LẦN ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM MỘT BLOGGER BỊ KIỆN RA TÒA

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ hai, 29/10/2007

Ngày 26/10, TAND quận Tân Bình, TPHCM đã chính thức thụ lý đơn kiện của ca sĩ Phương Thanh khởi kiện blogger Cogaidolong. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng, một blogger bị kiện ra toà.

 Thể theo yêu cầu của tòa, trong buổi làm việc hôm qua, luật sư Nguyễn Văn Hậu, người bảo vệ quyền lợi cho ca sĩ Phương Thanh đã cung cấp thêm cho cơ quan xét xử một số chứng cứ mới, đủ điều kiện cho vụ án được thụ lý. Cụ thể là xác định đầy đủ tên tuổi của người bị kiện là Lê Nguyễn Hương Trà, ngụ quận Tân Bình và những bằng chứng để chứng minh blogger Cogaidolong là chính là nhà báo Hương Trà. Ngoài ra, nguyên đơn còn đưa thêm một số chứng cứ khác để biện luận cho yêu cầu khởi kiện của mình.

Cũng theo luật sư Hậu, mọi vấn đề liên quan đến vụ kiện sẽ được ông trực tiếp đảm trách và hoàn tất vì Phương Thanh đang phải đi diễn ở Hà Nội.

Vị luật sư của đoàn TPHCM cũng bày tỏ, ông rất tự tin về vụ kiện này. Dù đây là loại án mới nhưng vẫn đủ cơ sở để giải quyết theo luật tố tụng. “Hình thức vi phạm là sử dụng mạng điện tử để xúc phạm hay ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, điều này luật pháp không cho phép. Đối với việc khôi phục những dấu tích của blogger Cogaidolong là hoàn toàn có thể”, vị luật sư nói.

Còn theo ông Phan Văn Hải, chánh án TAND quận Tân Bình, yêu cầu nguyên đơn xác định rõ một số nội dung khởi kiện đã được đáp ứng, hồ sơ kiện của Phương Thanh hội đủ chứng cứ và điều kiện để thụ lý theo đúng pháp luật. Hiện ông vẫn chưa quyết định chuyển hồ sơ cho thẩm phán nào giải quyết.

Tám ngày trước đó, tòa án Tân Bình tỏ ra lúng túng khi nhận được đơn khởi kiện và chứng cứ mà Phương Thanh cung cấp chỉ là những bản photo lấy từ blog của Cogaidolong. Vị chánh tòa từng cho biết: “Đây là vụ án rất mới, phức tạp nên phải nghiên cứu rất kỹ và trao đổi với thành phố”. Tiếp đó, tòa đã yêu cầu nguyên đơn Phương Thanh cung cấp thêm nhiều bằng chứng để chứng minh blogger Cogaidolong có phải là Hương Trà hay không? Nội dung của các bản photo đó đã gây ảnh hưởng xấu và cụ thể như thế nào với cô? Từ đó mới có căn cứ buộc trách nhiệm với Hương Trà.

Ngày 16/10, ca sĩ Phương Thanh đã nộp đơn khởi kiện blogger Cogaidolong, (người mà theo cô là nhà báo có bút danh Hương Trà) vì đã xúc phạm danh dự của cô khi thông tin sai về liveshow “Mưa”. Ngoài ra, ca sĩ cũng cho rằng entry “Chuyện của… Cờ” trên blog cogaidolong ám chỉ, xúc phạm tới chị nên yêu cầu blogger Hương Trà phải xin lỗi trên 3 tờ báo.

Trong đơn, Phương Thanh yêu cầu tòa án quyết định buộc blogger Cogaidolong phải công khai xin lỗi với nội dung: “Tôi xin lỗi Phương Thanh vì đã viết không đúng sự thật”.

Nguồn: Vũ Mai -VnExpres

——————————————————–

NHÂN VỤ CA SĨ PHƯƠNG THANH KIỆN BLOGGER Cogaidolong

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ sáu, 12/10/2007

9-10, ca sĩ Phương Thanh đã gởi đơn đến TAND TPHCM kiện blogger CogaiDolong. Nguyên nhân vụ kiện, theo ca sĩ Phương Thanh, vì 2 entry của blogger (người viết blog) này “bôi nhọ danh dự” và xuyên tạc live show Mưa của cô.

Blog CogaiDolong thể hiện blogger này và ca sĩ Phương Thanh từng chơi rất thân

Dư luận đặt câu hỏi, thực chất của vụ lùm xùm này là gì, khi chính hai người từng có thời kỳ chơi rất thân với nhau; và sau live show Mưa không thành công lắm của chính ca sĩ này?

Dù bất kỳ lý do gì, vụ kiện hy hữu này cho thấy nhiều vấn đề về văn hóa blog, quản lý blog… trở nên rất thời sự.

Kiện tụng vì blog ngày càng phổ biến

Ranh giới giữa quyền tự do phát biểu ý kiến cá nhân và bôi nhọ một cá nhân khác trên blog của mình khá mong manh. Dù điều bạn nói là sự thật thì bạn vẫn có thể bị “bắt giò”

Thực ra trên thế giới, những vụ kiện như vậy gần như bình thường. 11,5 triệu kết quả khi tìm kiếm bằng Google với các từ “các vụ kiện + những người viết blog” bằng tiếng Anh (bloggers + lawsuits). Con số khủng khiếp này cho thấy, việc kiện tụng liên quan đến blogger được cộng đồng blogger lẫn báo chí quan tâm đến mức nào.

Theo thống kê của website chuyên về thế giới blog Technorati, trong hai năm 2004 – 2005, khi thế giới có hơn 50 triệu blog thì có 50 vụ kiện blogger. Chuyện kiện tụng blogger vì những thông tin, nhận xét mà họ viết trên blog ở nước ngoài đã khá phổ biến trong 3 năm gần đây.

Phần lớn người đứng đơn kiện đều cho rằng chủ nhân blog phỉ báng, bôi nhọ mình. Cũng có công ty kiện blogger vì cho rằng thông tin trên blog gây thiệt hại cho công việc kinh doanh của họ.

Đầu năm nay, Rafe Banks, một luật sư ở Mỹ, đã bị thân chủ David Milum của mình bêu riếu trên blog sau một vụ bào chữa thất bại. Ông Milium cho rằng, luật sư Banks đã nhận tiền của bên bị và hối lộ quan tòa. Hậu quả, blogger Milium phải bồi thường danh dự cho luật sư Banks 50.000 USD.

Cũng đầu năm nay, một công ty chuyên về thanh toán trực tuyến GreenZap đã kiện 2 công ty cung cấp dịch vụ blog là Liquid Web và Vodien đòi bồi thường thiệt hại 57,5 triệu USD, do 2 công ty này đã không can thiệp khi các blogger đưa thông tin thất thiệt gây thiệt hại cho việc làm ăn của GreenZap.

Lằn ranh mỏng manh

Blog phản ánh chủ nghĩa cá nhân rõ nét nhất nhưng phải tôn trọng pháp luật và đặc biệt là phải có nền tảng văn hóa, bởi nó là loại nhật ký mở, có tính báo chí, nên có tác động xã hội. Blog là ngôi nhà riêng của blogger. Có những ngôi nhà cửa đóng then cài, chỉ có chính chủ nhân hay vài bạn bè thân hữu mới được lui tới; nhưng cũng có những vị chủ nhà mở toang cửa cho mọi người vào xem, bình luận.

Nếu bạn là chủ một ngôi nhà mở, cẩn thận trong ngôn từ không bao giờ thừa. Ranh giới giữa quyền tự do phát biểu ý kiến cá nhân và bôi nhọ một cá nhân khác trên blog của mình khá mong manh. Các vụ blogger thua kiện ở nước ngoài phần lớn cũng do bị bắt bẻ ở một số câu chữ nhạy cảm, khiến bên đi kiện có đủ chứng lý cho rằng họ bị vu khống.

Có một blogger khá nổi tiếng cho rằng, phát ngôn trên blog cũng như nói chuyện trong quán cà phê. Không hoàn toàn như vậy nếu blog đặt ở chế độ public – cho xem tự do, tức là bạn đứng nói trước một đám đông hàng ngàn người.

Chính vì sự mỏng manh của lằn ranh này mà Biên giới Điện tử (EFF), một tổ chức chuyên bảo vệ sự tự do trong thế giới số, đã đưa ra bản hướng dẫn blogger làm sao để tránh bị quy tội bôi nhọ cá nhân theo luật ở Mỹ. (Có thể tham khảo tại http://www.eff.org/bloggers/lg/faq-defamation.php). Một chi tiết rất đáng để các blogger lưu ý trước khi “hạ phím”: Dù điều bạn nói là sự thật thì bạn vẫn có thể bị “bắt giò” nếu không chứng minh được trước tòa. Và như vậy, dù không nói sai, không bịa đặt nhưng blogger vẫn bị quy là “bôi nhọ cá nhân”.

Vấn đề pháp lý ở VN

Một diễn biến khác: Blogger CogaiDolong dọa kiện ngược Phương Thanh, vì các fan của ca sĩ này đã có những comment lăng nhục CogaiDolong! Với thực tế luật pháp ở nước ta, những “chứng cứ ảo” có đủ sức buộc tội lẫn nhau? Có luật sư cho rằng, Luật Giao dịch điện tử cũng đủ giá trị pháp lý, giá trị làm chứng. Điều này vẫn chưa chắc, khi công tác quản lý blog vẫn còn nhiều lỗ hổng (không có trong Luật Báo chí).

