu trú 12 gnày.
Khi họ đến nhận phòng, họ phải đi qua bảng cấm của luật giao thông đường bộ nên trưởng đoàn lắc đầu từ chối và yêu cầu khách sạn hủy hợp đồng, bồi thường hợp đồng với lời trách cứ là khách sạn lừa dối họ vì trong hợp đồng không nói rõ là khạch sạn không có đường vào?!
Tất nhiên là khách du lịch có lý vì thực tế họ phải đi ngược nhiều, phần thiệt hại thì khách sạn chịu nhưng không biết thưa kiện ai.
Được biết công trình này kéo dài hơn một năm và số lượng khách của khách sạn giảm hơn 50%. Một thiệt hại không thống kê được của những người dân bị thiệt hại khi có công trình đào đường ngang qua nhà mình là thiệt hại vô hình. Ví dụ của khách sạn Quê Hương là một điển hình về uy tín, danh dự trong giao dịch kinh doanh…
Bao giờ có chề tài?
Thêm nhiều công trình khác của TP.HCM đã, đang và sẽ được khởi công. Tuy nhiên hiện tượng ngành cầu đường lấp lại, rồi ngành cấp thoát nước đào lên, lấp lại đã giảm nhưng đào đường của TP.HCM chuyển sang giai đoạn vĩ mô hơn.
Các công trình đào đường hiện nay đều tập trung vào những trục lộ chính, những khu dân cư đông đúc để phục vụ cho những công trình thế kỷ như: Dự án Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Đại Lộ Đông Tây, Cải tạo môi trường… nhưng cơ quan chức năng làm việc chồng chéo nên gây ra cảnh đào đường kéo dài.
Ví dụ công trình thay hệ thống cống cấp II và cấp III để giảm úng ngập khu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Công trình có thời gian thi công 1085 ngày, sau lễ khởi công 40 ngày thì nhà thầu phải bắt tay vào thi công. Lễ khởi công diễn ra thật rầm rộ, sau 40 ngày đơn vị thi công không thể thi công được vì cậnt ết Nguyên đán 2007 nên Sở GTCC ra thông báo cấm đào đường.
Chính vậy nên công trình kéo dài ra thêm một thời gian nữa?! Kế tiếp là thông báo dọn dẹp công trình cho gọn gàng để kỷ niệm 32 năm ngày giải phóng miền Nam, rồi dọn dẹp tạo lề thông hè thoáng cho bầu cử Quốc hội… Sắp tới sẽ là lễ Quốc khánh, rồi Tết Nguyên đán – điệp khúc thông báo dọn dẹp cứ vang lên mãi nhưng đường thì ngày càng bị đào nhiều nơi gây thiệt hại cho người dân, làm mất mỹ quan thành phố.
Chưa có một văn bản qui phạm pháp luật nào bắt buộc các đơn vị thi công phải thực hiện đúng thời gian, nếu vi phạm sẽ bị phạt, gây thiệt hại phải bồi thường. Có chăng là những cách xử phạt lấy lệ để xoa dịu dư luận và báo cáo thành tích. Số tiền xử phạt ngày càng tăng nhưng tất cả đều được các bên (bên phạt và bị phạt) xí xóa quyết toán vào chi phí đầu tư nên pháp luật không có hiệu lực trong trường hợp này.
Một phiên tòa xử thắng kiện cho những người bị thiệt hại vật chất, tính mạng do đào đường gây nên? Phiên tòa ấy còn nằm trong kơ và thực tế vẫn diễn ra gây thiệt hại vô cùng cho người dân.
Nguồn: Ngọc Long-Báo Pháp Luật Việt Nam
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn, Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »
CLICK ĐỂ TRA CỨU THÔNG TIN TRÊN CIVILLAWINFOR BẰNG GOOGLE
Filed under: THÔNG TIN TƯ VẤN | Leave a comment »
CLICK ĐỂ TRA CỨU THÔNG TIN TRÊN CIVILLAWINFOR BẰNG GOOGLE
Filed under: THÔNG TIN TƯ VẤN | Leave a comment »
TÌM KIẾM THÔNG TIN TRÊN CIVILLAWINFOR BẰNG GOOGLE
Filed under: THÔNG TIN TƯ VẤN | Leave a comment »
CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
LG. NGÔ NGỌC BỬU – TS. TRẦN ĐÌNH PHỤNG
Kinh nghiệm và những bài học quốc tế ngày nay không còn giấu giếm như trước kia mà được phổ biến, đánh giá và công bố rộng rãi trên toàn thế giới. Chỉ e rằng chúng ta không đủ kiên nhẫn và năng lực tiếp nhận để lãnh hội được những kinh nghiệm quý báu ấy; nhất là trong việc sửa đổi cho đồng bộ thể chế hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại theo tiêu chuẩn WTO, sao cho không chồng chéo lên nhau, để tránh những khó khăn khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại quốc nội cũng như quốc tế.
Định chế hợp đồng bắt nguồn từ luật La Mã và sau này làm các quốc gia châu Au trong hệ thống luật dân sự đã bổ sung và nâng cao để làm rạng rỡ thêm cho nền pháp chế châu Au lục địa. Theo luật La Mã, hợp đồng (Contratus) được coi là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật với 2 điều kiện không thể thiếu là: (1) Phải có sự thỏa thuận (Consensus), tức là có sự thống nhất giữa các bên kết ước và bình đẳng về pháp lý; (2) Phải có mục đích và căn cứ pháp lý nhất định (Causa) để các bên cùng hướng tới. Và, hợp đồng là phương tiện để đạt được các mục đích đó. Mặt khác, hợp đồng sẽ không có hiệu lực nếu nội dung của nó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội, ví dụ như hợp đồng vận chuyển chất ma túy, mua bán trẻ em… Pháp là quốc gia đã giúp cho hệ thống dân luật châu Au ngày càng đâm hoa kết trái bởi Bộ luật dân sự (Code Civil) năm 1804, dưới thời vua Napoléon, với một số điều khoản mà cho đến nay, 200 năm sau, vẫn còn có giá trị pháp lý, kế thừa tinh hoa của nhân loại, Bộ luật dân sự Việt Nam đã thể hiện tương đối đầy đủ khái niệm hợp đồng, là “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (điều 394 BLDS) và một số những nguyên tắc như giao kết, thể lệ chấm dứt, sửa đổi hợp đồng… đồng thời luật này cũng đưa ra 13 loại hợp đồng là: hợp đồng mua bán tài sản, trao đổi, tăng, thuê, vay tài sản… là các điều khoản phù hợp với quan hệ dân sự thuần túy; nhưng đồng thời Luật dân sự VN cũng xếp hợp đồng vận chuyển hành khách (đường bộ, đường biển) và hợp đồng bảo hiểm thuộc quan hệ dân sự; trong khi đó, theo luật mẫu của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về hành vi thương mại có quy định rằng “cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, đường bộ, đường biển và hàng không” là những hành vi thương mại thuần túy, do thể chế thương mại của mỗi quốc gia và thể lệ quốc tế về thương mại điều chỉnh, kể cả việc giải quyết tranh tụng cũng đưa ra xét xử trước tòa án thương mại của mỗi nước hoặc do trọng tài thương mại quốc tế đưa ra xét xử trước tòa án thương mại của mỗi nước hoặc do trọng tài thương mại quốc tế phân xử trong khuôn khổ WTO.
Sự chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu vắng thể chế
Mặc dù định chế hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự hiện hành đã có phần nào phản ảnh đúng các mối quan hệ về tài sản, về quyền sở hữu, các quyền liên quan đến thân nhân con người, như nghĩa vụ hôn nhân, cho, nhận tài sản… Những quyền này đi theo cái bóng của thể nhân từ lúc con người mới sinh ra cho đến tuổi già với thể lệ lập di chúc và phân chia tài sản không di chúc. Nói chung là Bộ luật dân sự đã đi vào cuộc sống của mỗi công dân VN và cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên đất nước này, từ khi luật ra đời năm 1996 cho đến nay. Nhưng, trước ngưỡng cửa của việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, một số điều khoản trong hệ thống Luật dân sự, pháp chế về kinh tế và Luật thương mại hiện hành cần phải được chỉnh sửa cho phù hợp với thông lệ quốc tế và tương ứng với thể lệ của WTO; vậy đâu là những chồng chéo, mâu thuẫn cần phải chỉnh sửa? Đâu là những bánh xe thương mại đã đem gắn vào chiếc xe dân sự, nên cần phải thay đổi; không chỉ trong tầm nhìn luật pháp mà còn phải tác động đến bộ máy quản lý hành chính và cung cách kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước chủ đạo, độc quyền nói riêng, trên tiến trình hội nhập? Tác giả xin nêu lên một số ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề.
1. Về hợp đồng vay tiền ngân hàng thương mại, trong 13 thể lệ hợp đồng của BLDS không có nói đến hợp đồng này, cũng không có định danh trong luật thương mại 1998; nên tòa án nhân dân các cấp hiện nay có 2 cách giải quyết tranh chấp hợp đồng vay ngân hàng là: (1) Nếu hai bên ký kết hợp đồng là chủ thể có đăng ký kinh doanh, thì Tòa kinh tế thụ lý, phân xử; (2) Nếu một bên hợp đồng vay là cá nhân (không đăng ký kinh doanh), thì dù cho số tiền vay là nhiều hay ít, tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa dân sự. Trong khi đó, theo thể chế của WTO, thì tất cả hoạt động ngân hàng là hành vi thương mại nếu có tranh chấp hợp đồng thì phải do tòa án thương mại quốc gia hoặc trọng tài quốc tế giải quyết. Còn định chế tòa án thương mại VN cho đến nay vẫn còn trong thời kỳ thai nghén, chưa ra đời. Ở đây, chúng ta mới bàn đến việc giải quyết tranh chấp trong nước, còn đối với những tranh chấp về tài sản, về hợp đồng và quan hệ đa phương có tầm vóc quốc tế với nhiều thủ tục và thể chế áp dụng, chúng ta sẽ còn quá nhiều công việc phải làm, như trong ví dụ dưới đây.
2. Một quả phụ Ấn Độ là vợ của một thương nhân người Ấn đã hợp đồng liên doanh với một công ty vận tải biển VN hơn 10 năm qua. Trong thời gian ở VN, ông này cưới vợ VN, có 1 căn nhà tọa lạc tại quận 1, TP.HCM để cho vợ và 3 đứa con người vợ VN sinh ra cùng ở đây. Nay thương nhân người Ấn chết, để lại nhiều tài sản, tiền bạc tại VN trong đó có 2 chiếc tàu vận tải và hợp đồng liên doanh chưa được thanh lý. Quả phụ Ấn Độ nộp đơn tại tòa án TP.HCM (là nơi tọa lạc bất động sản) để xin tòa xét xử cho bà này được hưởng thừa kế tài sản của chồng, theo luật Hồi giáo (luật công nhận chế độ đa thê). Trong trường hợp này, tòa án nào tại VN sẽ thụ lý và giải quyết về tài sản và hợp đồng liên doanh của thương nhân Ấn Độ? Và phân xử theo luật lệ nào?
Kinh nghiệm nước ngoài
VN ta bên cạnh Trung Quốc và quốc gia này đã là thành viên chính thức của WTO từ tháng 12.2001. Liệu chúng ta thu thập được những kinh nghiệm nào của quốc gia có hơn 1,3 tỷ dân này? “Thật là thú vị khi xem xét làm thế nào để việc Trung Quốc gia nhập WTO có thể phù hợp với 5 nguyên tắc cơ bản của GATT và WTO là: (1) Không phân biệt đối xử; (2) Mở cửa thị trường; (3) Pháp luật minh bạch và có thể dự đoán được; (4) Thương mại không bị bóp méo; (5) Đối xử ưu đãi với các nước đang phát triển… Đầu tiên, việc gia nhập WTO sẽ buộc Trung Quốc phải thực hiện những cải cách pháp lý và chính sách quản lý nhà nước, đảm bảo sự minh bạch hơn và an toàn hơn một cách nhất quán ở cấp độ quốc tế, Trung Quốc đã cải cách đáng kinh ngạc trong 20 năm qua…” (trích bài phát biểu của Jefrey L.Gertler, cố vấn cao cấp Ban thư ký WTO ngày 6.6.2003 tại TP.HCM). Kinh nghiệm và những bài học quốc tế ngày nay không còn giấu giếm như trước kia mà được phổ biến, đánh giá và công bố rộng rãi trên toàn thế giới. Chỉ e rằng chúng ta không đủ kiên nhẫn và năng lực tiếp nhận để lãnh hội được những kinh nghiệm quý báu ấy; nhất là trong việc sửa đổi cho đồng bộ thể chế hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại theo tiêu chuẩn WTO, sao cho không chồng chéo lên nhau, để tránh những khó khăn khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại quốc nội cũng như quốc tế.
Giải pháp
Trước đây, Bộ chính trị đã định hướng cho phái đoàn thương thuyết Hiệp định thương mại Việt-Mỹ là đàm phán trên cơ sở của WTO, thì nay ta sửa đổi hợp đồng dân sự của Bộ luật dân sự cũng lấy nền tảng WTO làm phương hướng. Nghĩa là, loại hợp đồng nào đã được xếp hạng trong hợp đồng thương mại thì không tồn tại trong thể chế hợp đồng dân sự; hoặc có quan hệ xã hội hiện nay không nằm trong Luật thương mại, cũng không định danh trong Luật dân sự hay kinh tế, thì phải cố gắng tìm tòi, nghiên cứu để đưa vào thể chế hợp đồng hiện hành, vì có hợp đồng ký kết cụ thể, có công chứng hợp đồng, thì cơ quan thuế mới thu được nhiều loại thuế khác nhau trên quá trình thực hiện hợp đồng đó… Và, việc sửa đổi, bổ sung thể lệ hợp đồng dân sự kinh tế, thương mại hiện nay không phải việc làm của một số ít người mà làm được thông qua một số buổi tọa đàm. Cần huy động được sự đóng góp của nhiều người, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, góp ý thì mới đạt được sự hoàn thiện thể chế lâu dài, ổn định như WTO đã làm và đã khuyến cáo cho các quốc gia đang phát triển nên làm chặt chẽ như vậy ª
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật dân sự VN, NXB Thanh niên, TP.HCM, tháng 4.1996
2. Pháp luật thương mại quốc tế và VN, NXB Thống kê, TP.HCM, tháng 2.1998
3. TS. Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng: Những quy định chung và một số vấn đề cần hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, 12.2003
4. Lưu Văn Bình, Tư pháp quốc tế, Đại học luật khoa Sài Gòn ấn hành, 1962.
5. Bộ luật dân sự nước Pháp, NXB Prat Europa Paris, 1993
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 9/2004
BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ
Filed under: LDS - Hợp đồng | 1 Comment »
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM QUA
PGS. TS. PHƯƠNG NGỌC THẠCH
Nhiều chính sách nhà nước đưa ra không sát thực tế, không ít văn bản mâu thuẫn chồng chéo, nhiều văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn cho việc vận dụng thực thi. Thủ tục hành dân chứ không phải cán bộ hành, làm khó dễ để vòi vĩnh, tiêu cực, mặt khác chính thủ tục phức tạp tạo điều kiện cho cán bộ hành dân. Tôi cho rằng tất cả các khâu của chúng ta đều chưa hoàn thiện, cả trên lẫn dưới.
Ơ nước ta, trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, nhiều người cho rằng thị trường quyết định hết thảy, quyết định giá cả , quyết định sản xuất. Theo GS. Stiglitz thị trường là rất quan trọng nhưng không nên quá chú trọng bởi nó không phải là tất cả, vai trò của nhà nước trong việc điều tiết thị trường là rất quan trọng. Theo tôi chủ trương chính sách của nhà nước là điều cần phải có, là quyết định, thị trường là điều kiện đủ để phát huy. Những thành tựu và tồn tại của kinh tế-xã hội của nước ta trong thời gian qua chủ yếu phụ thuộc vào những chính sách nhà nước, phụ thuộc vào cơ chế quản lý của nhà nước.
