CÁC KỸ NĂNG CẦN THIẾT TRONG HỌC TẬP, LÀM VIỆC THEO NHÓM

"Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng… chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được"

HERBERT SPENCER

 

PHẦN 1: CÁC KỸ NĂNG CẦN THIẾT TRONG HỌC TẬP, LÀM VIỆC NHÓM

CỘNG TÁC TRONG HỌC TẬP

Cộng tác trong học tập là một quá trình làm việc theo nhóm, mỗi thành viên đóng góp và giúp đỡ nhau để cùng đạt được một mục đích chung. Lớp học chính là một môi trường lý tưởng để rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm mà sẽ rất cần cho bạn trong cuộc sống sau này.

Cộng tác trong học tập là hoạt động tương tác, là một thành viên của nhóm, bạn sẽ có trách nhiệm:

  • Phát triển và cùng chia sẻ một mục đích chung
  • Đóng góp ý kiến vào việc giải quyết vấn đề, đặt ra các câu hỏi hay tìm giải pháp
  • Tham gia, nỗ lực làm việc để hiểu quan điểm của các thành viên khác, cũng như ý kiến của họ. Mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu người khác phải trình bày ý kiến, phát biểu và đóng góp.
  • Có trách nhiệm với các thành viên khác và họ cũng có trách nhiệm đối với bạn
  • Quyền lợi và nghĩa vụ gắn liến chặt chẽ với mọi người và ngược lại

Điều gì tạo nên một nhóm làm việc hiệu quả?

  • Các hoạt động của nhóm nên bắt đầu cho các thành viên làm quen, và hiểu rõ cách thức làm việc của cả nhóm. Người hướng dẫn cũng có thể bắt đầu bằng việc đưa ra các gợi ý cho thảo luận mà không cần phải áp đặt câu trả lời cho cả đội, đặc biệt với những đội gặp khó khăn khi làm việc cùng nhau.
  • Nhóm gồm 3 đến 5 người. nếu nhóm có đông người hơn thì sẽ khó quản lý và giao công việc
  • Các nhóm dưới chỉ định của giáo viên thì sẽ hiệu quả hơn nhóm tự chỉ định lẫn nhau
  • Các thành viên có sự đa dạng trong kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm
    • Mỗi thành viên sẽ có khả năng đóng góp riêng cho toàn đội
    • Các thành viên không chỉ chịu trách nhiệm đóng góp trong sở trường của mình mà còn có thể giúp các thành viên khác tìm hiểu thêm về lĩnh vực đó.
    • Thành viên nào gặp khó khăn hoặc còn chưa thoải mái khi làm việc trong nhóm nên được các thành viên khác động viên, giúp đỡ.
    • Sự đa dạng trong kiến thức và kinh nghiệm sẽ có tác động tích cực đến việc học. tăng thêm các phương thức giải quyết vấn đề tăng thêm chi tiết để cân nhắc
  • Đóng góp của mỗi người cho công việc phải được thống nhất.
    • Các nhận xét nội bộ nên được giữ kín, và đó là cách khác tốt để đánh giá ai đang đóng góp hoặc không đóng góp.
    • Nhóm có quyền “sa thải” các cá nhân không tích cực đóng góp nếu sau khi mọi biện pháp khuyên can đều không thành. (cá nhân đó hoàn toàn có quyền xin vào một nhóm khác nếu nhóm đó nhận)
    • Một thành viên cũng có quyền bỏ nhóm nếu như họ cảm thấy họ làm phần lớn công việc trong khi người khác không làm hoặc không giúp đỡ. (Người này sẽ dễ dàng tìm được nhóm khác hoan nghênh đóng góp của họ)
  • Chia sẻ trách nhiệm, và cả nhóm nên thống nhất trách nhiệm, nguyên tắc làm việc. Điều đó bao gồm:

1. 1. Nghĩa vụ phải tham gia, chuẩn bị trước các buổi họp, và phải đến đúng giờ

2. 2. Tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến, tập trung vào giải quyết vấn đề và tránh việc chỉ trích cá nhân.

3. 3. Có trách nhiệm chia sẻ công việc và hoàn thành công việc đúng thời hạn. Và đôi khi, bạn cũng cần phải làm những công việc mà bạn có ít kinh nghiệm, cảm thấy chưa chuẩn bị đầy đù hay thậm chí còn có người trong nhóm có khả năng làm tốt hơn bạn. Hãy chấp nhận thử thách đó, nhưng cũng đừng ngại để cho mọi người trong nhóm biết là bạn cần sự giúp đỡ, huấn luyện, hay thôi không làm được mà xin làm việc khác.

Quá trình:

Xem thêm ở mục Hướng dẫn làm chuyên đề theo nhóm

  • Đặt ra các mục tiêu, xem xét mức độ thường xuyên, và phương tiện để các bạn liên lạc với nhau, đánh giá công việc, quyết định và giải quyết vấn đề.
  • Xem các nguồn lực, nhất là xem ai có khả năng hướng dẫn, kiểm tra, đưa ra lời khuyên cho nhóm kể cả khả năng phân xử nếu nhóm có mâu thuẫn.
  • Lên lịch tổng kết, báo cáo công việc, và thảo luận tiến độ công việc cũng như trục trặc nếu có.

Các nhóm gặp khó khăn khilàm việc với nhau nên gặp giáo viên để trình bày hoàn cảnh của nhóm.

Xem thêm: "Cooperative learning in technical courses: procedures, pitfalls, and payoffs" của Richard M. Felder, North Carolina State University & Rebecca Brent, East Carolina University

**************************************************************************************

NGHE CHỦ ĐỘNG

Nghe chủ động và hiệu quả là một thói quen, cũng giống như là nền tảng của việc giao tiếp.

Nghe chủ động có nghĩa là tập trung vào người bạn đang lắng nghe, cho dù đó là cuộc nói chuyện trong nhóm hay là chỉ có 2 người, để hiểu được họ đang nói điều gì. Là người nghe, bạn nên tự mình có thể nhắc lại bằng từ ngữ của mình những gì họ vừa nói. Điều đó không có nghĩa là bạn đồng ý với tất cả những gì họ nói, mà chỉ có nghĩa là bạn thực sự hiểu họ đang nói gì.

Điều gì ảnh hưởng đến việc lắng nghe?

Bạn nghĩ thế nào về vấn đề đang thảo luận? Vấn đề này có mới mẻ với bạn hay là bạn đã có nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực này? Vấn đề này có khó hiểu không, hay là nó rất đơn giản? Vấn đề này có quan trọng với bạn không hay chỉ là thảo luận cho vui?

Thông tin có được minh họa bởi hình ảnh hay ví dụ gì không? Có dùng phương tiện kỹ thuật để minh họa không? Các khái niệm có được trình bày kèm ví dụ không?

Người nói có kinh nghiệm hay là lúng túng? Có "tín hiệu" không lời nào từ phía người nói hay không? Họ hay suy nghĩ theo kiểu gì? Lời nói có thể hiện sự cá tính, thông minh… hay đáng sợ không?

Không gian có thuận lợi cho việc nghe họ nói không? hay việc tương tác, trao đổi với người nói? có sự phân tán làm mất tập trung không?

Những yếu tố ở trên là tác động ngoại cảnh. Còn bây giờ: là chủ yếu ở bạn, là trung tâm, và là người nghe

Hãy chuẩn bị một thái độ tích cực

Tập trung sự chú ý của bạn vào nội dung câu chuyện Hãy ngừng ngay tất cả các hoạt động không liên quan để hướng sự chú ý của bạn vào người nói hoặc chủ đề đang được thảo luận.

· Nhẩm lại trong đầu xem những gì bạn đã biết về vấn đề này Sắp xếp trước những kiến thức liên quan để sau đó có thể phát triển thêm sau (ví dụ: bài giảng lần trước, một chương trình TV bạn đã xem, trang web, kinh nghiệm thực tế…)

· Tránh sự mất tập trung Chọn chỗ ngồi gần người nghe Tránh các nguồn gây mất tập trung (vị trí cửa sổ, bà hàng xóm nói nhiều, tiếng ồn…)

· Cảnh giác với sự xúc động quá Nén cảm xúc hoặc tham gia nghe từ từ cho đến khi bạn kìm nén được cảm xúc

· Bỏ những định kiến của bạn sang một bên Nên nhớ bạn ở đó để học những gì người khác muốn nói, chứ không phải ngược lại.

Nghe một cách chủ động

· Tập trung vào người đang nói Theo dõi và cố gắng hiểu người và đặt mình vào hoạt cảnh của họ Lắng nghe với đôi tai, và kể cả với đôi mắt và các giác quan khác

· Lưu ý: những ngôn ngữ không cần lời Hãy để cuộc tranh luận đi theo diễn biến của nó. Đừng đồng ý hay bất đồng vội, mà hãy cho dòng suy nghĩ tiếp tục

· Tham gia: Chủ động trước các câu hỏi Sử dụng các động tác (ví du: ngả người về phía trước) để khích lệ và ra dấu sự chú ý của bạn với người nói

Các hoạt động sau đó:

Một đối một

Cho người nói có thời gian và không gian nghỉ một lát trong khi nói lâu Bày tỏ lòng biết ơn với họ vì đã chia sẻ và đối thoại Kiểm tra xem bạn đã hiểu chưa

· Thử nhắc lại những ý quan trọng để khẳng định xem bạn có hiểu thật sự chưa và tiếp tục cuộc nói chuyện.

· Tóm tắt các ý chính

· Đặt câu hỏi để cả hai cùng hiểu rõ hơn

Tiếp tục mạch câu chuyện:

· Thử nói qua các kinh nghiệm của bạn để bày tỏ là bạn đang thích thú với câu chuyện (phản hồi)

· Dịch sau khi bạn cảm thấy bạn đã nắm bắt được nội dung

· Áp dụng vào tình huống khác

Trong nhómCho người nói thời gian để người nói sắp xếp lại thông tin đã nói Lúc Hỏi-ĐápKhi đặt câu hỏi· Trình bày nhanh sự hoan nghênh của bạn với người nghe· Tóm tắt điểm mấu chốt· Đặt câu hỏi Khi trình bày một quan điểm · Trình bày nhanh sự hoan nghênh của bạn với người nghe · Trình bày ngắn gọn ýliên quan · Trình bày quan điểm của bạn, nhận xét… · Hoan nghênh nhận xét Sau đó · Lấy thông tin liên lạc information để tiện liên lạc sau này · Có nhã ý mời bạn bè/đồng nghiệp.. tiếp tục tham gia thảo luận

**************************************************************************************

SẮP XẾP VÀ LÀM VIỆC CÁC DỰ ÁN THEO NHÓM

Một cách giải thích khác:

Khi nhóm của bạn cùng nhau theo dõi việc học, bản thân bạn sẽ học nhanh hơn, hiệu quả và chắc chắn hơn. Đánh giá chính là ở kết quả của cả nhóm.

Viện nghiên cứu Học thuật (IRL) http://www.irl.org/projects/projects.html, (16 tháng 9, 1998 )

LÀM GÌ AI THẾ NÀO KHI NÀO
Tự giới thiệu: sở thích, kinh nghiệm Tất cả   Buổi gặp lần 1
Phân công công việc ghi chép, thư ký.. để ghi chép lại nội dung các cuộc họp Tất cả · Được quyết định bởi cả nhóm· Các yếu tố cần cân nhắc:tự nguyện, kinh nghiệm, nguyện vọng,· Cách thông báo các báo cáo cuộc họpo Xem các báo cáo để theo dõi tiến độ công việc Buổi gặp lần 1
Xem cách thức cả nhóm sẽ liên lạc với nhau Tất cả · Gặp trực tiếp: thời gian, địa điểm· Danh sách số điện thoại và thời gian thuận tiện để gọi· Địa chỉ email Buổi gặp lần 1
Tóm tắt các mục tiêu Tất cả Gợi ý:· Từng thành viên tự thảo ra từ 2-3 mục tiêu chính.· Cả nhóm so sánh, và từ đó quyết định Buổi gặp lần 1
Quyết định quá trình và cách đạt được mục đích   · Các chương trình lên lịch (Gantt, Critical Path, PERT)· Các chương trình hỗ trợ trình bày (Word, PowerPoint, etc. )· Các bước thực hiện· Lịch làm việc và hạn cụ thể· Chia nhóm nhỏ  
    Nếu sau khi đã chia nhỏ, mà nhóm vẫn còn đông người: hãy bắt đầu lại các bước trên!  
Nghiên cứu, tìm thông tin   · Trong thư viện· Về lĩnh vực· Các nguồn khác  
Phân tích/Tìm hiểu   · Kiểm tra thường xuyên· Lên kế hoạch cho những chỗ trống· Kêu gọi sự giúp đỡ nếu cần  
Lên khung sản phẩm   · Mở đầu/Ý chính· Chủ đề nhỏ  
Viết/thảo văn bản/bài nói   · Mở bài· Thân bài· Kết luận  
Các tài liệu và sắp xếp      
Kiểm tra      
Xem xét và đánh giá   · Sản phẩm· Quá trình· Ai tham gia  
Tóm tắt      
Tập lại bài nói      
Trình bày sản phẩm cuối cùng      
Ăn mừng nào!!!      