Theo ông Đỗ Quý Doãn, Thứ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông, công tác quản lý blog sẽ có bằng văn bản quy phạm pháp luật, trên cơ sở sẽ sửa đổi Quyết định 27 của Bộ VHTT trước đây. Nhưng nên nhớ rằng mọi hành vi của blogger – công dân đều được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự. Blogger hoàn toàn có thể phạm tội nếu đủ chứng cứ buộc tội.

Một số luật gia cho rằng, các entry đã post lên blog khó có thể được coi là chứng cứ, vì chúng có thể bị sửa đổi… Vấn đề này có thể giải quyết được, với điều kiện có sự hợp tác của những nhà cung cấp dịch vụ. Nhưng điều này không khả thi, bởi họ không vì… CogaiDolong! CogaiDolong đâu có “tầm” cỡ như… Bin Laden để các nhà cung cấp dịch vụ phải nhọc công!

Đặt vấn đề về văn hóa blog

Trên Báo NLĐ, chúng tôi từng đặt vấn đề này. Có lẽ đây là nền tảng căn bản để phát huy được tính ưu việt của blog, biến nó thành những kênh chia sẻ thông tin, chia sẻ tình cảm, suy nghĩ tích cực, có ích. Vấn đề viết gì ở blog của mình là quyền tự do của blogger đó trong khuôn khổ luật pháp, miễn là không chống lại đất nước, không xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác…

Rất cần một quy tắc ứng xử được xây dựng để làm cơ sở tạo nên một cộng đồng blogger VN lành mạnh. Nhưng vấn đề cũng không đơn giản, bởi ai, tổ chức nào là người đứng ra làm nhiệm vụ này, khi mỗi blogger là một cá tính riêng biệt?

Cuối cùng, vẫn chỉ là trách nhiệm công dân.

Những nghệ sĩ – nạn nhân của blog

Ca sĩ Hồ Ngọc Hà: Tôi là nạn nhân của rất nhiều blog. Tôi cũng chỉ đọc và biết thế thôi chứ không muốn tìm chủ nhân của blog đó ra để đôi chối. Dù có biết blogger đó là ai thì tôi cũng chẳng làm ầm lên làm chi, chẳng hay ho gì cho cả hai bên.

NSƯT Ngọc Giàu: Có lần tôi dự phiên tòa xét xử con một người bạn sử dụng, mua bán chất ma túy. Hôm sau tôi nhận được thông tin trên một blog có hình tôi ngồi trong phiên tòa và “chua” thêm câu: “Ngọc Giàu ra tòa vì bị giựt hụi”! Tôi thật sự bị sốc!

NS Vũ Luân: Một số blogger là fan cải lương lên án việc tôi không thích diễn chung với Tú Sương; thích “cặp bồ”, làm “kép nhí” của Thoại Mỹ… Gần đây có một blog cá nhân đã ám chỉ tôi với những lời lẽ xúc phạm rằng tôi yêu chị Thoại Mỹ để “đào của” !?

NSƯT Diệu Hiền: Gần đây tôi nghe bạn bè nói có blog đưa hình ảnh tôi đang diễn tại Mỹ lên và bình luận: “Nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại đi ăn xin”. Tôi vô cùng buồn và đã bật khóc…

Nguồn: LƯU NHI DŨ – ĐỒNG PHƯỚC VINH – NLĐ

KIỆN HÀNG XÓM VÌ ĐƯA TIN CHO BÁO

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ tư, 21/11/2007

Cho rằng bà hàng xóm cung cấp thông tin để báo chí “nói xấu” mình, ông láng giềng kiện ra tòa đòi bồi thường 30 triệu đồng vì “tổn thương danh dự, nhân phẩm…”

Dự kiến sáng 26-11 tới, TAND TP sẽ xử phúc thẩm một vụ án khá ngộ nghĩnh: Ông K., ngụ quận 12 kiện đòi bà X., hàng xóm bồi thường 30 triệu đồng vì cho rằng bà X. cung cấp thông tin sai lệch cho báo chí nhằm bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của ông.

Bài báo và lá thư cảm ơn

Theo đơn kiện ngày 27-7-2006, dựa trên thông tin bà X. cung cấp, báo T. đã đăng bài viết “Một căn nhà “ngang nhiên cười cợt” Nghị định 36” (phản ánh việc ông K. cất nhà chiếm lề đường, nằm ngay trên tuyến lắp đặt hệ thống cấp nước, ngang nhiên tồn tại…). Sau đó ngày 18-8-2006, bà X. có thư gửi tổng biên tập báo T. với “nhiều lời lẽ không đúng sự thật” về ông K.

Theo ông K., bài báo “bóp méo sự thật” và lá thư “bôi nhọ” của bà X. đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của ông. Ông bị bạn bè làm ăn cắt quan hệ, ngay chính vợ con cũng nghi kỵ. Bản thân ông phải nhiều lần giải trình với các cơ quan chính quyền địa phương. Tinh thần ông bị ảnh hưởng, ức chế nên không thể làm ăn được.

Ông K. xác định với tòa là mỗi tháng ông thu nhập trung bình 2,5 triệu đồng. Từ tháng 8-2006 đến tháng 9-2007, ông không làm được gì, thiệt hại là 22,5 triệu đồng nhưng ông chỉ đòi bồi thường 15 triệu đồng. Ngoài ra, ông đòi bà X. bồi thường danh dự 15 triệu đồng. Như vậy, tổng số tiền mà ông đòi bà X. bồi thường là 30 triệu đồng.

Về phần mình, bà X. xác nhận rằng có phản ánh việc ông K. xây nhà lấn chiếm đến báo T. Sau đó phóng viên báo này đã tự đi thu thập tư liệu viết bài chứ bà không cung cấp thông tin gì khác. Đồng thời, bà cũng xác nhận là có viết thư vào ngày 18-8-2006 gửi tổng biên tập báo T., nội dung nhằm “cám ơn báo T. đã đăng đúng sự thật”. Bà chỉ gửi thư cho tổng biên tập báo T. chứ không gửi cho tờ báo nào khác, lại không xúc phạm gì đến ông K. nên bà không đồng ý bồi thường.

Tòa bác yêu cầu

Tháng 7 vừa qua, TAND quận 12 đã xử sơ thẩm, cho rằng nếu bà X. có đơn khiếu nại, cung cấp thông tin cho báo chí thì cũng là quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong trường hợp báo T. đăng sai sự thật thì ông K. có quyền yêu cầu báo T. xin lỗi, đính chính, bồi thường thiệt hại theo quy định.

Về bức thư 18-8-2006 của bà X. gửi tổng biên tập báo T., tòa nhận định dù có những câu chữ chưa đúng nhưng không có những lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của ông K. Đồng thời bà X. không phát tán nội dung thư cho những người khác mà chỉ gửi cho tổng biên tập báo T. Vì vậy việc này không ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông K.

Ngoài ra theo tòa, ông K. không cung cấp được chứng cứ chứng minh những thiệt hại thực tế mà ông phải gánh chịu, cũng như chi phí hợp lý để ngăn chặn thiệt hại. Ông K. cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh hành vi của bà X. là nguyên nhân dẫn đến các thiệt hại của ông.

Từ các phân tích trên, TAND quận 12 đã tuyên bác yêu cầu bồi thường của ông K. Ngay sau đó, ông K. đã làm đơn kháng cáo gửi TAND TP.

Quyền cung cấp thông tin cho báo chí

Vụ kiện trên tuy nhỏ nhưng đưa ra được khá nhiều khía cạnh pháp lý thú vị.

Một thẩm phán TAND TP.HCM nhận xét, vụ án xoay quanh ba vấn đề: quyền và trách nhiệm giữa công dân với cơ quan chức năng; công dân với cơ quan báo chí và báo chí với cơ quan chức năng. Nếu vụ án không được giải quyết thấu đáo thì e rằng sẽ tạo tiền lệ xấu như từ nay không ai dám cung cấp thông tin cho báo chí vì sợ bị kiện hoặc ngược lại, tha hồ đưa tin sai lệch, “mượn tay” báo chí bôi nhọ danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác.

Theo thẩm phán này, trước hết phải xem xét bài báo có liên quan. Nếu nội dung bài báo là đúng đắn thì việc ông K. khởi kiện tờ báo đã đưa tin là sai, chưa nói gì đến việc kiện bà X. Ngược lại, nếu bài báo viết không khách quan, sai sự thật thì thẩm phán này và nhiều chuyên gia khác cũng đồng tình rằng lẽ ra ông K. nên kiện tờ báo chứ không phải kiện bà X. Bởi thông tin cung cấp của bà X. chỉ là thông tin ban đầu. Tiếp nhận thông tin đó, tờ báo T. phải đi xác minh, tìm hiểu rồi mới chủ động quyết định có phản ánh hay không trước công luận.