Song nhiều vấn đề tồn tại chúng ta đổ cho cấp dưới thực thi chính sách không đúng. Nhiều chính sách nhà nước đưa ra không sát thực tế, không ít văn bản mâu thuẫn chồng chéo, nhiều văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn cho việc vận dụng thực thi. Thủ tục hành dân chứ không phải cán bộ hành, làm khó dễ để vòi vĩnh, tiêu cực, mặt khác chính thủ tục phức tạp tạo điều kiện cho cán bộ hành dân. Tôi cho rằng tất cả các khâu của chúng ta đều chưa hoàn thiện, cả trên lẫn dưới.
Các chủ trương đưa ra thì nhiều nhưng thực tế cách làm, cơ chế chính sách lại không phù hợp, nhiều khi còn hạn chế.
Sau đây chúng tôi đi sâu vào phân tích những chính sách chủ yếu tác động đến tăng trưởng cao và bền vững nền kinh tế nước ta trong 20 năm đổi mới.
Chủ trương tăng trưởng cao
VN có nỗ lực lớn trong tăng trưởng tốc độ cao, trong năm 2004 tốc độ tăng trưởng của VN là 7,6% (Thái Lan 8%, Singapore 8,1%, Trung Quốc 9,3%). Một thực tế ở nước ta trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao, cơ cấu kinh tế bất hợp lý đã làm cho nền kinh tế phát triển kém bền vững: hiệu quả kinh tế thấp, cạnh tranh yếu, lạm phát tăng, tốc độ giảm nghèo chững lại, chênh lệch thu nhập tăng, tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm.
Nhìn lại 20 năm qua cơ cấu kinh tế nước ta đã chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp. Song phân tích cơ cấu kinh tế cho thấy:
Tỷ trọng dịch vụ trong GDP đã giảm trong 8 năm liên tục ngược với quy luật chung, các ngành dịch vụ có tính chất động lực cần phát triển như giáo dục, khoa học công nghệ, tài chính tín dụng tỷ trọng rất thấp. Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, kinh doanh đất đai nhà ở chiếm tỷ trọng cao thứ 2 trong các ngành dịch vụ. Có thể nói tình trạng tăng nhanh dịch vụ kinh doanh đất đai nhà ở trong cơ cấu kinh tế không có lợi cho phát triển kinh tê xã hội đất nước. Bài học Thái Lan, Hàn Quốc đã chứng minh sự phát triển dịch vụ kinh doanh đất đai nhà ở đã làm giảm tăng trưởng kinh tế.
Về phát triển công nghiệp, chính sách nhà nước còn chú trọng nhiều về phát triển công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp nhẹ may mặc da giầy, thiếu sự phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành có hàm lượng khoa học cao. Chính sách phát triển này đã biến nền công nghiệp nước ta thành công nghiệp gia công lắp ráp. Theo tiến sĩ AT Kearney VN phải cảnh giác cái bẫy chi phí (lao động) thấp trở thành bãi lắp ráp hàng xuất khẩu như Mexico.
Cơ cấu kinh tế của nước ta vẫn thuộc loại cơ cấu kinh tế của các nước kém phát triển. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của VN khá chậm chạp. Thực vậy đã 30 năm trôi qua, chúng ta xây dựng kinh tế trong hoà bình, thời gian mà các nước công nghiệp phát triển đã làm thế giới kinh ngạc trở thành những con hổ. Các nước công nghiệp phát triển trong 3 thập kỷ đã chuyển dịch nhanh chóng, thập kỷ đầu xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, thập kỷ tiếp theo công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật, vốn cao, thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 thực hiện công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu các sản phẩm kỹ thuật cao có sức cạnh tranh lớn.
Để phát triển cao và bền vững, VN nên đa dạng hóa sản phẩm, phát triển các ngành hỗ trợ và các sản phẩm hàm lượng khoa học cao và chấm dứt tình trạng đầu tư mù quáng vào một số ngành công nghiệp và dịch vụ không hiệu quả.
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
VN quan tâm quá nhiều vào đến số lượng FDI, quá coi trọng sẽ lấy được bao nhiêu dự án, nhưng lại xem nhẹ lợi ích của dự án, tác động của dự án đến nền kinh tế, trong khi các nước đã quay sang chú trọng thu hút chất lượng các nguồn vốn FDI.
Tình hình thu hút FDI vừa qua cho thấy quy mô của các dự án FDI vừa và nhỏ là chủ yếu chiếm đến 60%, nếu như năm 1997 bình quân vốn đầu tư một dự án khoảng 23 triệu USD, năm 2004 chỉ còn 4 triệu USD/dự án. Phần lớn các dự án tập trung vào ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực-thực phẩm, dầu khí, khách sạn, bất động sản, nhà cửa, chủ đầu tư phần lớn là các nước ASEAN, Hàn Quốc, Đài Loan… là những nước có nguồn vốn chưa lớn và khoa học công nghệ trình độ quản lý chưa phát triển cao, hơn ta một ít.
Những tin tức mới đây cho rằng VN đang thay đổi về lượng và chất trong thu hút FDI. Chỉ trong 2-3 tháng đầu năm 2005, Bộ kế hoạch đầu tư cấp phép cho công ty Honda VN được sản xuất và kinh doanh ô tô tại VN đầu tư 60 triệu USD, Hà Nội đã cấp phép 2 dự án đầu tư với nguồn vốn rất lớn là dự án kinh doanh điện thoại di động CDMA trị giá 660 triệu USD và dự án xây dựng cao ốc 65 tầng với vốn đăng ký 114 triệu USD. Điểm đặc biệt trong việc thu hút nguồn vốn FDI trong 2 tháng đầu năm này chính là dịch vụ chiếm 70% trong nguồn vốn đăng ký mới. Nhìn vào lĩnh vực dự án đầu tư nước ngoài phần lớn là những lĩnh vực nhà đầu tư thu lợi nhuận lớn. Phân tích 3 dự án cho thấy dự án sản xuất ô tô chỉ hàn, sơn, lắp ráp chứ không phải sản xuất ô tô, sản xuất động cơ, dự án điện thoại di động là dự án kinh doanh mạng điện thoại chứ không phải dự án sản xuất máy điện thoại di động, dự án xây dựng cao ốc 65 tầng là dự án kinh doanh đất đai nhà ở, lĩnh vực lợi nhuận béo bở nhờ đó mà Hàn Quốc trước đây đã thu hút được nguồn tài chính rất lớn từ các nước Ả Rập giàu dầu mỏ đưa về nước.
Để lôi kéo nhà đầu tư, các địa phương đã đưa ra những ưu đãi vượt quá giới hạn quy định : ưu đãi về thuế, ưu đãi về tín dụng, ưu đãi về đất và tăng cường các ưu đãi khác một cách không có quy hoạch.
Tuy nhiên theo các nhà đầu tư nước ngoài môi trường đầu tư của VN chưa thực sự hấp dẫn.
Thực vậy, thứ nhất VN không có chính sách phát triển các ngành hỗ trợ và liên quan, hầu như là con số 0. Không có nguồn cung ứng tại chỗ, buộc các nhà đầu tư phải nhập linh kiện, phụ tùng, khiến giá thành cao, sức cạnh tranh giảm. Chẳng hạn trong ngành công nghiệp ô tô xe máy, chính sách nội địa hóa của ta đòi hỏi có 5%, trong khi Thái Lan 60% vào năm thứ 5. Bài học Thái Lan cho thấy, họ rất coi trọng tỷ lệ nội địa hóa, chỉ có 15 nhà máy lắp ráp nhưng có đến 1.800 nhà máy cung ứng.
Thứ hai, hạ tầng cơ sở yếu kém, chi phí cơ sở hạ tầng cao.
Thứ ba, chính sách phát triển nguồn nhân lực chưa được coi trọng đưa đến chất lượng lao động còn thấp.
Thứ tư, thủ tục về thuế, hải quan rắc rối, rườm rà. Theo các công ty tài chính và tập đoàn ngân hàng thế giới công bố , cơ chế ưu đãi đầu tư của VN phức tạp nhất thế giới.
Đã đến lúc chúng ta phải tập trung nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, chứ không phải đua nhau đưa ra những ưu đãi vượt khung, đồng thời tăng thu hút FDI về mặt chất lượng, ưu đãi đối với những lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao, những lĩnh vực sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành hỗ trợ và liên quan để đảm bảo sản xuất hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính sách thu hút ODA
Năm 2004 ODA đạt 3 tỷ USD, năm 2005 đạt 3,4 tỷ USD. Giám đốc WB tại VN nói rằng hiện tổng nợ nước ngoài của VN là 15 tỷ USD, tính ra mỗi người dân VN đang nợ 180 USD bằng gần ½ số GDP/người/năm (484 USD). Từ năm 1998 hàng năm VN phải chi trả khoảng 1 tỷ USD cả vốn lẫn lãi. Đầu năm 2005, 10% số nợ đến hạn của chính phủ VN trị giá khoảng 100 triệu USD sẽ được chính phủ Anh đứng ra trả giúp. Việc đó sẽ gây khó khăn lâu dài cho VN do mất uy tín trên thị trường tài chính.
Các chuyên gia kinh tế quốc tế có nhiều lời khuyên VN không vì được vay với lãi suất thấp mà vay tràn lan không tính hiệu quả sẽ trở thành nước nợ nần khó có khả năng thanh toán.
Kinh nghiệm phát triển trong 50 năm qua của các nước cho thấy rõ, một số lớn các nước đang phát triển trông cậy vào viện trợ tài chính vốn nước ngoài, vẫn nằm trong số những nước kém phát triển nhất. Để giảm gánh nặng nợ nần, cần phải tăng tiết kiệm nội bộ. Tỷ lệ tiết kiệm trong nước năm 2001 của VN đạt 24,6% GDP là quá thấp, Trung Quốc đạt 39%, Hàn Quốc 34,2%, Singapore 49,9%, Malaysia 47%, Thái Lan 32,8%.
Để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững cần phải tăng cường tiết kiệm, giảm vay nợ quốc tế.
Chính sách đất đai nhà ở
Dịch vụ đất đai nhà ở lớn nhanh trong những năm qua do chính sách đất đai của nước ta hướng tới mục đích đất đai là nguồn thu lớn của ngân sách sau dầu mỏ và khuyến khích đấu giá đất (thực chất là khuyến khích nâng giá đất).
Nguồn thu từ đất lớn song được dùng chủ yếu chi cho đền bù giải tỏa, tiền đền bù giải phóng mặt bằng trong nhiều trường hợp còn lớn hơn cả tiền đầu tư trực tiếp vào công trình, theo Thủ tướng Phan Văn Khải ở TP.HCM tiền cho bồi hoàn giải tỏa chiếm hết 2/3 dự án, tiền làm đường chỉ 1/3, mặt lợi không bù được với những mặt thiệt hại do đất gây nên.
Giá đất đã tăng lên nhanh chóng. Giá thuê đất cao nhất trong khu vực. Theo khảo sát của CBRE VN, giá đất trung bình tại Hà Nội đắt gấp 2,6 lần Bangkok, giá thuê văn phòng hạng A ở TP.HCM đắt gấp đôi ở Bangkok.
Trong thời gian qua chính sách đất đai thực sự đã tác động không thuận lợi đến kinh tế và xã hội nước ta, làm chôn một lượng vốn lớn, có nhiều tỷ phú lớn nhất so với các loại kinh doanh khác, rửa tiền của kẻ tham nhũng, lợi nhuận béo bở tuồn ra nước ngoài. Cụ thể là :
– Vay tiền đầu tư vào thị trường bất động sản một lượng vốn không nhỏ đã chôn vào thị trường nhà ở đất đai là nguyên nhân rất quan trọng gây ra tình trạng thiếu vốn tiền đồng cho sản xuất trong các ngân hàng thương mại. Theo báo cáo của Ủy ban cải cách và phát triển nhà nước Trung Quốc, sự bùng phát thị trường nhà đất ở nước này trong 3 năm qua đang có nguy cơ sụp đổ do việc có đến 61% vốn đầu tư vào địa ốc là vốn vay ngân hàng và khoảng 120 triệu m2 nhà ở không bán được.
– Cổ phần hóa khó khăn vì việc xác định giá trị quyền sử dụng đất.
-Sự thu hút đầu tư FDI đang gặp nhiều khó khăn trở ngại, chủ yếu vẫn nằm trong khâu đất đai, đền bù do giá cao.
– Lợi nhuận thu được do kinh doanh đất đai nhà ở khá lớn vào loại bậc nhất so với các loại hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Có khá nhiều doanh nghiệp nước ngoài như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan… phối hợp với các doanh nghiệp trong nước để đầu tư xây dựng các chung cư cao tầng, cao cấp, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở VN thu được lợi nhuận thì đầu tư vào địa ốc, như REE đầu tư tòa nhà E-town, Công ty điện tử Biên hòa đầu tư vào cao ốc Belco, Vitek VTB cũng đang xây dựng cao ốc 10 tầng. Theo báo cáo kinh nghiệm phát triển kinh tế Hàn Quốc cho thấy thời kỳ đầu Hàn Quốc đã tập trung xây dựng tại các nước Ả Rập giàu dầu mỏ, thu được lợi nhuận rất nhiều đem về nước.
– Giá đất đai nhà cửa cao, khiến đa số người dân có nhu cầu không thể mua được. Người có thu nhập trên 3 triệu đồng mỗi tháng không bao giờ mơ đến một căn hộ dành cho người có thu nhập thấp 500 triệu đồng.
Kinh nghiệm Hàn Quốc, Thái lan, Trung Quốc cho thấy sự phát triển sôi động thị trường bất động sản đã tác động xấu đến nền kinh tế -xã hội.
Tại Hàn Quốc giá đất đã tăng vọt vào những năm 1980 làm cho chi phí đền bù đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng năm 1993 tăng gấp 270 lần năm 1972, làm cho tăng trưởng kinh tế bị giảm và phúc lợi công dân bị ảnh hưởng. Cuối những năm 80 xung đột bạo động xảy ra dai dẳng đe dọa đến những vấn đề xã hội và chính trị, tính nguyên vẹn của quốc gia. Chính quyền đã kịp thời thay đổi. Tại Thái Lan thị trường đất đai sôi động đã đẩy giá đất đạt mức chưa từng có, mở đầu khủng hoảng kinh tế tài chính của Thái Lan trước đây.
Vì vậy chính sách đất đai của ta cần hướng tới phục vụ phát triển kinh tê và xã hội. Ban hành thuế đánh mạnh vào đầu cơ đất đai, gia tăng gánh nặng thuế lên vai người sở hữu đất quy mô lớn. Ngoài ra chính phủ quy định mức trần diện tích đối với đất thổ cư đô thị/hộ, buộc chủ đất sang nhượng đất dư thừa.
Chính sách thương mại
Với nền kinh tế hướng về xuất khẩu cần phải có thị trường, chúng ta trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước, VN luôn nhập siêu và ngày càng tăng.
Xuất khẩu: Năm 2004 xuất khẩu đạt 26 tỷ USD, có 17 mặt hàng vượt kim ngạch 100 triệu USD, nổi bật có 6 mặt hàng vượt mức 1 tỷ USD, đó là dầu thô, dệt may, da giầy, thủy sản, đồ gỗ, điện và linh kiện điện tử. Nhìn vào cơ cấu hàng xuất khẩu của ta phần lớn là nguyên liệu, sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, hàng sơ chế hàm lượng chất xám thấp, và những mặt hàng công nghiệp tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị gia tăng không nhiều. Phân tích 6 đại gia trong câu lạc bộ 1 tỷ USD cho thấy xuất dầu thô là bán tài nguyên, thủy sản, đồ gỗ cũng là tài nguyên ảnh hưởng đến môi trường, còn dệt may da giầy là 2 ngành sử dụng nhiều lao động, chủ yếu là làm công lấy lời, giá trị thực hưởng không bao nhiêu, mặt hàng linh kiện điện tử chủ yếu là lắp ráp. Cho nên Tham tán thương mại VN tại TQ nói VN xuất khẩu càng nhiều, càng nhập siêu.