Nguyên tắc của làm chuyên đề theo nhóm

Học nhóm, hoặc làm việc theo nhóm cần sự chia sẻ thông tin, nguồn lực và thống nhất về phương thức thực hiện. Nhóm nào làm việc hiệu quả thường biết kết hợp các yếu tố này. Tuy nhiên, từng nhóm hoặc từng cá nhân làm việc sẽ hiệu quả chỉ khi họ luôn sẵn sàng chia sẻ và tôn trọng các thành viên khác trong nhóm.

Làm việc trong nhóm dựa trên sự tôn trọng và khích lệ lẫn nhau..

Thường thì tính sáng tạo thường mơ hồ. Các ý tưởng là vô cùng quan trọng với thành công của dự án, chứ không phải là tính cách cá nhân. Sức mạnh của một nhóm là ở khả năng thực hiện và phát triển các ý tưởng mà từng thành viên đem lại.

Mâu thuẫn có thể là sự mở rộng của sự sáng tạo. Để giái quyết mâu thuẫn, mọi người luôn phải tổn trọng ý kiến của nhau. Nói cách khác, làm dự án theo nhóm mang tính chất cộng tác, hơn là cạnh tranh.

Hai mục tiêu chính trong làm dự án theo nhóm là:

  • Học được gì? Các tài liệu, thông tin cũng như quá trình làm việc
  • Sán phẩm cuối cùng: bài báo cáo viết, trình bày miệng, hay là các sản phẩm có hình ảnh, âm thanh khác…

Vai trò của người hướng dẫn/giáo viên:

  • Đôi khi, nhóm có đạt được thành công hay không là phụ thuộc rất nhiềuvào sự mạch lạc trong giải thích yêu cầu đề bài, dự án cũng như tiêu chí đưa ra từ phía thầy cô giáo. Công việc của nhóm là giải nghĩa các hướng dẫn đó và thống nhất cách giải quyết vấn đề.
  • Quá trình công việc sẽ chỉ có hiệu quả khi thầy cô hướng dẫn trong quá trình. Dự án làm theo nhóm không đơn giản như việc học theo nhóm. Các sinh viên cần nắm rõ và chuẩn bị kỹ càng cho dự án. Các dự án cần được xây dựng sao cho không thành viên nào trong nhóm bỏ qua nỗ lực công việc của các thành viên khác.

Tính điểm:

  • Khen thưởng thường là điều không thể thiếu được cho quá trình, các thành viên nhận được phần thưởng của mình từ những gì họ đóng góp cho dự án.
  • Các động lực khác (như điểm số…) có thể được chấm điểm dựa trên sự tiến bộ, trái ngược với cách tính điểm một cách tương đối. Thường thì tính điểm tương đối thì cách đánh giá với những thành viên không đạt hiệu quả cao. Đánh giá dựa trên tiến bộ của toàn đội và của cá nhân. Tuy nhiên, phương pháp này có thể gây hậu quả không hay khi mà những thành viên bị điểm thấp sẽ bị coi là "bỏ đi" và không ai chú ý đến họ nữa.

Hiểu nhanh và hiểu chậm?

  • Người hiểu nhanh thường giúp và chỉ cho các thành viên còn gặp khó khăn. Khi chỉ cho những người khác, chính là chúng ta cũng học để hiểu sâu hơn. Đôi khi, những câu hỏi đơn giản sẽ khiến chúng ta nhìn lại vấn đề dưới cách nhìn mới mẻ hơn. Khi giải thích, chúng ta sẽ hiểu sâu hơn.
  • Có thể coi như người gặp khó khăn lại "dạy" lại người đã hiểu!

*******************************************************************************************

GIA SƯ

Gia sư có thể truyền kinh nghiệm, kiến thức và sự động viên. Họ không phải là người đưa ra đáp án, mà là những hướng dẫn bạn tìm ra câu trả lời. Thử thách của bạn là phải tập trung vào bài tập với các kiến thức đã được cung cấp.

Gia sư không có trách nhiệm phải tìm hiểu nguyên do vì sao học sinh học không vào vì việc này là ngoài nhiệm vụ gia sư và phải được thực hiện bởi một chuyên gia tư vấn. Nếu có vấn đề nghiêm trọng, thì từ chối là cách tốt nhất.

Cách mẹo khi bạn làm gia sư:

Để trở thành một gia sư tốt, bạn cần được huấn luyện: Huấn luyện về kiến thức cũng như phương pháp gia sư

Xác định và tuyên bố rõ ràng với học sinh những gì bạn yêu cầu: Bạn yêu cầu học sinh phải học tập như thế nào? về giáo viên? Hay người thân thiết với học sinh (bạn cùng lớp, khoa, trường, gia đình…)

Đề ra các nguyên tắc mà tuân thủ các nguyên tắc đó Viết ra giấy, dán lên tường, và làm theo! Nguyên tắc là cần thiết, nhưng phải được cả người học và người dạy thống nhất. Và đồng thời, các nguyên tắc cần được công bằng và hiệu lực. Nguyên tắc sẽ giúp tránh được những sự cố không cần thiết.

Biết rõ về khả năng cũng như hạn chế của mình, và những kỹ năng hoặc kiến thức bạn có thể dùng để gia sư. Một phần thưởng của việc làm gia sư là cơ hội được sử dụng và áp dụng những gì bạn đã học

Tìm hiểu về học viên Tìm hiểu điểm mạnh và khó khăn của học viên. Với điều kiện nào thì họ học vào nhất? hay không học được? (Đừng bao giờ nghĩ rằng thói quen học của tất cả mọi người đều như nhau, hoặc đều giống như bạn)

Thành lập mối quan hệ và tin tưởng.

· · Lưu ý những điểm khác biệt giữa bạn và người học. Không phải là bạn đang cố gắng thay đổi học sinh, mà là dựa vào sức học của họ để hướng dẫn họ học tốt hơn. Vì bạn có nhiều kinh nghiệm hơn học sinh, nên bạn sẽ cần phải thích nghi và tìm giải pháp.

· · Cởi mở và thật lòng Chế giễu hay hạ mình sẽ đều không có hiệu quả. Bạn làm gia sư không phải để khoe mẽ, mà là để giúp đỡ người khác.

· · Đừng ngại nói cho học sinh biết nếu như bạn và học sinh đó không thể hợp nhau được. Hoặc là một người dạy khác sẽ có thể hiệu quả hơn. Mục đích là để giúp, chứ không phải là để chịu đựng lẫn nhau.

Bảo đảm rằng học sinh biết là thời gian đầu, rất khó đạt được thành công ngay lập tức Học là một quá trình có cả những lần bạn chưa thành công. Đó không phải là thất bại vì tất cả những gì bạn làm đều để hoàn thành nhiệm vụ một cách đúng nhất. Học và giải quyết vấn đề là bao gồm cả một thời gian mày mò. tìm kiếm để đi đến thành công.

Buổi học:

Lắng nghe để tìm hiểu khó khăn thực sự Kiểm tra xem học sinh đã dành thời gian và công sức chuẩn bị bài chưa

Đánh giá tình hình Cân nhắc đến các mục đích thực tế, lâp ra các nguyên tắc

Sử dụng câu hỏi để giải quyết vấn đề

Trình bày hoặc ví dụ các quá trình tương tự

Đừng ngại nói thẳng nếu như bạn không biết rõ điều gì đó Bạn có thể giới thiệu học sinh tìm đến các nguồn khác nhau, kể cả hỏi thầy cô. Bạn cũng có thể tận dụng cơ hội này coi như để học thêm, tìm hiểu thêm và sau đó trả lời sau, chính bạn lúc đó cũng học mà!

Đưa ra các nhận xét tích cực, dùng cách nói động viên Tìm thành công, củng cố các nỗ lực của học sinh để cả những thành công đơn giản

Tóm tắt và ôn lại để học sinh sẽ theo các giờ sau

Ăn mừng thành công nào!

Nhớ lưu lại các ghi chép để sau này tiện theo dõi

Xem thêm

LERN 10 – Online Tutor Training Project Một mẫu tập làm gia sư, Trung tâm sư phạm, City College of San Francisco

Online tutoring skills của Clive Shepherd, TACTIX

*******************************************************************************************

GIẢI QUYẾT TRANH CÃI

Cách để giải quyết tranh cãi một cách êm thấm nhất là để cả 2 bên:

· Làm việc với nhau một cách tự nguyện

· Hợp tác giải quyết vấn đề

· Dưới sự hướng dẫn của một người có kinh nghiệm

Quá trình sau nên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một người có kinh nghiệm. Cùng với đối phương đến một nơi riêng tư:

· Thu thập thông tin: tìm vấn đề mấy chốt và đừng luận tội Tập trung vào vấn đề, chứ không phải ai đã gây ra lỗi Không luận tội, bới móc, hay gọi tên để cãi nhau

· Mỗi bên đều phải nói rõ quan điểm của mình và xem điều đó ảnh hưởng đến họ như thế nào; Những người khác lắng nghe một cách tập trung và tôn trọng, nhất là không được ngắt ngang

· Mỗi bên lần lượt nhắc lại hoặc nói rõ quan điểm của phía bên kia đúng với cách phía bên kia nghĩ (thói quen thứ 5 của Franklin Covey: "Thử học cách hiểu người khác trước khi muốn người khác hiểu mình")

· Tất cả mọi người nên cố gắng nhìn vấn đề từ các quan điểm khác, ngoài quan điểm của 2 bên

· Các bên suy nghĩ, bàn bạc để tìm ra những điểm chung, ý kiến trung hòa nhất, các phương án sáng tạo hơn….

· Mỗi bên tự nguyện làm những gì mình có thể để giải quyết mâu thuẫn.

· Một thương lượng chính thức nên được vạch ra và thống nhất giữa 2 bên;

· Nên theo dõi quá trình thường xuyên

· Nếu thành công, nên có phần thưởng hoặc mọi người cùng ăn mừng

Giải quyết mâu thuẫn giữa 2 bên nên là một quá trình tự nguyện:

· Phản ánh giá trị của trường nếu được áp dụng cho cả trường

· Được thầy cô đem ra làm mẫu và làm theo

· Sẽ thất bại nếu như chỉ được coi là việc của học sinh

Mỗi bên cần phải thẳng thắn nói lên quan điểm của mình, và cũng cần được tôn trọng khi họ trình bày quan điểm, cảm thấy sự quan trọng của cả 2 phía. Chính vì vậy, bên nào cũng phải tôn trọng và lắng nghe phía bên kia, và cố gắng hiểu họ, cùng làm hợp tác làm việc để tìm ra giải pháp trung hòa nhất, có lợi cho cả 2 bên.

Nếu vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, nhờ một người thứ 3, trung gian hòa giải; hoặc "cưỡng chế" (người trung gian hòa giải sẽ đưa ra giải pháp)

Giáo dục là một môi trường thuận lợi để học giải quyết các vấn đề và các phương pháp hòa giải mâu thuẫn. Cho dù mâu thuẫn là một tình huống trong lớp học hay là một tình huống tình cảm thật ngoài đời, thì việc học cách giải quyết vấn đề và cùng hợp tác để tìm được hướng giải quyết phù hợp sẽ giúp bạn có được các kỹ năng mà sau này bạn hoàn toàn có thể áp dụng vào các tình huống, trường hợp khác. Việc rèn luyện sẽ giúp bạn:

· Chấp nhận sự khác nhau · Học cách phản bác ý kiến của người khác mà không phải căng thẳng hay gây sự
· Nhận ra những lợi ích cả hai bên  
· Trau dồi kỹ năng thuyết phục · Tạo sự tự tin trước những tình huống bạn có thể thắng
· Tăng khả năng lắng nghe · Nhận ra/ Chấp nhận và từ từ giải quyết sự tức giận và các trạng thái tình cảm khác
· Phá bỏ vòng quay · Giải quyết vấn đề!