Như vậy, tờ báo T. phải chịu trách nhiệm về chuyện này. Còn bà X. không thể buộc báo phải đăng thông tin bà cung cấp. Bà chỉ thực hiện quyền và trách nhiệm công dân của bà đối với những gì bà cho là không đúng, không hợp lý. Có thể những gì bà cung cấp là chưa đúng, chưa đủ nhưng đó là do những hạn chế trong việc thu thập chứng cứ, nhận xét sự việc của người dân bình thường. Vì thế bà mới gửi đơn nhờ báo, đài xác minh, làm rõ việc bà cho là sai trái…

Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin tới bạn đọc về kết quả phiên xử phúc thẩm.

Kiện cả báo

Ông K. đã nộp đơn khởi kiện đến TAND quận Tân Bình, đòi báo T. bồi thường 60 triệu đồng thiệt hại vật chất và tinh thần và đăng đính chính bài báo trên. Tòa án quận Tân Bình đã thụ lý nhưng sau đó chuyển hồ sơ ra Hà Nội vì tờ báo T. có trụ sở chính tại đây. Đến nay, vụ án này chưa được đưa ra xét xử.

Nguồn: Hoàng Yến-Báo Pháp Luật.TP-HCM

VỤ ÁN: CHỖ THOÁT NƯỚC MƯA

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ ba, 13/11/2007

Tòa chỉ dựa vào thông lệ để buộc một bên đập tường, lấy chỗ cho hàng xóm thoát nước mưa. Án tuyên không thực tế, thi hành án bó tay!

Nhà ông Nguyễn Đắc Diệp và nhà bà Đặng Thị Điểu liền kề nhau ở đường Nguyễn Trãi, phường 5, TP Tuy Hòa (Phú Yên). Lâu nay tình làng nghĩa xóm êm đẹp, nước mưa từ mái sau nhà bà Điểu vẫn đổ thoải mái sang khuôn viên đất trống nhà ông Diệp.

Mâu thuẫn giữa hai bên phát sinh từ năm 2004 khi ông Diệp xây sửa nhà. Ông vừa xây xong cũng là lúc bà Điểu phát đơn khiếu nại.

Đòi thoát nước mưa trên đất người khác

Theo đơn của bà Điểu, 20 năm trước, ông nội của ông Diệp có chừa 0,5 m đất từ phía vách hậu nhà bà để mái sau nhà bà thoát nước mưa.

Nay ông Diệp sửa lại nhà đã xây tường sát vách hậu nhà bà, khiến mái sau nhà bà không còn chỗ thoát nước mưa nữa. Do vậy, bà yêu cầu ông Diệp phải đập bỏ tường xây và phục hồi nguyên trạng.

Ông Diệp thì bảo vách tường này được xây trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của ông, được UBND tỉnh Phú Yên cấp “giấy hồng” năm 2003 (có chữ ký công nhận giáp ranh của các hộ liền kề, trong đó có cả bà Điểu). Dù vậy, trước khi sửa nhà ông vẫn qua nói chuyện với bà Điểu.

Hai bên thống nhất là ông chịu trách nhiệm làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước chảy bên hông nhà bà Điểu. Chẳng hiểu vì sao bà Điểu lại đổi ý, không chịu làm hệ thống thoát nước mưa nữa mà quay sang buộc ông trả lại hiện trạng ban đầu.

“Tôi đã đề xuất hướng giải quyết hợp lý mà bà ấy chẳng chịu. Chẳng lẽ đất của tôi mà lại phải để cho bà ấy sử dụng hay sao?” – ông Diệp bức xúc.

Xử theo thông lệ

Sau đó, dù chính quyền địa phương đã ba lần tổ chức hòa giải, động viên hai bên theo hướng ông Diệp làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước cho bà Điểu nhưng bà Điểu vẫn khăng khăng đòi đập bỏ tường nhà ông Diệp. Thế là vụ việc phải chuyển đến tòa án.

Tháng 6-2006, TAND TP Tuy Hòa cho rằng việc xây dựng vách tường nhà ông Diệp đã xâm hại đến quyền lợi của bà Điểu, khiến mái sau nhà bà Điểu không có chỗ thoát nước mưa nên tuyên buộc ông Diệp phải tháo dỡ vách tường này.

Ông Diệp kháng cáo. Sau đó, xử phúc thẩm, dù công nhận vách tường nằm trong phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Diệp, không lấn chiếm đất của bà Điểu nhưng TAND tỉnh Phú Yên bảo theo thông lệ địa phương, người dân thường làm mái ngói phía sau nhà kéo dài so với vách nhà ít nhất hai miếng ngói (khoảng 0,4 m) để thoát nước mưa.

Từ đó, TAND tỉnh Phú Yên đã y án sơ thẩm, quyết định cắt 0,4 m đất của ông Diệp để giao cho bà Điểu làm chỗ thoát nước mưa.

Có hợp tình hợp lý?

Luật hiện hành không có quy định nào buộc chủ sở hữu bất động sản liền kề phải cho nhà kế bên đổ nước mưa qua. Ngược lại, theo Điều 269 Bộ luật Dân sự, chủ sở hữu nhà có nghĩa vụ phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề.

Hơn nữa ở đây, nhà bà Điểu vẫn còn phương pháp thoát nước mưa khác là làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước, không phải chỉ có một cách bắt buộc duy nhất là cho đổ nước mưa xuống đất ông Diệp.

Đáng nói là phương án làm hệ thống máng này đã được ông Diệp đề nghị đứng ra lo liệu và bà Điểu từng đồng ý trước khi ông Diệp xây nhà.

Như vậy, phán quyết của cả hai cấp tòa đều chưa đúng quy định của Bộ luật Dân sự. Chưa kể việc TAND tỉnh Phú Yên dựa vào “thông lệ địa phương” thay cho luật để xét xử liệu đã đúng chưa bởi theo Điều 3 Bộ luật Dân sự, tòa án có thể áp dụng tập quán nhưng chỉ trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận, trong khi ở đây quy định thì đã có rồi.

Bế tắc, Thi hành án kiến nghị

Phán quyết của tòa không chỉ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của ông Diệp mà còn dẫn đến việc bản án đến nay vẫn không thể thi hành được.

Theo Thi hành án (THA) dân sự TP Tuy Hòa, nếu tháo gỡ vách tường nhà ông Diệp như bản án thì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu ngôi nhà, hậu quả là nhà có thể sập. Vậy mà khi xét xử, cả hai cấp tòa đều không xem xét đến việc tháo gỡ có ảnh hưởng đến những vật kiến trúc liên quan khác hay không.

Giả sử nếu cơ quan THA thẳng tay làm mà sập cả ngôi nhà của ông Diệp thì ai phải chịu trách nhiệm?

Bế tắc, tháng 1-2007, THA dân sự TP Tuy Hòa có công văn gửi TAND tỉnh Phú Yên đề nghị giải thích rõ các nội dung trên. Sau bốn tháng chờ đợi vẫn không nhận được văn bản hồi âm nên tháng 4, THA Dân sự TP Tuy Hòa phải kiến nghị Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét lại bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Phú Yên theo trình tự giám đốc thẩm.

Nguồn: Hoàng Văn-Báo Pháp Luật TP

HAI PHỤ NỮ 13 NĂM ĐI ĐÒI MỘ

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ ba, 11/09/2007

Đó là hai chị em bà Nguyễn Thị Tuyết Oanh – Nguyễn Thị Tuyết Khuê, trú ở phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội, đồng nguyên đơn trong vụ kiện dân sự khá hy hữu: Đòi nghĩa địa của dòng họ bị người khác chiếm dụng.

Qua gần chục phiên tòa (hai lần giám đốc thẩm), vụ án lại trở về điểm xuất phát. Suốt quá trình hồ sơ “ngâm” ở tòa và ngay cả khi bản án đã có hiệu lực thi hành, phía bị đơn vẫn liên tục xâm hại quyền lợi hợp pháp của phía nguyên đơn.

…Tại phòng tiếp bạn đọc báo Tiền phong, sau hơn 4 năm, tôi gặp lại hai phụ nữ vóc dáng bé nhỏ, ăn mặc lịch sự, nói năng nhỏ nhẹ.

“Tài sản” bà Oanh, bà Khuê khởi kiện để đòi lại bao gồm nhà thờ, nhà văn bia, gần ba mươi ngôi mộ, và dĩ nhiên là cả diện tích đất bao quanh các công trình kiến trúc đặc biệt ấy; toàn bộ khối tài sản hiện thuộc địa bàn phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Hơn 4 năm trước tôi đã nhận đơn, hồ sơ, và sau khi xác minh, đã viết bài về vụ kiện của họ. Bài báo có nhan đề “8 lần mở toà, vẫn chưa kết thúc?!” đăng trên Tiền phong số ra ngày 9/4/2003. Chuyện đáo tụng đình không tránh được phải nêu tên các cấp toà, ngày tháng xét xử, nội dung các bản án.

Vụ kiện của bà Oanh – bà Khuê được TAND TP Hà Nội xét xử sơ thẩm lần đầu ngày 21/8/1995, tức đến nay đã sang năm thứ 13. Phiên toà ấy đã bác bỏ hoàn toàn yêu cầu của bà Oanh – bà Khuê.

Hai bà chống án. TANDTC xử phúc thẩm ngày 10/5/1996, sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu đòi nhà thờ, nhà văn bia, còn thì bác các yêu cầu khác. Bà Oanh, bà Khuê tiếp tục khiếu nại.