Nhập khẩu: Công nghiệp của ta chủ yếu là gia công, phần lớn sản phẩm các ngành được sản xuất ra trên cơ sở tiêu thụ các nguyên phụ liệu, linh kiện, chi tiết, bán sản phẩm của các nước.
Nhà nước cần phải cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, trước hết cần phải nâng cao công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực và nguồn tài chính tín dụng, tăng tỷ lệ nội địa hóa, chống độc quyền nâng giá các sản phẩm đầu vào ( xăng dầu, điện, nước, bưu điện, hàng không, vận chuyển, sắt thép …), đưa ra luật chống độc quyền.
Chính sách giá
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế quốc tế trong hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế của VN, chi phí sản xuất đều rất cao. Giá hầu hết các sản phẩm xuất khẩu của VN đều cao hơn các đối thủ cạnh tranh
Năm 2004 giá cả tăng do chịu ảnh hưởng bởi những tác động của giá nguyên vật liệu quốc tế tăng cao, dịch cúm gia cầm nhưng do nhà nước kiểm soát được thị trường, can thiệp vào giá cả nên chỉ số tăng giá của các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc… thấp hơn VN từ 1,5-2% và vẫn giảm giá nhiều sản phẩm, dịch vụ. Sáu tháng qua một mặt do giá dầu thế giới tăng, mặt khác chủ yếu do quản lý của ngành xăng dầu yếu kém (chi phí tiền lương chiếm tới 30-35%, chi phí vận tải 20%, chi phí haohụt 30%, 20.000 lao động), đầu mối nhập nhiều (VN có 11, Trung Quốc 2, Malaysia 1), hệ thống phân phối quá lớn (290 tổng đại lý, 9.000 đại lý) không kiểm soát được, làm lũng đoạn thị trường, Nhà nước tăng giá xăng 3 lần để khỏi bù lỗ. Tình hình đó đã tác động tăng giá một loạt hàng hóa, làm tăng lạm phát và giảm tốc độ tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng công nghiệp tồi nhất từ trước đến nay.
Giá cả tăng ở VN còn là do một số doanh nghiệp đầu cơ, trong đó DNNN đóng vai trò quan trọng. Năm 2003 và năm 2004 lợi dụng giá quốc tế tăng TCTy thép VN đã tăng giá thép lên quá mức, thu lợi nhuận quá lớn. Tháng 3.2005 xi măng bước vào đợt tăng giá mới, xi măng nóng lên vì tâm lý do TCTy xi măng tuyên bố trong năm 2005 sẽ thiếu 6,5 triệu tấn xi măng. Phải nói rằng hiện tượng độc quyền nâng giá này rất không bình thường trong khi Nhà nước tăng sức mạnh cho các tổng công ty nhà nước tới 171.000 tỷ đồng, chiếm 80% tổng vốn các doanh nghiệp nhà nước để giúp Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế, tiên phong và hỗ trợ, định hướng thị trường, làm đòn bẩy đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, hướng tới mục tiêu lợi ích quốc gia thì các TCT 91 này đã hoạt động sai tôn chỉ mục đích.
Để tồn tại trong cạnh tranh hàng hóa, không những chỉ quan tâm đến vấn đề chất lượng hàng hóa mà nhà nước cần quan tâm hơn nữa trong chính sách giá, không để giá do các doanh nghiệp độc quyền thị trường khống chế
Chính sách khoa học công nghệ
Vai trò của KHCN trong phát triển kinh tế rất rõ ràng. Đây là dịch vụ cần phát triển. Đường lối chủ trương phát triển được đề cao nhưng thực hiện rất ít. Ngân sách dành cho KHCN quá nhỏ bé, trước 2000 đạt 1%, từ năm 2001-2003 đạt 2% tổng chi ngân sách. Theo Viện quản lý kinh tế trung ương, đầu tư cho nghiên cứu triển khai KH-CN ở nước ta, chỉ chiếm khoảng 0,4% GDP, trong khi ở một số nước trong khu vực tỷ lệ này lên tới 2-3%.
Đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp VN rất thấp, chi phí đổi mới công nghệ chỉ khoảng 0,2-0,3% doanh thu, trong khi ở An Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%.
Kết quả là :
– Mặt bằng chung về trình độ công nghệ và trang thiết bị của VN ở mức thấp, lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ trang thiết bị kỹ thuật cũ, công nghệ lạc hậu chiếm 60-70%
Xếp hạng công nghệ VN đứng thứ 68/80. Theo đánh giá khoa học công nghệ nước ta chỉ xếp trên Lào, Campuchia và Myanmar trong khu vực.
– Theo nhận xét của các nhà khoa học nước ngoài, thông tin khoa học công nghệ của VN còn xa mới bằng những điều kiện và thông tin khoa học công nghệ của sinh viên các nước trong vùng như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc.
-Lực lượng cán bộ khoa học trong nghiên cứu khoa học và công nghệ so sánh với một số nước, tỷ lệ người nghiên cứu khoa học ở VN là 0,18/100 dân, trong khi ở Hàn Quốc gấp 12 lần VN, Mỹ gấp 20 lần VN.
Nhà nước cần tăng ngân sách đầu tư vào những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, những hướng ưu tiên, đừng để cho cơ chế thị trường chi phối 100% hoạt động khoa học công nghệ.
Chính sách giáo dục
Theo Bộ giáo dục cho biết VN có 94% dân số biết chữ, VN đã xóa xong nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực thi phổ cập trung học cơ sở, thành tích thật là ấn tượng. Song thực tế cho biết có khoảng 6,8 triệu người trên 10 tuổi chưa từng đến trường và trong số đó có 5,3 triệu người hoàn toàn chưa biết chữ. Ngoài ra số lao động được đào tạo nghề hiện nay chỉ đạt 25% so với tổng số lao động, nghĩa là còn 75% lao động không được đào tạo nghề. Những con số này khá lớn so với giáo dục đào tạo của một số nước trong khu vực.
Hiện nay có 3 vấn đề làm xã hội lo lắng là chất lượng giáo dục, chi phí đóng góp của người dân cho học tập và đạo đức xã hội.
Điều làm xã hội quan tâm đầu tiên là chất lượng giáo dục từ phổ thông đến đại học nhìn chung còn thấp, theo bộ trưởng giáo dục nền giáo dục của VN tụt hậu, thấp hơn Thái Lan 50 bậc, thuộc loại thấp nhất khu vực Đông Nam Á. Chúng ta được biết chỉ số chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực nước ta chỉ đạt 3,79/10 điểm, Hàn Quốc 6,91, Singapore 6,81, Malaysia 5,59, Philippines 4,53, Thái Lan 4,04.
Tiếp đến đạo đức xã hội do giáo dục xuống cấp gây ra làm nhức nhối xã hội : bỏ tiền ra mua bằng và thi hộ vào đại học (đến 50 triệu đồng/ học sinh). Hải quan TP HCM phát hiện trên 100 cán bộ đang sử dụng bằng giả, Bộ thương mại qua kỳ thi nâng ngạch bậc công chức 2004 phát hiện hàng loạt cán bộ là quan chức quản lý thị trường ở các tỉnh thành phố sử dụng văn bằng chứng chỉ dỏm. Nhưng bằng giả còn không lo bằng bằng thật học giả.
Ngoài ra điều tra mức sống dân cư năm 2002 cho thấy chi phí trực tiếp cho giáo dục khá cao so với thu nhập các hộ nghèo là một trong những nguyên nhân chính khiến trẻ em nghèo ít đi học. Hiện nay phần tài chính do dân đóng góp cho lĩnh vực đào tạo nước ta ở cấp tiểu học đã lên tới 44,5%, trung học phổ thông là 51,5%, dậy nghề 62,1%. Hiện nay nhiều nước đã thực hiện luật giáo dục miễn phí và bắt buộc đối với trẻ em từ 6 tuổi trở lên như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Mỹ … Chính phủ Thái đã thông qua một chương trình tài trợ giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, không có thị trường giáo dục. Ở Đức và một số nước, các nước Bắc Au giáo dục kể cả đại học không mất tiền. Không có thương mại hóa giáo dục. Theo giáo sư Nolan ĐH Cambridge Mỹ đổi mới hội nhập nhưng lĩnh vực giáo dục nhà nước phải nắm thay vì để thị trường quyết định.
Trong khi chi ngân sách cho giáo dục của VN năm 2003 là 16% tổng chi ngân sách, thì chi ngân sách cho giáo dục-đào tạo đầu những năm 1990 tỷ trọng này của Thái Lan đã là 20%, Hàn Quốc 22%. Đầu tư cho ngành giáo dục của VN không phải nhỏ với các dự án giáo dục, nhưng tác dụng của các dự án đối với phát triển giáo dục đào tạo ở VN còn quá ít. So sánh mức chi phí giáo dục bình quân đầu người, VN ở gần cuối bảng, thấp hơn 24 lần so với Singapore và 3 lần so với Thái Lan.
Để giáo dục trở về đúng nghĩa với giáo dục, chúng ta cần: Không thị trường hóa giáo dục, không thương mại hóa giáo dục.
Tăng ngân sách chi cho giáo dục. Thực hiện phổ cập giáo dục miễn phí, trước mắt 9 năm sau tiến lên 12 năm. Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động các tổ chức phi chính phủ, tổ chức nhân dân tham gia sự nghiệp giáo dục. Ap dụng chế độ huy động nguồn tài chính của các doanh nghiệp, thu thuế đào tạo của các doanh nghiệp để lập Quỹ đào tạo nguồn nhân lực.
Chính sách y tế
Chi ngân sách cho y tế của nước ta còn khá thấp. Nguồn vốn ngân sách chi cho y tế 3,8% năm 1997, 3,2% năm 2001. Phần chi của người dân thì ngày càng tăng, chi tiêu cho chăm sóc sức khoẻ tăng lên 5,7% năm 2002 trong khi thu nhập tăng chậm và diện nghèo khá lớn trong dân.
Cố vấn của UNICEF tỏ ý lo ngại về tình trạng tư nhân hóa không kiểm soát được ở một số nước, trong đó có Việt Nam. Xu hướng dựa vào các cơ sở tư nhân cùng với sự lạc hậu của các bệnh viện nhà nước đang đe dọa tính mạng của hàng ngàn bà mẹ trẻ em và người bệnh.
Kinh nghiệm các nước cho thấy chính phủ Anh, Thụy Điển chịu mọi chi phí y tế, bảo hiểm y tế An Độ bao gồm các đối tượng là người lao động, cả người ốm đau, sinh đẻ, tang chế, trợ cấp người phục hồi chức năng, trợ cấp người không nương tựa, ở Srilanka tất cả công dân sử dụng thuốc men không mất tiền, chăm sóc sức khoẻ cho nông dân không mất tiền. Trong khi đó lại có ý kiến ngành y tế không cần ngân sách chỉ cần cơ chế. Theo giáo sư Nolan ĐH Cambridge đổi mới hội nhập nhưng lĩnh vực y tế Nhà nước phải nắm thay vì để thị trường quyết định.
Cần phải tăng chi ngân sách cho y tế giúp cho người nghèo chữa bệnh. Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện đối với mọi người dân.
Chính sách xoá đói giảm nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo tại VN đã giảm từ trên 70% vào giữa thập niên 1980, xuống còn 29% năm 2002, trong đó ở khu vực nông thôn và khu vực miền núi đồng bào dân tộc tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao, chiếm tới 90% người nghèo của cả nước. WB cảnh báo khoảng 20 triệu người VN hiện đang sống trong cảnh nghèo. So với chuẩn nghèo LHQ quy định 2 USD, thì tỷ lệ đói nghèo của VN còn cao và việc xóa nghèo còn phải tiếp tục.
Tốc độ giảm nghèo đang chững lại: trong giai đoạn 1993-1998 VN đã giảm được 20%, giai đoạn 1998-2002 mức giảm chỉ đạt được 8,1%. Đáng lo là nguy cơ tái nghèo còn ở mức cao.
Khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng. Thu nhập của nhóm giàu năm 2001-2002 lớn gấp 8,1 lần so với nhóm nghèo. Chỉ số GINI phản ảnh sự chênh lệch giàu nghèo và tiêu dùng xã hội của VN 36,2% cao hơn hẳn những nước giàu nhất hiện nay như Na Uy 25,8%, Thụy Điển 25%, Nhật 24,9%.
Cần luật hóa các quy định về an sinh xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ cơ bản nhất như được chữa bệnh miễn phí, được trợ cấp học nghề tìm việc làm.
Tôi muốn nói chúng ta cũng đã đạt được một số thành tựu song tồn tại còn quá nhiều, chủ trương đúng chưa đủ mà phải có chính sách tốt lấy dân làm gốc thì đất nước mới có cơ may phát triển ª
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 5/2005
Filed under: Nhà nước và nền KTTT, Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | 2 Comments »
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CẦN SỰ ĐỒNG BỘ
TS. PHẠM PHI YÊN
1. Đặt vấn đề
Đã có nhiều ý kiến khác nhau trong đánh giá chất lượng đào tạo đại học của VN hiện nay. Có ý kiến cho rằng với điều kiện hiện tại mà chúng ta làm được như thế này là quá giỏi – với đồng lương ít ỏi mà người thầy vẫn miệt mài giảng dạy, với điều kiện vật chất thiếu thốn mà trò vẫn miệt mài học; rồi đi thi đấu trên trường quốc tế thì năm nào các đoàn học sinh VN cũng đều có giải, thậm chí giải rất cao. Có người cho rằng không thể nói học sinh bay giờ kém hơn học sinh các thế hệ trước vì hãy thử so sánh khối lượng kiến thức ngày nay với khối lượng kiến thức ngày xưa cho người học …Và thực tế là xã hội ngày càng đi lên chứ không đi xuống.
Nhưng đa số lại băn khoăn, lo lắng, thậm chí sốt ruột, bi quan cho chất lượng giáo dục đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo đại học nói riêng của VN hôm nay.
Nhóm ý kiến thứ nhất không sai, nhưng nhóm ý kiến thứ hai cần được nghiêm túc quan tâm vì sự tụt hậu đôi khi còn nguy hiểm hơn sự đi xuống của đồ thị phát triển.
2. Đánh giá yếu tố đồng bộ với chất lượng đào tạo đại học
Sự đồng bộ ở đây được hiểu là sự hợp lý, sự logic, là điều kiện tất yếu, là muốn có cái này nhất thiết phải có cái kia, đã làm thế này thì tất yếu phải có kết quả kia, hay muốn có kết quả này thì nhất thiết cần có những điều kiện tối thiểu kia. Nói một cách hài hước là nếu không có quần dài thì không thể thắt cà vạt để đi ra đường, nếu trói tay chân lại thì không thể bơi trong nước. Nếu một nước đất chật người đông thì phải quy hoạch nhà ở chung cư cao tầng; nếu một đất nước kém phát triển thì dù chương trình dân số (chương trình giảm tăng dân số tự nhiên) đã bắt đầu chuyển động theo chiều hướng tích cực thì 10 – 15 năm sau cũng sẽ bùng nổ học sinh đại học; nếu muốn có sự tăng năng suất lao động mang tính đột phá thì phải có cuộc cách mạng về hiện đại hóa tư liệu sản xuất…
Tuy nhiên trong cuộc sống cũng có những sự việc, những lĩnh vực mà mức độ đòi hỏi sự đồng bộ không cao, hoặc mức độ đồng bộ khác nhau thì cho kết quả khác nhau hoặc nếu không đồng bộ thì đương nhiên kết quả kém nhưng không chết ai. Song cũng có những lĩnh vực hoạt động mà sự không đồng bộ sẽ gây hậu quả nghiêm trọng mà muốn sửa chữa phải mất cả thế hệ.