Tài liệu được lấy từ "Hướng dẫn giải quyết mâu thuẫn," Trường Friends School of Minnesota, tháng 6 năm 2002.

Xem thêm: Conflict Negotiation: Skills Checklist Umbreit, M.S. 1995. Conflict Negotiation: Skills Checklist. St. Paul, MN: Center for Restorative Justice & Peacemaking, trường Đại học Minnesota.

Deutsch, Morton & Coleman, Peter T., Handbook of Conflict Resolution: Theory and Practice, tháng 4 2000, Jossey-Bass

*******************************************************************************************

NHÓM TRUNG GIAN HÒA GIẢI

Trung gian hoà giải nhóm vừa là một chương trình và một quá trình

Khi một nhóm sinh viên cùng lứa tuổi giúp giải quyết mâu thuẫn giữa hai người hoặc hai nhóm nhỏ, đó gọi là trung gian hoà giải nhóm. Quá trình này đã tỏ ra có hiệu quả ở các trường học trên nước Mỹ, và đang thay đổi cách mà các sinh viên nhìn nhận và giải quyết xung đột trong cuộc sống của họ. Thay đổi bao gồm: cải thiện lòng tự trọng, kĩ năng nghe và suy nghĩ có tính phê bình, cải thiện môi trường học, giảm áp dụng biện pháp kỷ luật và cãi cọ. Những kỹ năng này có thể tuyên truyền và áp dụng ngoài môi trường lớp học.

Quá trình này phải do hai bên tự nguyện:

Người trung gian hoà giải không quyết định mà chủ yếu tìm đến một giải pháp cho cả hai cùng “thắng cuộc” để tránh rắc rối thêm. Những nhà quản lý chuyên trách vấn đề kỷ luật luôn kết hợp những chiến lược hoà giải trong quá trình giải quyết xung đột.

Các kiểu xung đột thường gặp:

đồn đại đưa chuyện

ẩu đả mức độ nhẹ

trục trặc trong quan hệ cá nhân

Lừa và ăn cắp

đối đầu về sắc tộc và văn hoá

Viết vẽ bậy, xúc phạm

Tranh cãi trong và ngoài lớp học

Những vấn đề nghiêm trọng hơn cần có những người trung gian chuyên nghiệp, vì vậy không thích hợp với kiểu trung gian hoà giải. Những trường hợp này bao gồm: lạm dụng tình dục, hành hung, tự tử, sở hữu vũ khí, dùng ma tuý, và những vấn đề có liên quan đến luật pháp.

Chi phí bao gồm tài liệu, vật dụng, địa điểm dành cho trung gian, đào tạo, hỗ trợ của đồng nghiệp, không gian làm việc, khen thưởng.

Dưới đây sẽ tóm tắt:

  • Quá trình bắt đầu chương trình trong nhà trường
  • Các bước tiến hành trong một buổi trung gian hoà giải

Bắt đầu chương trình trong nhà trường

Quá trình lên kế hoạch là hết sức quan trọng: Nền tảng của việc trung gian hoà giải là làm cho sinh viên có them sức mạnh, vì vậy sinh viên đóng vai trò quan trọng trong tất cả các bước phát triển cũng như tiến hành.

Sinh viên thành lập ban lãnh đạo bao gồm một lien lạc viên giàu kinh nghiệm, được tôn trọng, và một số giáo viên, chuyên viên đáng tin cậy. Ban lãnh đạo này có thể được phân công hoặc tự đảm nhận. Ban này sẽ:

  • Nghiên cứu nền tảng của việc trung gian hoà giải, hệ thống các bước giải quyết xung đột và giữ kỷ luạt trong nhà trường
  • Thiết kế và xuất bản chương trình hành động cho chương trình giải quyết xung đột, bao gồm nội dung khái quát, truyền thông, đào tạo, thực hành, kiểu mẫu, và đánh giá.

Mục đích là nhằm hướng dẫn các nhóm trung gian hoà giải trong cộng đồng trường học, tạo ra một khối hợp sức thống nhất cùng giải quyết vấn đề theo một chương trình dựa trên tinh thần hoà bình.

Ban lãnh đạo sẽ tìm kiếm sự hỗ trợ từ lãnh đạo trường, bao gồm các nhóm, khối trong trường cùng thực thi biện pháp này (gồm cả giáo viên lẫn nhà quản lý)

  • Ban lãnh đạo đảm nhận trách nhiệm lâu dài: chuẩn bị các cuộc họp, thực hành kỹ năng hoà giải, nghiên cứu về bạo lực, nguyên nhân và cách phòng ngừa.

Người liên lạc đóng vai trò trung gian giữa các nhóm, bao gồm: ban lãnh đạo, tập thể sinh viên, nhà quản lý, phụ huynh, chuyên viên đào tạo mời bên ngoài. Nhiệm vụ chính bao gồm:

  • Phát triển một nhóm người lớn trọng điểm trong trường học để thực hiện và làm mẫu cho các hoạt động hoà giải.
  • Giám sát việc lựa chọn, đào tạo, khuyến khích, củng cố nâng cao trình độ cho người hoà giải.
  • Đóng vai trò hoà giải để hỗ trợ việc thực hiện và khởi đầu cho các chương trình hoà giải.
  • Lập bảng thoả ước cho người được hoà giải và bên trọng tài hoà giải.
  • Chọn và lên lịch cho các nhân viên hoà giải trong từng trường hợp.
  • Lưu giữ hồ sơ và thường xuyên thông báo cho mọi người trong chương trình qua thư tin, mạng…
  • Tự cập nhật với các tài liệu và nghiên cứu có liên quan
  • Năng nổ trong việc vượt qua trở ngại về thái độ hoặc cơ chế trong nhà trường, thiết lập và duy trì nhóm hỗ trợ, bao gồm nhóm phụ huynh.

Lựa chọn người trung gian hoà giải:

  • Người trung gian phải đại diện cho nhiều nhóm trong trường về mặt văn hoá, giới tính, hành vi, học vấn, quan hệ xã hội, chủng tộc.
  • Quá trình lựa chọn phải được thông báo rộng rãi và bao gồm thư giới thiệu cũng như thư tự giới thiệu.
  • Người được chọn phải sẵn sang tiếp tục nâng cao kỹ năng, hợp tác với đồng nghiệp và hướng dẫn nhân viên mới.
  • Việc từ chối cần phải được diễn đạt một cách tế nhị để làm sao cho sinh viên đó không cảm thấy bị xa lánh.

Trước tiên cần thiết lập “kinh nghiệm” Người trung gian hoà giải cần phải được đào tạo và giám sát bởi vì họ thường thiếu sự từng trải và kinh nghiệm cả trong việc điều chỉnh mâu thuẫn và kỹ năng đàm phán.

Các chiến lược bao gồm tự đóng vai, học hỏi từ chính các tình huống cụ thể. Nếu có thể, nên tổ chức hội thảo ngoài trường học để hạn chế tối đa những yếu tố ảnh hưởng bất lợi.

Những yếu tố chính trong các buổi hoà giải: Mục đích là giảm thiểu sự bất bình và để các bên cùng chấp nhận giải pháp đưa ra.

Bên tranh cãi sẽ điền vào bảng câu hỏi trước khi tham gia buổi hoà giải trình bày những nguyên tắc cơ bản, hứa sẽ cùng giải quyết mâu thuẫn, nói sự thực, nghe ý kiến của người khác một cách tôn trọng và không ngắt lời.

Bên tranh cãi gặp gỡ hoà giải viên để xem hai bên có hoà hợp không và đảm bảo rằng không có tranh chấp về quyền lợi.

Người hoà giải:

  • Gặp bên tranh cãi và giải thích rõ việc họ co quyền tiết lộ những chi tiết có liên quan trong buổi hoà giải và hỏi xem họ có muốn tiếp tục hay không
  • Giải thích các bước hoà giải: dùng kỹ năng nghe và giao tiếp để giúp bạn giải quyết xung đột, bất đồng trước khi họ lên cơn nóng giận và đánh mất khả năng suy nghĩ trong tình huống của mình.
  • Giải thích rõ ràng các câu hỏi trước khi bắt đầu.

Trong buổi hoà giải, bên tranh cãi phải:

  • Giới thiệu bản thân
  • Mỗi người lần lượt kể chuyện của mình cho người hoà giải nghe tập trung vào vấn đề, không nói ai làm gì, trong khi người kia tập trung nghe và không ngắt lời.
  • Hai bên tranh cãi đổi vai: mỗi bên kể lại chuyện của bên kia theo như họ hiểu và không nhất thiết phải đồng ý với nội dung kể.

Người hoà giải:

  • Tóm tắt ý và cảm xúc của hai bên nhằm mục đích thẩm định và nêu ý đồng ý với các chi tiết. Thảo luận các vấn đề và giúp hai bên thấy rằng sẽ rất khó giải quyết vấn đề nếu họ tiếp tục mất bình tĩnh và giữ thái độ hậm hực.
  • Hỏi hai bên xem họ có giải pháp gì không. Ghi lại các ý hoặc bắt đầu suy nghĩ mà không bình luận gì.
  • Thảo luận về các giải pháp đánh dấu vào các giải pháp mà cả hai bên cùng đồng ý.

Người tranh cãi:

  • Quyết định cách giải quyết tốt nhất
  • Chọn giải pháp dự bị tốt nhất.

Người cùng hoà giải:

  • Thẩm định các thoả hiệp với các bên đảm bảo rằng không có ai ngân ngại nói ra bất đồng.
  • Viết biên bản thoả thuận dùng từ mà hai bên nói ra.

Người cùng hoà giải và bên tranh cãi:

  • Ký biên bản
  • Thống nhất quá trình theo dõi Đảm bảo rằng mọi bên đều giữ lời và cùng giám sát việc thực hiện thoả thuận.

Người hoà giải cảm ơn các bên đã tham gia và đã cho phép họ có dịp được giúp hai bên.


Tiêu chuẩn cư xử của hoà giải viên

ADR, Arbitration and Mediation

Cohen, Richard, Implementing a Peer Mediation Program, CREnet—The Conflict Resolution Education Network, 6/20/02

Bài viết này dựa trên ebook "Cẩm nang và chiến lược dành cho học tập" do Nguyễn Trung Hiếu soạn thảo dựa trên Dự án được lập và duy trì bởi Joe Landsberger như một trang web giáo dục. Những lời khuyên trong cuốn cẩm nang này được sử dụng rộng rãi cho các học sinh sinh viên trên toàn nước Mỹ và trên thế giới. Được dịch sang Tiếng Việt bởi Nguyễn Thanh Hương, sinh viên trường Lafayette College, Pennsylvania, Hoa Kỳ, thực tập sinh của Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ – Đông Dương (US-Indochina Educational Foundation) dưới sự giúp đỡ tài chính của Quỹ Freeman Assist. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Đào Tú Anh (Hà Nội) và Trần Hà Hải (Thành Phố Hồ Chí Minh).

PHẦN 2: HIỆU QUẢ LÀM VIỆC NHÓM TỪ KINH NGHIỆM CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN

NGUYỄN VĂN HOÀNG – Cựu SV K03 – Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM

Có đôi khi bạn nghĩ rằng “mình học ở trường chẳng được bao nhiêu, khi đi làm thì chẳng áp dụng được gì”, thật sự điều này đúng hay không? Suy nghĩ của bạn, và cách làm của bạn sẽ quyết định phần lớn điều này. Học trong trường, cách học hiện tại của đa phần các bạn sinh viên đôi khi không hợp lý. Để xem xét, bạn có thể tự đặt câu hỏi rằng:

1. Bạn đã làm bài tập của thầy cô như thế nào?

2. Các bạn học nhóm (nhóm 2-3 người để làm đồ án thực hành, lý thuyết) các bạn đã phân công công việc, phân bố thời gian (schedule) như thế nào?

3. Các bạn có kiểm tra tiến độ làm việc của mình không?

4. Các bạn có các quy định để làm việc không? (ví dụ như cách viết code, cách trao đổi, thảo luận) .

Với cách làm việc hiện tại các bạn thấy mình có được những thuận lợi và khó khăn gì? Dưới đây là các câu trả lời của mình thôi – (có thể không đúng tất cả) trong quá trình mình đã học ở trường và mình tin rằng một phần lớn các bạn cũng có thể tương tự mình

– Phần lớn, các bài tập của thầy cô thì đợi “nước ngâp chân” rồi mới nhảy nên chất lượng bài làm kém, làm mang tính đối phó nhiều hơn là học hỏi, cách học chủ động.

