CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

LG. NGÔ NGỌC BỬU – TS. TRẦN ĐÌNH PHỤNG

Kinh nghiệm và những bài học quốc tế ngày nay không còn giấu giếm như trước kia mà được phổ biến, đánh giá và công bố rộng rãi trên toàn thế giới. Chỉ e rằng chúng ta không đủ kiên nhẫn và năng lực tiếp nhận để lãnh hội được những kinh nghiệm quý báu ấy; nhất là trong việc sửa đổi cho đồng bộ thể chế hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại theo tiêu chuẩn WTO, sao cho không chồng chéo lên nhau, để tránh những khó khăn khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại quốc nội cũng như quốc tế.

Định chế hợp đồng bắt nguồn từ luật La Mã và sau này làm các quốc gia châu Au trong hệ thống luật dân sự đã bổ sung và nâng cao để làm rạng rỡ thêm cho nền pháp chế châu Au lục địa. Theo luật La Mã, hợp đồng (Contratus) được coi là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật với 2 điều kiện không thể thiếu là: (1) Phải có sự thỏa thuận (Consensus), tức là có sự thống nhất giữa các bên kết ước và bình đẳng về pháp lý; (2) Phải có mục đích và căn cứ pháp lý nhất định (Causa) để các bên cùng hướng tới. Và, hợp đồng là phương tiện để đạt được các mục đích đó. Mặt khác, hợp đồng sẽ không có hiệu lực nếu nội dung của nó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội, ví dụ như hợp đồng vận chuyển chất ma túy, mua bán trẻ em… Pháp là quốc gia đã giúp cho hệ thống dân luật châu Au ngày càng đâm hoa kết trái bởi Bộ luật dân sự (Code Civil) năm 1804, dưới thời vua Napoléon, với một số điều khoản mà cho đến nay, 200 năm sau, vẫn còn có giá trị pháp lý, kế thừa tinh hoa của nhân loại, Bộ luật dân sự Việt Nam đã thể hiện tương đối đầy đủ khái niệm hợp đồng, là “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (điều 394 BLDS) và một số những nguyên tắc như giao kết, thể lệ chấm dứt, sửa đổi hợp đồng… đồng thời luật này cũng đưa ra 13 loại hợp đồng là: hợp đồng mua bán tài sản, trao đổi, tăng, thuê, vay tài sản… là các điều khoản phù hợp với quan hệ dân sự thuần túy; nhưng đồng thời Luật dân sự VN cũng xếp hợp đồng vận chuyển hành khách (đường bộ, đường biển) và hợp đồng bảo hiểm thuộc quan hệ dân sự; trong khi đó, theo luật  mẫu của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về hành vi thương mại có quy định rằng “cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, đường bộ, đường biển và hàng không” là những hành vi thương mại thuần túy, do thể chế thương mại của mỗi quốc gia và thể lệ quốc tế về thương mại điều chỉnh, kể cả việc giải quyết tranh tụng cũng đưa ra xét xử trước tòa án thương mại của mỗi nước hoặc do trọng tài thương mại quốc tế đưa ra xét xử trước tòa án thương mại của mỗi nước hoặc do trọng tài thương mại quốc tế phân xử trong khuôn khổ WTO. 

Sự chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu vắng thể chế 

Mặc dù định chế hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự hiện hành đã có phần nào phản ảnh đúng các mối quan hệ về tài sản, về quyền sở hữu, các quyền liên quan đến thân nhân con người, như nghĩa vụ hôn nhân, cho, nhận tài sản… Những quyền này đi theo cái bóng của thể nhân từ lúc con người mới sinh ra cho đến tuổi già với thể lệ lập di chúc và phân chia tài sản không di chúc. Nói chung là Bộ luật dân sự đã đi vào cuộc sống của mỗi công dân VN và cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên đất nước này, từ khi luật ra đời năm 1996 cho đến nay. Nhưng, trước ngưỡng cửa của việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, một số điều khoản trong hệ thống Luật dân sự, pháp chế về kinh tế và Luật thương mại hiện hành cần phải được chỉnh sửa cho phù hợp với thông lệ quốc tế và tương ứng với thể lệ của WTO; vậy đâu là những chồng chéo, mâu thuẫn cần phải chỉnh sửa? Đâu là những bánh xe thương mại đã đem gắn vào chiếc xe dân sự, nên cần phải thay đổi; không chỉ trong tầm nhìn luật pháp mà còn phải tác động đến bộ máy quản lý hành chính và cung cách kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước chủ đạo, độc quyền nói riêng, trên tiến trình hội nhập? Tác giả xin nêu lên một số ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề. 

1. Về hợp đồng vay tiền ngân hàng thương mại, trong 13 thể lệ hợp đồng của BLDS không có nói đến hợp đồng này, cũng không có định danh trong luật thương mại 1998; nên tòa án nhân dân các cấp hiện nay có 2 cách giải quyết tranh chấp hợp đồng vay ngân hàng là: (1) Nếu hai bên ký kết hợp đồng  là chủ thể có đăng ký kinh doanh, thì Tòa kinh tế thụ lý, phân xử; (2) Nếu một bên hợp đồng vay là cá nhân (không đăng ký kinh doanh), thì dù cho số tiền vay là nhiều hay ít, tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa dân sự. Trong khi đó, theo thể chế của WTO, thì tất cả hoạt động ngân hàng là hành vi thương mại nếu có tranh chấp hợp đồng thì phải do tòa án thương mại quốc gia hoặc trọng tài quốc tế giải quyết. Còn định chế tòa án thương mại VN cho đến nay vẫn còn trong thời kỳ thai nghén, chưa ra đời. Ở đây, chúng ta mới bàn đến việc giải quyết tranh chấp trong nước, còn đối với những tranh chấp về tài sản, về hợp đồng và quan hệ đa phương có tầm vóc quốc tế với nhiều thủ tục và thể chế áp dụng, chúng ta sẽ còn quá nhiều công việc phải làm, như trong ví dụ dưới đây. 

2. Một quả phụ Ấn Độ là vợ của một thương nhân người Ấn đã hợp đồng liên  doanh với một công ty vận tải biển VN hơn 10 năm qua. Trong thời gian ở VN, ông này cưới vợ VN, có 1 căn nhà tọa lạc tại quận 1, TP.HCM để cho vợ và 3 đứa con người vợ VN sinh ra cùng ở đây. Nay thương nhân người Ấn chết, để lại nhiều tài sản, tiền bạc tại VN trong đó có 2 chiếc tàu vận tải và hợp đồng liên doanh chưa được thanh lý. Quả phụ Ấn Độ nộp đơn tại tòa án TP.HCM (là nơi tọa lạc bất động sản) để xin tòa xét xử cho bà này được hưởng thừa kế tài sản của chồng, theo luật Hồi giáo (luật công nhận chế độ đa thê). Trong trường hợp này, tòa án nào tại VN sẽ thụ lý và giải quyết về tài sản và hợp đồng liên doanh của thương nhân Ấn Độ? Và phân xử theo luật lệ nào? 

Kinh nghiệm nước ngoài 

VN ta bên cạnh Trung Quốc và quốc gia này đã là thành viên chính thức của WTO từ tháng 12.2001. Liệu chúng ta thu thập được những kinh nghiệm nào của quốc gia có hơn 1,3 tỷ dân này? “Thật là thú vị khi xem xét làm thế nào để việc Trung Quốc gia nhập WTO có thể phù hợp với 5 nguyên tắc cơ bản của GATT và WTO là: (1) Không phân biệt đối xử; (2) Mở cửa thị trường; (3) Pháp luật minh bạch và có thể dự đoán được; (4) Thương mại không bị bóp méo; (5) Đối xử ưu đãi với các nước đang phát triển… Đầu tiên, việc gia nhập WTO sẽ buộc Trung Quốc phải thực hiện những cải cách pháp lý và chính sách quản lý nhà nước, đảm bảo sự minh bạch hơn và an toàn hơn một cách nhất quán ở cấp độ quốc tế, Trung Quốc đã cải cách đáng kinh ngạc trong 20 năm qua…” (trích bài phát biểu của Jefrey L.Gertler, cố vấn  cao cấp Ban thư ký WTO ngày 6.6.2003 tại TP.HCM). Kinh nghiệm và những bài học quốc tế ngày nay không còn giấu giếm như trước kia mà được phổ biến, đánh giá và công bố rộng rãi trên toàn thế giới. Chỉ e rằng chúng ta không đủ kiên nhẫn và năng lực tiếp nhận để lãnh hội được những kinh nghiệm quý báu ấy; nhất là trong việc sửa đổi cho đồng bộ thể chế hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại theo tiêu chuẩn WTO, sao cho không chồng chéo lên nhau, để tránh những khó khăn khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại quốc nội cũng như quốc tế. 

Giải pháp  

Trước đây, Bộ chính trị đã định hướng cho phái đoàn thương thuyết Hiệp định thương mại Việt-Mỹ là đàm phán trên cơ sở của WTO, thì nay ta sửa đổi hợp đồng dân sự của Bộ luật dân sự cũng lấy nền tảng WTO làm phương hướng. Nghĩa là, loại hợp đồng nào đã được xếp hạng trong hợp đồng thương mại thì không tồn tại trong thể chế hợp đồng dân sự; hoặc có quan hệ xã hội hiện nay không nằm trong Luật thương mại, cũng không định danh trong Luật dân sự hay kinh tế, thì phải cố gắng tìm tòi, nghiên cứu để đưa vào thể chế hợp đồng hiện hành, vì có hợp đồng ký kết cụ thể, có công chứng hợp đồng, thì cơ quan thuế mới thu được nhiều loại thuế khác nhau trên quá trình thực hiện hợp đồng đó… Và, việc sửa đổi, bổ sung thể lệ hợp đồng dân sự kinh tế, thương mại hiện nay không phải việc làm của một số ít người  mà làm được thông qua một số buổi tọa đàm. Cần huy động được sự đóng góp của nhiều người, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, góp ý thì mới đạt được sự hoàn thiện thể chế lâu dài, ổn định như WTO đã làm và đã khuyến cáo cho các quốc gia đang phát triển nên làm chặt chẽ như vậy ª 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật dân sự VN, NXB Thanh niên, TP.HCM, tháng 4.1996 

2. Pháp luật thương mại quốc tế và VN, NXB Thống kê, TP.HCM, tháng 2.1998 

3. TS. Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng: Những quy định chung và một số vấn đề cần hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, 12.2003 

4. Lưu Văn Bình, Tư pháp quốc tế, Đại học luật khoa Sài Gòn ấn hành, 1962. 

5. Bộ luật dân sự nước Pháp, NXB Prat Europa Paris, 1993 

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 9/2004

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ 

 

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM QUA

PGS. TS. PHƯƠNG NGỌC THẠCH

Nhiều chính sách nhà nước đưa ra không sát thực tế, không ít văn bản mâu thuẫn chồng chéo, nhiều văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn cho việc vận dụng thực thi. Thủ tục hành dân chứ không phải cán bộ hành, làm khó dễ để vòi vĩnh, tiêu cực, mặt khác chính thủ tục phức tạp tạo điều kiện cho cán bộ hành dân. Tôi cho rằng tất cả các khâu của chúng ta đều chưa hoàn thiện, cả trên lẫn dưới.