Tòa thượng thẩm (Ủy ban thẩm phán TANDTC) họp ngày 11/9/1999, ra bản án giám đốc thẩm, tuyên hủy cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm, trả hồ sơ lại cho TAND TP Hà Nội xét xử theo hướng buộc phía bị đơn phải giao lại cho nguyên đơn ngoài nhà thờ, nhà văn bia, còn có các ngôi mộ, và một phần đất hợp lý trong khu nghĩa địa xưa để phía nguyên đơn có đường vào thăm viếng, hương khói các phần mộ ông bà tổ tiên.

Đường hướng của toà thượng thẩm hóa ra lại không dễ được tòa sơ thẩm chấp nhận. Hai lần TAND TP Hà Nội ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, hai lần bà Oanh, bà Khuê phải kháng án, và TANDTC phải vào cuộc để bác bỏ. Ngày 30/7/2002, TAND TP Hà Nội buộc phải mở phiên sơ thẩm lần hai (phiên toà thứ tám của vụ kiện), ra bản án theo hướng bản án giám đốc thẩm đã tuyên.

Ngày ấy, khi bà Oanh, bà Khuê tìm đến báo Tiền phong, phiên phúc thẩm lần hai sắp được mở theo đơn kháng án của họ. Điều hai bà lo lắng (đã được họ nêu trong đơn kháng án), đó là bản án của TAND TP Hà Nội không tuyên rõ ràng, chẳng hạn vị trí các ngôi mộ, rồi kích thước, vị trí các mô mốc để xác định các khoảng cách.

Mà không làm rõ được, thì không thi hành được án; gia đình, dòng họ bà Oanh, bà Khuê lại rơi vào cảnh không có đường vào các ngôi mộ, phía bị đơn tiếp tục có điều kiện xâm hại, chiếm dụng. Thực tế chứng minh vụ án càng kéo dài thì càng có thêm nhiều ngôi mộ của dòng họ bà Oanh bị các công trình kiến trúc từ tạm bợ đến kiên cố xây đè lên.

Bản án không thi hành được lại là cơ hội thuận lợi để phía bị đơn tiếp tục xây các công trình từ tạm bợ đến kiên cố… Bà Oanh, bà Khuê buốt ruột, không biết làm gì hơn ngoài việc gửi đơn khiếu nại đi các nơi.

Ngày 5/7/2006, TANDTC mở phiên giám đốc thẩm lần hai (lần này do Hội đồng thẩm phán xét xử), ra quyết định tuyên hủy các bản án trước đó để xét xử lại.

Quyết định này ghi: “Lẽ ra trường hợp phía bị đơn không hợp tác, cản trở tòa án xác minh, đo vẽ các diện tích nhà, đất, công trình kiến trúc, thì toà án phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, buộc giữ nguyên hiện trạng; có như vậy mới đảm bảo chính xác và đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự”.

Gặp PV Tiền phong lần này, bà Oanh bức xúc trình bày: “Chúng tôi mới mất thêm nhiều ngôi mộ do phía bị đơn xây nhà đè lên, còn nhiều ngôi mộ khác chúng tôi không thể hương khói được vì không có đường vào”.

Bà Khuê nói thêm: “Chúng tôi đến Công an quận Cầu Giấy trình báo, người ta yêu cầu phải có xác nhận của Công an phường Nghĩa Đô. Chúng tôi đến Công an phường Nghĩa Đô, họ nói để qua bầu cử đã. Qua bầu cử chúng tôi đến, họ nói lãnh đạo đi vắng”.

Bà Oanh buồn bã: “Nếu là tranh chấp đất đai thông thường, có lẽ chúng tôi đã bỏ cuộc. Nhưng đây là việc hiếu đễ, theo phong tục của người Việt Nam, còn sống ngày nào, chúng tôi vẫn còn phải theo ngày ấy”.

Vụ kiện của bà Oanh, bà Khuê sẽ kết thúc trong năm thứ 13 này, hay kéo sang năm thứ 14, 15, 16…? Dễ thấy nó càng kéo dài thì phía bị đơn càng lấn được nhiều đất, càng dễ hoà cả làng.

Còn người bị thiệt đâu chỉ có gia đình bà Oanh, bà Khuê, còn phải kể đến các cơ quan tố tụng nữa. Bởi những vụ án kiểu này càng kéo dài bao nhiêu thì niềm tin của người dân vào các cơ quan tố tụng càng giảm sút bấy nhiêu.

Nguồn: Đinh Anh Tuấn-Báo Tiền phong

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế.

Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp của GATT 1947 như: tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ; giải quyết tích cực các tranh chấp; cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa được phép của WTO. Nguyên tắc cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của hệ thống thương mại toàn cầu.

Những bài học từ vụ EC kiện Mỹ

Tuy nhiên, nguyên tắc này không bao hàm rõ ràng ý có cấm các nước thành viên không được đơn phương xác định các hành vi của nước thành viên khác có vi phạm các hiệp định của WTO hay không. Lợi dụng sự không rõ ràng này nên một số nước thành viên phát triển như Mỹ, EU vẫn tiếp tục đơn phương áp dụng các đạo luật của riêng mình như điều khoản Super 301 trong luật thương mại Mỹ hoặc quy định 384/96 của Hội đồng châu Âu để “kết án” và trừng phạt các nước thành viên WTO khác.

Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, quy chế ‘nhóm chuyên gia’ và cơ quan phúc thẩm thường trực

– Cơ quan giải quyết tranh chấp: Viết tắt theo tiếng Anh là DSB (Dispute Settlement Body) có quyền quyết định thành lập và thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia và nhóm phúc thẩm, giám sát việc thực hiện các quyết định về giải quyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hiệp định thương mại với một nước thành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt.

– Nhóm chuyên gia: Công việc chính về giải quyết tranh chấp do các nhóm chuyên gia thực hiện. Các nhóm chuyên gia này do DSB thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và giải thể sau khi kết thúc nhiệm vụ. Khác với cơ cấu nhóm chuyên gia thời kỳ GATT 1947 chủ yếu được ưu tiên lựa chọn trong các quan chức chính phủ các nước thành viên, nhóm chuyên gia thời WTO được ưu tiên lựa chọn trong số những chuyên gia (expert) độc lập, không làm việc cho chính phủ, có uy tín quốc tế về chính sách hoặc luật thương mại quốc tế. Thành phần của mỗi nhóm chuyên gia từ 3-5 người.

Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia là giúp cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO làm sáng tỏ nội dung tranh chấp và khuyến nghị một giải pháp để các bên hữu quan giải quyết tranh chấp của họ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan. Trong quá trình xem xét sự việc, nhóm chuyên gia có quyền tìm kiếm thông tin từ mọi nguồn và trưng cầu ý kiến giám định của các chuyên gia bên ngoài về những vấn đề kỹ thuật.

Toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp từ thời điểm các bên tranh chấp tự thương lượng với nhau cho đến khi nhóm chuyên gia đệ trình báo cáo lên DSB tối đa không quá một năm, trong đó thời gian kể từ thời điểm thành lập nhóm chuyên gia cho đến khi đệ trình báo cáo tối đa không quá sáu tháng.

Báo cáo của nhóm chuyên gia sẽ được gửi đến cho các bên tranh chấp trong vòng sáu tháng, trong trường hợp tranh chấp liên quan đến những hàng hoá dễ hư hỏng trong vòng ba tháng và gửi đến tất cả các thành viên của WTO sau đó ba tuần. Sau 60 ngày, báo cáo của nhóm chuyên gia sẽ tự động trở thành quyết định của DSB nếu không có sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên WTO, kể cả hai bên tranh chấp bác bỏ nội dung của báo cáo.

– Cơ quan phúc thẩm thường trực: Một trong những nét mới của bộ máy giải quyết tranh chấp của WTO là việc thành lập cơ quan phúc thẩm thường trực. Cơ quan này có 7 thành viên, do cơ quan giải quyết tranh chấp bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm, là những chuyên gia pháp lý và thương mại quốc tế có kinh nghiệm lâu năm. Cơ quan này có chức năng xem xét theo thủ tục “phúc thẩm” báo cáo của nhóm chuyên gia, theo đề nghị của một trong các bên tranh chấp.

Tuy nhiên, phạm vi ‘phúc thẩm’ chỉ áp dụng đối với những kết luận và giải thích pháp lý được đưa ra trong báo cáo của nhóm chuyên gia. Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ lập ra một nhóm phúc thẩm riêng biệt cho mỗi một vụ tranh chấp, bao gôm 3 thành viên. Nhóm phúc thẩm có thẩm quyền hoặc giữ nguyên, thay đổi hoặc huỷ bỏ những giải thích và kết luận pháp lý nêu trong báo cáo của nhóm chuyên gia.

Báo cáo của nhóm phúc thẩm sẽ được đệ trình lên DSB để thông qua. Việc thông qua báo cáo phúc thẩm được thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực và gần như mang tính chất tự động. Các bên tranh chấp có nghĩa vụ thực hiện vô điều kiện quyết định cuối cùng của DSB trên cơ sở báo cáo phúc thẩm. Thời hạn xem xét phúc thẩm là 60 ngày, có thể được gian hạn nhưng không quá 90 ngày.

Thực hiện quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp và áp dụng biện pháp trả đũa

Quyết định về giải quyết tranh chấp được DSB thông qua theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực có giá trị pháp lý và có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên tranh chấp. Thông thường thì bên thua kiện có nghĩa vụ bãi bỏ các quy định hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp mà nhóm chuyên gia kết luận là vi phạm điều khoản trong các hiệp định có liên quan của WTO.