Vấn đề rất quan trọng đặt ra trước các nhà quản lý là phải nhận biết, phải phát hiện được, phải hoạch định được những điều kiện, những yếu tố và đánh giá đúng tầm quan trọng của chúng đến lĩnh vực mình quản lý. Thậm chí phải sắp xếp được thứ tự lôgic của các yếu tố đó để có kế hoạch đầu tư, kế hoạch thực hiện hợp lý.
Vậy sự đồng bộ đối với chất lượng đào tạo đại học là những điều kiện nào?
Trong bài “Khái quát áp dụng mô hình quản lý tập trung vào chất lượng và hướng tới khách hàng của bộ ISO 9000:2000 để quản lý giáo dục” của GS.TS. Nguyễn Quang Toản báo cáo tại ĐHQG TP.HCM ngày 8.12.2004 có tổng kết như sau:
– Quản lý giáo dục chiếm : 51%
– Phương pháp giảng dạy :22%
– Chương trình GDĐT, cơ sở vật chất : 18%
– Đánh giá kiểm tra : 9%
Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn (báo Phụ nữ ngày 11.9.2004) thì “Giáo dục của ta đang đi trái quy luật”…, “…một quan chức cao cấp của Bộ GD-ĐT nói “giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng” là không đúng, phải nói là quản lý quyết định chất lượng giáo dục”.
Như vậy có thể thấy nếu có nhà quản lý giỏi, sẽ có những quyết định đúng, sẽ có chiến lược, phương pháp đúng, sẽ có biện pháp đúng để sử dụng giáo viên giỏi, sẽ có cơ chế đúng, lộ trình đúng để có phương pháp giảng dạy, có cơ sở vật chất, có thể thức kiểm tra, đánh giá người học đúng. Nói cách khác, quản lý giáo dục đóng vai trò quyết định hàng đầu đến chất lượng đào tạo.
3. Biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học VN
a. Vấn đề thi tuyển đầu vào: Mặc dù chất lượng của đào tạo đại học được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, nhưng trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến chương trình, nội dung các môn thi đầu vào đại học (không đề cập cách thức tuyển sinh dù cũng có ảnh hưởng).
Theo nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng trên thế giới như Laffer của thuyết “Trọng tiền”, Lucas của thuyết “Dự liệu hợp lý” thì Chính phủ không nên can thiệp quá sâu vào những hoạt động mang tính nghiệp vụ của các doanh nghiệp. Trước mắt chúng ta chưa thể áp dụng kiểu thi tuyển vào đại học như ở nước Mỹ (là một cách được đánh giá có tính khoa học cao), thì chí ít Bộ GD & ĐT cũng nên trao quyền quyết định môn thi đầu vào cho các trường đại học. Các trường phải trực tiếp chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của mình trước xã hội chứ không phải Bộ chịu trách nhiệm cho trường. Hiện nay, khối các trường kinh tế thi tuyển đầu vào với 3 môn toán, lý, hoá là một sự bất hợp lý kéo dài không thể chấp nhận được và hoàn toàn có thể làm ngay được. Ba môn thi đầu vào này vô hình chung đã khiến các môn xã hội bị xem nhẹ với những ai định hướng nghề nghiệp khối ngành kinh tế. Kiến thức xã hội bị xem nhẹ sẽ ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến các cử nhân kinh tế khi ra trường mà những năm học đại học không thể bù đắp kịp. Hơn nữa, kiến thức của hai môn lý và hóa lại hoàn toàn không cần đến trong 4 năm đại học cũng như sau khi ra trường dù làm việc ở ngành nào. Ở các nước phát triển, lý, hoá là 2 môn tự chọn đối với học sinh phổ thông trung học. Các môn thi phù hợp phải là toán, tiếng Việt và ngoại ngữ. Đối với khối ngành kỹ thuật, môn tiếng Việt cũng quan trọng vì trong môn này chứa đựng cả kỹ năng sống, kỹ năng làm người, kỹ năng hợp tác với cộng đồng… là những kỹ năng mà ai cũng cần.
b. Chương trình đào tạo: Một chương trình đào tạo thiên lệch không thể không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, thậm chí ảnh hưởng cả đến quá trình hội nhập giáo dục, xu hướng tất yếu của thời đại hiện nay. Trong năm học 2004 – 2005, các trường đại học đã xây dựng lại chương trình đào tạo theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT theo tinh thần giảm tải. Điều đó nói lên những nỗ lực rất lớn của Bộ GD & ĐT trong việc cải thiện công tác quản lý giáo dục, song chương trình đó vẫn còn nhiều bất cập. Những môn học thuộc kiến thức ngành và chuyên ngành chỉ được gói gọn trong 55% thời lượng là quá ít. Chịu trách nhiệm chính về khối kiến thức chuyên ngành là ở cấp bộ môn, nhưng cấp này chỉ được quyền chi phối đến 20% số đơn vị học tập. Vậy đề nghị Bộ GD & ĐT hãy giao thêm quyền cho các trường, trường giao thêm quyền cho cấp bộ môn và như thế mới có điều kiện cho sinh viên được quyền tham gia lựa chọn những kiến thức, môn học mang tính kỹ năng nào mà họ thích.
c. Về giáo trình: Thiếu sách, giáo trình, tài liệu cũng là một sự không đồng bộ với đòi hỏi chất lượng đào tạo cao. Kinh nghiệm của các nước phát triển và mới phát triển như Nhật, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc … thì để nhanh chóng có nhiều tài liệu tham khảo, giáo trình cho sinh viên hãy đầu tư cho dịch thuật song song với việc đầu tư tự viết. Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy đầu tư cho dịch thuật đem lại kết quả nhanh hơn và hiệu quả cao hơn so với đầu tư tự viết ở các nước kém phát triển, nhanh chóng làm phong phú nguồn tài liệu học tập cho SV. Bên cạnh đó, cần xem xét khả năng nhập khẩu chương trình đào tạo như một số nước đã làm và đã thành công. Hiện nay chúng ta có nhiều sách tham khảo, giáo trình chất lượng chưa cao còn do khâu quản lý, như khâu cấp giấy phép xuất bản, khâu nghiệm thu… và điều đó cũng không thể không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
d. Về phương pháp giảng dạy: Hầu như không còn tranh cãi nào về phương pháp giảng dạy như thế nào là có chất lượng. Ai cũng rõ rằng phương pháp giảng dạy chất lượng là phương pháp lấy người học làm trung tâm, là đối thoại, là đặt vấn đề, là tình huống, là thảo luận, là sinh viên phải làm việc nhiều ở nhà và đương nhiên giáo viên cũng cần làm việc nhiều hơn trước khối lưựng kiến thức ngày càng nhiều và thông tin cũng nhiều, phải nắm bắt đúng kết quả của SV. Nhưng … điều kiện để thực hiện thì không có – sự không đồng bộ không thể khắc phục nếu không có thay đổi gì: đó là Quy mô lớp học. Để phương pháp giảng dạy mới được áp dụng thì quy mô lớp học phải tối đa là 50 SV, lý tưởng là 30 – 35, trong thực tế rất ít có lớp học như vậy, mà có khi lên đến 100 – 150 SV. Những lớp học quá đông SV, việc áp dụng phương tiện giảng dạy hiện đại như dùng đèn chiếu hoặc projector cũng kém hiệu quả (mà SV đã có nhiều phản ánh). Tất nhiên chúng ta đang đứng trước những mâu thuẫn giữa quy mô lớp học, thu nhập của giáo viên và chất lượng đào tạo…! Những bài toán này cũng cần được giải gấp.
e. Về nguồn tài chính: VN được xem là một trong những quốc gia có chi phí để học đại học, cao học và cả nghiên cứu sinh rẻ nhất thế giới. Nếu so sánh chi phí đó với mức lương công chức, lương tối thiểu thì hợp lý, nhưng nếu với mức học phí hiện tại thì tất yếu sẽ kéo theo hàng loạt sự không đồng bộ: lương giáo viên thấp, nhà trường và cả Nhà nước không có tiền để đầu tư cho phương tiện thiết bị như phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cho thư viện, cho phòng đọc … sẽ lại là vòng luẩn quẩn: chất lượng đào tạo thấp, kém hiệu quả.
Vậy, chúng tôi xin đề nghị Bộ GD & ĐT cần nhanh chóng xem xét giải pháp tăng học phí của tất cả các cấp đào tạo từ đại học trở lên. Thứ hai, cần thực sự khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư đào tạo đại học và sau đại học chứ không chỉ dừng lại ở chủ trương như hiện nay, nhanh chóng thực hiện xã hội hóa đào tạo đại học, trên cơ sở đó nhanh thực hiện chủ trương giảm tỉ lệ SV thuộc các trường đại học công lập và tăng tỉ lệ SV hệ ngoài công lập như ở nhiều nước trên thế giới.
Trên đây chỉ là một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học ở VN dù chưa phải là tất cả. Hy vọng đóng góp phần nào vào sự nghiệp cải cách giáo dục, đào tạo tại VN , tạo điều kiện để VN có thể bước những bước đầu tiên trên con đường hội nhập quốc tế ª
——————————————–
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 8/2005
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo | Leave a comment »
MẤY SUY NGHIỆM VỀ ĐẤT VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRẦN KHUYẾT NGHI
Phải xét kỹ lại quan niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Điều 5 Luật đất đai) xem thực chất nó như thế nào, nên định nghĩa lại rõ ràng ra sao trong mối tương quan với vấn đề quyền sở hữu cá nhân vốn cần phải được xác lập một cách chắc chắn hơn nữa. Bởi hình như tính cách lập lờ khó hiểu khó áp dụng của quan niệm nầy đã trở nên lạc hậu trong hoàn cảnh mới của nền kinh tế thị trường.
Từ nhiều năm nay, đặc biệt trong những khoảng thời gian gần đây, câu chuyện đất đai đã trở thành một vấn đề rắc rối thật sự nóng bỏng, gây nên biết bao những cuộc tranh chấp và khiếu kiện của cả cá nhân lẫn tập thể, giữa cá nhân với nhau cũng như và nhiều nhất giữa các cá nhân hoặc hộ sử dụng đất với cơ quan nhà nước. Cách giải quyết bất cập các mối quan hệ về quyền sử dụng đất rõ ràng đã trở thành trọng tâm của sự bất mãn mang tính cách phổ biến rộng rãi trong quần chúng, mà nếu không khéo có thể còn dẫn tới những hậu quả khó lường trước được.
Trong đợt kiểm tra thi hành Luật đất đai trên toàn quốc của Bộ tài nguyên và môi trường hồi tháng 8.2005 vừa rồi, các quan chức phụ trách kiểm tra đã ghi nhận được vô số những trường hợp sai sót bất hợp lý gây đau khổ và phẫn nộ trong quần chúng, nhận được đến khoảng 17.000 đơn khiếu nại; con số nầy còn có thể còn nhiều hơn, vì rất nhiều người không nộp đơn mà chờ Nhà nước giải quyết đơn khiếu nại của người khác thì giải quyết luôn cho trường hợp của mình.
Có hai điều quan trọng khiến chúng ta phải suy nghĩ: (1) Tại sao trong thời phong kiến-Pháp thuộc chẳng hạn, tính cho tới trước năm 1975, rất ít nghe những cuộc tranh chấp khiếu kiện về ruộng đất giữa dân với chính phủ (nếu có thì chỉ là tranh chấp giữa một số cá nhân với nhau về quyền sở hữu), trái lại trong thời kỳ đất nước độc lập xây dựng chủ nghĩa xã hội “lấy dân làm gốc”, coi việc an cư lạc nghiệp của dân là nhiệm vụ trọng tâm, đã để xảy tình trạng bất mãn cực độ trong nhân dân về ruộng đất, nhà ở? (2) Câu hỏi vừa nêu gợi ra cho thấy chắc chắn mọi điều rắc rối là do sự bất cập về quản lý nhà nước đối với đất đai, chứ không phải thứ gì khác, mà sự bất cập nầy không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp về phương diện khả năng-kỹ thuật quản lý, trái lại có thể còn liên quan đến những vấn đề thuộc nguyên lý nền tảng khác, đến “chế độ” về đất đai, và lẽ tất nhiên những nguyên lý ấy đã không thể không phản ảnh vào những luật pháp đang được áp dụng, cụ thể là Luật đất đai năm 2003 mà các bậc thức giả và nhân dân phần nhiều đều cho rằng “vẫn còn nhiều điểm rối rắm”, tuy rằng có tiến bộ hơn những luật cũ nhiều. Nếu không giải quyết vấn đề mấu chốt về chế độ đất đai, chứ không phải phương thức quản lý đất đai, thì dù có cải tiến, bổ sung thêm nhiều luật nữa, cũng không thể quản lý đất đai một cách suôn sẻ theo hướng quản lý là nhằm mang lại sự an cư lạc nghiệp ổn định cho toàn dân và cho sự phát triển chung của đất nước. Với tình trạng hiện nay, cách quản lý đất đai phần nhiều chỉ tạo thêm khó khăn cho người dân và tạo nhiều khoản sơ hở cho một số tầng lớp đặc quyền lạm dụng chiếm hữu đất để làm giàu một cách bất chính, thực tế là hầu như ngoài những lời kêu rêu chưa nghe được một tiếng khen nào từ phía quần chúng.
Trong chế độ phong kiến, đất đai nói rõ là sở hữu của vua (phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ; suất thổ chi dân, mạc phi vương thần: dưới khắp vòm trời, không đâu không phải là đất của vua; dân ở khắp trên mặt đất, không ai không phải là bề tôi của vua), vì thế vua có quyền đem đất phong lại cho các hoàng thân quốc thích và công thần dưới dạng thái ấp. Trong các thái ấp, dân vẫn ăn ở sinh sống và vì thế không có sự tranh chấp đất đai với vua quan mà chỉ có nhiệm vụ cống nạp dưới hình thức địa tô cho các chúa phong kiến, còn quan lại thì nói chung chỉ có danh dự cao sang và hưởng bổng lộc theo mức quy định của triều đình mà thôi. Trong chế độ phong kiến, do trật tự đã định, không có chuyện vua quan dùng thủ đoạn chiếm đất của dân, mà chỉ có tầng lớp địa chủ là người có nhiều ruộng cho thuê để bóp nặn sức lao động của nông dân.
Ở Việt Nam thời xưa, đất và ruộng đều chia thành hai loại công, tư rạch ròi (quan điền, quan thổ thuộc sở hữu quốc gia do quan chức quản lý; công điền, công thổ thuộc sở hữu quốc gia do xã thôn quản lý; tư điền, tư thổ là đất hoặc đất ruộng của tư nhân- terre privée, rizière privée). Lệ năm Gia Long thứ 3 (1804) định phép chia đều ruộng (quân điền chi pháp), các quan văn võ từ nhất phẩm đến tòng cửu phẩm và lính với dân, đều chiếu theo số ruộng công và đất công trong làng mà chia ra cấp theo khẩu phần với mức độ sai biệt tùy theo phẩm cấp (xem Đại Nam điển lệ toát yếu, phần Hộ lệ). Nếu nhà nước thực hiện công trình công cộng gì thì cũng phải bồi thường cho dân; lệ năm Minh Mạng thứ 8 (1827) quy định “từ nay phàm các công tác mở vào ruộng đất…, nếu xâm phạm vào ruộng đất tư bao nhiêu, phải chiếu nguyên giá, trích công quỹ ra mà trả cho chủ sở hữu” (tài liệu đã dẫn). Triều đình, để quản lý ruộng đất và đánh thuế, chỉ cần có hai loại sổ chính là địa bạ (sổ đất- cadastre) và điền bạ (sổ khai báo để đóng thuế ruộng đất của làng- rôle d’impôt foncier), là đủ.