Ơ nước ta, trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, nhiều người cho rằng thị trường quyết định hết thảy, quyết định giá cả , quyết định sản xuất. Theo GS. Stiglitz thị trường là rất quan trọng nhưng không nên quá chú trọng bởi nó không phải là tất cả, vai trò của nhà nước trong việc điều tiết thị trường là rất quan trọng. Theo tôi chủ trương chính sách của nhà nước là điều cần phải có, là quyết định, thị trường là điều kiện đủ để phát huy. Những thành tựu và tồn tại của kinh tế-xã hội của nước ta trong thời gian qua chủ yếu phụ thuộc vào những chính sách nhà nước, phụ thuộc vào cơ chế quản lý của nhà nước.

Song nhiều vấn đề tồn tại chúng ta đổ cho cấp dưới thực thi chính sách không đúng. Nhiều chính sách nhà nước đưa ra không sát thực tế, không ít văn bản mâu thuẫn chồng chéo, nhiều văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn cho việc vận dụng thực thi. Thủ tục hành dân chứ không phải cán bộ hành, làm khó dễ để vòi vĩnh, tiêu cực, mặt khác chính thủ tục phức tạp tạo điều kiện cho cán bộ hành dân. Tôi cho rằng tất cả các khâu của chúng ta đều chưa hoàn thiện, cả trên lẫn dưới.

Các chủ trương đưa ra thì nhiều nhưng thực tế cách làm, cơ chế chính sách lại không phù hợp, nhiều khi còn hạn chế.

Sau đây chúng tôi đi sâu vào phân tích những chính sách chủ yếu tác động đến tăng trưởng cao và bền vững nền kinh tế nước ta trong 20 năm đổi mới.

Chủ trương tăng trưởng cao

VN có nỗ lực lớn trong tăng trưởng tốc độ cao, trong năm 2004 tốc độ tăng trưởng của VN là 7,6% (Thái Lan 8%, Singapore 8,1%, Trung Quốc 9,3%). Một thực tế ở nước ta trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao, cơ cấu kinh tế bất hợp lý đã làm cho nền kinh tế phát triển kém bền vững: hiệu quả kinh tế thấp, cạnh tranh yếu, lạm phát tăng, tốc độ giảm nghèo chững lại, chênh lệch thu nhập tăng, tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm.

Nhìn lại 20 năm qua cơ cấu kinh tế nước ta đã chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp. Song phân tích cơ cấu kinh tế cho thấy:

Tỷ trọng dịch vụ trong GDP đã giảm trong 8 năm liên tục ngược với quy luật chung, các ngành dịch vụ có tính chất động lực cần phát triển như giáo dục, khoa học công nghệ, tài chính tín dụng tỷ trọng rất thấp. Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, kinh doanh đất đai nhà ở chiếm tỷ trọng cao thứ 2 trong các ngành dịch vụ. Có thể nói tình trạng tăng nhanh dịch vụ kinh doanh đất đai nhà ở trong cơ cấu kinh tế không có lợi cho phát triển kinh tê xã hội đất nước. Bài học Thái Lan, Hàn Quốc đã chứng minh sự phát triển dịch vụ kinh doanh đất đai nhà ở đã làm giảm tăng trưởng kinh tế.

Về phát triển công nghiệp, chính sách nhà nước còn chú trọng nhiều về phát triển công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp nhẹ may mặc da giầy, thiếu sự phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành có hàm lượng khoa học cao. Chính sách phát triển này đã biến nền công nghiệp nước ta thành công nghiệp gia công lắp ráp. Theo tiến sĩ AT Kearney VN phải cảnh giác cái bẫy chi phí (lao động) thấp trở thành bãi lắp ráp hàng xuất khẩu như Mexico.

Cơ cấu kinh tế của nước ta vẫn thuộc loại cơ cấu kinh tế của các nước kém phát triển. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của VN khá chậm chạp. Thực vậy đã 30 năm trôi qua, chúng ta xây dựng kinh tế trong hoà bình, thời gian mà các nước công nghiệp phát triển đã làm thế giới kinh ngạc trở thành những con hổ. Các nước công nghiệp phát triển trong 3 thập kỷ đã chuyển dịch nhanh chóng, thập kỷ đầu xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, thập kỷ tiếp theo công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật, vốn cao, thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 thực hiện công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu các sản phẩm kỹ thuật cao có sức cạnh tranh lớn.

Để phát triển cao và bền vững, VN nên đa dạng hóa sản phẩm, phát triển các ngành hỗ trợ và các sản phẩm hàm lượng khoa học cao và chấm dứt tình trạng đầu tư mù quáng vào một số ngành công nghiệp và dịch vụ không hiệu quả.

Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài

VN quan tâm quá nhiều vào đến số lượng FDI, quá coi trọng sẽ lấy được bao nhiêu dự án, nhưng lại xem nhẹ lợi ích của dự án, tác động của dự án đến nền kinh tế, trong khi các nước đã quay sang chú trọng thu hút chất lượng các nguồn vốn FDI.

Tình hình thu hút FDI vừa qua cho thấy quy mô của các dự án FDI vừa và nhỏ là chủ yếu chiếm đến 60%, nếu như năm 1997 bình quân vốn đầu tư một dự án khoảng 23 triệu USD, năm 2004 chỉ còn 4 triệu USD/dự án. Phần lớn các dự án tập trung vào ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực-thực phẩm, dầu khí, khách sạn, bất động sản, nhà cửa, chủ đầu tư phần lớn là các nước ASEAN, Hàn Quốc, Đài Loan… là những nước có nguồn vốn chưa lớn và khoa học công nghệ trình độ quản lý chưa phát triển cao, hơn ta một ít.

Những tin tức mới đây cho rằng VN đang thay đổi về lượng và chất trong thu hút FDI. Chỉ trong 2-3 tháng đầu năm 2005, Bộ kế hoạch đầu tư cấp phép cho công ty Honda VN được sản xuất và kinh doanh ô tô tại VN đầu tư 60 triệu USD, Hà Nội đã cấp phép 2 dự án đầu tư với nguồn vốn rất lớn là dự án kinh doanh điện thoại di động CDMA trị giá 660 triệu USD và dự án xây dựng cao ốc 65 tầng với vốn đăng ký 114 triệu USD. Điểm đặc biệt trong việc thu hút nguồn vốn FDI trong 2 tháng đầu năm này chính là dịch vụ chiếm 70% trong nguồn vốn đăng ký mới. Nhìn vào lĩnh vực dự án đầu tư nước ngoài phần lớn là những lĩnh vực nhà đầu tư thu lợi nhuận lớn. Phân tích 3 dự án cho thấy dự án sản xuất ô tô chỉ hàn, sơn, lắp ráp chứ không phải sản xuất ô tô, sản xuất động cơ, dự án điện thoại di động là dự án kinh doanh mạng điện thoại chứ không phải dự án sản xuất máy điện thoại di động, dự án xây dựng cao ốc 65 tầng là dự án kinh doanh đất đai nhà ở, lĩnh vực lợi nhuận béo bở nhờ đó mà Hàn Quốc trước đây đã thu hút được nguồn tài chính rất lớn từ các nước Ả Rập giàu dầu mỏ đưa về nước.

Để lôi kéo nhà đầu tư, các địa phương đã đưa ra những ưu đãi vượt quá giới hạn quy định : ưu đãi về thuế, ưu đãi về tín dụng, ưu đãi về đất và tăng cường các ưu đãi khác một cách không có quy hoạch.

Tuy nhiên theo các nhà đầu tư nước ngoài môi trường đầu tư của VN chưa thực sự hấp dẫn.

Thực vậy, thứ nhất VN không có chính sách phát triển các ngành hỗ trợ và liên quan, hầu như là con số 0. Không có nguồn cung ứng tại chỗ, buộc các nhà đầu tư phải nhập linh kiện, phụ tùng, khiến giá thành cao, sức cạnh tranh giảm. Chẳng hạn trong ngành công nghiệp ô tô xe máy, chính sách nội địa hóa của ta đòi hỏi có 5%, trong khi Thái Lan 60% vào năm thứ 5. Bài học Thái Lan cho thấy, họ rất coi trọng tỷ lệ nội địa hóa, chỉ có 15 nhà máy lắp ráp nhưng có đến 1.800 nhà máy cung ứng.

Thứ hai, hạ tầng cơ sở yếu kém, chi phí cơ sở hạ tầng cao.

Thứ ba, chính sách phát triển nguồn nhân lực chưa được coi trọng đưa đến chất lượng lao động còn thấp.

Thứ tư, thủ tục về thuế, hải quan rắc rối, rườm rà. Theo các công ty tài chính và tập đoàn ngân hàng thế giới công bố , cơ chế ưu đãi đầu tư của VN phức tạp nhất thế giới.

Đã đến lúc chúng ta phải tập trung nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, chứ không phải đua nhau đưa ra những ưu đãi vượt khung, đồng thời tăng thu hút FDI về mặt chất lượng, ưu đãi đối với những lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao, những lĩnh vực sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành hỗ trợ và liên quan để đảm bảo sản xuất hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Chính sách thu hút ODA

Năm 2004 ODA đạt 3 tỷ USD, năm 2005 đạt 3,4 tỷ USD. Giám đốc WB tại VN nói rằng hiện tổng nợ nước ngoài của VN là 15 tỷ USD, tính ra mỗi người dân VN đang nợ 180 USD bằng gần ½ số GDP/người/năm (484 USD). Từ năm 1998 hàng năm VN phải chi trả khoảng 1 tỷ USD cả vốn lẫn lãi. Đầu năm 2005, 10% số nợ đến hạn của chính phủ VN trị giá khoảng 100 triệu USD sẽ được chính phủ Anh đứng ra trả giúp. Việc đó sẽ gây khó khăn lâu dài cho VN do mất uy tín trên thị trường tài chính.

Các chuyên gia kinh tế quốc tế có nhiều lời khuyên VN không vì được vay với lãi suất thấp mà vay tràn lan không tính hiệu quả sẽ trở thành nước nợ nần khó có khả năng thanh toán.

Kinh nghiệm phát triển trong 50 năm qua của các nước cho thấy rõ, một số lớn các nước đang phát triển trông cậy vào viện trợ tài chính vốn nước ngoài, vẫn nằm trong số những nước kém phát triển nhất. Để giảm gánh nặng nợ nần, cần phải tăng tiết kiệm nội bộ. Tỷ lệ tiết kiệm trong nước năm 2001 của VN đạt 24,6% GDP là quá thấp, Trung Quốc đạt 39%, Hàn Quốc 34,2%, Singapore 49,9%, Malaysia 47%, Thái Lan 32,8%.

Để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững cần phải tăng cường tiết kiệm, giảm vay nợ quốc tế.

Chính sách đất đai nhà ở

Dịch vụ đất đai nhà ở lớn nhanh trong những năm qua do chính sách đất đai của nước ta hướng tới mục đích đất đai là nguồn thu lớn của ngân sách sau dầu mỏ và khuyến khích đấu giá đất (thực chất là khuyến khích nâng giá đất).