Để bảo đảm là bên thua kiện sẽ thực hiện nghiêm túc quyết định của DSB và để tránh tình trạng ‘rơi vào im lặng’, WTO đề ra một cơ chế theo dõi và giám sát việc thực hiện quyết định trong vòng 30 ngày kể từ ngày thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia, bên thua kiện phải thông báo cho DSB biết về những biện pháp mà nước này dự định áp dụng để thực hiện khuyến nghị của nhóm chuyên gia.

Nếu nước này vì lý do nào đó không thể thực hiện ngay khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì DSB có thể cho phép nước này được thực hiện trong một thời hạn “hợp lý”. Và nếu trong thời hạn ‘hợp lý’ đó bên thua kiện vẫn không thể thực hiện được khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì nước này có nghĩa vụ thương lượng với bên thắng kiện về mức độ bồi thường thiệt hại, ví dụ như giảm thuế quan đối với một sản phẩm nào đó có lợi cho bên thắng kiện.

Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày chấm dứt thời hạn hợp lý, các bên tranh chấp không đạt được thoả thuận về mức độ bồi thường thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa, cụ thể là tạm ngưng việc cho bên thua kiện hưởng những nhân nhượng thuế quan hoặc tạm ngưng thực hiện những nghĩa vụ đối với bên thua kiện theo hiệp định có liên quan.

Biện pháp trả đũa phải tương ứng với mức độ thiệt hại và phải được thực hiện trong lĩnh vực (sector) thương mại mà bên thua kiện bị thiệt hại. Để bảo đảm tính hiệu quả của các biện pháp trả đũa và rút kinh nghiệm, WTO quy định trong trường hợp việc áp dụng biện pháp trả đũa mà lĩnh vực bị thiệt hại là không thực tế hoặc không có hiệu quả thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong một lĩnh vực khác (trả đũa chéo).

Chẳng hạn một nước đang phát triển sẽ khó có thể áp dụng một cách hiệu quả biện pháp trả đũa trong lĩnh vực thương mại hàng hoá đối với một nước phát triển nhưng nếu trả đũa trong lĩnh vực thương mại dịch vụ hoặc sở hữu trí tuệ thì có thể sẽ hiệu quả hơn. Hơn thế nữa, trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bên thắng kiện còn có thể yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong những lĩnh vực thuộc các hiệp định thương mại khác với hiệp định thương mại mà bên thua kiện vi phạm.

Tuy nhiên, để bảo đảm sự công bằng và trong trường hợp có tranh chấp về mức độ trả đũa, WTO cũng dành cho bên thua kiện quyền đưa tranh chấp nói trên ra giải quyết theo phương thức trọng tài. Quyết định trọng tài về vấn đề này là quyết định cuối cùng và có giá trị thi hành đối với tất cả các bên.

Các phương thức giải quyết tranh chấp khác

Ngoài cơ chế của DSB, các nước thành viên WTO còn có thể sử dụng những phương thức giải quyết tranh chấp khác trong Công pháp quốc tế như trọng tài liên quốc gia (interstate arbitration), trung gian (mediation) và hoà giải (conciliation). Điều 25 Thoả thuận DSU quy định các nước thành viên có thể giải quyết tranh chấp với nhau thông qua trọng tài đối với những tranh chấp nếu các nước này thoả thuận nhất trí sử dụng cơ chế này và chấp nhận tuân thủ quyết định của trọng tài.

Các nước cũng có thể sử dụng cơ chế trung gian hoặc hoà giải của một bên thứ ba. Riêng đối với những tranh chấp mà một bên là nước kém phát triển nhất thì Tổng giám đốc có thể đứng ra làm trung gian hoặc hoà giải.

Ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp chung ra, một số hiệp định thương mại đa biên của WTO cũng quy định những cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt. Ví dụ như Hiệp định về trợ cấp có quy định thủ tục riêng về giải quyết tranh chấp liên quan đến hàng dệt trước Cơ quan giám sát hàng dệt. Trong trường hợp các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt khác với những quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp chung thì những quy định trong cơ chế đặc biệt thắng thế.

Các nước đang phát triển và Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Mặc dù luôn chiếm đa số tại GATT, nhưng vì những lý do lịch sử (đa số các nước đang phát triển đã từng là thuộc địa của các nước phát triển) nên các nước đang phát triển thường có thái độ ‘nghi ngờ’ và ‘e dè’ đối với những cơ chế do các nước phương Tây đặt ra. Trong một nghiên cứu được công bố vào năm 1985, Uỷ ban thương mại quốc tế của Mỹ (USIC) đã chỉ ra một số nguyên nhân làm cho các nước đang phát triển ít sử dụng đến Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT:

-Thứ nhất, các nước đang phát triển không có đội ngũ chuyên gia pháp lý có chuyên môn và kinh nghiệm trong việc tham gia xử lý các tranh chấp thương mại quốc tế và cũng không có khả năng tài chính để đi thuê các chuyên gia phương Tây;

– Thứ hai, tâm lý lo sợ rằng nếu đi kiện cáo các nước phát triển thì có khi họ phải chịu thiệt nhiều hơn là được lợi, ‘chưa được vạ thì má đã sưng’. Sự phụ thuộc vào thị trường và các nguồn giúp đỡ về tài chính của phương Tây là một trong những lý do khiến các nước đang phát triển rất ngại va chạm với các nước phát triển và nếu có tranh chấp thì các nước này chủ trương xử lý song phương, kín đáo và thường là sẵn sàng nhượng bộ;

– Thứ ba, các nước đang phát triển nhận thức được rằng cho dù họ có thắng kiện và dám dũng cảm áp đặt các biện pháp trả đũa hợp pháp chăng nữa thì cũng không đem lại hiệu quả và có thể có một ảnh hưởng tích cực đến cách cư xử của các nước phát triển;

– Thứ tư, tuy tham gia GATT ngay từ khi mới thành lập, nhưng các nước đang phát triển vẫn còn giữ thái độ lưỡng lự trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Đa số các nước này cho rằng Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng chỉ là một trong những công cụ của các nước phương Tây sử dụng để ép buộc họ mở cửa thị trường.

Vì những lý do nói trên, quan điểm chung của các nước đang phát triển đối với Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT trong khoảng 30 năm (từ 1948-1979) là ‘phớt lờ’ cơ chế này. Trong khoảng thời gian này, số vụ kiện của các nước đang phát triển chỉ chiếm có 12% tổng số các vụ kiện tại GATT và đa số là kết thúc thông qua thương lượng trước khi nhóm chuyên gia của GATT thông qua báo cáo cuối cùng.

Chỉ đến thời kỳ sau Vòng Tokyo, các nước đang phát triển, đặc biệt là một số nước NIC như Brazil, Mexico, Ấn Độ, Argentina mới thực sự quan tâm và sử dụng thường xuyên hơn Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT. Sự thay đổi này xuất phát từ những lý do sau. Thứ nhất, sự giảm sút của thương mại thế giới những năm 1970 do tác động của hai cuộc khủng hoảng dầu lửa đã dẫn đến việc trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển.

Thứ hai, quá trình công nghiệp hoá tại một số nước đang phát triển đã đem lại những thành quả đầu tiên, nổi bật nhất là trong một số ngành sản xuất công nghiệp và chế biến, các nước NIC đã đạt được ưu thế cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của phương Tây và đã bắt đầu dư thừa năng lực sản xuất trong một số lĩnh vực như may mặc, điện tử dân dụng, thép.

Các nước này bắt đầu nhận thức được cần phải sử dụng nhiều công cụ để tiếp cận thị trường tiêu thụ của các nước phương Tây và khi cần thiết sử dụng cả Cơ chế giải quyết tranh chấp. Ngoài ra việc thành lập một Bộ phận pháp lý (Legal Office) trực thuộc Ban thư ký GATT đã giúp cung cấp những trợ giúp kỹ thuật có hiệu quả cho các nước đang phát triển trong việc nghiên cứu về cơ cấu thể chế và pháp lý của GATT và tư vấn pháp lý cho các nước này trong quá trình chuẩn bị các tài liệu và thủ tục khiếu kiện.

Trong vòng 15 năm (1979-1994), số lượng các vụ kiện của các nước đang phát triển chống lại các nước phát triển đã tăng lên đến 25% tổng số các vụ kiện tại GATT (25/117 vụ).

Ở Vòng đàm phán Uruguay, Brazil đã đưa ra đề nghị cần thiết phải áp dụng nguyên tắc đối xử đặc biệt đối với các nước đang phát triển khi áp dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT. Đề nghị này đã được chấp nhận và thể hiện trong Thoả thuận về Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO. Cụ thể như sau:

– Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Tổng giám đốc WTO đứng ra làm trung gian, hoà giải trong trường hợp có tranh chấp với nước phát triển;

– Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành viên là công dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quan không yêu cầu như vậy;

– Thời gian để giải quyết tranh chấp với các nước đang phát triển có thể được kéo dài hơn so với quy định chung;

– Các nước phát triển cần có thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả đũa với bên thua kiện là nước đang phát triển;

– Các nước phát triển có thể được phép áp dụng các biện pháp trả đũa chéo đối với bên thua kiện là nước phát triển;

– Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Ban Thư ký WTO trợ giúp pháp lý khi có tranh chấp;

– Các nước đang phát triển có thể áp dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp được Đại hội đồng GATT thông qua theo Quyết định ngày 5-4-1966.