Nước Việt Nam thời phong kiến, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra nhưng thường vì những lý do khác như đói kém mất mùa… chứ không phải để tranh chấp ruộng đất, có lẽ một phần vì thời xưa đất còn rộng người còn thưa. Thường thì lại vì những bất công diễn ra theo kiểu khác, không có liên quan đến đất, và nói như cụ Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, “hễ ai đi học mà vì lẽ gì thi không đỗ, làm quan không được, thì bức chí quay ra làm giặc để tìm cách hiển vinh, thành ra trong nước hay có giặc giã”.
Thời nay tại nước ta, vùng Tây Nguyên đất rừng mênh mông không sao ở hết mà thỉnh thoảng vẫn có những cuộc bạo loạn xảy ra, Chính phủ phải cử người xuống tận nơi để vỗ an, giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho dân địa phương mới là chuyện lạ lẫm chưa từng thấy. Sở dĩ như thế vì một số quan chức nhà nước với tư cách là phần tử đặc quyền, thay vì thực hiện chức năng quản lý để đem lại sự an dân, đã câu kết với những phần tử đặc lợi khác để chiếm đoạt đất đai của dân làm của riêng. Tại các khu vực đô thị khác trên cả nước, thông qua cái cớ là những công trình quy hoạch đô thị, người ta đã sử dụng nó như một thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt giá trị thặng dư từ đất của dân dưới dạng địa tô chênh lệch(1), dựa vào lý do “đất đai là sở hữu toàn dân” chỉ có Nhà nước mới được quyền chi phối, như tôi đã viết trong một bài trước, “thực chất phần lớn chỉ là một cuộc phân chia lại của cải dưới chiêu bài phát triển đất nước mà siêu lợi nhuận thuộc về những phần tử câu kết bao gồm những kẻ có quyền phê duyệt cấp phép và các thương nhân hoặc nhà thầu đứng ra thực hiện việc chia của”(2).
So sánh với thời đại phong kiến, đất đai là của vua nên vua đại diện cho quân quyền (nghĩa là cho nhà nước) chi phối, còn trong thời đại của chúng ta hiện giờ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” nhưng cũng nhà nước chi phối. Thế thì cái vế câu “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” chỉ còn phản ánh được một thứ nghệ thuật sử dụng ngôn từ mang tính hình thức, hoàn toàn không có ý nghĩa gì về mặt thực chất nữa, mà chính lại là lý do của mọi sự rắc rối không có cách gì giải quyết nổi. Trên thực tế ở mọi chế độ xã hội, đất đai nào lại không do nhà nước quản lý, nghĩa là nhà nước có quyền trưng dụng cho bất kỳ mục đích lợi ích công cộng nào. Nhưng để hưởng dụng, thì đất đai nhất định phải do dân hưởng dụng chứ không có nhà nước nào ở đây. Từ đó suy ra cái vế câu tiếp theo “do nhà nước đại diện chủ sở hữu” cũng vô lý và dư thừa tương tự. Tuy nhiên cả câu nầy ghi trong Điều 5 về “sở hữu đất đai” đã nhằm mục đích riêng là xác định được vừa chế độ ruộng đất vừa chế độ xã hội, từ đó cũng xác định luôn phương thức quản lý đất đai của nhà nước, mà cái cách như chúng ta đã từng thấy với hiệu quả thấp gây ra biết bao điều bất tiện cho dân chúng.
Trong bộ Luật đất đai năm 2003 dài khoảng 110 trang, mặc dù đã tiến bộ nhiều so với trước, nhưng phần nói về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất chỉ chiếm được 12 trang, phần đa số còn lại toàn nói về các quyền chi phối của Nhà nước dưới những câu chữ và dạng diễn đạt khác nhau; riêng chương II “Quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý Nhà nước về đất đai” chiếm tới 10 trang, mà đọc vào, chúng ta dễ phát sinh cảm tưởng rằng Nhà nước sợ mình bị mất quyền chi phối khiến cho đất đai rốt cuộc lọt hết vào tay dân, trong khi mục đích chính của việc quản lý nhà nước lẽ ra không có gì khác hơn là để cho đất đai phải lọt hết vào tay dân dưới nhiều dạng thức sử dụng và được sử dụng một cách toàn diện đạt hiệu quả cao trên cơ sở của những luật pháp liên quan và tài điều tiết, lãnh đạo của Nhà nước. Trên thực tế, do nhiều quan niệm sai lầm từ gốc, một số quan chức cầm quyền đã rất không sốt sắng trong việc cấp giấy chủ quyền đất cho dân là vì thế, khiến cho dân để được sử dụng đất, trở thành những người đi van xin thông qua những thủ tục hành chánh hết sức rườm rà và lâu lắc.
Bây giờ, thử lật bộ Bách khoa từ điển Việt Nam ra, chúng ta sẽ thấy ở mục từ “lãnh thổ quốc gia”, được định nghĩa rõ ràng là “một phần của Trái Đất thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia” (tập II, trang 641). Vậy cái gọi là quyền chi phối của nhà nước về đất là một lẽ đương nhiên không cần phải diễn đạt dài dòng, trong khi vấn đề cốt yếu là sự hành xử cái quyền đó phải nhằm phục vụ cho lợi ích chung của quốc gia dân tộc mà nhân dân là đối tượng hưởng dụng chủ yếu chứ không thể để bị các phần tử đặc quyền trong bộ máy quản lý lạm dụng chiếm đoạt. Với thực trạng hiện nay, không còn là trường hợp cá biệt, việc lợi dụng chức quyền để phân bổ, chia chác đất đai đang diễn ra ở hầu khắp nơi trên đất nước, và theo ông Thứ trưởng Bộ tài nguyên-môi trường Đặng Hùng Võ, tình trạng tham nhũng đất đai hiện đã được thể hiện qua tới 5 cách, mà tờ Tuổi trẻ trong một bài phỏng vấn ông Võ đã gọi là 5 chiêu thức “ăn” đất của dân (gồm: 1. tham nhũng dựa vào các chương trình mục tiêu của nhà nước; 2. từ các khu tái định cư; 3. tại các khu giãn dân ở khu dân cư nông thôn; 4. dưới dạng quyết định thu hồi đất cho một dự án rồi chia nhau phần thừa; 5. không có dự án gì nhưng vẫn thu hồi đất của dân rồi để đấy).
Về nguyên nhân và cách giải quyết vấn đề, theo ông Đặng Hùng Võ: “Nguyên nhân sâu xa là do bất động sản có khả năng sinh lợi rất nhiều, do hệ thống quản lý đất đai lỏng lẻo, chưa giám sát được những trường hợp tham nhũng…” (xem báo Tuổi trẻ, 26.10.2005).
Ý kiến của ông Đặng Hùng Võ không sai và đầy thiện chí, nhưng theo tôi, vẫn chưa phải là “nguyên nhân sâu xa” gốc rễ của vấn đề. Nếu chỉ vì hệ thống quản lý lỏng lẻo hay chưa giám sát được những trường hợp tham nhũng thì bao giờ và cần phải hội đủ điều kiện gì mới chấm dứt được tình trạng nầy? Nguyên nhân sâu xa, trái lại là từ những mập mờ đã phân tích ở trên về quyền sở hữu hay quyền sử dụng đất. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng lại do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, tách Nhà nước thành một thực thể riêng biệt ôm vào quá nhiều quyền chi phối đất đối lập với dân, và khái niệm về quyền không hiểu theo nghĩa quyền lực đại diện mà đã bị biến tướng thành một thứ quyền lợi. Bằng cớ của điều sai trái nầy là ngay trong Luật đất đai 2003 vẫn có những điều như Điều 142 “Xử lý vi phạm pháp luật về đất đai gây thiệt hại cho Nhà nước”, trong khi đó đã gọi Nhà nước thì chẳng qua chỉ là một thực thể quyền lực trừu tượng mang tính đại diện để điều tiết quyền lợi trong dân thôi chứ nhà nước làm gì có quyền lợi mà gọi là “gây thiệt hại cho nhà nước”? Điểm sai lầm cơ bản nàyvô tình biến một nhà nước thay vì chỉ có quyền mà không có lợi trở thành một nhà nước vừa có quyền vừa có lợi, với những con người đại diện sống động có lòng tham, biết “ăn” và biết giành đất với dân, chính là nguyên nhân gốc gây nên mọi thứ rắc rối khó chữa.
Muốn cho việc quản lý đất đai trở nên đơn giản, hiệu quả, thiết tưởng cần trước hết phải có sự danh chính ngôn thuận. Trong xã hội ta, đất đai là thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lý luận nầy chỉ cần thiết duy trì trong khoảng thời gian nhất định nào đó khi mà giai cấp bóc lột chiếm dụng đất (đại tư sản mại bản và đại địa chủ) chưa bị tiêu diệt. Còn bây giờ, Nhà nước luôn tỏ ra lúng túng chỉ vì trong khâu quan niệm về đất và sử dụng đất có nhiều điều không ổn do quán tính của tư duy và ảnh hưởng của những trạng thái tâm lý, cách hành xử có từ thời kỳ chiến tranh cách mạng và quan liêu bao cấp không chấp nhận quy luật vận hành khách quan của thị trường. Cách đặt luật và quản lý đất đai có vẻ như còn hơi hướm sợ đất lọt vào tay dân, nên tìm cách đề ra hết quy định nầy đến quy định khác để hạn chế, cái nọ chồng chéo lên cái kia khiến cho thị trường đất nếu không bất ổn triền miên thì cũng bị biến tướng vào những khu vực ngầm không kiểm soát được.
Tìm hiểu ít nhiều về văn hóa, văn minh Trung Quốc, tôi có cảm nhận sở dĩ Trung Quốc từ thời kỳ đổi mới đến nay có nhiều chủ trương rất sáng tạo và tiến bộ rất nhanh là nhờ họ sớm biết tổng kết những kinh nghiệm đau thương và thất bại của quá khứ, nhất là đằng sau họ còn có cả một kho kinh nghiệm đồ sộ về thuật trị dân của những người đi trước. Với sự khôn khéo của họ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa hiểu rằng dù có nói sở hữu đất đai là gì gì đi nữa thì đất đai cũng không chạy đâu khỏi quyền kiểm soát của ông đại diện nhà nước. Về bản chất, đất đai thuộc loại bất động sản không thể xê dịch đi đâu được. Chỉ cần một nhà nước mạnh và trong sáng là có thể kiểm soát, thực hiện chính sách tài sản cho dân theo một cách công bằng tương đối nào đó bằng chính trị, kinh tế hoặc các công cụ luật pháp do mình chế định ra. Thậm chí nếu vì lý do để thực hiện những chính sách lớn nhằm vào lợi ích công cộng thì nhà nước chi phối đất đai bằng cách trưng dụng lúc nào chẳng được, miễn là có đủ vốn để làm, trong đó có một phần dành riêng đền bù cho dân. Vậy dù nói kiểu nào thì đất đai cũng là tài nguyên chung của quốc gia để cho dân sử dụng, và chỉ có dân mới là đối tượng chính được hưởng chứ không phải bất kỳ đối tượng nào khác, kể cả cái gọi là nhà nước.
Kinh nghiệm về sử dụng đất đai ở Trung Quốc trong hiện tại còn cho thấy rằng thị trường hóa là linh hồn của cuộc cải cách quyền sở hữu ruộng đất: Ai tôn trọng luật pháp nước CHND Trung Hoa, người ấy được phép thuê nhà, xây nhà và buôn bán kiếm lời, không phân biệt quốc tịch nước nào. Khi áp dụng trên thực tế, các nhà chức trách Trung Quốc đã thấy rõ, càng thị trường hóa bao nhiêu thì lại càng luật lệ hóa bấy nhiêu, khiến cho số người làm chủ đất ở và đất sản xuất-kinh doanh ngày một gia tăng, đem lại những nguồn phấn khích lớn lao như một luồng gió tươi mới thổi vào một số tỉnh tiến bộ nhất trên đất nước Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chính sách của chúng ta còn rất nhiều điểm bất cập là nguyên nhân của mọi tình trạng lúng túng về quản lý- phân phối đất gây bất mãn cực độ trong dân. Trong quy hoạch đất đai chẳng hạn, giá trị thặng dư xuất phát từ đất đã tăng lên nhờ thay đổi mục đích sử dụng, thì cách điều hòa lợi ích chỉ đơn giản là phải đền bù thỏa đáng cho việc giải tỏa, cũng như việc tổ chức tái định cư cho dân. Mọi hành động quy hoạch nếu nói vì mục đích công cộng nhưng không thỏa mãn các điều kiện cơ bản kể trên sẽ có thể bị nghi ngờ là một sự sắp xếp có tính toán bất minh. Điều nầy chẳng những không mang lại lợi ích thật sự cho người lao động mà còn góp phần khoét sâu thêm tình trạng phân hóa xã hội theo hướng bất lợi cho dân nghèo, hoàn toàn trái hẳn với mục tiêu công bằng xã hội. Đó cũng là thực chất hoặc lý do sâu xa thật sự của tình trạng biến động giá đất và rối loạn thị trường nhà đất trong thời gian gần đây mà kết quả cuối cùng là tạo cơ hội làm giàu thêm cho những phần tử đặc quyền đặc lợi. Để tránh bước vào con đường nguy hiểm đầy sai quấy nầy, Nhà nước với tư cách là người điều hòa phúc lợi xã hội chứ không phải “chủ đất”, cần giảm hẳn mọi việc quy hoạch trên các khu dân cư hiện tại khi chưa có điều kiện đền bù giải tỏa và tổ chức tái định cư một cách thỏa đáng.
Phải xét kỹ lại quan niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Điều 5 Luật đất đai) xem thực chất nó như thế nào, nên định nghĩa lại rõ ràng ra sao trong mối tương quan với vấn đề quyền sở hữu cá nhân vốn cần phải được xác lập một cách chắc chắn hơn nữa. Bởi hình như tính cách lập lờ khó hiểu khó áp dụng của quan niệm nầy đã trở nên lạc hậu trong hoàn cảnh mới của nền kinh tế thị trường, cũng không phù hợp với nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, vừa tạo điều kiện cho sự vận dụng tùy tiện của các nhà chức trách địa phương trong hành vi gọi “giao đất”, “thu hồi đất”…, vừa trở thành lý do chính của nhiều thứ lạm dụng đã rõ như ban ngày mà Nhà nước vẫn không sao kiểm soát được ª
(1) Về vấn đề bóc lột giá trị thặng dư từ đất, xin xem bài “Xác lập quan điểm mới cho vấn đề quy hoạch sử dụng đất”, của Trần Khuyết Nghi, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 163, tháng 5.2004.
(2) Xem “Để chống tham nhũng một cách thật sự hiệu quả”, của Trần Khuyết Nghi, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 179, tháng 9.2005.
—————————————————–
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 11/2005
Filed under: LUẬT ĐẤT ĐAI, Tài sản, Vật quyền khác | Leave a comment »
XÃ HỘI DÂN SỰ
GS. LARRY DIAMOND
Xã hội dân sự là gì và không là gì
Xã hội dân sự ở đây được hiểu là một mảng của đời sống xã hội có tổ chức, mang tính tự nguyện, tự tái tạo, (hầu như) tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau bằng một trật tự pháp lý hay một số nguyên tắc chung. Nó khác với “xã hội” nói chung ở chỗ nó gồm các công dân hành động tập thể trong môi trường công (public sphere) để thể hiện các lợi ích, quan tâm và các ý tưởng của họ, cũng như trao đổi thông tin, giành các mục tiêu chung, yêu sách với nhà nước, và trông chừng các quan chức. Xã hội dân sự là một thực thể trung gian, nằm giữa môi trường tư (private sphere) và nhà nước. Như vậy, nó loại trừ đời sống cá nhân và gia đình, các hoạt động nhóm hướng nội (ví dụ như thể thao, giải trí hay tâm linh), các hoạt động kiếm lời của các doanh nghiệp, và các nỗ lực chính trị nhằm giành quyền kiểm soát chính quyền. Các nhân vật trong xã hội dân sự cần sự bảo vệ bởi một trật tự pháp luật được thể chế hoá nhằm bảo đảm quyền tự trị của họ và quyền tự do hành động. Do đó, xã hội dân sự không chỉ hạn chế sức mạnh nhà nước mà còn đem lại chính nghĩa cho quyền lực nhà nước, khi quyền lực đó dựa trên pháp quyền (rule of law). Khi bản thân nhà nước lại không có luật lệ và coi thường quyền tự trị của cá nhân và các nhóm, xã hội dân sự vẫn có thể tồn tại (dù chỉ dưới hình thức sơ khai hay hoang tàn) nếu như các thành tố của nó vận hành theo một nhóm các nguyên tắc được chia sẻ (thí dụ như những [nguyên tắc] tránh sử dụng bạo lực và tôn trọng đa nguyên). Đây là điều kiện không thể tối giản trong chiều cạnh “dân sự” của nó [1].