Nguồn thu từ đất lớn song được dùng chủ yếu chi cho đền bù giải tỏa, tiền đền bù giải phóng mặt bằng trong nhiều trường hợp còn lớn hơn cả tiền đầu tư trực tiếp vào công trình, theo Thủ tướng Phan Văn Khải ở TP.HCM tiền cho bồi hoàn giải tỏa chiếm hết 2/3 dự án, tiền làm đường chỉ 1/3, mặt lợi không bù được với những mặt thiệt hại do đất gây nên.

Giá đất đã tăng lên nhanh chóng. Giá thuê đất cao nhất trong khu vực. Theo khảo sát của CBRE VN, giá đất trung bình tại Hà Nội đắt gấp 2,6 lần Bangkok, giá thuê văn phòng hạng A ở TP.HCM đắt gấp đôi ở Bangkok.

Trong thời gian qua chính sách đất đai thực sự đã tác động không thuận lợi đến kinh tế và xã hội nước ta, làm chôn một lượng vốn lớn, có nhiều tỷ phú lớn nhất so với các loại kinh doanh khác, rửa tiền của kẻ tham nhũng, lợi nhuận béo bở tuồn ra nước ngoài. Cụ thể là :

– Vay tiền đầu tư vào thị trường bất động sản một lượng vốn không nhỏ đã chôn vào thị trường nhà ở đất đai là nguyên nhân rất quan trọng gây ra tình trạng thiếu vốn tiền đồng cho sản xuất trong các ngân hàng thương mại. Theo báo cáo của Ủy ban cải cách và phát triển nhà nước Trung Quốc, sự bùng phát thị trường nhà đất ở nước này trong 3 năm qua đang có nguy cơ sụp đổ do việc có đến 61% vốn đầu tư vào địa ốc là vốn vay ngân hàng và khoảng 120 triệu m2 nhà ở không bán được.

– Cổ phần hóa khó khăn vì việc xác định giá trị quyền sử dụng đất.

-Sự thu hút đầu tư FDI đang gặp nhiều khó khăn trở ngại, chủ yếu vẫn nằm trong khâu đất đai, đền bù do giá cao.

– Lợi nhuận thu được do kinh doanh đất đai nhà ở khá lớn vào loại bậc nhất so với các loại hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Có khá nhiều doanh nghiệp nước ngoài như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan… phối hợp với các doanh nghiệp trong nước để đầu tư xây dựng các chung cư cao tầng, cao cấp, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở VN thu được lợi nhuận thì đầu tư vào địa ốc, như REE đầu tư tòa nhà E-town, Công ty điện tử Biên hòa đầu tư vào cao ốc Belco, Vitek VTB cũng đang xây dựng cao ốc 10 tầng. Theo báo cáo kinh nghiệm phát triển kinh tế Hàn Quốc cho thấy thời kỳ đầu Hàn Quốc đã tập trung xây dựng tại các nước Ả Rập giàu dầu mỏ, thu được lợi nhuận rất nhiều đem về nước.

– Giá đất đai nhà cửa cao, khiến đa số người dân có nhu cầu không thể mua được. Người có thu nhập trên 3 triệu đồng mỗi tháng không bao giờ mơ đến một căn hộ dành cho người có thu nhập thấp 500 triệu đồng.

Kinh nghiệm Hàn Quốc, Thái lan, Trung Quốc cho thấy sự phát triển sôi động thị trường bất động sản đã tác động xấu đến nền kinh tế -xã hội.

Tại Hàn Quốc giá đất đã tăng vọt vào những năm 1980 làm cho chi phí đền bù đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng năm 1993 tăng gấp 270 lần năm 1972, làm cho tăng trưởng kinh tế bị giảm và phúc lợi công dân bị ảnh hưởng. Cuối những năm 80 xung đột bạo động xảy ra dai dẳng đe dọa đến những vấn đề xã hội và chính trị, tính nguyên vẹn của quốc gia. Chính quyền đã kịp thời thay đổi. Tại Thái Lan thị trường đất đai sôi động đã đẩy giá đất đạt mức chưa từng có, mở đầu khủng hoảng kinh tế tài chính của Thái Lan trước đây.

Vì vậy chính sách đất đai của ta cần hướng tới phục vụ phát triển kinh tê và xã hội. Ban hành thuế đánh mạnh vào đầu cơ đất đai, gia tăng gánh nặng thuế lên vai người sở hữu đất quy mô lớn. Ngoài ra chính phủ quy định mức trần diện tích đối với đất thổ cư đô thị/hộ, buộc chủ đất sang nhượng đất dư thừa.

Chính sách thương mại

Với nền kinh tế hướng về xuất khẩu cần phải có thị trường, chúng ta trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước, VN luôn nhập siêu và ngày càng tăng.

Xuất khẩu: Năm 2004 xuất khẩu đạt 26 tỷ USD, có 17 mặt hàng vượt kim ngạch 100 triệu USD, nổi bật có 6 mặt hàng vượt mức 1 tỷ USD, đó là dầu thô, dệt may, da giầy, thủy sản, đồ gỗ, điện và linh kiện điện tử. Nhìn vào cơ cấu hàng xuất khẩu của ta phần lớn là nguyên liệu, sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, hàng sơ chế hàm lượng chất xám thấp, và những mặt hàng công nghiệp tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị gia tăng không nhiều. Phân tích 6 đại gia trong câu lạc bộ 1 tỷ USD cho thấy xuất dầu thô là bán tài nguyên, thủy sản, đồ gỗ cũng là tài nguyên ảnh hưởng đến môi trường, còn dệt may da giầy là 2 ngành sử dụng nhiều lao động, chủ yếu là làm công lấy lời, giá trị thực hưởng không bao nhiêu, mặt hàng linh kiện điện tử chủ yếu là lắp ráp. Cho nên Tham tán thương mại VN tại TQ nói VN xuất khẩu càng nhiều, càng nhập siêu.

Nhập khẩu: Công nghiệp của ta chủ yếu là gia công, phần lớn sản phẩm các ngành được sản xuất ra trên cơ sở tiêu thụ các nguyên phụ liệu, linh kiện, chi tiết, bán sản phẩm của các nước.

Nhà nước cần phải cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, trước hết cần phải nâng cao công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực và nguồn tài chính tín dụng, tăng tỷ lệ nội địa hóa, chống độc quyền nâng giá các sản phẩm đầu vào ( xăng dầu, điện, nước, bưu điện, hàng không, vận chuyển, sắt thép …), đưa ra luật chống độc quyền.

Chính sách giá

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế quốc tế trong hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế của VN, chi phí sản xuất đều rất cao. Giá hầu hết các sản phẩm xuất khẩu của VN đều cao hơn các đối thủ cạnh tranh

Năm 2004 giá cả tăng do chịu ảnh hưởng bởi những tác động của giá nguyên vật liệu quốc tế tăng cao, dịch cúm gia cầm nhưng do nhà nước kiểm soát được thị trường, can thiệp vào giá cả nên chỉ số tăng giá của các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc… thấp hơn VN từ 1,5-2% và vẫn giảm giá nhiều sản phẩm, dịch vụ. Sáu tháng qua một mặt do giá dầu thế giới tăng, mặt khác chủ yếu do quản lý của ngành xăng dầu yếu kém (chi phí tiền lương chiếm tới 30-35%, chi phí vận tải 20%, chi phí haohụt 30%, 20.000 lao động), đầu mối nhập nhiều (VN có 11, Trung Quốc 2, Malaysia 1), hệ thống phân phối quá lớn (290 tổng đại lý, 9.000 đại lý) không kiểm soát được, làm lũng đoạn thị trường, Nhà nước tăng giá xăng 3 lần để khỏi bù lỗ. Tình hình đó đã tác động tăng giá một loạt hàng hóa, làm tăng lạm phát và giảm tốc độ tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng công nghiệp tồi nhất từ trước đến nay.

Giá cả tăng ở VN còn là do một số doanh nghiệp đầu cơ, trong đó DNNN đóng vai trò quan trọng. Năm 2003 và năm 2004 lợi dụng giá quốc tế tăng TCTy thép VN đã tăng giá thép lên quá mức, thu lợi nhuận quá lớn. Tháng 3.2005 xi măng bước vào đợt tăng giá mới, xi măng nóng lên vì tâm lý do TCTy xi măng tuyên bố trong năm 2005 sẽ thiếu 6,5 triệu tấn xi măng. Phải nói rằng hiện tượng độc quyền nâng giá này rất không bình thường trong khi Nhà nước tăng sức mạnh cho các tổng công ty nhà nước tới 171.000 tỷ đồng, chiếm 80% tổng vốn các doanh nghiệp nhà nước để giúp Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế, tiên phong và hỗ trợ, định hướng thị trường, làm đòn bẩy đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, hướng tới mục tiêu lợi ích quốc gia thì các TCT 91 này đã hoạt động sai tôn chỉ mục đích.

Để tồn tại trong cạnh tranh hàng hóa, không những chỉ quan tâm đến vấn đề chất lượng hàng hóa mà nhà nước cần quan tâm hơn nữa trong chính sách giá, không để giá do các doanh nghiệp độc quyền thị trường khống chế

Chính sách khoa học công nghệ

Vai trò của KHCN trong phát triển kinh tế rất rõ ràng. Đây là dịch vụ cần phát triển. Đường lối chủ trương phát triển được đề cao nhưng thực hiện rất ít. Ngân sách dành cho KHCN quá nhỏ bé, trước 2000 đạt 1%, từ năm 2001-2003 đạt 2% tổng chi ngân sách. Theo Viện quản lý kinh tế trung ương, đầu tư cho nghiên cứu triển khai KH-CN ở nước ta, chỉ chiếm khoảng 0,4% GDP, trong khi ở một số nước trong khu vực tỷ lệ này lên tới 2-3%.

Đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp VN rất thấp, chi phí đổi mới công nghệ chỉ khoảng 0,2-0,3% doanh thu, trong khi ở An Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%.

Kết quả là :

– Mặt bằng chung về trình độ công nghệ và trang thiết bị của VN ở mức thấp, lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ trang thiết bị kỹ thuật cũ, công nghệ lạc hậu chiếm 60-70%

Xếp hạng công nghệ VN đứng thứ 68/80. Theo đánh giá khoa học công nghệ nước ta chỉ xếp trên Lào, Campuchia và Myanmar trong khu vực.

– Theo nhận xét của các nhà khoa học nước ngoài, thông tin khoa học công nghệ của VN còn xa mới bằng những điều kiện và thông tin khoa học công nghệ của sinh viên các nước trong vùng như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc.

-Lực lượng cán bộ khoa học trong nghiên cứu khoa học và công nghệ so sánh với một số nước, tỷ lệ người nghiên cứu khoa học ở VN là 0,18/100 dân, trong khi ở Hàn Quốc gấp 12 lần VN, Mỹ gấp 20 lần VN.

Nhà nước cần tăng ngân sách đầu tư vào những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, những hướng ưu tiên, đừng để cho cơ chế thị trường chi phối 100% hoạt động khoa học công nghệ.

Chính sách giáo dục

Theo Bộ giáo dục cho biết VN có 94% dân số biết chữ, VN đã xóa xong nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực thi phổ cập trung học cơ sở, thành tích thật là ấn tượng. Song thực tế cho biết có khoảng 6,8 triệu người trên 10 tuổi chưa từng đến trường và trong số đó có 5,3 triệu người hoàn toàn chưa biết chữ. Ngoài ra số lao động được đào tạo nghề hiện nay chỉ đạt 25% so với tổng số lao động, nghĩa là còn 75% lao động không được đào tạo nghề. Những con số này khá lớn so với giáo dục đào tạo của một số nước trong khu vực.