Các nước đang phát triển đã nhanh chóng nhận thức được lợi ích từ việc sử dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và chỉ sau gần 5 năm, các nước đang phát triển đã trở thành nhóm các nước sử dụng nhiều nhất cơ chế giải quyết tranh chấp mới của WTO.

Tính đến ngày 31-12-1998, các nước đang phát triển dẫn đầu số lượng các vụ kiện (37%) nhiều hơn Mỹ (34%) và EU (21%) và 80% trong số đó kết thúc thắng lợi. Có thể nói Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được các nước đang phát triển sử dụng như một công cụ có hiệu quả để giải quyết tranh chấp thương mại với các nước phát triển. Và xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát triển tiến bộ theo hướng công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tếÁPO

NGUỒN: THUVIENPHAPLUAT.COM

AI BỒI THƯỜNG NGƯỜI SỬ DỤNG NƯỚC TƯƠNG UNG THƯ VÀ VÔ SINH DO THANH TRA CHẬM CÔNG BỐ?

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ sáu, 25/05/2007

* 69/213 mẫu kiểm nghiệm mới nhất trên cả nước có 3-MCPD
* Tác hại của 3-MCPD: gây ung thư và làm giảm khả năng sinh sản
* Bộ Y tế:
Chậm trễ công bố là do Thanh tra Sở Y tế TP.HCM
* Nam Dương thu hồi toàn bộ các sản phẩm nước tương truyền thống

Theo thông tin chúng tôi nắm được, kết quả kiểm nghiệm mới nhất về hàm lượng chất 3-MCPD có trong nước tương của các cơ sở sản xuất nước tương trên cả nước cho thấy: trong số 213 mẫu nước tương được gửi về kiểm nghiệm tại Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) từ tháng 1.2006 đến ngày 30.4.2007, thì có đến 69 mẫu “dính” hàm lượng chất 3-MCPD vượt mức cho phép (1mg/kg – theo tiêu chuẩn của Việt Nam)!

———————————————————————————–

Tác hại của chất 3-MCPD

3-MCPD là một dạng ô nhiễm của acid thủy phân protein thực vật có vị mặn, được sinh ra trong quá trình thủy phân các protein thực vật (như đậu tương) bằng HCl.

Theo tư liệu mà Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cập nhật được từ các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy:

1/ Thí nghiệm về tính độc hại của 3-MCPD bằng cách cho chuột cống uống 3-MCPD liên tục với liều 1 mg/kg thể trọng/ngày thì thấy tinh trùng giảm khả năng hoạt động và giảm khả năng sinh sản của chuột đực.

2/ Với liều từ 10 mg – 20 mg/kg thể trọng/ngày hoặc cao hơn sẽ gây tổn thương tinh hoàn chuột đực, biến đổi hình dạng tinh trùng, giảm khả năng sinh sản của con đực ở động vật có vú khác.

3/ Với liều 25 mg hoặc cao hơn liên quan đến tổn thương thần kinh trung ương. Với liều 30 mg/kg kéo dài trong 4 tuần sẽ làm tăng trọng lượng thận của chuột.

4/ Còn nghiên cứu tính gây độc và gây ung thư dài ngày trên chuột cống cho thấy, với liều 19 mg/kg thể trọng/ngày của chất 1,3 DCP (được hình thành từ 3-MCPD) đã gây khối u thận, gan, biểu mô miệng, lưỡi, tuyến giáp và biểu hiện ung thư do biến đổi gen…

————————————————————————————–

Mức vượt thấp nhất là 1,40 mg/kg và mức vượt cao nhất lên đến 3.029 mg/kg (nghĩa là vượt gấp hơn 3 ngàn lần so với mức cho phép!). Đáng chú ý hơn, một đề tài nghiên cứu, khảo sát của một thạc sĩ của Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) còn cho thấy sự hiện diện của chất 3-MCPD trong nước tương còn ghê gớm hơn nữa. Qua khảo sát nước tương của 41 cơ sở trên địa bàn TP.HCM thì có tới 33 mẫu nước tương có chất 3-MCPD vượt mức quy định từ 2 mg/kg – 55.000 mg/kg! trong số 8 mẫu còn lại đạt yêu cầu, chỉ có 2 mẫu nước tương của cơ sở trong nước (1 của tư nhân và 1 của liên doanh với nước ngoài), 6 mẫu còn lại thuộc về nước tương nhập khẩu!

Nhận định về tình trạng nước tương lưu hành trên thị trường có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép quá cao, bác sĩ Nguyễn Xuân Mai – Viện phó Viện Vệ sinh y tế công cộng (TP.HCM) nói: “Sở dĩ phần lớn nước tương có hàm lượng chất 3-MCPD vượt mức cho phép là vì các cơ sở sản xuất không chịu áp dụng quy trình sản xuất nước tương theo kiểu cổ truyền – là phương pháp lên men, bởi vì phương pháp này cho ra sản phẩm chậm. Để có sản phẩm nhanh, các cơ sở thường áp dụng phương pháp sản xuất dùng HCl (acid Chlohydric) để thủy phân, 3-MCPD sinh ra từ đó”.

Thực ra, không phải chất 3-MCPD được nói đến khi nước tương Chinsu bị nước ngoài phát hiện có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép vào tháng 7.2005, mà vào năm 2001 trong nước đã có cuộc thảo luận về loại chất này. Lẽ ra, từ đó cho đến nay đã 7 năm trôi qua, các nhà sản xuất phải ý thức được sự tác hại đến sức khỏe của hàng triệu người tiêu dùng khi hằng ngày phải dùng nước tương có hàm lượng 3-MCPD vượt mức quy định nhiều lần, tự biết mình cần phải thay đổi quy trình sản xuất, thì đến nay tình hình vẫn vậy! Thậm chí có loại nước tương, hàm lượng chất 3-MCPD năm sau còn cao hơn năm trước nhiều lần! Bác sĩ Nguyễn Xuân Mai cho rằng: “Đây là sự tham lam của các cơ sở, tham lam hơn khi họ dùng HCl dạng công nghiệp chứ không phải HCl dùng trong thực phẩm, điều đó càng độc hại hơn cho người sử dụng, bởi HCl dạng công nghiệp có nhiều tạp chất!”.

Bên cạnh việc nhiều cơ sở không đặt lợi ích sức khỏe người tiêu dùng lên hàng đầu để làm ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh, thì cơ quan quản lý cũng vậy. Lẽ ra cơ quan chức năng phải sớm công bố rộng rãi thông tin về những sản phẩm không đạt chuẩn, để người tiêu dùng biết mà tránh, thì lại giấu giếm kết quả kiểm tra! Cụ thể, trong quý 3 năm 2005, Thanh tra Sở Y tế TP.HCM đã kiểm tra 30 cơ sở sản xuất nước tương, thì có đến 20 cơ sở có nước tương chứa hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép, vậy mà không ai biết!

Chính vì cơ quan chức năng không công bố rộng rãi thông tin, điều đó đã tạo sự “lờn mặt” cho các cơ sở sản xuất, nên nhiều cơ sở vẫn không cải thiện, tiếp tục vi phạm. Chỉ tội nghiệp người tiêu dùng “lãnh” lấy hậu quả lâu dài! Hôm qua, khi đọc thông tin về nước tương trên Báo Thanh Niên , chị P. (ngụ ở Q.4, TP.HCM) đã gọi điện cho chúng tôi tỏ ra lo lắng: “Nhà sản xuất và cơ quan chức năng phải có biện pháp thế nào, chứ để tình trạng nước tương thế này, thì người tiêu dùng chúng tôi rất lo lắng khi phải sử dụng mỗi ngày…!”.

Bộ Y tế: Chậm trễ công bố là do Thanh tra Sở Y tế TP.HCM

Việc kiểm tra các cơ sở sản xuất nước tương đã được Sở Y tế TP.HCM thực hiện từ cuối năm 2006 và mẫu cuối cùng thực hiện vào ngày 2.3.2007. Tuy nhiên, thời điểm cuối tháng 3.2007, Bộ Y tế đã nhận được thông tin “cơ quan kiểm nghiệm và Thanh tra Sở Y tế từ chối cung cấp có bao nhiêu cơ sở sản xuất nước tương bị phát hiện hàm lượng chất 3-MCPD cao quá mức cho phép”.

Vì vậy, ngày 26.3, Thanh tra Bộ Y tế đã có văn bản gửi Chánh thanh tra Sở Y tế TP.HCM đề nghị: “Để kịp thời đánh giá thực trạng việc chấp hành các quy định của Bộ Y tế đối với các cơ sở sản xuất nước tương tại TP.HCM cũng như thông tin cần thiết để trả lời báo chí và lãnh đạo Bộ Y tế, đề nghị đồng chí Chánh thanh tra Sở Y tế báo cáo cụ thể về Thanh tra Bộ kết quả thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở sản xuất nước tương trên địa bàn TP.HCM trong thời gian qua”.