Xã hội dân sự bao gồm một dải rất rộng các tổ chức chính thức và không chính thức. Chúng gồm tổ chức mang tính: 1) kinh tế (các hiệp hội và mạng lưới sản xuất và thương mại); 2) văn hoá (tôn giáo, đạo đức, cộng đồng và các thiết chế và tổ chức khác bảo vệ các quyền, giá trị, niềm tin, tín ngưỡng, biểu tượng của tập thể); 3) thông tin và giáo dục (cho việc tạo ra và phát tán-dù là vụ lợi hay phi vụ lợi- những kiến thức, ý tưởng, tin tức và thông tin công (public); 4) dựa trên lợi ích (thiết kế để thúc đẩy hay bảo vệ những lợi ích căn bản hay lợi ích vật chất chung của các thành viên, có thể là công nhân, cựu chiến binh, người hưởng lương hưu, chuyên gia v.v.); 5) phát triển (các tổ chức kết hợp nguồn lực cá nhân để cải thiện hạ tầng, thể chế, và chất lượng cuộc sống của cộng đồng); 6) hướng vấn đề (các phong trào bảo vệ môi trường, quyền phụ nữ, cải cách ruộng đất, hay bảo vệ người tiêu dùng); 7) công dân (tìm các phương tiện phi đảng phái để cải thiện hệ thống chính trị và dân chủ hoá nó thông qua việc theo dõi nhân quyền, giáo dục và vận động cử tri, theo dõi bầu cử, các nỗ lực chống tham nhũng v.v.)
Hơn nữa, xã hội dân sự bao gồm “thị trường ý thức hệ” và một dòng chảy thông tin và ý tưởng. Nó bao gồm không chỉ truyền thông độc lập mà còn các tổ chức thuộc về một không gian rộng hơn, gồm các hoạt động văn hoá và tri thức độc lập-các trường đại học, viện nghiên cứu, nhà xuất bản, nhà hát, các xưởng phim, và các mạng lưới của giới nghệ sĩ.
Từ trên đây, ta sẽ thấy rõ rằng xã hội dân sự không phải là một nhóm “còn lại”, đồng nghĩa với xã hội, hay trùng với những gì không thuộc nhà nước hay hệ thống chính trị chính thức. Ngoài tính chất tự nguyện, tự tái tạo, tự trị và tuân theo quy định, các tổ chức của xã hội dân sự cũng khác với các tổ chức xã hội khác ở nhiều mặt. Một là, như nhấn mạnh ở trên, xã hội dân sự quan tâm đến các mục tiêu công, chứ không phải mục tiêu tư. Hai là, xã hội dân sự liên quan đến nhà nước theo cách nhất định, nhưng không nhằm mục đích giành quyền lực hay địa vị chính thức trong bộ máy nhà nước. Thay vào đó, các tổ chức xã hội dân sự tìm kiếm ở nhà nước tính khả tín và những nhượng bộ, những thay đổi, giảm nhẹ hay sửa chữa các chính sách. Các tổ chức công dân và các phong trào xã hội mong muốn thay đổi bản chất của nhà nước vẫn có thể được xếp vào xã hội dân sự, nếu những cố gắng của chúng bắt nguồn từ quan tâm đến lợi ích chung, và không từ tham vọng tự thân là giành quyền lực nhà nước cho mình. Vì thế, các phong trào hoà bình đấu tranh cho chuyển đổi dân chủ thường nảy sinh từ xã hội dân sự.
Một điểm phân biệt nữa là xã hội dân sự thể hiện đa nguyên và đa dạng. Nếu một tổ chức-chẳng hạn như cực đoan tôn giáo, sô-vanh chủng tộc, cách mạng hay các phong trào cứu thế-mà tìm cách độc quyền hoá một khu vực chính trị hay chức năng trong xã hội, xác quyết rằng nó đại diện con đường duy nhất đúng, thì nó mâu thuẫn với bản chất đa nguyên và hướng thị trường của xã hội dân sự. Liên quan đến điểm này là chiều cạnh thứ tư, tính bộ phận (partialness), tức là không một nhóm nào trong xã hội dân sự muốn đại diện có toàn bộ lợi ích của một cá nhân hay một cộng đồng. Thay vào đó, các nhóm khác nhau đại diện cho các lợi ích khác nhau.
Xã hội dân sự không chỉ khác và độc lập với nhà nước và xã hội nói chung, mà còn độc lập với mảng thứ tư của hành động xã hội, xã hội chính trị (tức là, về cơ bản, là hệ thống đảng phái). Các tổ chức và mạng lưới trong xã hội dân sự có thể liên minh với các đảng, nhưng nếu chúng bị lũng đoạn bởi các đảng, hay phục tùng chúng, thì các tổ chức ấy đã chuyển trọng tâm vào các hoạt động trong xã hội chính trị và mất phần lớn năng lực để thực hiện những chức năng trung gian và xây dựng dân chủ độc đáo của mình.
Các chức năng dân chủ của xã hội dân sự
Chức năng đầu tiên và căn bản nhất của xã hội dân sự là cung cấp “cơ sở cho việc giới hạn quyền lực nhà nước của xã hội, vì thế, cho việc kiểm soát nhà nước bởi xã hội, và do đó, cho các thể chế chính trị dân chủ với tư cách là công cụ thực thi việc kiểm soát đó một cách hữu hiệu nhất” [2]. Chức năng này có hai chiều: để giám sát và kiềm chế việc thực thi quyền lực của các nhà nước dân chủ, và để dân chủ hoá các nhà nước độc tài. Vận động xã hội dân sự là một biện pháp chính để vạch ra sự lạm dụng và làm xói mòn tính chính thống của các chính quyền độc tài. Đây là chức năng được phát huy một cách đầy kịch tính trong nhiều quá trình chuyển đổi dân chủ trong hai thập niên qua, đến mức nó đã đẩy xã hội dân sự lên tuyến đầu trong tư tưởng dân chủ. Tất nhiên lối suy nghĩ này chỉ tân trang ý tưởng thế kỷ 18 về xã hội dân sự như là trong thế đối lập với nhà nước, và, như tôi sẽ chỉ ra, nó chứa đựng những nguy cơ nếu đi quá xa [3].
Xã hội dân sự cũng là một công cụ tối quan trọng để kiềm chế quyền lực của các nhà nước dân chủ, trông chừng sự lạm dụng và vi phạm pháp luật tiềm ẩn của chúng, và đặt chúng dưới sự giám sát của công chúng. Thật vậy, một xã hội dân sự sống động thậm chí còn thiết yếu cho việc củng cố và duy trì nền dân chủ hơn cả việc khởi xướng nền dân chủ. Không có thay đổi nào nguy hại hơn với tính chính nghĩa của các nền dân chủ non trẻ hơn là tham nhũng chính trị tràn lan và trắng trợn, đặc biệt là trong các giai đoạn đau đớn nhằm tái cấu trúc kinh tế, mà trong đó nhiều nhóm và cá nhân bị đòi hỏi phải chịu đựng những khó khăn to lớn. Các nền dân chủ mới, nối tiếp các thời kì cai trị tuỳ tiện và tập quyền, thường thiếu các phương tiện luật pháp và bộ máy quan liêu để kiểm soát tham nhũng ngay từ đầu. Không có báo chí và các nhóm dân sự mạnh, được tự do trông chừng [nhà nước-ND] để thúc đẩy các cải cách thể chế, tham nhũng thường sẽ bùng phát.
Hai là, một đời sống liên đới lành mạnh sẽ bổ sung cho vai trò của các chính đảng trong việc khuyến khích tham gia chính trị, tăng tính hướng đích và kỹ năng chính trị của các công dân trong chế độ dân chủ, và thúc đẩy nhận thức về nghĩa vụ cũng như các quyền của công dân dân chủ. Với quá nhiều người Mỹ (mà chỉ một nửa trong số họ còn bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử tổng thống), thì đây có vẻ như là một bài giảng xa lạ và kỳ cục. Tuy nhiên, một thế kỷ rưỡi trước, sự tham gia tự nguyện của các công dân vào đủ loại liên đới bên ngoài nhà nước đã gây ấn tượng mạnh cho Tocqueville như là hòn đá tảng của văn hóa dân chủ hoá sự sống động về mặt kinh tế của Hợp Chủng Quốc non trẻ. Các tổ chức tự nguyện “do đó có thể được coi là các trường học độc lập lớn, mà trong đó mọi thành viên của cộng đồng đến học lý thuyết chung về liên đới”, ông đã viết [4] .
Xã hội dân sự còn có thể là một vũ đài quan trọng cho sự phát triển các thành tố dân chủ khác, như khoan dung, ôn hoà, sẵn sàng nhượng bộ, và tôn trọng các quan điểm trái ngược. Các giá trị và chuẩn mực này trở nên ổn định nhất khi chúng nổi lên thông qua kinh nghiệm, và tham gia vào các tổ chức trong xã hội dân sự, cung cấp bài học thực hành quan trọng về ủng hộ và cạnh tranh chính trị. Thêm vào đó, nhiều tổ chức dân sinh (như Conciencia, một mạng lưới các hiệp hội phụ nữ, được thành lập đầu tiên ở Argentina và từ đó đã lan sang 14 nước Mỹ Latinh khác) đang làm việc trực tiếp với các trường học và cùng với các nhóm thành niên khác, để phát triển các thành tố dân chủ này thông qua các chương trình tương tác mô tả quá trình động nhằm đạt tới đồng thuận trong một nhóm, chứng minh khả năng có thể tồn tại tranh luận nghiêm túc giữa các quan điểm cạnh tranh nhau, và các cách hợp tác để giải quyết các vấn đề trong cộng đồng của chính họ [5].
Cách thứ tư mà xã hội dân sự có thể đóng góp cho dân chủ là tạo ra các kênh nằm ngoài các đảng phái chính trị để biểu đạt, tập hợp và đại diện các lợi ích. Chức năng này đặc biệt quan trọng trong việc đem lại khả năng tiếp cận quyền lực cho các nhóm mà trước đây bị gạt ra lề: phụ nữ và các sắc tộc hay chủng tộc thiểu số, vốn luôn bị từ chối trong “nấc thang bên trên của thể chế” trong chính trị chính thống. Thậm chí, ở những nơi mà phụ nữ đã từng đóng vai trò, qua nhiều phong trào và tổ chức (như ở Mỹ La tinh), nền chính trị và hành chính sau chuyển đổi thường quay lại mô thức đặc quyền và hẹp hòi trước đó. Ở Đông Âu, đã có nhiều dấu hiệu cho thấy sự sút giảm địa vị xã hội và chính trị của phụ nữ sau chuyển đổi. Chỉ bằng các sức ép có tổ chức và lâu dài từ dưới lên, từ xã hội dân sự, thì quyền bình đẳng xã hội và chính trị mới được đẩy mạnh, và chất lượng, năng lực phản hồi và tính chính thống của nền dân chủ mới được nâng lên [6].
Xã hội dân sự cung cấp một nền tảng đặc biệt vững cho dân chủ khi nó tạo cơ hội tham gia và ảnh hưởng ở mọi cấp quản lý nhà nước, nhất là cấp địa phương. Bởi vì chính ở cấp địa phương mà các nhóm từng bị gạt ra lề trong lịch sử có nhiều cơ hội nhất để tác động vào chính sách công và phát triển cảm nhận về tính hướng đích (sense of efficacy) cũng như các kĩ năng chính trị thực tế. Do đó, dân chủ hóa chính quy hoá địa phương đi đôi với sự phát triển của xã hội dân sự là một điều kiện làm cho dân chủ và “quá trình chuyển tiếp từ quan hệ chủ tớ sang công dân” trở nên sâu sắc hơn ở Mỹ Latinh cũng như các nơi khác trong thế giới đang phát triển [7].
Năm là, một xã hội dân sự đa nguyên sinh động, đặc biệt là trong các nền kinh tế phát triển cao, sẽ có xu hướng tạo ra một dải rộng các lợi ích đan chéo, và do đó làm dịu bớt những sự phân cực cơ bản của xung đột chính trị. Trong khi các tổ chức dựa trên các giai cấp mới hình thành và các phong trào hướng-vấn đề (issue-oriented) khởi lên, chúng cũng lôi kéo các thành phần mới, cắt ngang qua các đường ranh giới về đảng phái, sắc tộc, tôn giáo và lãnh thổ. Khi lật đổ các nền độc tài, những cấu trúc mới này có thể tạo ra một loại hình công dân hiện đại xuyên thấu các chia rẽ về lịch sử và ngăn chặn sự trỗi dậy của các xung lực dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi. Trong chừng mực mà các cá nhân có quan tâm đa dạng và tham gia vào đủ loại tổ chức khác nhau để theo đuổi và thúc đẩy các lợi ích đó, họ sẽ liên kết với nhiều loại người khác nhau, những người có các lợi ích và quan điểm chính trị không đồng nhất. Những sức ép đan chéo này sẽ có khuynh hướng làm mềm sự quyết liệt trong quan điểm của chính họ, và hình thành các quan điểm chính trị rộng mở và tinh tế hơn, và vì thế sẽ khuyến khích sự khoan dung những khác biệt và sẵn sàng hơn cho nhượng bộ.
Chức năng thứ sáu của một xã hội dân sự dân chủ là tuyển lựa và đào tạo các lãnh tụ chính trị mới. Trong một vài trường hợp, đây chính là mục đích của các tổ chức dân sinh. Ví dụ, Quỹ Evelio B. Javier ở Philippines có các chương trình đào tạo trên cơ sở phi đảng phái cho các ứng cử viên và quan chức thắng cử vào các vị trí địa phương và quốc gia, tập trung không chỉ vào các kỹ năng hành chính và kỹ thuật, mà còn vào các quy phạm mang tính chuẩn tắc về trách nhiệm công và tính minh bạch [8]. Thông thường hơn, việc tuyển lựa và đào tạo chỉ là một phụ phẩm dài hạn của việc vận hành thành công các tổ chức xã hội dân sự mà ở đó, các nhà hoạt động và lãnh tụ của các tổ chức này học được các kỹ năng và sự tự tin, những thứ trang bị sẵn sàng cho họ, để phục vụ trong chính quyền và nền chính trị đảng phái. Họ học cách tổ chức và khơi cảm hứng cho người khác, tranh luận, gây và quản lý quỹ, lập ngân sách, quảng bá nghị trình, quản lý nhân sự, vận động sự ủng hộ, và xây dựng các liên minh. Cùng lúc đó, công việc của họ nhân danh những người ủng hộ, hay nhân danh những thứ mà họ thấy là thuộc về lợi ích công cộng, và sự minh biện (articulation) của họ về các phương án khác nhau, rõ ràng và thuyết phục, cho một chính sách, có thể đem lại cho họ sự ủng hộ chính trị rộng lớn hơn. Các nhóm lợi ích, các phong trào xã hội và các nỗ lực của cộng đồng đủ loại do đó có thể đào tạo, tôi luyện và giới thiệu cho công chúng một lớp các nhà lãnh đạo chính trị tiềm năng đa dạng hơn (và mang tính đại diện hơn), những người có thể được các chính đảng thu nhận. Vì sự thống trị truyền thống của nam giới trong các kênh quyền lực, xã hội dân sự là một căn cứ đặc biệt quan trọng để đào tạo và thu nhận phụ nữ (và thành viên của các nhóm bị gạt ra lề khác) vào các vị trí của nền chính trị chính thống. Khi mà việc tuyển lựa các lãnh tụ chính trị trong các chính đảng cũ trở nên hẹp hòi hay bế tắc, chức năng này của xã hội dân sự có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng sức sống cho nền dân chủ và hồi sinh tính chính đáng của nó.