– Khi học nhóm thì hầu như công việc chỉ có 1 hoặc 2 người “ôm” cho cả nhóm vì ít có thời gian gặp mặt, ít có thời gian trao đổi và chủ yếu là làm theo ý người “ôm” và nếu có phân thì cũng rất ít khi phân đều, chia thời gian gần như không hợp lý, hoặc có hợp lý thì không làm được và đến vài ngày cuối thức “căng mắt” ra để làm cho kịp deadline.

– Kiểm tra tiến độ làm việc thì có nhưng ít quan tâm, chỉ hỏi nhau để biết đang làm đến đâu và làm như thế nào để còn biết mà “vấn đáp”.

– Quy định làm việc nhóm thì nghe ghê quá, nhưng mà hầu hết ít có nhóm nào quy định, kết quả là cuối cùng code 2-3 người thôi nhưng mà thời gian để ghép bài thì vất vả, cách viết code không đồng nhất nhìn rất lộn xộn, viết xong gặp bug thì debug “mỏi mắt” mới ra, xong là dẹp luôn chứ không dám xem lại.

Tại sao lại có kết quả như trên, các bạn có để ý không? Thật ra do các bạn học quá nhiều môn, một môn thì có khối lượng công việc khá nhiều nên hết “bôn ba” môn này các bạn phải “lăn lộn” với môn khác nên rất mệt, dẫn đến tình trạng này không có gì lạ, Nhưng nếu các bạn sắp xếp một tí sẽ ổn thôi.

Không thể phủ nhận rằng với cách làm việc của chúng ta hiện nay thì việc tạo ra những khoảng thời gian linh hoạt để có thể luân chuyển nhiều project là khá tốt nhưng nếu xét ở góc độ chất lượng thì khó có thể nhóm nào cũng đạt chất lượng ở mọi project hơn nữa cách làm việc đó sẽ gây khó cho chúng ta rất nhiều khi chúng ta thật sự làm việc tại môi trường công ty với nhiều ràng buộc.

Ở công ty, chúng ta làm việc như thế nào (đây là một vài ý kiến của mình khi mình đã đi làm ở 2 công ty và thời gian cũng được 1 năm rồi, chắc hẳn có phần đúng, và cũng có một phần chủ quan).

– Cách làm việc thường xuyên là họp tiến độ trong team hàng tuần, hoặc định kỳ.

– Nếu có vấn đề thì thảo luận trước rồi làm việc sau, đó là nguyên tắc thống nhất mọi quan điểm chung trước khi làm việc.

– Sau khi hoàn thành xong một phần việc nào đó, gởi mail và thông báo cho các thành viên khác biết tiến độ công việc của mình, và có thể xem chi tiết công việc của mình.

– Lên kế hoạch – Schedule – cho toàn nhóm làm việc, thống nhất và tuân thủ theo đúng schedule để đảm bảo công việc được thực hiện đúng tiến độ.

– Đưa ra một luật viết code – coding rule – và mọi thành viên phải tuân thủ theo để code được thống nhất, dễ hiệu chỉnh, đọc lại và nâng cấp.

Có khá nhiều thuận lợi đó là: Công việc sẽ diễn ra tốt và đúng nếu như tuân theo đúng schedule, nếu có khó khăn gặp phải mọi người sẽ cùng thảo luận để giải quyết vấn đề. Công việc của mọi người sẽ đảm bảo và có trách nhiệm với công việc của mình, ai cũng phải làm việc,… Việc review lại sẽ dễ dàng.

Tuy vậy cũng có nhiều khó khăn: Tuân thủ coding rule, schedule là điều khó, đòi hỏi phải làm việc nghiêm túc, có tính kỷ luật. Việc thảo luận cũng có nhiều khó khăn để thống nhất quan điểm với nhau vì một vấn đề có nhiều cách để giải quyết.

Với những thực tại, ưu điểm, khuyết điểm chúng ta khoan hãy nói cách nào tốt hơn, cách nào hay hơn mà chúng ta hãy hướng đến cách làm khoa học hơn.

1. Hãy tập thói quen làm việc nào luôn có schedule cho công việc đó vì khi có schedule bạn sẽ biết mình phải làm cái gì và làm sao để làm được nó. Hơn nữa bạn sẽ kiểm soát được công việc của mình, nếu dự định sai bạn vẫn có cơ hội để ước lượng và định lại cho hợp lý và có kinh nghiệm cho lần sau.

2. Liên lạc hiệu quả cũng là một trong những điều rất quan trọng để có thể hòan thành tốt công việc. hiện tại thì các bạn có rất nhiều cách liên lạc trong đó có thể tham khảo tạo ra các diễn đàn mã nguồn mở nếu như việc liên lạc email khó khăn với các bạn. Điều này sẽ giúp cho mọi người nắm công việc của nhau tốt hơn ai hết.

3. Quản lý công việc và thời gian như thế nào là một vấn đề rất lớn và cũng rất khó, nhưng nếu làm được các bạn sẽ sử dụng thời gian vô cùng hiệu quả, các bạn có thể bàn với nhau để gặp nhau, phân chia công việc theo module, theo cụm chức năng,… để dễ làm việc với nhau.

4. Điều quan trọng hơn nữa là các quy tắc phát triển code – Coding Rule – sẽ giúp các bạn quản lý source tốt, view lại code, phát triển tử code có sắn, nâng cấp các chức năng và đừng quên phải viết các tài liệu đi cùng để lần sau có thể hiểu tính logic của những cái đã làm là gì. Các bạn có thể đề nghị Khoa hỗ trợ Visual Source Safe để học cách làm việc nhóm phát triển thực thụ, điều này mình không rõ khoa có hỗ trợ được không nữa.

5. Còn một vấn đề cuối cùng mà có lẽ các bạn cũng quan tâm trong nhóm, đó là có khả năng báo cáo tốt đều này chứng tỏ các bạn nắm việc trong nhóm tốt và luôn tham gia nhóm.

Chỉ một vài điều mình rút ra sau thời gian đi làm, nhưng mình nghĩ có thể giúp cho các bạn một phần trong việc xem xét cách làm việc và định hướng một cách làm việc gần với thực tế tại công ty, doanh nghiệp. Chúc các bạn thành công.

SOURCE: http://www.blogkhoahoc.com

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP

KỶ YẾU HỘI THẢO XUẤT BẢN BẰNG TIẾNG VIỆT CỦA NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

Năm 2005

1. Kỷ yếu hội thảo: Khía cạnh pháp lý của vấn đề bảo tồn đa dạng văn hóa, 11/2005, 234tr.

2. Dự thảo Luật công chứng Việt Nam, 11/2005, 38tr.

3. Dự thảo Luật Điện ảnh, 09/2005, 34tr.

4. Dự thảo Luật doanh nghiệp thống nhất và Luật đầu tư chung, 08/2005, 90tr.

5. Tham luật hội thảo: Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ nhân thân và tài sản trong tư

pháp quốc tế, 05/2005, 188tr.

6. Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thương mại sửa đổi, 04/2005, 44tr.

7. Dự thảo Nghị định thi hành luật cạnh tranh, 03/2005, 66tr.

8. Tham luận hội thảo: Đạo đức nghề thẩm phán và vai trò của hội đồng thẩm phán tối cao Pháp, 20/02/2005, 110 tr.

9. Pháp lệnh đăng ký giao dịch bảo đảm và tin học hóa hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, 01/2005, 84tr.

10. Hội thảo Quy chế nghề công chứng và phương hướng xây dựng pháp lệnh công chứng Việt Nam, 01/2005, 32tr.

Năm 2004

11. Tham luận Hội thảo, Kỷ niệm hai trăm năm Bộ luật dân sự Pháp, 3-5/11/2004, 177tr.

12. Pháp luật về hội, 11/2004, 39tr.

13. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, 11/2004, 55tr.

14. Pháp luật và thực tiễn chống bán phá giá tại Liên minh Châu Âu, 64tr., 9-10/09/2004

15. Các tập đoàn kinh tế lớn, 28-29/09/2004, 45tr.

16. Quy chế độc lập và cơ chế trách nhiệm của thẩm phán, 09/2004, 77tr.

17. Bộ luật dân sự sửa đổi, 08/2004, 153tr.

18. Dự thảo Pháp lệnh hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và khám nghiệm tử thi, 25-26/06/2004, 85tr.

19. Giám định pháp y tâm thần, 22-23/06/2004, 35tr.

20. Luật thương mại (sửa đổi), 06/2004, 78tr.

21. Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003, 04/5004, 30tr.

Năm 2003

22. Hội thảo Tin học hóa ngành tư pháp

23. Bộ luật dân sự sửa đổi, 08/2003, 85tr.

24. Hội thảo Pháp lệnh thi hành án dân sự, 07/2003, 45tr.

25. Luật doanh nghiệp nhà nước, 07/2003, 50tr.

26. Pháp luật về giám định tư pháp, 06/2003, 56tr.

Năm 2002

27. Pháp luật về giám định tư pháp, 06/2002, 50tr.

28. Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự VN, 10/2002, 60tr.

CÁC BẠN TÌM ĐỌC CÁC TẬP KỶ YẾU TRÊN TẠI THƯ VIỆN NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP 87 – NGUYỄN CHÍ THANH – HÀ NÔI (NẰM TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI)

LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Các thông tin trong bài viết này được chúng tôi khai thác từ http://wikipedia.org chỉ có tính chất tham khảo không phải là quan điểm chính thống trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học luật dân sự

———————————————————-

Luật Dân sự Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Lịch sử

Trong giai đoạn nhà nước phong kiến, luật dân sự Việt Nam không được tách ra thành một bộ luật riêng mà được tìm thấy trong các điều khoản của các bộ luật phong kiến như Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức), Nguyễn triều hình luật (Hoàng Việt luật lệ). Đến khi người Pháp chiếm đóng Việt Nam thì các bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện. Ví dụ ở Nam Kỳ thì bộ luật dân sự Nam Kỳ giản yếu ra đời năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và tại Trung Kỳ là bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936. Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh với người Pháp nên chính phủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn áp dụng các bộ luật dân sự này. Ngày 22 tháng 5 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 97/SL để “sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật” nhằm sửa đổi một số điều trong các bộ dân luật cũ này. Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1959 tòa án tối cao ra chỉ thị số 772/TATC để “đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc”. Từ thời điểm đó trở đi, tại miền bắc Việt Nam thiếu hẳn bộ luật dân sự thực thụ. Một số mảng của luật dân sự được tách ra thành các bộ luật khác như Luật hôn nhân và gia đình hay các văn bản pháp quy dưới luật như thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh. Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực dân sự như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ v.v không được điều chỉnh trực tiếp. Các quy định về nghĩa vụ dân sự được quy định chủ yếu là các vấn đề về nhà ở, vàng bạc, kim khí quý và đá quý v.v và nói chung mang nặng tính chất hành chính. Có thể liệt kê một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự như: Luật hôn nhân gia đình (1986), Luật Quốc tịch (1988), Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988), Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh về thừa kế (1990), Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự (1991), Pháp lệnh về nhà ở (1991) v.v. Tuy các pháp lệnh có nhiều nhưng đôi khi chồng chéo và mâu thuẫn với nhau nên đã gây ra nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật.

Năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996). Sau 10 năm thi hành, Bộ luật Dân sự đã có nhiều hạn chế, bất cập như: một số quy định không phù hợp với sự chuyển đổi nhanh của nền kinh tế thị trường, không rõ ràng hay không đầy đủ hoặc còn mang tính hành chính. Nhiều bộ luật mới ra đời có các nội dung liên quan đến Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 nhưng bộ luật này lại không điều chỉnh, sửa đổi dẫn đến mâu thuẫn giữa chúng cũng như chưa có sự tương thích với các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế.

Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi. Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2006

Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ về tài sản, nhân thân trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động (Điều 1 bộ Luật dân sự năm 2005).