Cũng trong văn bản này, Thanh tra Bộ nêu rõ: “Đối với việc công bố các cơ sở vi phạm hành chính đã bị xử lý theo quy định hiện hành cho cơ quan báo chí, đề nghị Thanh tra Sở Y tế báo cáo với lãnh đạo Sở trước khi cung cấp thông tin. Thanh tra Bộ xin lưu ý: nếu hết thời hạn khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở vi phạm theo quy định của pháp luật kể từ ngày ban hành quyết định thì Thanh tra Sở có trách nhiệm phải cung cấp thông tin khi cơ quan báo chí yêu cầu”. Tuy nhiên, Thanh tra Bộå cho biết: phải đến hơn một tháng sau, đầu tháng 5 vừa rồi mới nhận được báo cáo kết quả thanh tra các cơ sở sản xuất nước tương tàu vị yểu của Thanh tra Sở Y tế (văn bản ngày 7.5.2007).

Trả lời câu hỏi về chất lượng của nước tương Chinsu (Công ty Vitec food), Thanh tra Bộ Y tế cho biết: thời điểm 2005, kiểm tra lần một, công ty này vi phạm và đã xử phạt, lần hai tái kiểm tra đã đạt tiêu chuẩn. Trong năm 2006, công ty này đã liên tục chủ động lấy mẫu xét nghiệm theo lô, báo cáo kết quả, có thay đổi dây chuyền công nghệ mới và đã đạt tiêu chuẩn cho phép.

Một chuyên gia cho rằng: việc kiểm tra nhắc nhở các công ty có sản phẩm chưa đạt chuẩn là rất cần thiết và cần công khai sản phẩm không đạt để người tiêu dùng lựa chọn. Đồng thời, khi doanh nghiệp có khắc phục cũng cần thông tin công khai. Chỉ khi thông tin đầy đủ, chính xác thì người tiêu dùng mới có cơ hội được sử dụng sản phẩm an toàn.

Theo ông Nguyễn Thanh Phong, Phó cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, các địa phương hoàn toàn có quyền chủ động về thông tin kết quả thanh kiểm tra. Vừa qua, Hà Nội cũng đã rất chủ động trong việc công bố lịch kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm để báo chí tham gia trực tiếp. Với các sản phẩm nước tương đã phát hiện không đạt tiêu chuẩn, cần thu hồi và cấm lưu hành. Các cơ sở có sản phẩm này cần phải thay đổi quy trình sản xuất, sản phẩm chỉ được phép lưu hành trở lại khi đã đạt tiêu chuẩn cho phép. Cơ quan chức năng cũng cần tăng cường lấy mẫu bất kỳ, ngẫu nhiên để xét nghiệm và còn phải kiểm tra điều kiện vệ sinh nhà xưởng…

Nguồn: Thanh Tùng-LiênChâu – Báo Thanh niên

MỘT CÔ DÂU VIỆT CÓ THỂ KHÔNG ĐÒI ĐƯỢC HAI CON

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ ba, 24/07/2007

——————————————————————————-

Chuyện của Hà

Ngày 9-7-2007, báo điện tử www.hani.co.kr đăng bài của tác giả Kim Nam Il “Bản tố cáo của một cô dâu Việt”, viết về trường hợp một cô gái VN lấy chồng Hàn Quốc, sau khi sinh hai con mới phát hiện mình chỉ là công cụ đẻ thuê.

Đau đớn vì mất con, vì bị lừa gạt, không chốn nương thân giữa xứ người, cô tìm đến Trung tâm Hỗ trợ người lao động nước ngoài ở Seoul. Tại đó, luật sư So Ra Mi đã nhận lời giúp cô tìm lại con của mình. Nhà báo Kim Nam Il gọi cô gái là Thu Hà (đã được đổi tên).

Chồng Hà là một người đàn ông HQ đã 47 tuổi, có một đời vợ nhưng không có con cái. Kết hôn được một tháng Hà có thai. Hai lần sinh hai đứa con chồng Hà đều giấu đi. Sau đó ông ta ép Hà ly hôn và từ bỏ quyền làm mẹ.

Sau khi bài báo về thân phận của Hà được đăng tải, dư luận HQ rất phẫn nộ, họ cho rằng đây là vụ lừa đảo đầu tiên và người phụ nữ đã bị coi như một thứ công cụ sinh sản.

———————————————————————————–

– Cuộc gặp dự kiến diễn ra ngày 19-7 giữa cô dâu Thu Hà bị lấy mất con với người chồng lừa đảo đã không được tổ chức. Theo bà So Ra Mi, luật sư của Đoàn luật sư công ích Gonggam, cuộc gặp không còn cần thiết vì người chồng đã thú nhận sắp đặt mọi chuyện để sử dụng nạn nhân Thu Hà như công cụ đẻ thuê.

CTV báo Tuổi Trẻ tại Seoul (Hàn Quốc) đã có cuộc gặp luật sư So Ra Mi – người đang đại diện cho quyền lợi

Luật sư So Ra Mi tại văn phòng – Ảnh: Kiều Oanh

của Thu Hà.

* Với diễn tiến như vậy, xin luật sư cho biết bao giờ mới mở phiên tòa?

– Thông thường sau khi đã nhận đơn và thu thập các bằng chứng thì để phán xử cũng phải mất mấy tháng.

* Bà đã đảm nhận giúp đỡ về mặt pháp lý cho Hà trong hoàn cảnh nào?

– Chính từ Trung tâm Hỗ trợ người nước ngoài. Hà đã đến đó nhờ can thiệp, họ liên hệ đoàn luật sư Gonggam và tôi đã nhận bảo vệ Hà.

* Theo luật sư, có bao nhiêu phần trăm khả năng Hà đòi lại được con?

– Đòi lại con không phải là chuyện dễ mặc dù chồng Thu Hà thú nhận đã lừa cô để có con. Bởi vì về điều kiện nuôi dưỡng con cái thì anh ta có lợi thế hơn.

Thứ nhất: Luật pháp sẽ xem xét khía cạnh việc nuôi con là vấn đề quan trọng, ai là người nuôi những đứa trẻ thì tốt hơn cho chúng. Nếu xét hoàn cảnh bây giờ, người đang nuôi đứa bé sẽ nuôi tốt hơn vì tình trạng kinh tế của Hà không ổn định, hơn nữa cô ấy không biết tiếng Hàn Quốc (HQ), chưa phải là công dân HQ. Hai đứa trẻ đã có quốc tịch HQ và cũng chính là con của chồng Hà nên điều kiện chăm sóc sẽ tốt hơn.

Thứ hai: Những đứa bé này đang ở trong môi trường ổn định như vậy, nếu đột nhiên lại thay đổi hoàn cảnh chúng có thể bị sốc hoặc stress. Ví dụ nếu Hà không đòi được con thì cô ấy vẫn có thể đòi quyền thăm nom con định kỳ và sẽ được bồi thường về mặt dân sự.

Tuy nhiên, đó chỉ là những phỏng đoán về phía luật sư thôi. Còn tất cả phải đợi vào sự phán xử của luật pháp.

* Theo luật HQ, chồng Hà có thể bị hình phạt nào?

– Luật pháp HQ hiện nay chưa có khung hình phạt nào với chồng Hà. Tuy nhiên anh ta sẽ phải bồi thường cho Hà về mặt dân sự khi đem ra tòa xử.

* Bà có cảm thấy như thế là bất công cho Hà không?

– Vì tòa án vẫn chưa xử nên tôi không thể nói gì hơn được.

* Là luật sư chuyên bảo vệ phụ nữ, bà mong muốn điều gì trong trường hợp của Hà?

– HQ nên có thêm nhiều luật mới để đưa ra hình phạt đối với những đối tượng như chồng của Hà nhằm ngăn chặn tổn hại cho các cô dâu nước ngoài. Tôi mong rằng Chính phủ HQ và VN hợp tác với nhau nhiều hơn nữa nhằm giúp các cô dâu Việt biết nhiều thông tin về HQ hơn để khỏi bị sốc trước đời sống văn hóa xã hội mới. Và một điều rất quan trọng là cả hai bên phải đứng ra ngăn chặn tình trạng môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Ở đây nó gần như là lừa đảo: chẳng hạn như vị hôn phu HQ tâm thần có vấn đề nhưng trung tâm môi giới hôn nhân lại ém nhẹm, rồi vị hôn phu không có công ăn việc làm ổn định nhưng lại nói là có việc làm tốt. Đại loại như là nói tốt quá sự thật về các ông chồng Hàn khiến các cô dâu Việt tin là thật dẫn đến những trường hợp đau lòng như của Hà.

Qua vấn đề của Hà cần phải cho dư luận VN biết nhiều hơn nữa về việc lấy chồng nước ngoài để có những cảnh báo cho các cô gái. Trường hợp của Hà là trường hợp cô dâu Việt đầu tiên ở HQ mà tôi đảm nhiệm và cũng là trường hợp đặc biệt ở chỗ cô dâu Việt bị lừa thành công cụ đẻ thuê.

* Bà có thể cho biết tình trạng của Hà hiện nay ra sao?

– Tình trạng của Hà khi tôi gặp là rất nghiêm trọng. Hà kể chuyện cho tôi nghe và khóc suốt. Tinh thần của cô ấy vô cùng yếu đuối. Cô rất nhớ các con của mình. Chồng Hà cũng là người đàn ông đầu tiên của cô ấy. Hà không muốn phải chia tay nhưng chồng Hà đã đẩy Hà vào tình trạng bi đát này. Hiện tại, nếu bên cạnh Hà có gia đình hay bạn bè thường xuyên thăm hỏi, động viên giúp đỡ cô sẽ nhanh bình phục hơn.