Hiện nay có 3 vấn đề làm xã hội lo lắng là chất lượng giáo dục, chi phí đóng góp của người dân cho học tập và đạo đức xã hội.

Điều làm xã hội quan tâm đầu tiên là chất lượng giáo dục từ phổ thông đến đại học nhìn chung còn thấp, theo bộ trưởng giáo dục nền giáo dục của VN tụt hậu, thấp hơn Thái Lan 50 bậc, thuộc loại thấp nhất khu vực Đông Nam Á. Chúng ta được biết chỉ số chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực nước ta chỉ đạt 3,79/10 điểm, Hàn Quốc 6,91, Singapore 6,81, Malaysia 5,59, Philippines 4,53, Thái Lan 4,04.

Tiếp đến đạo đức xã hội do giáo dục xuống cấp gây ra làm nhức nhối xã hội : bỏ tiền ra mua bằng và thi hộ vào đại học (đến 50 triệu đồng/ học sinh). Hải quan TP HCM phát hiện trên 100 cán bộ đang sử dụng bằng giả, Bộ thương mại qua kỳ thi nâng ngạch bậc công chức 2004 phát hiện hàng loạt cán bộ là quan chức quản lý thị trường ở các tỉnh thành phố sử dụng văn bằng chứng chỉ dỏm. Nhưng bằng giả còn không lo bằng bằng thật học giả.

Ngoài ra điều tra mức sống dân cư năm 2002 cho thấy chi phí trực tiếp cho giáo dục khá cao so với thu nhập các hộ nghèo là một trong những nguyên nhân chính khiến trẻ em nghèo ít đi học. Hiện nay phần tài chính do dân đóng góp cho lĩnh vực đào tạo nước ta ở cấp tiểu học đã lên tới 44,5%, trung học phổ thông là 51,5%, dậy nghề 62,1%. Hiện nay nhiều nước đã thực hiện luật giáo dục miễn phí và bắt buộc đối với trẻ em từ 6 tuổi trở lên như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Mỹ … Chính phủ Thái đã thông qua một chương trình tài trợ giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, không có thị trường giáo dục. Ở Đức và một số nước, các nước Bắc Au giáo dục kể cả đại học không mất tiền. Không có thương mại hóa giáo dục. Theo giáo sư Nolan ĐH Cambridge Mỹ đổi mới hội nhập nhưng lĩnh vực giáo dục nhà nước phải nắm thay vì để thị trường quyết định.

Trong khi chi ngân sách cho giáo dục của VN năm 2003 là 16% tổng chi ngân sách, thì chi ngân sách cho giáo dục-đào tạo đầu những năm 1990 tỷ trọng này của Thái Lan đã là 20%, Hàn Quốc 22%. Đầu tư cho ngành giáo dục của VN không phải nhỏ với các dự án giáo dục, nhưng tác dụng của các dự án đối với phát triển giáo dục đào tạo ở VN còn quá ít. So sánh mức chi phí giáo dục bình quân đầu người, VN ở gần cuối bảng, thấp hơn 24 lần so với Singapore và 3 lần so với Thái Lan.

Để giáo dục trở về đúng nghĩa với giáo dục, chúng ta cần: Không thị trường hóa giáo dục, không thương mại hóa giáo dục.

Tăng ngân sách chi cho giáo dục. Thực hiện phổ cập giáo dục miễn phí, trước mắt 9 năm sau tiến lên 12 năm. Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động các tổ chức phi chính phủ, tổ chức nhân dân tham gia sự nghiệp giáo dục. Ap dụng chế độ huy động nguồn tài chính của các doanh nghiệp, thu thuế đào tạo của các doanh nghiệp để lập Quỹ đào tạo nguồn nhân lực.

Chính sách y tế

Chi ngân sách cho y tế của nước ta còn khá thấp. Nguồn vốn ngân sách chi cho y tế 3,8% năm 1997, 3,2% năm 2001. Phần chi của người dân thì ngày càng tăng, chi tiêu cho chăm sóc sức khoẻ tăng lên 5,7% năm 2002 trong khi thu nhập tăng chậm và diện nghèo khá lớn trong dân.

Cố vấn của UNICEF tỏ ý lo ngại về tình trạng tư nhân hóa không kiểm soát được ở một số nước, trong đó có Việt Nam. Xu hướng dựa vào các cơ sở tư nhân cùng với sự lạc hậu của các bệnh viện nhà nước đang đe dọa tính mạng của hàng ngàn bà mẹ trẻ em và người bệnh.

Kinh nghiệm các nước cho thấy chính phủ Anh, Thụy Điển chịu mọi chi phí y tế, bảo hiểm y tế An Độ bao gồm các đối tượng là người lao động, cả người ốm đau, sinh đẻ, tang chế, trợ cấp người phục hồi chức năng, trợ cấp người không nương tựa, ở Srilanka tất cả công dân sử dụng thuốc men không mất tiền, chăm sóc sức khoẻ cho nông dân không mất tiền. Trong khi đó lại có ý kiến ngành y tế không cần ngân sách chỉ cần cơ chế. Theo giáo sư Nolan ĐH Cambridge đổi mới hội nhập nhưng lĩnh vực y tế Nhà nước phải nắm thay vì để thị trường quyết định.

Cần phải tăng chi ngân sách cho y tế giúp cho người nghèo chữa bệnh. Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện đối với mọi người dân.

Chính sách xoá đói giảm nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo tại VN đã giảm từ trên 70% vào giữa thập niên 1980, xuống còn 29% năm 2002, trong đó ở khu vực nông thôn và khu vực miền núi đồng bào dân tộc tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao, chiếm tới 90% người nghèo của cả nước. WB cảnh báo khoảng 20 triệu người VN hiện đang sống trong cảnh nghèo. So với chuẩn nghèo LHQ quy định 2 USD, thì tỷ lệ đói nghèo của VN còn cao và việc xóa nghèo còn phải tiếp tục.

Tốc độ giảm nghèo đang chững lại: trong giai đoạn 1993-1998 VN đã giảm được 20%, giai đoạn 1998-2002 mức giảm chỉ đạt được 8,1%. Đáng lo là nguy cơ tái nghèo còn ở mức cao.

Khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng. Thu nhập của nhóm giàu năm 2001-2002 lớn gấp 8,1 lần so với nhóm nghèo. Chỉ số GINI phản ảnh sự chênh lệch giàu nghèo và tiêu dùng xã hội của VN 36,2% cao hơn hẳn những nước giàu nhất hiện nay như Na Uy 25,8%, Thụy Điển 25%, Nhật 24,9%.

Cần luật hóa các quy định về an sinh xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ cơ bản nhất như được chữa bệnh miễn phí, được trợ cấp học nghề tìm việc làm.

Tôi muốn nói chúng ta cũng đã đạt được một số thành tựu song tồn tại còn quá nhiều, chủ trương đúng chưa đủ mà phải có chính sách tốt lấy dân làm gốc thì đất nước mới có cơ may phát triển ª

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 5/2005

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CẦN SỰ ĐỒNG BỘ

TS. PHẠM PHI YÊN

1. Đặt vấn đề 

 Đã có nhiều ý kiến khác nhau trong đánh giá chất lượng đào tạo đại học của VN hiện nay. Có ý kiến cho rằng với điều kiện hiện tại mà chúng ta làm được như thế này là quá giỏi – với đồng lương ít ỏi mà người thầy vẫn miệt mài giảng dạy, với điều kiện vật chất thiếu thốn mà trò vẫn miệt mài học; rồi đi thi đấu trên trường quốc tế thì năm nào các đoàn học sinh VN cũng đều có giải, thậm chí giải rất cao. Có người cho rằng không thể nói học sinh bay giờ kém hơn học sinh các thế hệ trước vì hãy thử so sánh khối lượng kiến thức ngày nay với khối lượng kiến thức ngày xưa cho người học …Và thực tế là xã hội ngày càng đi lên chứ không đi xuống. 

 Nhưng đa số lại băn khoăn, lo lắng, thậm chí sốt ruột, bi quan cho chất lượng giáo dục đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo đại học nói riêng của VN hôm nay. 

 Nhóm ý kiến thứ nhất không sai, nhưng nhóm ý kiến thứ hai cần được nghiêm túc quan tâm vì sự tụt hậu đôi khi còn nguy hiểm hơn sự đi xuống của đồ thị phát triển. 

2. Đánh giá yếu tố đồng bộ với chất lượng đào tạo đại học 

 Sự đồng bộ ở đây được hiểu là sự hợp lý, sự logic, là điều kiện tất yếu, là muốn có cái này nhất thiết phải có cái kia, đã làm thế này thì tất yếu phải có kết quả kia, hay muốn có kết quả này thì nhất thiết cần có những điều kiện tối thiểu kia. Nói một cách hài hước là nếu không có quần dài thì không thể thắt cà vạt để đi ra đường, nếu trói tay chân lại thì không thể bơi trong nước. Nếu một nước đất chật người đông thì phải quy hoạch nhà ở chung cư cao tầng; nếu một đất nước kém phát triển thì dù chương trình dân số (chương trình giảm tăng dân số tự nhiên) đã bắt đầu chuyển động theo chiều hướng tích cực thì 10 – 15 năm sau cũng sẽ bùng nổ học sinh đại học; nếu muốn có sự tăng năng suất lao động mang tính đột phá thì phải có cuộc cách mạng về hiện đại hóa tư liệu sản xuất… 

 Tuy nhiên trong cuộc sống cũng có những sự việc, những lĩnh vực mà mức độ đòi hỏi sự đồng bộ không cao, hoặc mức độ đồng bộ khác nhau thì cho kết quả khác nhau hoặc nếu không đồng bộ thì đương nhiên kết quả kém nhưng không chết ai. Song cũng có những lĩnh vực hoạt động mà sự không đồng bộ sẽ gây hậu quả nghiêm trọng mà muốn sửa chữa phải mất cả thế hệ. 

 Vấn đề rất quan trọng đặt ra trước các nhà quản lý là phải nhận biết, phải phát hiện được, phải hoạch định được những điều kiện, những yếu tố và đánh giá đúng tầm quan trọng của chúng đến lĩnh vực mình quản lý. Thậm chí phải sắp xếp được thứ tự lôgic của các yếu tố đó để có kế hoạch đầu tư, kế hoạch thực hiện hợp lý. 

 Vậy sự đồng bộ đối với chất lượng đào tạo đại học là những điều kiện nào? 

 Trong bài “Khái quát áp dụng mô hình quản lý tập trung vào chất lượng và hướng tới khách hàng của bộ ISO 9000:2000 để quản lý giáo dục” của GS.TS. Nguyễn Quang Toản báo cáo tại ĐHQG TP.HCM ngày 8.12.2004 có tổng kết như sau: 

– Quản lý giáo dục chiếm : 51% 

– Phương pháp giảng dạy :22% 

– Chương trình GDĐT, cơ sở vật chất : 18% 

– Đánh giá kiểm tra : 9% 

 Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn (báo Phụ nữ ngày 11.9.2004) thì “Giáo dục của ta đang đi trái quy luật”…, “…một quan chức cao cấp của Bộ GD-ĐT nói “giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng” là không đúng, phải nói là quản lý quyết định chất lượng giáo dục”. 