Bộ luật Dân sự năm 2005

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 gồm có 777 điều, chia thành 7 phần và 36 chương. Cụ thể như sau:

*Phần I: Quy định chung

  • Chương 1: Gồm 3 điều (1-3) quy định nhiệm vụ và hiệu lực của bộ luật dân sự Việt Nam.
  • Chương 2: Gồm 10 điều (4-13) quy định những nguyên tắc cơ bản.
  • Chương 3: Gồm 70 điều (14-51) quy định về cá nhân.
    • Mục 1: Gồm 10 điều (14-23) quy định năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân (Trong luật học, thể nhân hay tự nhiên nhân là một con người có thể cảm nhận được thông qua các giác quan và bị các quy luật tự nhiên chi phối, ngược lại với pháp nhân, là một tổ chức nào đó, mà vì một số mục đích nhất định thì luật pháp xem như là một cá nhân tách biệt với các thành viên và/hoặc chủ sở hữu của nó.Ví dụ, các điều khoản pháp lý như sửa đổi thứ 19 của Hiến pháp Hoa Kỳ đảm bảo quyền bầu cử của phụ nữ, chỉ áp dụng cho thể nhân mà thôi. Trong nhiều trường hợp thì các quyền con người cơ bản hoàn toàn chỉ được dành cho thể nhân; ví dụ một công ty không thể đảm nhiệm một chức vụ trong xã hội, nhưng công ty này có thể khởi kiện hay có thể bị khởi kiện.Mặc dù các truyện khoa học viễn tưởng từ lâu rồi đã mơ tưởng về khả năng tồn tại của các người máy (robot) có tri giác, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một tòa án nào xem xét câu hỏi về việc các dạng người máy này có thể được coi là “thể nhân” hay không.

      Tại Việt Nam, trong các văn bản pháp quy hiện nay, như bộ Luật Dân sự 2005, lại không sử dụng khái niệm thể nhân, mà thay vào đó là khái niệm cá nhân).

  • Mục 2: Gồm 28 điều (24-51) quy định về quyền nhân thân.
  • Mục 3: Gồm 6 điều (52-57) quy định về nơi cư trú.
  • Mục 4: Gồm 15 điều (58-73) quy định về giám hộ.
  • Mục 5: Gồm 10 điều (74-83) quy định về thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích và tuyên bố chết.
  • Chương 4: Gồm 22 điều (84-105) quy định về pháp nhân (Pháp nhân là một định nghĩa luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, thường dùng trong luật kinh tế. Về pháp nhân có rất nhiều quan điểm, nhưng quan trọng nhất pháp nhân chỉ ra được các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tương tự như thể nhân. Pháp nhân có nhiều định nghĩa, song theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những tổ chức có tư cách tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.).
    • Mục 1: Gồm 16 điều (84-99) quy định chung về pháp nhân.
    • Mục 2: Gồm 6 điều (100-105) quy định về các loại pháp nhân.
  • Chương 5: Gồm 15 điều (106-120) quy định về hộ gia đình và tổ hợp tác.
    • Mục 1: Gồm 5 điều (106-110) quy định chung về hộ gia đình.
    • Mục 2: Gồm 10 điều (111-120) quy định về tổ hợp tác.
  • Chương 6: Gồm 18 điều (121-138) quy định về giao dịch dân sự.
  • Chương 7: Gồm 10 điều (139-148) quy định về đại diện.
  • Chương 8: Gồm 5 điều (149-153) quy định về thời hạn.
  • Chương 9: Gồm 9 điều (154-162) quy định về thời hiệu.
  • *Phần II: Tài sảnquyền sở hữu

    ·Chương 10: Gồm 11 điều (163-173) quy định chung.

    • Chương 11: Gồm 8 điều (174-181) quy định các loại tài sản.

    Chương 12: Gồm 18 điều (182-199) quy định nội dung quyền sở hữu.

      • Mục 1: Gồm 10 điều (182-191) quy định quyền chiếm hữu.
      • Mục 2: Gồm 3 điều (192-194) quy định quyền sử dụng.
      • Mục 3: Gồm 5 điều (195-199) quy định quyền định đoạt.
    • Chương 13: Gồm 33 điều (200-232) quy định các hình thức sở hữu.
      • Mục 1: Gồm 8 điều (200-207) quy định sở hữu nhà nước.
      • Mục 2: Gồm 3 điều (208-210) quy định sở hữu tập thể.
      • Mục 3: Gồm 3 điều (211-213) quy định sở hữu tư nhân.
      • Mục 4: Gồm 13 điều (214-226) quy định sở hữu chung.
      • Mục 5: Gồm 3 điều (227-229) quy định sở hữu của tổ chức chính trị, chính trị-xã hội.
      • Mục 6: Gồm 3 điều (230-232) quy định sở hữu của tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp.
    • Chương 14: Gồm 22 điều (233-254) quy định về xác lập, chấm dứt quyền sở hữu.
      • Mục 1: Gồm 15 điều (233-247) quy định về xác lập quyền sở hữu.
      • Mục 2: Gồm 7 điều (248-254) quy định về chấm dứt quyền sở hữu.
    • Chương 15: Gồm 7 điều (255-261) quy định về bảo vệ quyền sở hữu.
    • Chương 16: Gồm 18 điều (262-279) những quy định khác về quyền sở hữu.

    Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động. Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình.

    Tài sản cố định

    Tài sản cố định là tư liệu sản xuất chuyên dùng trong sản xuất kinh doanh dùng được vào nhiều chu kì sản xuất.

    Có ba loại tài sản cố định:

    • Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị…
    • Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…
    • Tài sản cố định thuê tài chính: là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.

    Tài sản lưu động

    Là tư liệu sản xuất chỉ dùng được trong một chu kỳ sản xuất. Đó là tổng thể nói chung tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và những khoản có thể chuyển ngay thành tiền mặt, như thương phiếu, v.v.

    = Tài sản hữu hình: bao gồm những vật(có những điều kiện nhất định)tiền và giấy tờ có giá.(ngôn ngữ luật học).Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được.Điều kiện để vật trở thành tài sản là một vấn đề còn tranh cãi rất nhiều. Bởi vì khi vật không thuộc của ai gọi là vật vô chủ không ai gọi là tài sản vô chủ cả.khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng phải có một số đặc tính riêng như: Thuộc sở hữu của ai đó.

      : có thể mua bán được;
      : Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất;
      :là những thứ đã tồn tại(tài sản trước kia) đang tồn tại và có thể có trong tưong lai.

    Tài sản hữu hình khi có càng nhiều đăc tính nêu trên thì càng chắc chắn đó là tài sản hữu hình.

    = Tài sản vô hình:

    Là những quyên tài sản (nghĩa hẹp) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao. Tuy nhiên một số quyền tài sản có thể chuyển giao như thương hiệu hàng hóa hoặc ủy quyền cho chủ thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lương để tính. Nhưng trong quá trình chuyển giao có thẻ quy ra tiền (cái này là quan trọng nhất). Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá như thế nào. Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ phải bồi thường nhưng rất khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc xác định giá trị của tài sản vô hình khong thể xác định được.

    Sở hữu trong kinh tế chính trị, là một phạm trù cơ bản, chỉ mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm dụng của cải. Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải. Nó có thể được luật hóa thành quyền sở hữu và được thực hiện theo cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu.

    *Phần III: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự

    • Chương 17: Gồm 148 điều (280-427) những quy định chung.
      • Mục 1: Gồm 3 điều (280-282) quy định về nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 2: Gồm 19 điều (283-301) quy định về thực hiện nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 3: Gồm 7 điều (302-308) quy định về trách nhiệm dân sự.
      • Mục 4: Gồm 9 điều (309-317) quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 5: Gồm 56 điều (318-373) quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm quy định chung (318-325), cầm cố tài sản (326-341), thế chấp tài sản (342-357), đặt cọc (358), ký cược (359), ký quỹ (360), bảo lãnh (361-371), tín chấp (372-373).
      • Mục 6: Gồm 14 điều (374-387) quy định về chấm dứt nghĩa vụ dân sự
      • Mục 7: Gồm 40 điều (388-427) quy định về hợp đồng dân sự, bao gồm giao kết hợp đồng dân sự (388-411), thực hiện hợp đồng dân sự (412-422) và sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự (423-427).
    • Chương 18: Gồm 166 điều (428-593) quy định về hợp đồng dân sự thông dụng.
      • Mục 1: Gồm 35 điều (428-462) quy định về hợp đồng mua bán tài sản, bao gồm quy định chung (428-449), hợp đồng mua bán nhà (450-455) và quy định riêng về mua bán tài sản (456-462).
      • Mục 2: Gồm 2 điều (463-464) quy định về hợp đồng trao đổi tài sản.
      • Mục 3: Gồm 6 điều (465-470) quy định về hợp đồng tặng cho tài sản.
      • Mục 4: Gồm 9 điều (471-479) quy định về hợp đồng vay tài sản.
      • Mục 5: Gồm 32 điều (480-511) quy định về hợp đồng thuê tài sản, bao gồm quy định chung (480-491), hợp đồng thuê nhà (492-500) và hợp đồng thuê khoán tài sản (501-511).
      • Mục 6: Gồm 6 điều (512-517) quy định về hợp đồng mượn tài sản.
      • Mục 7: Gồm 9 điều (518-526) quy định về hợp đồng dịch vụ.
      • Mục 8: Gồm 20 điều (527-546) quy định về hợp đồng vận chuyển, bao gồm hợp đồng vận chuyển hành khách (527-534) và hợp đồng vận chuyển hàng hóa (535-546).
      • Mục 9: Gồm 12 điều (547-558) quy định về hợp đồng gia công.
      • Mục 10: Gồm 8 điều (559-566) quy định về hợp đồng gửi giữ tài sản.
      • Mục 11: Gồm 14 điều (567-580) quy định về hợp đồng bảo hiểm.
      • Mục 12: Gồm 9 điều (581-589) quy định về hợp đồng ủy quyền.
      • Mục 13: Gồm 4 điều (590-593) quy định về hứa thưởng và thi có giải.
    • Chương 19: Gồm 5 điều (594-598) quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền.
    • Chương 20: Gồm 5 điều (599-603) quy định về nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi thế về tài sản không có căn cứ pháp luật.
    • Chương 21: Gồm 27 điều (604-630) quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bao gồm quy định chung (604-607), xác định thiệt hại (608-612), bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể (613-630).

    *Phần IV: Thừa kế

    Chương 22: Gồm 15 điều (631-645) quy định chung.

    • Chương 23: Gồm 28 điều (646-673) quy định về thừa kế theo di chúc.
    • Chương 24: Gồm 7 điều (674-680) quy định về thừa kế theo pháp luật.
    • Chương 25: Gồm 7 điều (681-687) quy định về thanh toán và phân chia di sản.

    *Phần V: Quyền sử dụng đất

    • Chương 26: Gồm 5 điều (688-692) quy định chung.
    • Chương 27: Gồm 4 điều (693-696) quy định về hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.
    • Chương 28: Gồm 6 điều (697-702) quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
    • Chương 29: Gồm 12 điều (703-714) quy định về hợp đồng thuê, thuê lại quyền sử dụng đất, bao gồm:
      • Mục 1: Gồm có 11 điều (703-713) quy định về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.
      • Mục 2: Gồm có 1 điều (714) quy định về hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất.
    • Chương 30: Gồm 7 điều (715-721) quy định về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
    • Chương 31: Gồm 5 điều (722-726) quy định về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
    • Chương 32: Gồm 6 điều (727-732) quy định về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
    • Chương 33: Gồm 3 điều (733-735) quy định về thừa kế quyền sử dụng đất.

    *Phần VI: Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

    • Chương 34: Gồm 14 điều (736-749) quy định về quyền tác giả và quyền liên quan, bao gồm:
      • Mục 1: Gồm có 8 điều (736-743) quy định về quyền tác giả
      • Mục 2: Gồm có 6 điều (744-749) quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả.
    • Chương 35: Gồm 4 điều (750-753) quy định về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
    • Chương 36: Gồm 4 điều (754-757) quy định về chuyển giao công nghệ

    Theo Điều 2(viii) của Công ước Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, sở hữu trí tuệ (intellectual property) được định nghĩa là các quyền liên quan tới:

    • Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học,
    • Sự thể hiện của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình,
    • Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của loài người,
    • Phát minh khoa học,
    • Kiểu dáng công nghiệp,
    • Nhãn hiệu (hàng hoá), nhãn hiệu dịch vụ, tên và chỉ dẫn thương mại,
    • Quyền (bảo vệ) chống cạnh tranh không lành mạnh,
    • Và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hay nghệ thuật.

    Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (viết tắt từ tiếng Anh: World Intellectual Property OrganizationWIPO) là một trong những cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc có mục tiêu chính là đẩy mạnh hoạt động trí tuệ sáng tạo và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ liên quan đến sở hữu trí tuệ sang các nước đang phát triển nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá (điều 1 của Hiệp ước giữa UN và WIPO năm 1974). WIPO có 181 nước thành viên và quản lý 21 hiệp ước quốc tế. Trụ sở của WIPO đặt tại Geneva, Thụy Sỹ

    *Phần VII: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:

    Không lập thành chương, bao gồm các điều từ 758 đến 777.

    LUẬT HỒNG ĐỨC

    Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.

    Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau: Luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chính v.v…

    Lịch sử

    Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà Nội). Tại đây có hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật. Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc triều hình luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này.

    Trong đó bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có giá trị nhất. Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn. Sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác. Bìa nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều hình luật bằng bút lông. Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại trong phần Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn sách này 143 điều trong tổng số 722 điều.

    Từ đầu thế kỷ 20, Quốc triều hình luật đã được khảo dịch sang tiếng Pháp. Đến năm 1956, nó mới được dịch sang quốc ngữ lần đầu tiên (bản dịch của trường luật khoa đại học do Lương Thần Cao Nãi Quang phiên âm, và dịch nghĩa, Nguyễn Sĩ Giác hiệu đính, Vũ Văn Mẫu viết lời tựa, nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn, 1956). Gần đây, Viện Sử học Việt Nam đã dịch thuật lại cho chuẩn xác hơn. (Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội – 1991).

    Một số học giả Pháp, khi khảo dịch và nghiên cứu cho rằng nó có tên là Lê triều hình luật và nó là Lê triều điều luật được in năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 38) mà Phan Huy Chú đã ghi lại trong Lịch triều hiến chương loại chí sau khi họ nghiên cứu thiên Hình luật chí trong cuốn sách này của ông cũng như bản chép tay của Quốc triều hình luật. Theo Vũ Văn Mẫu, Quốc triều hình luật được ban bố lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và có lẽ vào thời gian cuối của niên hiệu này. Ý kiến của Vũ Văn Mẫu chủ yếu dựa vào ý kiến của Phan Huy Chú viết về việc ban hành dưới thời Lê bộ Hồng Đức hình luật và lời đề tựa của vua Gia Long triều Nguyễn cho bộ Hoàng Việt luật lệ, trong đó ông đánh giá rất cao bộ luật cổ này và gọi nó là bộ luật Hồng Đức.

    Các ý kiến khác cho rằng bộ Quốc triều hình luật đã được soạn, sửa đổi liên tục từ đầu thời kỳ nhà Hậu Lê, trong đó có những đóng góp to lớn dưới thời Lê Thánh Tông. Các ý kiến này chủ yếu dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư với ghi chép là năm Thái Hòa thứ 7 (1449), vua Lê Nhân Tông đã bổ sung thêm vào bộ hình luật chương điền sản gồm 14 điều. Ngoài ra, qua các sử sách khác và qua các lần in khắc ván (với những điểm khác nhau về nội dung của các văn bản), các bổ sung và tên gọi các đơn vị hành chính ghi trong bộ luật v.v có thể nhận thấy bộ luật này được soạn thảo, bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua triều Lê. Thời điểm khởi thảo, ban hành lần đầu cho đến nay vẫn chưa rõ.

    Bố cục

    Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v).

    Bố trí cụ thể như sau:

    1. Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản có tính chất chi phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộc tội bằng tiền v.v)
    2. Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và các tội về cấm vệ.
    3. Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của quan lại, các tội về chức vụ.
    4. Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái của tướng, sĩ, các tội quân sự.
    5. Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình và các tội phạm trong các lĩnh vực này.
    6. Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm trong lĩnh vực này.
    7. Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục.
    8. Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số tội chính trị như phản nước hại vua.
    9. Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các tội vu cáo, lăng mạ v.v
    10. Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối.
    11. Chương Tạp luật: 92 điều quy định về các tội không thuộc các nhóm tội danh trên đây.
    12. Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tội thuộc lĩnh vực này.
    13. Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm và các tội phạm trong lĩnh vực này.

    Hai chương cuối này đã có một số quy định về tố tụng, nhưng chưa hoàn chỉnh.

    Các quy định dân sự

    Trong bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.

    Sở hữu và hợp đồng

    QTHL đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến là: sở hữu nhà nước (ruộng công) và sở hữu tư nhân (ruộng tư).

    Trong bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền-công điền tương đối toàn diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công như: không được bán ruộng đất công (điều 342), không được chiếm ruộng đất công quá hạn mức (điều 343), không được nhận bậy ruộng đất công đã giao cho người khác (điều 344), cấm làm sai quy định phân cấp ruộng đất công (điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công (điều 350), cấm biến ruộng đất công thành tư (điều 353), không được ẩn lậu để trốn thuế (điều 345) v.v

    Bên cạnh đó việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân/ hợp đồng về ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng. Chẳng hạn, cấm xâm lấn ruộng đất của người khác (điều 357), cấm tá điền tranh ruộng đất của chủ (điều 356), cấm ức hiếp để mua ruộng đất của người khác (điều 355) v.v

    Qua một số quy định trên, có thể thấy bộ luật đã điều chỉnh 3 loại hợp đồng về ruộng đất:

    • Mua bán ruộng đất
    • Cầm cố ruộng đất
    • Thuê mướn ruộng đất

    Về hình thức, các hợp đồng thường phải lập thành văn tự giữa các bên tham gia hợp đồng với sự chứng thực của quan viên có thẩm quyền.

    Thừa kế

    Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể: Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ. Thứ hai là các quan hệ thừa kế theo di chúc (các điều 354, 388) và thừa kế không di chúc (thừa kế theo luật) với các điều 374-377, 380, 388. Điều đáng chú ý là bộ luật Hồng Đức cho người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người con trai là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiến khác. Đây chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều Lê.

    Các quy định hình sự

    Các nguyên tắc chủ đạo

    Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật. Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của nó là:

    • Vô luật bất thành hình (điều 642, 683, 685, 708, 722): trong đó quy định chỉ khép tội khi trong bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hình phạt đã quy định và nó là tương tự như trong các bộ luật hình sự hiện đại.
    • Chiếu cố (điều 1, 3-5, 8, 10, 16, 17, 680): trong đó quy định các chiếu cố đối với địa vị xã hội, tuổi tác (trẻ em và người già cả), tàn tật, phụ nữ v.v
    • Chuộc tội bằng tiền (điều 6, 16, 21, 22, 24): đối với các tội danh như trượng, biếm, đồ, khao đinh, tang thất phụ, lưu, tử, thích chữ. Tuy nhiên các tội thập ác (mười tội cực kỳ nguy hiểm cho chính quyền) và tội đánh roi (có tính chất răn đe, giáo dục) không cho chuộc.
    • Trách nhiệm hình sự (điều 16, 35, 38, 411, 412): trong đó đề cập tới quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc chịu trách nhiệm hình sự thay cho người khác.
    • Miễn, giảm trách nhiệm hình sự (điều 18, 19, 450, 499, 553): trong đó quy định về miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người).
    • Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu (điều 25, 39, 411, 504)
    Tội phạm
    • Phân loại theo hình phạt (ngũ hình và các hình phạt khác)
    • Theo sự vô ý hay cố ý phạm tội
    • Theo âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội
    • Tính chất đồng phạm
    Các nhóm tội cụ thể
    • Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như:
      • Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (điều 2, 411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-điều 412), đại bất kính (430, 431).
      • Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch (điều 416), bất hiếu (nhiều điều, chẳng hạn điều 475), bất mục, bất nghĩa, nội loạn.
      • Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho giáo: bất đạo (420 và 421).
    • Các nhóm tội phạm khác: bao gồm các tội liên quan đến sự an toàn thân thể của vua, nghi lễ cung đình, xâm phạm trật tự công cộng, quản lý hành chính, thể thức nghi lễ triều đình, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm con người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các tội phạm quân sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế độ hôn nhân-gia đình, các tội tình dục, các tội xâm phạm chế độ tư pháp v.v
    Hình phạt

    Quan niệm về hình phạt trong bộ luật khá chi tiết nhưng cứng nhắc với khung hình phạt thường là cố định, tuy rằng có tính đến các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ (điều 41).

    Các hình phạt cụ thể có ngũ hình và các hình phạt khác.

    Ngũ hình

    Ngũ hình được quy định tại điều 1 và bao gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử.

    • Xuy (đánh bằng roi) có 5 bậc: 10, 20, 30, 40, 50 roi, có thể kèm phạt tiền và biếm chức, áp dụng cả cho nam và nữ.
    • Trượng (đánh bằng gậy) cũng có 5 bậc: 60, 70, 80, 90 và 100 trượng, chỉ áp dụng cho nam.
    • Đồ có 3 bậc là:
      • Dịch đinh kèm 80 trượng cho nam và dịch phụ kèm 50 roi cho nữ. Dịch đinh/dịch phụ có nhiều hạng là:
        • Thuộc đinh: phục dịch ở các viện (dành cho quan chức có tội)
        • Quân đinh: phục dịch ở các sảnh
        • Khao đinh: phục dịch ở trong trại lính
        • Xã đinh: phục dịch ở các xã (dành cho thường dân nam có tội)
        • Thứ phụ: phục dịch công việc ở làng (dành cho thường dân nữ có tội)
        • Viên phụ: làm các công việc trong vườn (dành cho vợ các quan chức)
        • Tang thất phụ: phục dịch ở các nơi nuôi tằm, nếu phạm tội nặng
      • Tượng phường binh (quét dọn chuồng voi kèm 80 trượng và thích 2 chữ vào mặt) cho nam và xuy thất tỳ (nấu cơm nuôi quân kèm 50 roi và thích 2 chữ vào cổ) cho nữ.
      • Chủng điền binh (lính lao động ở đồn điền của nhà nước kèm 80 trượng và thích vào cổ 4 chữ, phải đeo xiềng) cho nam và thung thất tỳ (xay thóc giã gạo trong các kho thóc thuế của nhà nước kèm 50 roi và thích vào cổ 4 chữ) cho nữ.
    • Lưu tức lưu đày đi nơi xa, có 3 bậc là:
      • Lưu cận châu, đày đi làm việc nặng ở Nghệ An với hình phạt phụ là thích vào mặt 6 chữ, đánh 90 trượng, đeo xiềng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
      • Lưu ngoại châu: Lưu đày đến Bố Chánh, Quảng Bình. Phụ hình có 90 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đeo xiềng 2 vòng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
      • Lưu viễn châu: đày đi Cao Bằng. Phụ hình gồm 100 trượng, thích 10 chữ vào mặt, đeo xiềng 3 vòng cho nam, đánh 50 roi cho nữ.
    • Tử (giết chết) có 3 bậc là:
      • Giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu)
      • Khiêu (chém bêu đầu)
      • Lăng trì (tùng xẻo) tức xẻo từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết, sau đó còn bị cắt rời chân tay và bẻ gãy hết xương.
    Các hình phạt khác

    Ngoài ngũ hình, luật Hồng Đức còn áp dụng các hình phạt khác như:

    • Biếm tư (điều 27, 46) bao gồm các bậc từ 1 đến 5 tư nhưng có quy định cho chuộc tội biếm bằng tiền theo điều 22.
    • Phạt tiền (điều 26) có 3 bậc: 300-500 quan, 60-200 quan và 5-50 quan. Ngoài ra còn có quy định về tiền bồi thường tang vật (điều 28), tiền đền mạng (điều 29).
    • Tịch thu tài sản có 2 bậc là tịch thu toàn bộ gia sản (nặng theo điều 426, 430) và tịch thu một phần tài sản (nhẹ, các điều 88, 523)
    • Thích chữ vào cổ hoặc mặt: Được áp dụng như là hình phạt phụ đối với các tội lưu, đồ, trượng, xuy.
    • Xung vợ con làm nô tỳ. Chỉ áp dụng đối với các tội mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn trong thập ác (điều 411, 412).

    Các quy định trong hôn nhân-gia đình

    Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hôn nhân của bộ luật là: hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Nó thể hiện lễ nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội-gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ.

    Hôn nhân

    Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như kết hôn, chấm dứt hôn nhân (do chết hoặc ly hôn).

    Kết hôn

    Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha mẹ (điều 314), không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thày (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339. Tuy nhiên, luật Hồng Đức không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: “Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn”, có lẽ là do đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về điều này. Luật Hồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315, 322). Lưu ý là luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn. Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng…Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước. Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.

    Chấm dứt hôn nhân

    Luật Hồng Đức quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: một trong người đã chết, ly hôn.