* Bà suy nghĩ như thế nào về các cô dâu VN hiện đang sinh sống tại HQ? Bà có lời khuyên nào cho họ?

– Các cô dâu VN hay các cô dâu nước ngoài khác khi lựa chọn lấy chồng HQ đều mong muốn cuộc sống tốt hơn, tìm được hạnh phúc. Tuy nhiên việc lấy chồng và sống ở HQ không phải là điều dễ dàng. Nếu lấy được một người chồng tốt biết chăm lo sẽ đỡ khổ. Nhưng nếu không may lấy phải người chồng như trường hợp của Hà thì chắc chắn sẽ khổ hơn so với ở nhà. Chính vì vậy các cô dâu VN phải cố gắng gấp nhiều lần so với hồi sống ở trong nước và sẽ phải chịu rất nhiều thiệt thòi. Chẳng hạn như nếu nhỡ xảy ra việc khó khăn sẽ không có nơi nương tựa, không có ai để giúp đỡ.

Lời khuyên cho các cô dâu Việt trước khi lấy chồng Hàn phải suy nghĩ thật kỹ càng. Bình thường nếu lấy chồng trong nước phải suy nghĩ một lần thì lấy chồng Hàn phải suy nghĩ tới 10 lần. Thứ hai nữa là phải vô cùng cố gắng, nếu bản thân mình không cố gắng, mạnh mẽ lên trong mọi trường hợp thì việc sống ở HQ quả là một khó khăn. Và đặc biệt các cô dâu Việt cần phải biết nhiều thông tin về luật hôn nhân gia đình hơn để chẳng may nếu có xảy ra vấn đề như trường hợp của Hà, sự am hiểu về luật pháp sẽ giúp các cô dâu tránh khỏi những thiệt thòi.

Nguồn: HOÀNG ĐIỆP – KIỀU OANH (thực hiện từ Seoul) – BÁO TUỔI TRẺ

THIỆT HẠI VÌ ĐÀO ĐƯỜNG

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ bảy, 26/05/2007

Sở Giao thông công chánh TP.HCM thông báo: Tạm ngưng thi công đào đường để lắp đặt các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn Thành phố trong thời gian từ ngày 15/5/2007 đến hết ngày 20/5/2007 (ngoại trừ Dự án Vệ sinh Môi Trường Thành phố – lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Dự án Cải thiện môi trường và Đại lộ Đông Tây, Dự án Nâng cấp mở rộng đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Nguyễn Văn Trỗi). Thế nhưng….

Thiệt hại biết kiện ai?

Chính thông báo này của Sở Giao thông Công chánh TP.HCM (SGTCC) đã làm cơ sở “pháp lý” cho những đơn vị thi công được phép đủng đà đủng đỉnh trong các dự án được ngoại trừ nêu trên.

Chính sự ngoại trừ này mà khi báo chí lên tiếng phản ánh những bức xúc của người dân thì không một ai lên tiếng chịu trách nhiệm. Đường Trần Đình Xu – Q.1 bị đào xới lên đã 7 tháng nay nhưng công trình này vẫn còn kéo dài chưa biết đến bao giờ xong.

Tiến độ thi công rùa bò như vậy làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của người dân.

Chị T – chủ một quán cơm trên đường Trần Đình Xu cho biết: “Tôi không biết đến bao giờ công trình cải tạo hệ thống thoát nước này xong, nhưng bảy tháng nay doanh thu của chúng tôi giảm 50%”.

Kế bên là câu lạc bộ bi-da máy lạnh, chủ nhân đầu tư vài trăm triệu nhưng 7 tháng nay chẳng có khách nào đến chơi vì đường vào bị đào xới lung tung, ngổn ngang ống cống với xe cuốc xe ủi…

Đối diện là nhà in báo Công an Nhân dân, 7 tháng nay ban giám đốc của nhà máy này phải dời cơ sở in đi chỗ khác vì xe chở giấy không vào được…

Tất cả những cơ sở kinh doanh này đều thiệt hại nặng nề nhưng họ không biết kiện ai vì công trình là của Nhà nước, khiếu nại đến Ban quản lý công trường thì ở đâu cũng gặp sự im lặng.

Nếu có trả lời thì đó là một lời hứa kiểu tiếp thu ý kiến, rồi người dân cứ dài cổ chờ và chờ. Một chủ nhà trên đường Nguyễn Văn Trỗi bức xúc nói:

“Tháng trước tôi xây nhà, chỉ vài viên gạch lấn ra lề đường lập tức chính quyền địa phương đến lập biên bản và xử phạt. Nay trước nhà tôi họ đổ hàng đống gạch cát, xà-bần, đào hố rồi để đó, con tôi bị sụp hố gãy chân không thấy cơ quan nào xử phạt họ cả, và tôi cũng chẳng biết bắt đền ai?”.

Khách sạn Quê Hương II nằm trên đường Hàm Nghi – Q1. Khi các cơ quan có quyền đào đường đào một cái hố to đùng tại ngã tư Hàm Nghi – Lê Công Kiều là đồng nghĩa với việc bít lối vào khách sạn – vì đây là đoạn đường một chiều. Hiện nay khách muốn vào khách sạn thì phải điu ngược chiều từ ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Hàm Nghi, nên khách sạn rất vắng khách.

Quản lý khách sạn cho chúng tôi xem một hợp đồng của đoàn tham quan du lịch Thụy Sĩ gồm 40 người, lưu trú 12 gnày.

Khi họ đến nhận phòng, họ phải đi qua bảng cấm của luật giao thông đường bộ nên trưởng đoàn lắc đầu từ chối và yêu cầu khách sạn hủy hợp đồng, bồi thường hợp đồng với lời trách cứ là khách sạn lừa dối họ vì trong hợp đồng không nói rõ là khạch sạn không có đường vào?!

Tất nhiên là khách du lịch có lý vì thực tế họ phải đi ngược nhiều, phần thiệt hại thì khách sạn chịu nhưng không biết thưa kiện ai.

Được biết công trình này kéo dài hơn một năm và số lượng khách của khách sạn giảm hơn 50%. Một thiệt hại không thống kê được của những người dân bị thiệt hại khi có công trình đào đường ngang qua nhà mình là thiệt hại vô hình. Ví dụ của khách sạn Quê Hương là một điển hình về uy tín, danh dự trong giao dịch kinh doanh…

Bao giờ có chề tài?

Thêm nhiều công trình khác của TP.HCM đã, đang và sẽ được khởi công. Tuy nhiên hiện tượng ngành cầu đường lấp lại, rồi ngành cấp thoát nước đào lên, lấp lại đã giảm nhưng đào đường của TP.HCM chuyển sang giai đoạn vĩ mô hơn.

Các công trình đào đường hiện nay đều tập trung vào những trục lộ chính, những khu dân cư đông đúc để phục vụ cho những công trình thế kỷ như: Dự án Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Đại Lộ Đông Tây, Cải tạo môi trường… nhưng cơ quan chức năng làm việc chồng chéo nên gây ra cảnh đào đường kéo dài.

Ví dụ công trình thay hệ thống cống cấp II và cấp III để giảm úng ngập khu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Công trình có thời gian thi công 1085 ngày, sau lễ khởi công 40 ngày thì nhà thầu phải bắt tay vào thi công. Lễ khởi công diễn ra thật rầm rộ, sau 40 ngày đơn vị thi công không thể thi công được vì cậnt ết Nguyên đán 2007 nên Sở GTCC ra thông báo cấm đào đường.

Chính vậy nên công trình kéo dài ra thêm một thời gian nữa?! Kế tiếp là thông báo dọn dẹp công trình cho gọn gàng để kỷ niệm 32 năm ngày giải phóng miền Nam, rồi dọn dẹp tạo lề thông hè thoáng cho bầu cử Quốc hội… Sắp tới sẽ là lễ Quốc khánh, rồi Tết Nguyên đán – điệp khúc thông báo dọn dẹp cứ vang lên mãi nhưng đường thì ngày càng bị đào nhiều nơi gây thiệt hại cho người dân, làm mất mỹ quan thành phố.

Chưa có một văn bản qui phạm pháp luật nào bắt buộc các đơn vị thi công phải thực hiện đúng thời gian, nếu vi phạm sẽ bị phạt, gây thiệt hại phải bồi thường. Có chăng là những cách xử phạt lấy lệ để xoa dịu dư luận và báo cáo thành tích. Số tiền xử phạt ngày càng tăng nhưng tất cả đều được các bên (bên phạt và bị phạt) xí xóa quyết toán vào chi phí đầu tư nên pháp luật không có hiệu lực trong trường hợp này.

Một phiên tòa xử thắng kiện cho những người bị thiệt hại vật chất, tính mạng do đào đường gây nên? Phiên tòa ấy còn nằm trong kơ và thực tế vẫn diễn ra gây thiệt hại vô cùng cho người dân.

Nguồn: Ngọc Long-Báo Pháp Luật Việt Nam

CLICK ĐỂ TRA CỨU THÔNG TIN TRÊN CIVILLAWINFOR BẰNG GOOGLE

image

CLICK ĐỂ TRA CỨU THÔNG TIN TRÊN CIVILLAWINFOR BẰNG GOOGLE

image