 Như vậy có thể thấy nếu có nhà quản lý giỏi, sẽ có những quyết định đúng, sẽ có chiến lược, phương pháp đúng, sẽ có biện pháp đúng để sử dụng giáo viên giỏi, sẽ có cơ chế đúng, lộ trình đúng để có phương pháp giảng dạy, có cơ sở vật chất, có thể thức kiểm tra, đánh giá người học đúng. Nói cách khác, quản lý giáo dục đóng vai trò quyết định hàng đầu đến chất lượng đào tạo. 

3. Biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học VN 

a. Vấn đề thi tuyển đầu vào: Mặc dù chất lượng của đào tạo đại học được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, nhưng trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến chương trình, nội dung các môn thi đầu vào đại học (không đề cập cách thức tuyển sinh dù cũng có ảnh hưởng). 

Theo nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng trên thế giới như Laffer của thuyết “Trọng tiền”, Lucas của thuyết “Dự liệu hợp lý” thì Chính phủ không nên can thiệp quá sâu vào những hoạt động mang tính nghiệp vụ của các doanh nghiệp. Trước mắt chúng ta chưa thể áp dụng kiểu thi tuyển vào đại học như ở nước Mỹ (là một cách được đánh giá có tính khoa học cao), thì chí ít Bộ GD & ĐT cũng nên trao quyền quyết định môn thi đầu vào cho các trường đại học. Các trường phải trực tiếp chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của mình trước xã hội chứ không phải Bộ chịu trách nhiệm cho trường. Hiện nay, khối các trường kinh tế thi tuyển đầu vào với 3 môn toán, lý, hoá là một sự bất hợp lý kéo dài không thể chấp nhận được và hoàn toàn có thể làm ngay được. Ba môn thi đầu vào này vô hình chung đã khiến các môn xã hội bị xem nhẹ với những ai định hướng nghề nghiệp khối ngành kinh tế. Kiến thức xã hội bị xem nhẹ sẽ ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến các cử nhân kinh tế khi ra trường mà những năm học đại học không thể bù đắp kịp. Hơn nữa, kiến thức của hai môn lý và hóa lại hoàn toàn không cần đến trong 4 năm đại học cũng như sau khi ra trường dù làm việc ở ngành nào. Ở các nước phát triển, lý, hoá là 2 môn tự chọn đối với học sinh phổ thông trung học. Các môn thi phù hợp phải là toán, tiếng Việt và ngoại ngữ. Đối với khối ngành kỹ thuật, môn tiếng Việt cũng quan trọng vì trong môn này chứa đựng cả kỹ năng sống, kỹ năng làm người, kỹ năng hợp tác với cộng đồng… là những kỹ năng mà ai cũng cần. 

b. Chương trình đào tạo: Một chương trình đào tạo thiên lệch không thể không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, thậm chí ảnh hưởng cả đến quá trình hội nhập giáo dục, xu hướng tất yếu của thời đại hiện nay. Trong năm học 2004 – 2005, các trường đại học đã xây dựng lại chương trình đào tạo theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT theo tinh thần giảm tải. Điều đó nói lên những nỗ lực rất lớn của Bộ GD & ĐT trong việc cải thiện công tác quản lý giáo dục, song chương trình đó vẫn còn nhiều bất cập. Những môn học thuộc kiến thức ngành và chuyên ngành chỉ được gói gọn trong 55% thời lượng là quá ít. Chịu trách nhiệm chính về khối kiến thức chuyên ngành là ở cấp bộ môn, nhưng cấp này chỉ được quyền chi phối đến 20% số đơn vị học tập. Vậy đề nghị Bộ GD & ĐT hãy giao thêm quyền cho các trường, trường giao thêm quyền cho cấp bộ môn và như thế mới có điều kiện cho sinh viên được quyền tham gia lựa chọn những kiến thức, môn học mang tính kỹ năng nào mà họ thích. 

c. Về giáo trình: Thiếu sách, giáo trình, tài liệu cũng là một sự không đồng bộ với đòi hỏi chất lượng đào tạo cao. Kinh nghiệm của các nước phát triển và mới phát triển như Nhật, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc … thì để nhanh chóng có nhiều tài liệu tham khảo, giáo trình cho sinh viên hãy đầu tư cho dịch thuật song song với việc đầu tư tự viết. Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy đầu tư cho dịch thuật đem lại kết quả nhanh hơn và hiệu quả cao hơn so với đầu tư tự viết ở các nước kém phát triển, nhanh chóng làm phong phú nguồn tài liệu học tập cho SV. Bên cạnh đó, cần xem xét khả năng nhập khẩu chương trình đào tạo như một số nước đã làm và đã thành công. Hiện nay chúng ta có nhiều sách tham khảo, giáo trình chất lượng chưa cao còn do khâu quản lý, như khâu cấp giấy phép xuất bản, khâu nghiệm thu… và điều đó cũng không thể không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. 

d. Về phương pháp giảng dạy: Hầu như không còn tranh cãi nào về phương pháp giảng dạy như thế nào là có chất lượng. Ai cũng rõ rằng phương pháp giảng dạy chất lượng là phương pháp lấy người học làm trung tâm, là đối thoại, là đặt vấn đề, là tình huống, là thảo luận, là sinh viên phải làm việc nhiều ở nhà và đương nhiên giáo viên cũng cần làm việc nhiều hơn trước khối lưựng kiến thức ngày càng nhiều và thông tin cũng nhiều, phải nắm bắt đúng kết quả của SV. Nhưng … điều kiện để thực hiện thì không có – sự không đồng bộ không thể khắc phục nếu không có thay đổi gì: đó là Quy mô lớp học. Để phương pháp giảng dạy mới được áp dụng thì quy mô lớp học phải tối đa là 50 SV, lý tưởng là 30 – 35, trong thực tế rất ít có lớp học như vậy, mà có khi lên đến 100 – 150 SV. Những lớp học quá đông SV, việc áp dụng phương tiện giảng dạy hiện đại như dùng đèn chiếu hoặc projector cũng kém hiệu quả (mà SV đã có nhiều phản ánh). Tất nhiên chúng ta đang đứng trước những mâu thuẫn giữa quy mô lớp học, thu nhập của giáo viên và chất lượng đào tạo…! Những bài toán này cũng cần được giải gấp. 

e. Về nguồn tài chính: VN được xem là một trong những quốc gia có chi phí để học đại học, cao học và cả nghiên cứu sinh rẻ nhất thế giới. Nếu so sánh chi phí đó với mức lương công chức, lương tối thiểu thì hợp lý, nhưng nếu với mức học phí hiện tại thì tất yếu sẽ kéo theo hàng loạt sự không đồng bộ: lương giáo viên thấp, nhà trường và cả Nhà nước không có tiền để đầu tư cho phương tiện thiết bị như phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cho thư viện, cho phòng đọc … sẽ lại là vòng luẩn quẩn: chất lượng đào tạo thấp, kém hiệu quả. 

Vậy, chúng tôi xin đề nghị Bộ GD & ĐT cần nhanh chóng xem xét giải pháp tăng học phí của tất cả các cấp đào tạo từ đại học trở lên. Thứ hai, cần thực sự khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư đào tạo đại học và sau đại học chứ không chỉ dừng lại ở chủ trương như hiện nay, nhanh chóng thực hiện xã hội hóa đào tạo đại học, trên cơ sở đó nhanh thực hiện chủ trương giảm tỉ lệ SV thuộc các trường đại học công lập và tăng tỉ lệ SV hệ ngoài công lập như ở nhiều nước trên thế giới. 

Trên đây chỉ là một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học ở VN dù chưa phải là tất cả. Hy vọng đóng góp phần nào vào sự nghiệp cải cách giáo dục, đào tạo tại VN , tạo điều kiện để VN có thể bước những bước đầu tiên trên con đường hội nhập quốc tế ª 

——————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 8/2005

MẤY SUY NGHIỆM VỀ ĐẤT VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TRẦN KHUYẾT NGHI

Phải xét kỹ lại quan niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Điều 5 Luật đất đai) xem thực chất nó như thế nào, nên định nghĩa lại rõ ràng ra sao trong mối tương quan với vấn đề quyền sở hữu cá nhân vốn cần phải được xác lập một cách chắc chắn hơn nữa. Bởi hình như tính cách lập lờ khó hiểu khó áp dụng của quan niệm nầy đã trở nên lạc hậu trong hoàn cảnh mới của nền kinh tế thị trường.

Từ nhiều năm nay, đặc biệt trong những khoảng thời gian gần đây, câu chuyện đất đai đã trở thành một vấn đề rắc rối thật sự nóng bỏng, gây nên biết bao những cuộc tranh chấp và khiếu kiện của cả cá nhân lẫn tập thể, giữa cá nhân với nhau cũng như và nhiều nhất giữa các cá nhân hoặc hộ sử dụng đất với cơ quan nhà nước. Cách giải quyết bất cập các mối quan hệ về quyền sử dụng đất rõ ràng đã trở thành trọng tâm của sự bất mãn mang tính cách phổ biến rộng rãi trong quần chúng, mà nếu không khéo có thể còn dẫn tới những hậu quả khó lường trước được. 

Trong đợt kiểm tra thi hành Luật đất đai trên toàn quốc của Bộ tài nguyên và môi trường hồi tháng 8.2005 vừa rồi, các quan chức phụ trách kiểm tra đã ghi nhận được vô số những trường hợp sai sót bất hợp lý gây đau khổ và phẫn nộ trong quần chúng, nhận được đến khoảng 17.000 đơn khiếu nại; con số nầy còn có thể còn nhiều hơn, vì rất nhiều người không nộp đơn mà chờ Nhà nước giải quyết đơn khiếu nại của người khác thì giải quyết luôn cho trường hợp của mình. 

 Có hai điều quan trọng khiến chúng ta phải suy nghĩ: (1) Tại sao trong thời phong kiến-Pháp thuộc chẳng hạn, tính cho tới trước năm 1975, rất ít nghe những cuộc tranh chấp khiếu kiện về ruộng đất giữa dân với chính phủ (nếu có thì chỉ là tranh chấp giữa một số cá nhân với nhau về quyền sở hữu), trái lại trong thời kỳ đất nước độc lập xây dựng chủ nghĩa xã hội “lấy dân làm gốc”, coi việc an cư lạc nghiệp của dân là nhiệm vụ trọng tâm, đã để xảy tình trạng bất mãn cực độ trong nhân dân về ruộng đất, nhà ở? (2) Câu hỏi vừa nêu gợi ra cho thấy chắc chắn mọi điều rắc rối là do sự bất cập về quản lý nhà nước đối với đất đai, chứ không phải thứ gì khác, mà sự bất cập nầy không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp về phương diện khả năng-kỹ thuật quản lý, trái lại có thể còn liên quan đến những vấn đề thuộc nguyên lý nền tảng khác, đến “chế độ” về đất đai, và lẽ tất nhiên những nguyên lý ấy đã không thể không phản ảnh vào những luật pháp đang được áp dụng, cụ thể là Luật đất đai năm 2003 mà các bậc thức giả và nhân dân phần nhiều đều cho rằng “vẫn còn nhiều điểm rối rắm”, tuy rằng có tiến bộ hơn những luật cũ nhiều. Nếu không giải quyết vấn đề mấu chốt về chế độ đất đai, chứ không phải phương thức quản lý đất đai, thì dù có cải tiến, bổ sung thêm nhiều luật nữa, cũng không thể quản lý đất đai một cách suôn sẻ theo hướng quản lý là nhằm mang lại sự an cư lạc nghiệp ổn định cho toàn dân và cho sự phát triển chung của đất nước. Với tình trạng hiện nay, cách quản lý đất đai phần nhiều chỉ tạo thêm khó khăn cho người dân và tạo nhiều khoản sơ hở cho một số tầng lớp đặc quyền lạm dụng chiếm hữu đất để làm giàu một cách bất chính, thực tế là hầu như ngoài những lời kêu rêu chưa nghe được một tiếng khen nào từ phía quần chúng. 