Bảy là, nhiều tổ chức dân sự có các mục đích xây dựng dân chủ rõ ràng không chỉ giới hạn trong việc đào tạo khả năng lãnh đạo. Các nỗ lực phi đảng phái nhằm giám sát bầu cử đã và đang giữ vai trò quyết định trong việc ngăn chặn gian lận [trong bầu cử] và nâng cao niềm tin của cử tri, khẳng định tính hợp hiến của kết quả, và trong nhiều trường hợp (như ở Philippines năm 1986 và Panama năm 1989) chứng minh chiến thắng của phe đối lập bất chấp sự gian lận của chính quyền đương nhiệm. Chức năng này đặc biệt quan trọng trong các cuộc bầu cử bản lề như các cuộc bầu cử đã khai sinh các nền dân chủ ở Chile, Nicaragua, Bulgaria, Zambia, và Nam Phi. Các tổ chức và viện nghiên cứu dân chủ đang làm việc ở nhiều nước để cải cách hệ thống bầu cử, dân chủ hoá các chính đảng, phi tập trung hoá và mở rộng chính quyền, tăng sức mạnh cho lập pháp, và củng cố tính khả tín của chính quyền. Và thậm chí sau chuyển đổi, các tổ chức nhân quyền vẫn tiếp tục đóng vai trò sống còn trong việc theo đuổi các cải cách luật pháp và tư pháp, cải thiện điều kiện trong nhà tù, và làm cho việc tôn trọng các quyền tự do cá nhân và quyền của người thiểu số được thể chế hoá rộng rãi hơn.
Tám là, một xã hội dân sự sôi động sẽ lan truyền thông tin rộng rãi, do đó trợ giúp các công dân trong việc cùng nhau theo đuổi và bảo vệ quyền lợi và các giá trị của họ. Trong khi các nhóm của xã hội dân sự có thể đôi lúc thắng thế một cách tạm thời bởi con số thô (như trong các cuộc bãi công và biểu tình), họ thường không hiệu quả trong việc tranh cãi với các chính sách của nhà nước hay bảo vệ lợi ích của mình, trừ khi họ nắm được thông tin. Điều này đặc biệt đúng trong các tranh luận về chính sách quốc phòng và an ninh quốc gia, khi mà bên dân sự ở các nước đang phát triển thường thiếu những kiến thức căn bản nhất. Báo chí tự do chỉ là một kênh cung cấp cho công chúng thông tin và các quan điểm thay thế. Các tổ chức đối lập có thể cung cấp cho các công dân những thông tin khó kiếm về các hoạt động của chính phủ mà không cần dựa vào cái nhà nước nói là nó đang thực hiện. Đây là một kỹ thuật căn bản của các tổ chức nhân quyền: bằng cách công kích các tuyên bố chính thức, họ làm cho nhà nước khó khăn hơn trong việc che giấu sự đàn áp và lạm dụng quyền lực.
Sự lan truyền của thông tin và các tư tưởng mới là thiết yếu cho việc đạt được cải cách về kinh tế trong một nền dân chủ, và đây là chức năng thứ chín của xã hội dân sự. Trong khi các chính sách ổn định kinh tế trong các tình huống khủng hoảng phải được giới lãnh đạo trúng cử thực thi một cách nhanh chóng, mạnh mẽ và đơn phương, thì các cải cách kinh tế mang tính cấu trúc sâu hơn, như tư nhân hoá, tự do hoá thương mại và tài chính- có vẻ như sẽ có hiệu quả lâu dài và rộng khắp hơn nếu chúng được thực thi qua một tiến trình mang tính dân chủ.
Cải cách kinh tế thành công đòi hỏi sự ủng hộ của các liên minh chính trị trong xã hội và trong lập pháp. Những liên minh như thế không phải là tức thì, chúng phải được tạo lập dần dần. Ở đây, vấn đề chính không phải là quy mô, tính độc lập hay nguồn lực của xã hội dân sự, mà là sự phân phối của nó giữa các lợi ích. Các lợi ích cũ xác lập từ trước, những cái có nguy cơ bị mất đi do cải cách, thường được tổ chức thành các cấu trúc như các công đoàn trong khu vực quốc doanh và các mạng lưới kết nối các giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước hay chủ các ngành công nghiệp được ưu đãi với các ông chủ trong đảng cầm quyền. Đây chính là những lợi ích sẽ cản đường cải cách kinh tế, vốn sẽ đóng cửa các ngành công nghiệp không hiệu quả, giảm sự can thiệp của nhà nước và mở nền kinh tế ra cho cạnh tranh nội địa và quốc tế mạnh mẽ hơn. Các lợi ích mới và phân tán hơn, vốn sẽ được hưởng lợi từ cải cách –ví dụ như nông dân, các doanh nghiệp nhỏ, và người tiêu dùng- thường là có tổ chức yếu hơn và thông tin kém hơn về các chính sách mới sẽ ảnh hưởng đến họ. Ở châu Á, Mỹ Latinh, và Đông Âu, những diễn viên mới trong xã hội dân sự- như là các viện nghiên cứu kinh tế, phòng thương mại, và các phóng viên, nhà bình luận và hãng truyền hình chuyên sâu về kinh tế học- đang bắt đầu vượt qua những rào cản về thông tin và tổ chức, đang vận động sự ủng hộ (và vô hiệu hoá những chống đối) cho các chính sách cải cách.
Cuối cùng, có một chức năng thứ mười của xã hội dân sự- cái tôi đã đề cập trước đây- bắt nguồn từ sự thành công của chính chức năng trước. “Tự do liên kết”, Tocqueville triết lý, có thể, “sau khi khuấy động xã hội một thời gian, … cuối cùng sẽ làm cho nhà nước mạnh lên” [9]. Bằng việc nâng cao tính khả tín, tính phản hồi, bao dung, hiệu quả và do đó tính chính đáng của hệ thống chính trị, một xã hội dân sự sống động sẽ đem lại cho các công dân một sự tôn trọng nhà nước và sự tham gia tích cực vào đó. Thêm nữa, một những liên kết đa dạng có thể còn làm nhiều hơn là nhân thêm các đòi hỏi cho nhà nước; nó còn có thể nhân lên năng lực của các nhóm để tự cải thiện phúc lợi của chính mình mà không cần đến nhà nước. Các nỗ lực phát triển ở cấp cơ sở do đó có thể đỡ bớt gánh nặng các kỳ vọng đặt lên vai nhà nước, và do đó giảm bớt vai trò của chính trị, đặc biệt là ở mức quốc gia ª
Lâm Yến, Khải Minh dịch
Nguồn: Larry Diamond and Marc F. Platter: “The Global Resurgence of Democracy”; Second Edition (The John Hopkins University Press, 1996), 227-240.
[1] Định nghĩa các khái niệm này được rút ra từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng ảnh hưởng chính là từ Naomi Chazan. Xem cụ thể trong Chazan, “Africa’s Democratic Challenge: Strengthening Civil Society and the State,” World Policy Journal 9 (Spring 1992): 279-308. Xem thêm Edward Shils, “The Virtue of Civil Society,” Government and Opposition 26 (Winter 1991): 9-10, 15-16; Peter Lewis, “Political Transition and the Dilemma of Civil Society in Africa,” Journal of International Affairs 27 (Summer 1992): 31-54. Marcia A.Weigle và Jim Butterfield, “Civil Society in Reforming Communist Regimes: The Logic of Emergence,” Comparative Politics 25 (October 1992): 3-4; và Philippe C. Schmitter, “Some Propositions about Civil Society and the Consolidation of Democracy” (Báo cáo tại một hội thảo về “Reconfiguring State and Society,” University of California, Berkeley, 22-23 April 1993).
[2] Samuel Huntington, “Will More Countries Become Decocratic?” Political Science Quarterly 99 (Summer 1984): 204. Xem thêm Seymour Martin Lipset, Political Man (Baltimore: John Hopkins University Press, 1981), 52.
[3] Bronislaw Geremek, “Civil Society Then and Now,” Journal of Democracy 3 (April 1992): 3-12.
[4] Alexis de Tocqueville, Democracy in America, 2 vols. (New York: Vintage Books, 1945 [orig. publ 1840]), 2:124.
[5] María Rosa de Martini và Sofía de Pinedo, “Women and Civic Life in Argentina,” Journal of Democracy 3 (July 1992): 138-46 và María Rosa de Martini, “Civic Participation in the Argentine Democratic Process,” in Larry Diamond, ed., The Democratic Revolution: Struggles for Freedom and Pluralism in the Developing World (New York: Freedom House , 1992), 29-52.
[6] Georgina Waylen, “Women and Democratization: Conceptualizing Gender Relations in Transition Politics,” World Politics 46 (April 1994): 327-54. Mặc dù O’Donnell và Schmitter nói về các nguy cơ của việc huy động quần chúng quá mức trong quá trình chuyển đổi, chỉ trích của bà đối với khoa học về dân chủ nói chung-rằng môn khoa học này đã coi nhẹ vai trò của xã hội dân sự-đã xuất phát từ chỗ khái quát hóa một cách không công bằng và hẳn nhiên là không thể áp dụng cho Phi Châu. Hơn thế, chấp nhận quan điểm thách thức của bà rằng xã hội dân sự đóng vai trò trung tâm trong quá trình dân chủ hóa không đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận quan điểm khăng khăng của bà trong việc định nghĩa dân chủ bao gồm cả các quyền kinh tế, xã hội và chính trị.
[7] Jonathan Fox, “Latin America’s Emerging Local Politics,” Journal of Democracy 5 (April 1994): 114.
[8] Dette Pascual, “Organizing People Power in the Philippines,” Journal of Democracy 1 (Winter 1990): 102-9.
[9] Tocqueville, Democracy in America, 2:126.
————————————————————————
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 2/2006
Filed under: LÝ LUẬN CHUNG, Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
THƯƠNG HIỆU VÀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU
LÊ ĐĂNG LĂNG
Trong bối cảnh kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi, các giá trị cốt lõi của sản phẩm không chênh lệch nhiều thì thương hiệu là chiếc chìa khoá tạo ra khác biệt giữa các doanh nghiệp. Chính thương hiệu không chỉ góp phần làm tăng giá trị của sản phẩm mà còn làm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp, hay nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Thương hiệu doanh nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa
Thương hiệu theo như tên gọi là “thương“ và “hiệu”, nghĩa là ký hiệu của một doanh nghiệp trên thương trường. Chính thương hiệu dùng để nhận biết và phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, nếu thương hiệu chỉ là một ký hiệu thì sẽ không thể trở thành một tài sản của doanh nghiệp. Do vậy, nếu chỉ đơn thuần là tên gọi thì chưa thể gọi là thương hiệu. Theo quan điểm của nhiều chuyên gia Marketing, thương hiệu phải là tổng thể nhiều yếu tố tạo thành và phải được đăng ký sở hữu tại nước sở tại. Những yếu tố tạo nên thương hiệu bên cạnh tên gọi, logo, khẩu hiệu, nhạc hiệu, hình tượng, và kiểu dáng sản phẩm gọi là “phần xác” thì thương hiệu phải có “phần hồn” thể hiện qua tầm nhìn (Vision) và nhiệm vụ (Mission) của thương hiệu. Thêm vào đó, nếu thương hiệu không được người tiêu dùng biết đến và hiểu đúng sứ mạng, nhiệm vụ của nó (do không quảng bá) thì thương hiệu không còn mang ý nghĩa đầy đủ của một thương hiệu hay nói cách khác là không có ý nghĩa về mặt giá trị. Trái lại, khi nói đến nhãn hiệu hàng hoá là nói đến những dấu hiệu và đặc tính của sản phẩm dùng để nhận biết và phân biệt một sản phẩm đã được đăng ký bảo hộ và bày bán trên thị trường với những sản phẩm khác. Tuy nhiên, tại Việt Nam, thương hiệu doanh nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá thường được dùng cũng như hiểu lẫn lộn nhau, do đó khi đề cập đến thuật ngữ “thương hiệu” (Brand) thì đó có thể là thương hiệu doanh nghiệp hay nhãn hiệu hàng hoá.
Quy trình xây dựng thương hiệu
Quy trình xây dựng thương hiệu được bắt đầu bằng việc thiết lập hệ thống thông tin marketing (Marketing Information System – MIS). Đây là một bước chuẩn bị cần thiết, gần như không thể thiếu đối với công tác xây dựng thương hiệu hay bất kỳ một chuyên gia thương hiệu nào. Để thiết lập MIS, doanh nghiệp có thể tự làm bằng cách thực hiện nghiên cứu marketing bởi một số phương pháp như: phương pháp nghiên cứu định tính – nghiên cứu khám phá (Focus Group, Face-to-Face), phương pháp nghiên cứu định lượng – nghiên cứu mô tả (Direct-Interview, Tele – Interview,..) dựa vào bảng câu hỏi (Questionnaire) đồng thời khảo sát, đánh giá lại nguồn nội lực. Mặt khác, doanh nghiệp cũng có thể yêu cầu một số công ty dịch vụ bên ngoài – agency để thực hiện các dự án nghiên cứu marketing. Ưu điểm của việc thuê agency là độ chính xác thông tin cao và thông tin thu được đáp ứng mục đích cần sử dụng. Tuy nhiên, khi sử dụng agency có một số vấn đề cần quan tâm là chi phí cho việc thu thập thông tin có thể tăng lên vượt qua ngân sách cho phép và độ bảo mật thông tin cũng cần phải xem lại, đặc biệt là với những agency hoạt động không chuyên nghiệp. Một số agency có uy tín trên thị trường hiện nay như: ACNielson (Mỹ), TNS (Anh), Trương Đoàn (Local Agency),… Kinh nghiệm cho thấy khi chọn agency để thực hiện các dự án nghiên cứu nên căn cứ vào ngân sách cho phép và/ hoặc mức độ quan trọng của thông tin cần thu thập, với các công ty nhỏ – ngân sách ít hay mức độ quan trọng của thông tin cần không cao thì nên chọn các agency địa phương là tốt nhất. Thêm vào đó, sau khi đã thu thập thông tin cần phân tích sự tác động – mức độ ảnh hưởng của những thông tin này đến thương hiệu và công tác xây dựng thương hiệu. Một số kinh nghiệm về lựa chọn loại thông tin để phân tích như sau: i) Phân tích khách hàng thông qua: xu hướng tiêu dùng, động lực thúc đẩy mua hàng, những nhu cầu chưa thoả mãn, phân khúc thị trường,..; ii) Phân tích đối thủ cạnh tranh thông qua: hình ảnh thương hiệu và việc nhận diện thương hiệu, phân tích các điểm mạnh và yếu, các rủi ro và cơ hội của đối thủ, chiến lược hiện tại và tương lai; iii) Phân tích môi trường doanh nghiệp thông qua: hình ảnh hiện tại, các điểm mạnh, yếu, cơ hội và rủi ro, các giá trị, văn hoá, truyền thống doanh nghiệp,…
Khi đã thiết lập MIS và phân tích, đánh giá thông tin thì công việc tiếp theo là xây dựng Tầm nhìn thương hiệu – Là một thông điệp ngắn gọn và xuyên suốt, định hướng hoạt động của công ty đồng thời cũng định hướng phát triển cho thương hiệu và sản phẩm qua phân tích định vị giữa hiện tại và tương lai. Nói chung, Tầm nhìn thương hiệu thể hiện lý do cho sự hiện hữu của doanh nghiệp. Tầm nhìn hương hiệu có một số vai trò như: i) Thống nhất mục đích phát triển của doanh nghiệp và tạo sự nhất quán trong lãnh đạo; ii) Định hướng sử dụng nguồn lực; iii) Xây dựng thước đo cho sự phát triển thương hiệu và tạo tiền đề cho việc xây dựng các mục tiêu phát triển; iv) Động viên nhân viên hướng tới mục đích phát triển chung. Mặt khác, khi xây dựng Tầm nhìn thương hiệu cần đảm bảo các yêu cầu sau: i) Tầm nhìn thương hiệu cần thể hiện loại hình doanh nghiệp, loại sản phẩm, lợi ích sản phẩm, khách hàng mục tiêu, triết lý và giá trị công ty, định hướng tương lai của doanh nghiệp; ii) Phong cách của Tầm nhìn thương hiệu là mở rộng, cốt lõi, động viên, dễ nhớ và khác biệt. Một số điển hình về Tầm nhìn thương hiệu như sau:
° “Mục tiêu căn bản của General Motor là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ chất lượng để khách hàng tiếp nhận một giá trị tuyệt hảo, nhân viên và đối tác sẽ chia sẻ sự thành công và cổ đông sẽ liên tục nhận được lãi cao từ những đầu tư của họ”.