    Về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý là quan hệ hôn nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu là chồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang. Quy định này được đặt ra một cách gián tiếp trong các điều 2 và 320.

    Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:

    1. Buộc phải ly hôn (các điều 317, 318, 323, 324, 334) do hôn nhân đã vi phạm các quy định cấm kết hôn.
    2. Ly hôn do lỗi của người vợ: Điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khi người vợ phạm phải điều nghĩa tuyệt (đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng) như: không con, ghen tuông, ác tật (mắc các bệnh như phong, hủi), dâm đãng, không kính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp.
    3. Ly hôn do lỗi của người chồng: Các điều 308 / 333 quy định người vợ có quyền trình quan xin ly hôn khi: chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (có quan xã làm chứng), trừ khi chồng có việc phải đi xa hay nếu con rể lấy điều thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ.
    Quan hệ gia đình

    Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ).

    • Quan hệ vợ-chồng: Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ-chồng, tuy nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ nhân thân như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau (các điều 321 và 308, 309), không được ngược đãi vợ (điều 482), nghĩa vụ chung thủy (điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau (các điều 2, 7).
    • Quan hệ cha mẹ-con cái: Đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân của con cái, bao gồm: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7 điều 2), nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (điều 38), nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà-cha mẹ (điều 511), nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà, cha mẹ (các điều 9, 504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tội mưu phản, mưu đại nghịch, cha mẹ nuôi giết con đẻ hay mẹ đẻ-mẹ kế giết cha thì được phép tố cáo và nghĩa vụ để tang ông bà-cha mẹ (điều 2).
    • Quan hệ nhân thân khác: Đề cập tới quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ (các điều 309, 481, 483, 484) và nhà chồng, anh-chị-em (các điều 487, 512), nuôi con nuôi (các điều 380, 381, 506) và vai trò của người trưởng họ (điều 35).

    Trong quan hệ vợ cả-vợ lẽ thì ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ với chồng và nhà chồng thì họ cũng phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn. Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình (phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau). Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻ cũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi.

    Các quy định tố tụng

    Mặc dù không được tách bạch ra thành các chương riêng rẽ, nhưng luật Hồng Đức đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:

    • Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (điều 672)
    • Thủ tục tố tụng (phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện- đơn tố cáo (các điều 508, 513, 698), thủ tục tra khảo (các điều 546, 660, 665, 667, 668, 714, 716), thủ tục xử án (các điều 671, 709), phương pháp xử án (các điều 670, 683, 686, 708, 714, 720, 722), thủ tục bắt người (các điều 646, 658, 659, 663, 676, 680, 701-704).

    So sánh

    Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Mục tiêu hàng đầu của nó là để bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo. Tuy vậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc và tiến bộ của nó.

    Luật Trung Hoa

    Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đườngnhà Minh. Tuy vậy, nó có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục.

    Về bố cục, bộ Đường luật có 500 điều chia thành 12 chương (Danh lệ, Vệ cấm, Chức chế, Hộ hôn, Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy, Tạp luật, Bộ vong, Đoán ngục) trong 30 quyển. Có thể thấy, trong luật Hồng Đức các quy định về các nhóm tội tình dục và các vấn đề ruộng đất được quy định riêng biệt và cụ thể hơn.

    Về nội dung, các quy định về hôn nhân-gia đình, điền sản của luật Hồng Đức được chú trọng hơn so với Đường luật (quy định cụ thể về văn tự, chúc thư, chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ-chồng khi góa bụa v.v). Chính vì thế, sau này các tòa án thời Pháp thuộc hay Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa hay dựa trên các quy định này của luật Hồng Đức để phân xử các vụ kiện tụng liên quan tới tài sản vợ-chồng.

    Bộ luật nhà Nguyễn

    So với bộ Hoàng Việt luật lệ (HVLL hay luật Gia Long) (năm 1811) ra đời sau hàng thế kỷ, có thể thấy luật Hồng Đức chưa có tính khái quát hóa cao và phân ngành rõ như HVLL. Tuy nhiên, sự bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong luật Hồng Đức lại tốt hơn so với HVLL. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết khi nhận xét về HVLL “bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn. Không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng.” (Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, quyển 1, tập 1, Sài Gòn, 1973).

    Các điểm tiến bộ

    Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là nó cho thấy vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực. Nó cho thấy người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới.

    Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam.

    Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê. Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều (điều 596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác (điều 601), tự tiện giết trâu ngựa (điều 580) v.v

    Điểm thứ tư, luật Hồng Đức thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân thường. Trong bộ luật có nhiều điều trừng phạt nghiêm khắc những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu thường dân (các điều 294, 300, 302, 304, 365).

    TÌM ĐỌC THÊM:

    Cùng thời:

    • Quốc triều khám tụng điều lệ

    Thời nhà Nguyễn:

    • Hoàng Việt luật lệ
    • Hội điển toát yếu
    • Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ
    • Minh Mệnh chính yếu
    • Đại Nam điển lệ toát yếu

    VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM

    TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Giảng viên Khoa luật Trường đại học Aix-Marseille III (Trung tâm Aix-en- Provence)- Cộng hoà Pháp.

    Khi giao kết hợp đồng, các bên đều hướng tới một lợi ích nhất định thường đưa ra một thời hạn để thực hiện. Nhưng nhiều khi lợi ích hợp pháp của một trong các bên không đạt được vì hợp đồng không được thực hiện như dự tính. Trước hoàn cảnh này, bên không được thực hiện có thể yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại, huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng hay không? Bài viết dưới đây xin được đề cập đến việc huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng sau và trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng

    1. Huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng sau khi hết thời hạn thực hiện

    Nguyên tắc về huỷ bỏ, đình chỉ: Theo khoản 1, Điều 419 và khoản 1, Điều 420 của Bộ luật Dân sự (BLDS) Việt Nam, “một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” (1) ; “một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện đình chỉ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” (2). Như vậy, khi hợp đồng không được thực hiện, bên không được thực hiện có quyền huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng nếu điều đó đã được thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Thực tế lại có nhiều hợp đồng không có điều khoản cho phép một bên huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng khi bên kia có vi phạm. Bài viết xin chỉ đề cập đến các trường hợp này.

    Nghiên cứu BLDS chúng ta thấy phần chung về hợp đồng không có điều khoản cho phép một bên huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng khi bên kia có vi phạm3, nhưng lại có thể tìm thấy quy định này trong phần của Bộ luật về một số hợp đồng thông dụng (tức là phần chuyên biệt về một số hợp đồng cụ thể) (Hộp 1).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 1.

    · Điều 553, khoản 3 về hợp đồng gia công, “trong trường hợp sản phẩm không đảm bảo chất lượng mà bên đặt gia công đồng ý nhận sản phẩm, nhưng yêu cầu sửa chữa mà bên nhận gia công không thể sửa chữa được trong thời hạn đã thoả thuận, thì bên đặt gia công có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

    · Điều 722 về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, “khi bên thuê chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thoả thuận, thì bên cho thuê có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ, thì bên cho thuê có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bên thuê hoàn trả đất”.

    ——————————————————————————————————————–

    Cách điều chỉnh trên đã bộc lộ một số bất cập:

    Thứ nhất, trong phần chuyên biệt về một số hợp đồng thông dụng, BLDS có quy định những trường hợp được phép huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng do không được thực hiện. Song, những quy phạm này không đầy đủ, một số vi phạm có thể dẫn đến huỷ hay đình chỉ hợp đồng lại không được quy định. Ví dụ, theo Điều 425 về hợp đồng mua bán tài sản, “bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thoả thuận”. Quy định này không rõ có cho phép bên mua được huỷ hợp đồng khi bên bán không giao hàng đúng thời hạn? Tương tự, theo Điều 480 về hợp đồng thuê tài sản, “bên thuê có quyền cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê,nếu được bên cho thuê đồng ý”. Điều này có thể hiểu rằng bên thuê không được cho thuê lại tài sản nếu bên cho thuê không đồng ý, nhưng lại không cho biết là bên cho thuê có quyền huỷ hợp đồng nếu bên thuê cho thuê lại tài sản mà không có sự đồng ý của bên cho thuê?

    Thứ hai, Bộ luật chỉ cho phép huỷ bỏ, đình chỉ đối với những hợp đồng dân sự thông dụng. Vậy, đối với hợp đồng dân sự không thông dụng, khi hợp đồng bị vi phạm mà không có quy định thì giải quyết thế nào?

    Cách điều chỉnh như trên của BLDS tạo ra “lỗ hổng hay điểm trống pháp lý”: đối với một số trường hợp vi phạm hợp đồng, không có quy định cho phép bên bị vi phạm quyền huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng. Xin trích một ví dụ (4) (Xem Hộp 2).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 2: Ngày 08 tháng12 năm X, bà H. làm giấy sang nhượng nhà và đất số KP Nội Ô thị trấn GD tỉnh TN cho ông C. Cùng ngày, bà H. làm giấy uỷ quyền giao nhà và đất trên cho ông C. Căn cứ vào giấy uỷ quyền và theo lời khai của bà U và bà H. thì bà H. bán nhà và đất nói trên với điều kiện là bà H. ở lại nhà cho đến chết và ông C. phải chăm sóc bà H. Song, ông C. không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết vì, 2 năm sau, vợ chồng ông C. đã bán lại căn nhà trên cho ông S. và ông S. bán lại cho vợ chồng ông N. Trước sự vi phạm trên, bà H. yêu cầu được huỷ hợp đồng.

    Hợp đồng tranh chấp trên là hợp đồng mua bán nhà và đất với điều kiện là người bán ở lại nhà đến chết và người mua phải nuôi người bán. Người bán muốnhuỷ hợp đồng vì người mua đã không thực hiện điều kiện này. Nhưng, hợp đồng mua bán nói trên lại không có điều khoản cho phép người bán có quyền huỷ hợp đồng khi người mua không đảm bảo cho người bán ở lại nhà đến chết. Nói một cách khác, các bên không có thoả thuận về việc huỷ hợp đồng. Quy định của BLDS về hợp đồng thông dụng không có quy phạm cụ thể nào quy định bên bán có quyền huỷ hợp đồng khi bên mua không thực hiện điều kiện của hợp đồng.

    ——————————————————————————————————————–

    Trong pháp luật nhiều nước trên thế giới, bên cạnh phần điều chỉnh hợp đồng thông dụng (phần riêng về hợp đồng) cho phép huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng, thì phần chung về hợp đồng còn chứa đựng những điều khoản quy định một cách bao quát những trường hợp được huỷ bỏ, chấm dứt hợp đồng khi không được thực hiện. Đó là những trường hợp khi các quy phạm điều chỉnh hợp đồng thông dụng không đầy đủ hoặc khi hợp đồng bị vi phạm không phải là hợp đồng thông dụng mà phần riêng có đề cập (Xem Hộp 3).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 3: Ví dụ, theo Điều 1644 BLDS Pháp (phần về hợpđồng mua bán), khi tài sản bán có khuyết tật nghiêm trọng thì bên mua có quyền trả lại vật và đòi lại tiền. Vậy, theo phần chuyên biệt về hợp đồng thông dụng của BLDS Pháp, hợp đồng mua bán có thể bị huỷ khi tài sản bán có lỗi nghiêm trọng. Tương tự, theo Điều 1722 của BLDS Pháp (phần về hợp đồng thuê tài sản), hợp đồng cho thuê bị chấm dứt khi tài sản cho thuê bị mất, bị hỏng do sự cố bất khả kháng hay do lỗi của một bên (5). Bên cạnh các quy phạm cho phép huỷ hay chấm dứt hợp đồng trong phần hợp đồng thông dụng trên, chúng ta còn thấy phần chung của luật hợp đồng Pháp (Điều 1184 ) cho phép huỷ hay chấm dứt hợp đồng khi một bên có vi phạm, nhất là khi lợi ích hợp pháp hay phần lớn lợi ích hợp pháp mà bên bị vi phạm mong đợi khi giao kết không thể đạt được (6).