Trong chế độ phong kiến, đất đai nói rõ là sở hữu của vua (phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ; suất thổ chi dân, mạc phi vương thần: dưới khắp vòm trời, không đâu không phải là đất của vua; dân ở khắp trên mặt đất, không ai không phải là bề tôi của vua), vì thế vua có quyền đem đất phong lại cho các hoàng thân quốc thích và công thần dưới dạng thái ấp. Trong các thái ấp, dân vẫn ăn ở sinh sống và vì thế không có sự tranh chấp đất đai với vua quan mà chỉ có nhiệm vụ cống nạp dưới hình thức địa tô cho các chúa phong kiến, còn quan lại thì nói chung chỉ có danh dự cao sang và hưởng bổng lộc theo mức quy định của triều đình mà thôi. Trong chế độ phong kiến, do trật tự đã định, không có chuyện vua quan dùng thủ đoạn chiếm đất của dân, mà chỉ có tầng lớp địa chủ là người có nhiều ruộng cho thuê để bóp nặn sức lao động của nông dân. 

Ở Việt Nam thời xưa, đất và ruộng đều chia thành hai loại công, tư rạch ròi (quan điền, quan thổ thuộc sở hữu quốc gia do quan chức quản lý; công điền, công thổ thuộc sở hữu quốc gia do xã thôn quản lý; tư điền, tư thổ là đất hoặc đất ruộng của tư nhân- terre privée, rizière privée). Lệ năm Gia Long thứ 3 (1804) định phép chia đều ruộng (quân điền chi pháp), các quan văn võ từ nhất phẩm đến tòng cửu phẩm và lính với dân, đều chiếu theo số ruộng công và đất công trong làng mà chia ra cấp theo khẩu phần với mức độ sai biệt tùy theo phẩm cấp (xem Đại Nam điển lệ toát yếu, phần Hộ lệ). Nếu nhà nước thực hiện công trình công cộng gì thì cũng phải bồi thường cho dân; lệ năm Minh Mạng thứ 8 (1827) quy định “từ nay phàm các công tác mở vào ruộng đất…, nếu xâm phạm vào ruộng đất tư bao nhiêu, phải chiếu nguyên giá, trích công quỹ ra mà trả cho chủ sở hữu” (tài liệu đã dẫn). Triều đình, để quản lý ruộng đất và đánh thuế, chỉ cần có hai loại sổ chính là địa bạ (sổ đất- cadastre) và điền bạ (sổ khai báo để đóng thuế ruộng đất của làng- rôle d’impôt foncier), là đủ.  

Nước Việt Nam thời phong kiến, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra nhưng thường vì những lý do khác như đói kém mất mùa… chứ không phải để tranh chấp ruộng đất, có lẽ một phần vì thời xưa đất còn rộng người còn thưa. Thường thì lại vì những bất công diễn ra theo kiểu khác, không có liên quan đến đất, và nói như cụ Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, “hễ ai đi học mà vì lẽ gì thi không đỗ, làm quan không được, thì bức chí quay ra làm giặc để tìm cách hiển vinh, thành ra trong nước hay có giặc giã”. 

Thời nay tại nước ta, vùng Tây Nguyên đất rừng mênh mông không sao ở hết mà thỉnh thoảng vẫn có những cuộc bạo loạn xảy ra, Chính phủ phải cử người xuống tận nơi để vỗ an, giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho dân địa phương mới là chuyện lạ lẫm chưa từng thấy. Sở dĩ như thế vì một số quan chức nhà nước với tư cách là phần tử đặc quyền, thay vì thực hiện chức năng quản lý để đem lại sự an dân, đã câu kết với những phần tử đặc lợi khác để chiếm đoạt đất đai của dân làm của riêng. Tại các khu vực đô thị khác trên cả nước, thông qua cái cớ là những công trình quy hoạch đô thị, người ta đã sử dụng nó như một thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt giá trị thặng dư từ đất của dân dưới dạng địa tô chênh lệch(1), dựa vào lý do “đất đai là sở hữu toàn dân” chỉ có Nhà nước mới được quyền chi phối, như tôi đã viết trong một bài trước, “thực chất phần lớn chỉ là một cuộc phân chia lại của cải dưới chiêu bài phát triển đất nước mà siêu lợi nhuận thuộc về những phần tử câu kết bao gồm những kẻ có quyền phê duyệt cấp phép và các thương nhân hoặc nhà thầu đứng ra thực hiện việc chia của”(2). 

So sánh với thời đại phong kiến, đất đai là của vua nên vua đại diện cho quân quyền (nghĩa là cho nhà nước) chi phối, còn trong thời đại của chúng ta hiện giờ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” nhưng cũng nhà nước chi phối. Thế thì cái vế câu “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” chỉ còn phản ánh được một thứ nghệ thuật sử dụng ngôn từ mang tính hình thức, hoàn toàn không có ý nghĩa gì về mặt thực chất nữa, mà chính lại là lý do của mọi sự rắc rối không có cách gì giải quyết nổi. Trên thực tế ở mọi chế độ xã hội, đất đai nào lại không do nhà nước quản lý, nghĩa là nhà nước có quyền trưng dụng cho bất kỳ mục đích lợi ích công cộng nào. Nhưng để hưởng dụng, thì đất đai nhất định phải do dân hưởng dụng chứ không có nhà nước nào ở đây. Từ đó suy ra cái vế câu tiếp theo “do nhà nước đại diện chủ sở hữu” cũng vô lý và dư thừa tương tự. Tuy nhiên cả câu nầy ghi trong Điều 5 về “sở hữu đất đai” đã nhằm mục đích riêng là xác định được vừa chế độ ruộng đất vừa chế độ xã hội, từ đó cũng xác định luôn phương thức quản lý đất đai của nhà nước, mà cái cách như chúng ta đã từng thấy với hiệu quả thấp gây ra biết bao điều bất tiện cho dân chúng. 

Trong bộ Luật đất đai năm 2003 dài khoảng 110 trang, mặc dù đã tiến bộ nhiều so với trước, nhưng phần nói về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất chỉ chiếm được 12 trang, phần đa số còn lại toàn nói về các quyền chi phối của Nhà nước dưới những câu chữ và dạng diễn đạt khác nhau; riêng chương II “Quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý Nhà nước về đất đai” chiếm tới 10 trang, mà đọc vào, chúng ta dễ phát sinh cảm tưởng rằng Nhà nước sợ mình bị mất quyền chi phối khiến cho đất đai rốt cuộc lọt hết vào tay dân, trong khi mục đích chính của việc quản lý nhà nước lẽ ra không có gì khác hơn là để cho đất đai phải lọt hết vào tay dân dưới nhiều dạng thức sử dụng và được sử dụng một cách toàn diện đạt hiệu quả cao trên cơ sở của những luật pháp liên quan và tài điều tiết, lãnh đạo của Nhà nước. Trên thực tế, do nhiều quan niệm sai lầm từ gốc, một số quan chức cầm quyền đã rất không sốt sắng trong việc cấp giấy chủ quyền đất cho dân là vì thế, khiến cho dân để được sử dụng đất, trở thành những người đi van xin thông qua những thủ tục hành chánh hết sức rườm rà và lâu lắc. 

Bây giờ, thử lật bộ Bách khoa từ điển Việt Nam ra, chúng ta sẽ thấy ở mục từ “lãnh thổ quốc gia”, được định nghĩa rõ ràng là “một phần của Trái Đất thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia” (tập II, trang 641). Vậy cái gọi là quyền chi phối của nhà nước về đất là một lẽ đương nhiên không cần phải diễn đạt dài dòng, trong khi vấn đề cốt yếu là sự hành xử cái quyền đó phải nhằm phục vụ cho lợi ích chung của quốc gia dân tộc mà nhân dân là đối tượng hưởng dụng chủ yếu chứ không thể để bị các phần tử đặc quyền trong bộ máy quản lý lạm dụng chiếm đoạt. Với thực trạng hiện nay, không còn là trường hợp cá biệt, việc lợi dụng chức quyền để phân bổ, chia chác đất đai đang diễn ra ở hầu khắp nơi trên đất nước, và theo ông Thứ trưởng Bộ tài nguyên-môi trường Đặng Hùng Võ, tình trạng tham nhũng đất đai hiện đã được thể hiện qua tới 5 cách, mà tờ Tuổi trẻ trong một bài phỏng vấn ông Võ đã gọi là 5 chiêu thức “ăn” đất của dân (gồm: 1. tham nhũng dựa vào các chương trình mục tiêu của nhà nước; 2. từ các khu tái định cư; 3. tại các khu giãn dân ở khu dân cư nông thôn; 4. dưới dạng quyết định thu hồi đất cho một dự án rồi chia nhau phần thừa; 5. không có dự án gì nhưng vẫn thu hồi đất của dân rồi để đấy). 

Về nguyên nhân và cách giải quyết vấn đề, theo ông Đặng Hùng Võ: “Nguyên nhân sâu xa là do bất động sản có khả năng sinh lợi rất nhiều, do hệ thống quản lý đất đai lỏng lẻo, chưa giám sát được những trường hợp tham nhũng…” (xem báo Tuổi trẻ, 26.10.2005). 

Ý kiến của ông Đặng Hùng Võ không sai và đầy thiện chí, nhưng theo tôi, vẫn chưa phải là “nguyên nhân sâu xa” gốc rễ của vấn đề. Nếu chỉ vì hệ thống quản lý lỏng lẻo hay chưa giám sát được những trường hợp tham nhũng thì bao giờ và cần phải hội đủ điều kiện gì mới chấm dứt được tình trạng nầy? Nguyên nhân sâu xa, trái lại là từ những mập mờ đã phân tích ở trên về quyền sở hữu hay quyền sử dụng đất. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng lại do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, tách Nhà nước thành một thực thể riêng biệt ôm vào quá nhiều quyền chi phối đất đối lập với dân, và khái niệm về quyền không hiểu theo nghĩa quyền lực đại diện mà đã bị biến tướng thành một thứ quyền lợi. Bằng cớ của điều sai trái nầy là ngay trong Luật đất đai 2003 vẫn có những điều như Điều 142 “Xử lý vi phạm pháp luật về đất đai gây thiệt hại cho Nhà nước”, trong khi đó đã gọi Nhà nước thì chẳng qua chỉ là một thực thể quyền lực trừu tượng mang tính đại diện để điều tiết quyền lợi trong dân thôi chứ nhà nước làm gì có quyền lợi mà gọi là “gây thiệt hại cho nhà nước”? Điểm sai lầm cơ bản nàyvô tình biến một nhà nước thay vì chỉ có quyền mà không có lợi trở thành một nhà nước vừa có quyền vừa có lợi, với những con người đại diện sống động có lòng tham, biết “ăn” và biết giành đất với dân, chính là nguyên nhân gốc gây nên mọi thứ rắc rối khó chữa. 