° “Tại IBM, chúng ta phấn đấu để dẫn đầu trong việc sáng tạo, phát triển và sản xuất công nghệ thông tin hàng đầu, bao gồm hệ thống computer, phần mềm, hệ thống mạng, dự trữ dữ liệu và các thiết bị điện tử. Chúng ta chuyển đổi những khoa học kỹ thuật vượt trội này thành lợi ích cho khách hàng bằng những giải pháp chuyên nghiệp và phục vụ doanh nghiệp trên toàn cầu”.
Bước tiếp theo sau khi đã xây dựng Tầm nhìn thương hiệu là hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu. Một số chiến lược phổ biến như: 1) Chiến lược thương hiệu hình ô (Chiến lược thương hiệu gia đình): Chỉ sử dụng một thương hiệu chính làm chủ, chia làm hai loại: loại cùng tên (BMW gồm BMW 405, BMW 205, BMW 325) và loại khác tên (GE gồm GE Capital, GE Appliance, GE Profile). Lợi ích của chiến lược này là một thương hiệu chính mạnh sẽ giúp các thương hiệu phụ khác phát triển, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có một số rủi ro như khi thương hiệu mới thất bại có thể gây ảnh hưởng ngược đến thương hiệu chính; 2) Chiến lược thương hiệu phụ (Chiến lược thương hiệu nguồn): Xây dựng thương hiệu phụ từ thương hiệu chính với nhận diện riêng biệt cho dòng sản phẩm khác. Lợi ích là được hưởng uy tín trực tiếp từ thương hiệu chính nhưng có rủi ro là dễ làm ảnh hưởng đến uy tín của thương hiệu chính trong trường hợp xấu. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa thương hiệu chính và thương hiệu phụ thể hiện qua hai dạng: i)Thương hiệu chính dẫn đạo là khi thương hiệu chính đóng vai trò dẫn đạo và thúc đẩy thương hiệu phụ, thương hiệu phụ đóng vai trò hỗ trợ trong thúc đẩy tiến trình mua hàng của người tiêu dùng (Khi mua Dell Dimension thì đang nghĩ là mua Dell); ii) Thương hiệu chính – phụ song song là khi cả hai thương hiệu chính và phụ cùng đóng vai trò “lèo lái” và cùng được nhận thức như một; 3) Chiến lược thương hiệu – sản phẩm (Chiến lược ngôi nhà thương hiệu): Xây dựng thương hiệu gồm một tập hợp các thương hiệu độc lập nhau hoặc có tính bảo trợ xa. Trong thương hiệu độc lập, các thương hiệu riêng lẻ nhau và cạnh tranh nhau nhằm phát huy tối đa khả năng của từng thương hiệu và tránh trường hợp những thương hiệu yếu làm giảm uy tín của thương hiệu mạnh, điển hình cho chiến lược này là Pantene và Rejoice của P&G hoặc Sunsilk và Clear của Unilever. Trong thương hiệu bảo trợ xa, thường không kết nối rõ ràng với thương hiệu chính nhưng nhiều khách hàng biết đến sự liên hệ này (khách hàng mua Lexus vì tin vào Toyota); 4) Chiến lược thương hiệu bảo trợ: Xây dựng thương hiệu bảo trợ – thương hiệu mới có mối quan hệ gắn bó và được hỗ trợ bởi thương hiệu chủ. Mục đích khi áp dụng là xây dựng lòng tin của khách hàng cho thương hiệu mới và thay đổi nhận thức của khách hàng về thương hiệu được bảo trợ. Trong loại chiến lược này thì thương hiệu chủ bảo trợ chỉ đóng vai phụ hỗ trợ. Bên cạnh đó, chiến lược thương hiệu bảo trợ được chia làm 03 dạng: 1) Bảo trợ nhẹ – chiến lược thương hiệu & sản phẩm (Universal Picture do Sony bảo trợ, Lotus do IBM bảo trợ); 2) Bảo trợ mạnh – chiến lược thương hiệu nhóm (Couryard bởi Marriott); 3) Nối tên – chiến lược thương hiệu dãy (trong sản phẩm Nestlé có Nescafé và Nestea)..
Trên cơ sở chiến lược phát triển thương hiệu đã lựa chọn tiến hành định vị thương hiệu – Xác định vị trí của thương hiệu đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường được nhận thức bởi người tiêu dùng, có 08 bước định vị thương hiệu như sau:
Bên cạnh đó, trong lời phát biểu định vị phải ngắn gọn, xác định đặc tính sản phẩm, lợi ích sản phẩm và nhóm khách hàng mục tiêu. Ngoài ra, việc định vị phải đảm bảo tính tin cậy (đúng thực tế nhưng vẫn rộng đường cho thương hiệu phát triển), tính động viên (khách hàng và nhân viên có thể liên tưởng chính họ trong định vị của thương hiệu và thả ước vọng của họ), độc đáo (khác biệt so với đối thủ) và bền vững (có thể giữ vững vị trí định vị lâu dài từ 3-5 năm). Một số câu hỏi giúp cho việc định vị thương hiệu như: tôi là ai? tôi đang ở đâu? tôi sẽ như thế nào trong tương lai? Khách hàng của tôi là những đối tượng nào? Họ có lợi gì khi sử dụng sản phẩm của tôi? Họ muốn gì? Họ cần được thoả mãn những gì?…Nói chung việc định vị thương hiệu nên tập trung dựa vào sứ mạng của thương hiệu, đặc tính thị trường, sản phẩm, thế mạnh của doanh nghiệp… Một ví dụ về định vị thương hiệu: “Tigi là thương hiệu hàng đầu về các sản phẩm được chế biến từ rau – quả nhằm cung cấp cho người tiêu dùng VN những sản phẩm tiện lợi, giàu vitamin với cảm giác sử dụng thật sảng khoái, năng động và trẻ trung”. (Nguồn: Công ty rau quả Tiền Giang, 2003).
Sau khi đã định vị thương hiệu, bước tiếp theo là xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu -Tập hợp những liên tưởng mà công ty muốn xây dựng và gìn giữ trong suy nghĩ của khách hàng thông qua sản phẩm (chủng loại, đặc tính, chất lượng và giá trị sản phẩm, cách sử dụng, người sử dụng và nguồn gốc sản phẩm), công ty (những giá trị văn hoá hay triết lý kinh doanh), con người (hình ảnh nhân viên, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài) và biểu tượng (tên gọi, logo, khẩu hiệu, nhạc hiệu, hình tượng, kiểu dáng và mẫu mã).
Tiếp theo là tiến hành thiết kế thương hiệu, bao gồm: đặt tên, thiết kế logo, biểu tượng, nhạc hiệu, câu khẩu hiệu và bao bì. Khi thiết kế thương hiệu cần xem xét 5 yếu tố: i) Tính dễ nhớ; ii) Có ý nghĩa; iii) Dễ chuyển đổi; iv) Dễ thích nghi; và v) Dễ bảo hộ, đồng thời khi đặt tên thương hiệu hay nhãn hiệu sản phẩm mới nên theo quy trình bên:
Bên cạnh đó, nếu chỉ xây dựng thôi thì chưa đủ, thương hiệu phải được mọi người biết đến, hiểu nó và chấp nhận nó. Đây là vấn đề cốt lõi dẫn đến sự thành công của công tác xây dựng thương hiệu. Do đó, xây dựng thương hiệu chỉ mới dừng lại ở trong nội bộ thì chưa đủ, phải thực hiện các hoạt động quảng bá thương hiệu với thị trường thì thương hiệu mới được tạm gọi là đang được xây dựng. Nhưng làm thế nào để quảng bá thương hiệu? Công việc này có tốn kém không? Về tốn kém chắc chắn là có nhưng mức độ tốn kém phụ thuộc vào mục đích cần đạt và công cụ quảng bá thương hiệu. Một số yếu tố làm cơ sở cho việc lựa chọn công cụ quảng bá: i) Sứ mạng của thương hiệu; ii) Nguồn lực doanh nghiệp; iii) Qui mô thị trường; iv) Đặc tính thị trường – khách hàng mục tiêu; v) Phương tiện truyền thông. Sau đây là một số công cụ để quảng bá thương hiệu:
° Quảng cáo trên các phương tiện truyền thông: Dùng để xây dựng hình ảnh cũng như thông tin đến khách hàng về thương hiệu, các sản phẩm của thương hiệu và được thực hiện bằng các chương trình quảng cáo trên truyền hình (TVC ) hay qua báo chí (Print – Ad)… Về TVC có khá nhiều loại (15 giây, 30 giây hay 45 giây) với lợi điểm là phạm vi truyền thông rộng – có nhiều người biết đến thương hiệu, tuy nhiên khả năng truyền tải thông tin bị hạn chế do thời gian ngắn và tốn khá nhiều chi phí. Về Print–Ad cũng có nhiều loại (màu hay trắng đen với nhiều kích cỡ). Khi sử dụng Print-Ad có những lợi điểm là khả năng truyền tải thông tin tốt hơn và thường ít tốn chi phí hơn các chương trình TVC, tuy nhiên hiệu quả mang lại cũng tuỳ thuộc vào số lượng phát hành và đối tượng sử dụng báo.
° Quảng cáo trực tiếp tới khách hàng: Thông qua việc gởi thư, e-mail hay phát tờ rơi (leaflet) nhằm để giới thiệu về công ty, về sản phẩm, về triết lý kinh doanh,… việc sử dụng công cụ này có thuận lợi là ít tốn chi phí và hiệu quả cao – do tiếp xúc trực tiếp đến khách hàng mục tiêu, tuy nhiên khả năng phổ biến rất hạn chế và thường chỉ những công ty có qui mô hoạt động nhỏ sử dụng.
° Quảng cáo ngoài trời: Sử dụng panô hay áp phích quảng cáo cũng là một công cụ xây dựng thương hiệu khá phổ biến và thường áp dụng tại những công ty hoạt động không phải trong ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG). Khi sử dụng các công cụ này có thuận lợi là thời gian tác động đến đối tượng lâu và cũng ít tốn chi phí, tuy nhiên khả năng tác động đến khách hàng mục tiêu là không cao và hiệu quả phụ thuộc rất nhiều tính sáng tạo trong việc thiết kế và điểm đặt công cụ quảng cáo.
°Quảng cáo tại điểm bán: Sử dụng các vật phẩm như: Poster, Hangging, Shopbanner,… bên cạnh mục đích thu hút khách hàng tiềm năng còn là một công cụ quảng bá thương hiệu rất hiệu quả. Điểm mạnh của công cụ này là dễ sử dụng và tác động trực tiếp đến khách hàng tiềm năng và cũng ít tốn chi phí nhưng điểm hạn chế là mức độ phổ biến không cao và đôi khi gây tác dụng ngược.
° Khuyến mãi kênh phân phối: Sử dụng các chương trình tăng thêm quyền lợi cho người bán như: mua 1.000 sản phẩm được tặng thêm 05 sản phẩm hay giảm giá đầu vào nhằm tạo động lực để người bán quan tâm hơn việc hợp tác phân phối sản phẩm, từ đó tạo thuận lợi cho công tác bao phủ thị trường và hạn chế sự phát triển của đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ này cần chú ý đến vấn đề chi phí và dễ tạo ra tiền lệ “trông chờ khuyến mãi” từ hệ thống kênh phân phối.
° Khuyến mãi người tiêu dùng: Sử dụng các chương trình tăng thêm giá trị của sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng (End-User) như: mua bia Tiger trúng xe hơi BMW, mua sữa Dumex trúng đồ chơi Lego,… Những chương trình này nhằm mục đích tạo thêm động lực để khách hàng tiềm năng chọn mua sản phẩm, từ đó tạo mối quan hệ gắn bó giữa thương hiệu công ty với khách hàng.
°Tổ chức các sự kiện: Tổ chức các sự kiện như tổ chức “cuộc thi chạy từ thiện” cũng là một công cụ xây dựng thương hiệu khá phổ biến. Công cụ này có đặc điểm là có tiếng vang về thương hiệu lớn tuy nhiên khả năng truyền đạt những thông tin cốt lõi đến khách hàng tiềm năng rất hạn chế và có rủi ro là dễ dẫn đến hình ảnh không tốt về thương hiệu nếu việc tổ chức các sự kiện không thành công.
°Các chương trình tài trợ như: Các chương trình như: “Nhịp cầu âm nhạc”, “Vui để học”,… thường được các công ty sản xuất hàng tiêu dùng nhanh sử dụng để xây dựng thương hiệu. Đặc điểm của các chương trình dạng này là phạm vi truyền tải thông tin rộng nhưng tốn khá nhiều chi phí và hạn chế trong việc truyền tải những thông tin cốt lõi của thương hiệu đến nhóm khách hàng mục tiêu.
°Quan hệ công chúng – PR: Sử dụng các chương trình quan hệ cộng đồng như: xây dựng nhà tình thương, đóng góp quỹ từ thiện,… cũng là một công cụ xây dựng thương hiệu. Thông qua các hoạt động này sẽ giúp tạo dựng hình ảnh thương hiệu trong công chúng.
°Bán hàng trực tiếp: Sử dụng đội ngũ nhân viên bán hàng trực tiếp đến tận nhà, cơ quan,… cũng là một hình thức xây dựng thương hiệu. Thông qua đội ngũ bán hàng này khách hàng biết đến thương hiệu và có những nhận định về thương hiệu theo khuynh hướng doanh nghiệp muốn xây dựng.
Bước tiếp theo và cuối cùng trong một chu trình xây dựng thương hiệu là đánh giá thương hiệu. Việc đánh giá thương hiệu thông qua mức độ nhận biết thương hiệu, mức độ nhận thức giá trị sản phẩm và sự liên tưởng rõ ràng trong tâm thức của khách hàng, đặc biệt là mức độ trung thành với thương hiệu (nên sử dụng các công cụ trong nghiên cứu marketing). Bên cạnh đó, việc đánh giá thương hiệu cũng căn cứ vào mức độ tăng doanh số mà thương hiệu đã đóng góp vào kết hợp với những chi phí đã bỏ ra ª
Tài liệu tham khảo:
1) David A.Aaker (1996), Building Strong Brands, Free Press, New York.
2) Kevin Lane Keller (1998), Strategic Brand Management, Prentice Hall, New Jersey.
3) Kapferrer J.N (1994), Strategic Brand Management, Free Press, New York.
4) Lê Anh Cường (2004),Tạo dựng & Quản trị thương hiệu, NXB Lao Động – Xã Hội.
————————–
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 2/2006
Filed under: LTM - Chủ thể kinh doanh, LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, Quyền sở hữu | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.





Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