    Ví dụ tương tự có thể thấy được trong Luật hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc. Luật này gồm hai phần, phần chung về hợp đồng và phần riêng về một số hợp đồng thông dụng. Điều 94 (phần chung) cho phép một bên huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng khi hợp đồng không thể thực hiện được do hiện tượng bất khả kháng; do một bên không thực hiện nghĩa vụ chủ yếu mặc dù bên kia đã cho thêm một thời hạn để thực hiện; do chậm thực hiện hợp đồng hay mọi vi phạm khác làm cho mục đích của hợp đồng không thể thực hiện được. Bên cạnh đó, một số điều khoản trong phần riêng về hợp đồng thông dụng quy định những trường hợp mà một bên có thể huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng. Ví dụ, theo Điều 227, nếu bên thuê không trả tiền thuê hoặc chậm trả tiền thuê không có lý do, bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong một khoảng thời gian hợp lý. Sau thời hạn này, bên thuê có quyền chấm dứt hợp đồng.

    Cách điều chỉnh nêu trên của Pháp và Trung Quốc có thể tham khảo để bổ sung vào BLDS ghi nhận một cách bao quát các trường hợp mà hợp đồng không được thực hiện có thể bị huỷ bỏ, đình chỉ.

    ——————————————————————————————————————–

    Mục đích xác lập hợp đồng là để đạt được lợi ích hợp pháp của các bên. Nói một cách khác, hợp đồng được thiết lập nhằm thực hiện để mang lại cho các bên lợi ích hợp pháp mong đợi khi giao kết. Vậy, cần hạn chế tối đa việc cho phép huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng. Song, cũng không nên để cho một bên bị ràng buộc bởi hợp đồng mà họ không đạt được lợi ích hợp pháp do sự vi phạm của bên kia, do đó nên cho phép huỷ, đình chỉ hợp đồng khi có vi phạm nghiêm trọng (7). Đối với vi phạm không nghiêm trọng, thì quy định bên bị vi phạm được quyền đòi bồi thường thiệt hại là đủ, mà không cần huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng (8).

    Do đó, có thể quy định thêm trong Điều 419 và 420 của BLDS như sau: Một bên có quyền huỷ bỏ (hay đơn phương đình chỉ) hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.

    Thứ ba, trong phần hợp đồng thông dụng của BLDS, một số quy phạm cho phép huỷ, đình chỉ hợp đồng một cách máy móc (Xem Hộp 4).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 4 : Theo Điều 428 về hợp đồng mua bán tài sản, “trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận, thì bên mua có một trong các quyền sau đây: Huỷ bỏ hợp đồng…”. Việc cho phép huỷ hợp đồng mỗi khi bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận như Điều 428 là không nên. Ví dụ, theo hợp đồng, A phải giao cho B 1000 chiếc ghế vào ngày 30 tháng 06. Nhưng khi giao hàng A chỉ có 999 chiếc ghế. Vậy, A đã giao ít hơn số lượng đã thoả thuận 01 ghế. áp dụng Điều 428, chúng ta sẽ cho phép B huỷ hợp đồng trong khi đó việc vi phạm trên không làm ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích mà bên B mong đợi khi xác lập hợp đồng.

    Theo Điều 710, khoản 2 về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, bên chuyển quyền sử dụng đất có quyền “huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền chuyển nhượng không đúng thời hạn hoặc không đầy đủ”. Việc cho phép huỷ hợp đồng trong trường hợp này cũng là không nên. Ví dụ, theo hợp đồng, A phải giao cho B 100 triệu ngày 30 tháng 06. Nhưng vì một lý do nào đó, A chỉ có thể giao cho B khoản tiền trên vào ngày 01 tháng 07. Nếu quy định như Điều 710, khoản 2 trên, B được quyền huỷ hợp đồng trong khi đó A chỉ trả muộn so với thoả thuận 01 ngày. Thông thường muộn một hay vài ngày giao tiền không thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích mà bên B mong muốn đạt được khi xác lập hợp đồng.

    ——————————————————————————————————————–

    Theo chúng tôi, cần sửa đổi những quy phạm tại Điều 428 về hợp đồng mua bán tài sản và Điều 710, khoản 2 về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất theo hướng trên hoặc quy định nội dung này trong phần chung về hợp đồng.

    2. Huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện

    Xét ví dụ: Theo hợp đồng ký kết ngày 01 tháng 06, A phải cung cấp cho B một lượng hàng C vào ngày 30 tháng 06. Rất có thể vào ngày 15 tháng 06, B biết chắc rằng đến ngày 30 tháng 06, A sẽ không thực hiện hợp đồng. Chẳng hạn, cho đến ngày 15 tháng 06, B được A thông báo hai lần rằng A không muốn thực hiện hợp đồng nữa hoặc, ngày 15, B được biết rằng A đã bán và giao toàn bộ luợng hàng C cho người khác. Như vậy, vào ngày 15 tháng 06, tức là trước ngày hết thời hạn thực hiện hợp đồng, thì B có quyền được huỷ hợp đồng hay không?

    Trong phần liên quan đến hợp đồng, BLDS không quy định cho phép một bên huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện khi thấy rõ bên kia sẽ vi phạm hợp đồng. Đây là sự bất cập so với pháp luật một số nước và một số văn bản quốc tế hiện đại (Xem Hộp 5).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 5: ở Anh, vấn đề vi phạm hợp đồng trước khi hết hạn thực hiện được án lệ điều chỉnh từ ngay nửa đầu thế kỷ thứ 199. ở Pháp, toà án cũng cho phép một bên huỷ hợpđồng trước khi hết thời hạn thực hiện khi bên phải thực hiện cho biết sẽ không thực hiện hợp đồng (10).

    Theo khoản 1, Điều 72 của Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, “trước khi đến ngày thực hiện hợp đồng, một bên có quyền tuyên bố hợp đồng bị buỷ bỏ nếu thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng” (11). Theo Điều 7.3.3 Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, “một bên có quyền huỷ hợp đồng nếu, trước khi đến thời hạn thực hiện, thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng”(12)

    . Tương tự, theo Điều 9:304 Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, “nếu, ngay trước ngày mà hợp đồng phải thực hiện, thấy rõ là một bên sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, bên kia có quyền huỷ hợp đồng” (13).

    ——————————————————————————————————————–

    Dựa trên tham khảo nêu trên, BLDS nước ta cần đưa nội dung cho phép huỷ, đình chỉ hợp đồng trước thời hạn vì những lý do sau đây:

    – Sẽ là bất hợp lý nếu không cho phép một bên huỷ hay chấm dứt hợp đồng trong khi biết chắc bên kia sẽ không thực hiện được hợp đồng. Mặt khác, cho phép một bên huỷ hay đình chỉ hợp đồng trong trường bên kia vi phạm nghiêm trọng sẽ có lợi về kinh tế. Ví dụ, khi biết chắc là bên mua sẽ không nhận hàng và không trả tiền, cho phép người bán huỷ hợp đồng sẽ giúp họ sớm tìm được nguồn tiêu thụ mới hoặc quyết định không tiếp tục sản xuất nữa để tránh bị tồn đọng thừa hàng. Hoặc, nếu cho phép bên mua huỷ hợp đồng khi biết chắc là bên bán sẽ không thực hiện hợp đồng, chúng ta sẽ giúp người mua sớm đi tìm người bán khác để có được số lượng hàng cần mua nhằm đáp ứng được nhu cầu của mình.

    Trước năm 1999, ở Trung Quốc, vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện chỉ được đề cập trong Luật về hợp đồng kinh tế với nước ngoài (14); các văn bản khác về hợp đồng như Luật về hợp đồng kinh tế hay Luật về chuyển giao công nghệ hoàn toàn không đề cập đến vấn đề này. Với quyết tâm hoà nhập vào Tổ chức thương mại quốc tế (15), năm 1999, Trung Quốc đã bãi bỏ các Luật trên và cho ra đời Luật hợp đồng duy nhất. Trong Luật này, Trung Quốc thừa nhận quyền một bên huỷ hợp đồng khi biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng: Theo Điều 94, khoản 2, “hợp đồng có thể bị huỷ nếu, trước thời điểm thực hiện hợp đồng, một bên cho thấy sẽ không thực hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng”.

    – Khi nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, nên bổ sung vào BLDS lần này quy định cho phép một bên huỷ hợp

    đồng ngay cả khi ch-a hết thời hạn thực hiện nếu biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng. Có thể quy định như sau: Trước khi đến ngày mà hợp đồng phải thực hiện, một bên có quyền huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi biết chắc rằng bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng./.

    ===============================================================

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1 “Khi hợp đồng bị huỷ bỏ, thì hợp đồng không hiệu lực từ thời điểm giao kết các bên phải hoàn trả cho nhau

    tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải trả bằng tiền “ (khoản 3, Điều 419).

    2 “Khi hợp đồng bị đơn phương đình chỉ thực hiện, thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông

    báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ quyền yêu cầu bên kia

    thanh toán” (khoản 3, Điều 420).

    3 Ngoại trừ Điều 413: “Khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia, thì có quyền yêu

    cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại “.

    4 dụ này dựa vào một vụ việc cụ thể toà án Việt Nam đã gặp phải (Toà án tối cao năm 2000, nhưng một số

    thông tin như năm xác lập hợp đồng, giá cả và tên của các bên trong tranh chấp được thay đổi (TG).

    5 Điều 1722 trên cho phép chấm dứt hợp đồng khi tài sản bị mất hay bị hỏng do sự cố bất khả kháng. Theo Toà án

    tối cao Pháp, Điều này cũng được áp dụng khi tài sản bị mất hay bị hỏng do lỗi của một bên (ví dụ, xem phòng dân

    sự số 3, ngày 22 tháng 01 năm 1997 : Tạp chí Dalloz 1997, tr. 43, bình luận Farnocchia ; Tạp chí JCP 1997, II,

    22943, bình luận Djigo ; Tạp chí RD imm. 1997, tr. 296, bình luận Collart-Dutilleul ; Tạp chí Contrats. Conc.

    Consom. 1997, phần số 58, bình luận Leveneur).

    6 Xem thêm : Đỗ Văn Đại, Vai trò của lợi ích t- nhân trong hợp đồng ở Pháp (NXB PUAM 2004, với lời giới thiệu

    của GS. TS., Hiệu tr-ởng Jacques MESTRE, đặc biệt phần số 141 và tiếp theo).

    7 Cách điều chỉnh này đã có rải rác trong BLDS. Ví dụ theo Điều 497, khoản 1, điểm c và khoản 2, điểm a về hợp

    đồng thuê nhà : “Bên cho thuê nhà quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê nhà yêu cầu bồi

    thường thiệt hại khi bên thuê cố ý làm nhà h hỏng nghiêm trọng“; “Bên thuê nhà quyền đơn phương đình chỉ

    thực hiện hợp đồng thuê nhà yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên cho thuê một trong các hành vi sau đây:

    Không sửa chữa nhà khi chất lượng nhà giảm sút nghiêm trọng“.

    8 Cách điều chỉnh này cũng đã thể hiện rải rác trong BLDS. Ví dụ theo Điều 513, khoản 2 về hợp đồng thuê khoán,

    “trong trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ, việc khai thác đối t-ợng thuê khoán nguồn sống duy nhất

    của bên thuê khoán việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê

    khoán, thì bên cho thuê khoán không được đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng; bên thuê khoán phải cam kết

    với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng”.

    9 Xem Y. M. Laithier, Nghiên cứu so sánh về các chế tài của vi phạm hợp đồng, Luận án tiến sỹ, Paris I, năm 2002.

    10 Xem Toà án thương mại Havre ngày 28 tháng 11 năm 1934: Rec. du Havre, 1935, 1, tr. 68; RTD civ. 1935, tr. 647,

    13, bình luận R. DEMOGUE.

    11 Về bản dịch sang tiếng Việt của Công -ớc này, xem thêm : Phạm Minh, Luật thương mại quốc tế, NXB Thống kê,

    2000, tr. 886 và tiếp theo.

    12 Về bản dịch sang tiếng Việt của những nguyên tắc này, xem thêm : Nết, Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc

    tế, NXB TP Hồ Chí Minh, 1999.

    13 Các văn bản trên sử dụng thuật ngữ inexécution hay contravention “essentielle”. Trong thực tiễn, thuật ngữ inexé-

    cution hay contravention “essentielle” này thể được dịch vi phạm “một phần chủ yếu” hay vi phạm “nghiêm

    trọng”.

    14 Xem Điều 17, Luật của Cộng hoà nhân dân Trung hoa về hợp đồng kinh tế với nước ngoài. Chính xác Luật

    này cho phép một bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng khi thấy bên kia có khả năng sẽ không thực hiện hợp đồng.

    15 Trung Quốc tham gia Tổ chức thương mại quốc tế năm 2001.

    ============================================

    SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 9/2004