Muốn cho việc quản lý đất đai trở nên đơn giản, hiệu quả, thiết tưởng cần trước hết phải có sự danh chính ngôn thuận. Trong xã hội ta, đất đai là thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lý luận nầy chỉ cần thiết duy trì trong khoảng thời gian nhất định nào đó khi mà giai cấp bóc lột chiếm dụng đất (đại tư sản mại bản và đại địa chủ) chưa bị tiêu diệt. Còn bây giờ, Nhà nước luôn tỏ ra lúng túng chỉ vì trong khâu quan niệm về đất và sử dụng đất có nhiều điều không ổn do quán tính của tư duy và ảnh hưởng của những trạng thái tâm lý, cách hành xử có từ thời kỳ chiến tranh cách mạng và quan liêu bao cấp không chấp nhận quy luật vận hành khách quan của thị trường. Cách đặt luật và quản lý đất đai có vẻ như còn hơi hướm sợ đất lọt vào tay dân, nên tìm cách đề ra hết quy định nầy đến quy định khác để hạn chế, cái nọ chồng chéo lên cái kia khiến cho thị trường đất nếu không bất ổn triền miên thì cũng bị biến tướng vào những khu vực ngầm không kiểm soát được. 

Tìm hiểu ít nhiều về văn hóa, văn minh Trung Quốc, tôi có cảm nhận sở dĩ Trung Quốc từ thời kỳ đổi mới đến nay có nhiều chủ trương rất sáng tạo và tiến bộ rất nhanh là nhờ họ sớm biết tổng kết những kinh nghiệm đau thương và thất bại của quá khứ, nhất là đằng sau họ còn có cả một kho kinh nghiệm đồ sộ về thuật trị dân của những người đi trước. Với sự khôn khéo của họ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa hiểu rằng dù có nói sở hữu đất đai là gì gì đi nữa thì đất đai cũng không chạy đâu khỏi quyền kiểm soát của ông đại diện nhà nước. Về bản chất, đất đai thuộc loại bất động sản không thể xê dịch đi đâu được. Chỉ cần một nhà nước mạnh và trong sáng là có thể kiểm soát, thực hiện chính sách tài sản cho dân theo một cách công bằng tương đối nào đó bằng chính trị, kinh tế hoặc các công cụ luật pháp do mình chế định ra. Thậm chí nếu vì lý do để thực hiện những chính sách lớn nhằm vào lợi ích công cộng thì nhà nước chi phối đất đai bằng cách trưng dụng lúc nào chẳng được, miễn là có đủ vốn để làm, trong đó có một phần dành riêng đền bù cho dân. Vậy dù nói kiểu nào thì đất đai cũng là tài nguyên chung của quốc gia để cho dân sử dụng, và chỉ có dân mới là đối tượng chính được hưởng chứ không phải bất kỳ đối tượng nào khác, kể cả cái gọi là nhà nước

Kinh nghiệm về sử dụng đất đai ở Trung Quốc trong hiện tại còn cho thấy rằng thị trường hóa là linh hồn của cuộc cải cách quyền sở hữu ruộng đất: Ai tôn trọng luật pháp nước CHND Trung Hoa, người ấy được phép thuê nhà, xây nhà và buôn bán kiếm lời, không phân biệt quốc tịch nước nào. Khi áp dụng trên thực tế, các nhà chức trách Trung Quốc đã thấy rõ, càng thị trường hóa bao nhiêu thì lại càng luật lệ hóa bấy nhiêu, khiến cho số người làm chủ đất ở và đất sản xuất-kinh doanh ngày một gia tăng, đem lại những nguồn phấn khích lớn lao như một luồng gió tươi mới thổi vào một số tỉnh tiến bộ nhất trên đất nước Trung Quốc.  

Tại Việt Nam, chính sách của chúng ta còn rất nhiều điểm bất cập là nguyên nhân của mọi tình trạng lúng túng về quản lý- phân phối đất gây bất mãn cực độ trong dân. Trong quy hoạch đất đai chẳng hạn, giá trị thặng dư xuất phát từ đất đã tăng lên nhờ thay đổi mục đích sử dụng, thì cách điều hòa lợi ích chỉ đơn giản là phải đền bù thỏa đáng cho việc giải tỏa, cũng như việc tổ chức tái định cư cho dân. Mọi hành động quy hoạch nếu nói vì mục đích công cộng nhưng không thỏa mãn các điều kiện cơ bản kể trên sẽ có thể bị nghi ngờ là một sự sắp xếp có tính toán bất minh. Điều nầy chẳng những không mang lại lợi ích thật sự cho người lao động mà còn góp phần khoét sâu thêm tình trạng phân hóa xã hội theo hướng bất lợi cho dân nghèo, hoàn toàn trái hẳn với mục tiêu công bằng xã hội. Đó cũng là thực chất hoặc lý do sâu xa thật sự của tình trạng biến động giá đất và rối loạn thị trường nhà đất trong thời gian gần đây mà kết quả cuối cùng là tạo cơ hội làm giàu thêm cho những phần tử đặc quyền đặc lợi. Để tránh bước vào con đường nguy hiểm đầy sai quấy nầy, Nhà nước với tư cách là người điều hòa phúc lợi xã hội chứ không phải “chủ đất”, cần giảm hẳn mọi việc quy hoạch trên các khu dân cư hiện tại khi chưa có điều kiện đền bù giải tỏa và tổ chức tái định cư một cách thỏa đáng. 

Phải xét kỹ lại quan niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Điều 5 Luật đất đai) xem thực chất nó như thế nào, nên định nghĩa lại rõ ràng ra sao trong mối tương quan với vấn đề quyền sở hữu cá nhân vốn cần phải được xác lập một cách chắc chắn hơn nữa. Bởi hình như tính cách lập lờ khó hiểu khó áp dụng của quan niệm nầy đã trở nên lạc hậu trong hoàn cảnh mới của nền kinh tế thị trường, cũng không phù hợp với nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, vừa tạo điều kiện cho sự vận dụng tùy tiện của các nhà chức trách địa phương trong hành vi gọi “giao đất”, “thu hồi đất”…, vừa trở thành lý do chính của nhiều thứ lạm dụng đã rõ như ban ngày mà Nhà nước vẫn không sao kiểm soát được ª 

(1) Về vấn đề bóc lột giá trị thặng dư từ đất, xin xem bài “Xác lập quan điểm mới cho vấn đề quy hoạch sử dụng đất”, của Trần Khuyết Nghi, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 163, tháng 5.2004. 

(2) Xem “Để chống tham nhũng một cách thật sự hiệu quả”, của Trần Khuyết Nghi, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 179, tháng 9.2005. 

—————————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 11/2005

XÃ HỘI DÂN SỰ

GS. LARRY DIAMOND

Xã hội dân sự là gì và không là gì 

Xã hội dân sự ở đây được hiểu là một mảng của đời sống xã hội có tổ chức, mang tính tự nguyện, tự tái tạo, (hầu như) tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau bằng một trật tự pháp lý hay một số nguyên tắc chung. Nó khác với “xã hội” nói chung ở chỗ nó gồm các công dân hành động tập thể trong môi trường công (public sphere) để thể hiện các lợi ích, quan tâm và các ý tưởng của họ, cũng như trao đổi thông tin, giành các mục tiêu chung, yêu sách với nhà nước, và trông chừng các quan chức. Xã hội dân sự là một thực thể trung gian, nằm giữa môi trường tư (private sphere) và nhà nước. Như vậy, nó loại trừ đời sống cá nhân và gia đình, các hoạt động nhóm hướng nội (ví dụ như thể thao, giải trí hay tâm linh), các hoạt động kiếm lời của các doanh nghiệp, và các nỗ lực chính trị nhằm giành quyền kiểm soát chính quyền. Các nhân vật trong xã hội dân sự cần sự bảo vệ bởi một trật tự pháp luật được thể chế hoá nhằm bảo đảm quyền tự trị của họ và quyền tự do hành động. Do đó, xã hội dân sự không chỉ hạn chế sức mạnh nhà nước mà còn đem lại chính nghĩa cho quyền lực nhà nước, khi quyền lực đó dựa trên pháp quyền (rule of law). Khi bản thân nhà nước lại không có luật lệ và coi thường quyền tự trị của cá nhân và các nhóm, xã hội dân sự vẫn có thể tồn tại (dù chỉ dưới hình thức sơ khai hay hoang tàn) nếu như các thành tố của nó vận hành theo một nhóm các nguyên tắc được chia sẻ (thí dụ như những [nguyên tắc] tránh sử dụng bạo lực và tôn trọng đa nguyên). Đây là điều kiện không thể tối giản trong chiều cạnh “dân sự” của nó [1]. 

Xã hội dân sự bao gồm một dải rất rộng các tổ chức chính thức và không chính thức. Chúng gồm tổ chức mang tính: 1) kinh tế (các hiệp hội và mạng lưới sản xuất và thương mại); 2) văn hoá (tôn giáo, đạo đức, cộng đồng và các thiết chế và tổ chức khác bảo vệ các quyền, giá trị, niềm tin, tín ngưỡng, biểu tượng của tập thể); 3) thông tin và giáo dục (cho việc tạo ra và phát tán-dù là vụ lợi hay phi vụ lợi- những kiến thức, ý tưởng, tin tức và thông tin công (public); 4) dựa trên lợi ích (thiết kế để thúc đẩy hay bảo vệ những lợi ích căn bản hay lợi ích vật chất chung của các thành viên, có thể là công nhân, cựu chiến binh, người hưởng lương hưu, chuyên gia v.v.); 5) phát triển (các tổ chức kết hợp nguồn lực cá nhân để cải thiện hạ tầng, thể chế, và chất lượng cuộc sống của cộng đồng); 6) hướng vấn đề (các phong trào bảo vệ môi trường, quyền phụ nữ, cải cách ruộng đất, hay bảo vệ người tiêu dùng); 7) công dân (tìm các phương tiện phi đảng phái để cải thiện hệ thống chính trị và dân chủ hoá nó thông qua việc theo dõi nhân quyền, giáo dục và vận động cử tri, theo dõi bầu cử, các nỗ lực chống tham nhũng v.v.)  

Hơn nữa, xã hội dân sự bao gồm “thị trường ý thức hệ” và một dòng chảy thông tin và ý tưởng. Nó bao gồm không chỉ truyền thông độc lập mà còn các tổ chức thuộc về một không gian rộng hơn, gồm các hoạt động văn hoá và tri thức độc lập-các trường đại học, viện nghiên cứu, nhà xuất bản, nhà hát, các xưởng phim, và các mạng lưới của giới nghệ sĩ.  

Từ trên đây, ta sẽ thấy rõ rằng xã hội dân sự không phải là một nhóm “còn lại”, đồng nghĩa với xã hội, hay trùng với những gì không thuộc nhà nước hay hệ thống chính trị chính thức. Ngoài tính chất tự nguyện, tự tái tạo, tự trị và tuân theo quy định, các tổ chức của xã hội dân sự cũng khác với các tổ chức xã hội khác ở nhiều mặt. Một là, như nhấn mạnh ở trên, xã hội dân sự quan tâm đến các mục tiêu công, chứ không phải mục tiêu tư. Hai là, xã hội dân sự liên quan đến nhà nước theo cách nhất định, nhưng không nhằm mục đích giành quyền lực hay địa vị chính thức trong bộ máy nhà nước. Thay vào đó, các tổ chức xã hội dân sự tìm kiếm ở nhà nước tính khả tín và những nhượng bộ, những thay đổi, giảm nhẹ hay sửa chữa các chính sách. Các tổ chức công dân và các phong trào xã hội mong muốn thay đổi bản chất của nhà nước vẫn có thể được xếp vào xã hội dân sự, nếu những cố gắng của chúng bắt nguồn từ quan tâm đến lợi ích chung, và không từ tham vọng tự thân là giành quyền lực nhà nước cho mình. Vì thế, các phong trào hoà bình đấu tranh cho chuyển đổi dân chủ thường nảy sinh từ xã hội dân sự.  

Một điểm phân biệt nữa là xã hội dân sự thể hiện đa nguyên và đa dạng. Nếu một tổ chức-chẳng hạn như cực đoan tôn giáo, sô-vanh chủng tộc, cách mạng hay các phong trào cứu thế-mà tìm cách độc quyền hoá một khu vực chính trị hay chức năng trong xã hội, xác quyết rằng nó đại diện con đường duy nhất đúng, thì nó mâu thuẫn với bản chất đa nguyên và hướng thị trường của xã hội dân sự. Liên quan đến điểm này là chiều cạnh thứ tư, tính bộ phận (partialness), tức là không một nhóm nào trong xã hội dân sự muốn đại diện có toàn bộ lợi ích của một cá nhân hay một cộng đồng. Thay vào đó, các nhóm khác nhau đại diện cho các lợi ích khác nhau.  

Xã hội dân sự không chỉ khác và độc lập với nhà nước và xã hội nói chung, mà còn độc lập với mảng thứ tư của hành động xã hội, xã hội chính trị (tức là, về cơ bản, là hệ thống đảng phái). Các tổ chức và mạng lưới trong xã hội dân sự có thể liên minh với các đảng, nhưng nếu chúng bị lũng đoạn bởi các đảng, hay phục tùng chúng, thì các tổ chức ấy đã chuyển trọng tâm vào các hoạt động trong xã hội chính trị và mất phần lớn năng lực để thực hiện những chức năng trung gian và xây dựng dân chủ độc đáo của mình.  

Các chức năng dân chủ của xã hội dân sự  

Chức năng đầu tiên và căn bản nhất của xã hội dân sự là cung cấp “cơ sở cho việc giới hạn quyền lực nhà nước của xã hội, vì thế, cho việc kiểm soát nhà nước bởi xã hội, và do đó, cho các thể chế chính trị dân chủ với tư cách là công cụ thực thi việc kiểm soát đó một cách hữu hiệu nhất” [2]. Chức năng này có hai chiều: để giám sát và kiềm chế việc thực thi quyền lực của các nhà nước dân chủ, và để dân chủ hoá các nhà nước độc tài. Vận động xã hội dân sự là một biện pháp chính để vạch ra sự lạm dụng và làm xói mòn tính chính thống của các chính quyền độc tài. Đây là chức năng được phát huy một cách đầy kịch tính trong nhiều quá trình chuyển đổi dân chủ trong hai thập niên qua, đến mức  nó đã đẩy xã hội dân sự lên tuyến đầu trong tư tưởng dân chủ. Tất nhiên lối suy nghĩ này chỉ tân trang ý tưởng thế kỷ 18 về xã hội dân sự như là trong thế đối lập với nhà nước, và, như tôi sẽ chỉ ra, nó chứa đựng những nguy cơ nếu đi quá xa [3].  

Xã hội dân sự cũng là một công cụ tối quan trọng để kiềm chế quyền lực của các nhà nước dân chủ, trông chừng sự lạm dụng và vi phạm pháp luật tiềm ẩn của chúng, và đặt chúng dưới sự giám sát của công chúng. Thật vậy, một xã hội dân sự sống động thậm chí còn thiết yếu cho việc củng cố và duy trì nền dân chủ hơn cả việc khởi xướng nền dân chủ. Không có thay đổi nào nguy hại hơn với tính chính nghĩa của các nền dân chủ non trẻ hơn là tham nhũng chính trị tràn lan và trắng trợn, đặc biệt là trong các giai đoạn đau đớn nhằm tái cấu trúc kinh tế, mà trong đó nhiều nhóm và cá nhân bị đòi hỏi phải chịu đựng những khó khăn to lớn. Các nền dân chủ mới, nối tiếp các thời kì cai trị tuỳ tiện và tập quyền, thường thiếu các phương tiện luật pháp và bộ máy quan liêu để kiểm soát tham nhũng ngay từ đầu. Không có báo chí và các nhóm dân sự mạnh, được tự do trông chừng [nhà nước-ND] để thúc đẩy các cải cách thể chế, tham nhũng thường sẽ bùng phát.  

Hai là, một đời sống liên đới lành mạnh sẽ bổ sung cho vai trò của các chính đảng trong việc khuyến khích tham gia chính trị, tăng tính hướng đích và kỹ năng chính trị của các công dân trong chế độ dân chủ, và thúc đẩy nhận thức về nghĩa vụ cũng như các quyền của công dân dân chủ. Với quá nhiều người Mỹ (mà chỉ một nửa trong số họ còn bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử tổng thống), thì đây có vẻ như là một bài giảng xa lạ và kỳ cục. Tuy nhiên, một thế kỷ rưỡi trước, sự tham gia tự nguyện của các công dân vào đủ loại liên đới bên ngoài nhà nước đã gây ấn tượng mạnh cho Tocqueville như là hòn đá tảng của văn hóa dân chủ hoá sự sống động về mặt kinh tế của Hợp Chủng Quốc non trẻ. Các tổ chức tự nguyện “do đó có thể được coi là các trường học độc lập lớn, mà trong đó mọi thành viên của cộng đồng đến học lý thuyết chung về liên đới”, ông đã viết [4] .  

Xã hội dân sự còn có thể là một vũ đài quan trọng cho sự phát triển các thành tố dân chủ khác, như khoan dung, ôn hoà, sẵn sàng nhượng bộ, và tôn trọng các quan điểm trái ngược. Các giá trị và chuẩn mực này trở nên ổn định nhất khi chúng nổi lên thông qua kinh nghiệm, và tham gia vào các tổ chức trong xã hội dân sự, cung cấp bài học thực hành quan trọng về ủng hộ và cạnh tranh chính trị. Thêm vào đó, nhiều tổ chức dân sinh (như Conciencia, một mạng lưới các hiệp hội phụ nữ, được thành lập đầu tiên ở Argentina và từ đó đã lan sang 14 nước Mỹ Latinh khác) đang làm việc trực tiếp với các trường học và cùng với các nhóm thành niên khác, để phát triển các thành tố dân chủ này thông qua các chương trình tương tác mô tả quá trình động nhằm đạt tới đồng thuận trong một nhóm, chứng minh khả năng có thể tồn tại tranh luận nghiêm túc giữa các quan điểm cạnh tranh nhau, và các cách hợp tác để giải quyết các vấn đề trong cộng đồng của chính họ [5].  

Cách thứ tư mà xã hội dân sự có thể đóng góp cho dân chủ là tạo ra các kênh nằm ngoài các đảng phái chính trị để biểu đạt, tập hợp và đại diện các lợi ích. Chức năng này đặc biệt quan trọng trong việc đem lại khả năng tiếp cận quyền lực cho các nhóm mà trước đây bị gạt ra lề: phụ nữ và các sắc tộc hay chủng tộc thiểu số, vốn luôn bị từ chối trong “nấc thang bên trên của thể chế” trong chính trị chính thống. Thậm chí, ở những nơi mà phụ nữ đã từng đóng vai trò, qua nhiều phong trào và tổ chức (như ở Mỹ La tinh), nền chính trị và hành chính sau chuyển đổi thường quay lại mô thức đặc quyền và hẹp hòi trước đó. Ở Đông Âu, đã có nhiều dấu hiệu cho thấy sự sút giảm địa vị xã hội và chính trị của phụ nữ sau chuyển đổi. Chỉ bằng các sức ép có tổ chức và lâu dài từ dưới lên, từ xã hội dân sự, thì quyền bình đẳng xã hội và chính trị mới được đẩy mạnh, và chất lượng, năng lực phản hồi và tính chính thống của nền dân chủ mới được nâng lên [6].  

Xã hội dân sự cung cấp một nền tảng đặc biệt vững cho dân chủ khi nó tạo cơ hội tham gia và ảnh hưởng ở mọi cấp quản lý nhà nước, nhất là cấp địa phương. Bởi vì chính ở cấp địa phương mà các nhóm từng bị gạt ra lề trong lịch sử có nhiều cơ hội nhất để tác động vào chính sách công và phát triển cảm nhận về tính hướng đích (sense of efficacy) cũng như các kĩ năng chính trị thực tế. Do đó, dân chủ hóa chính quy hoá địa phương đi đôi với sự phát triển của xã hội dân sự là một điều kiện làm cho dân chủ và “quá trình chuyển tiếp từ quan hệ chủ tớ sang công dân” trở nên sâu sắc hơn ở Mỹ Latinh cũng như các nơi khác trong thế giới đang phát triển [7].  

Năm là, một xã hội dân sự đa nguyên sinh động, đặc biệt là trong các nền kinh tế phát triển cao, sẽ có xu hướng tạo ra một dải rộng các lợi ích đan chéo, và do đó làm dịu bớt những sự phân cực cơ bản của xung đột chính trị. Trong khi các tổ chức dựa trên các giai cấp mới hình thành và các phong trào hướng-vấn đề (issue-oriented) khởi lên, chúng cũng lôi kéo các thành phần mới, cắt ngang qua các đường ranh giới về đảng phái, sắc tộc, tôn giáo và lãnh thổ. Khi lật đổ các nền độc tài, những cấu trúc mới này có thể tạo ra một loại hình công dân hiện đại xuyên thấu các chia rẽ về lịch sử và ngăn chặn sự trỗi dậy của các xung lực dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi. Trong chừng mực mà các cá nhân có quan tâm đa dạng và tham gia vào đủ loại tổ chức khác nhau để theo đuổi và thúc đẩy các lợi ích đó, họ sẽ liên kết với nhiều loại người khác nhau, những người có các lợi ích và quan điểm chính trị không đồng nhất. Những sức ép đan chéo này sẽ có khuynh hướng làm mềm sự quyết liệt trong quan điểm của chính họ, và hình thành các quan điểm chính trị rộng mở và tinh tế hơn, và vì thế sẽ khuyến khích sự khoan dung những khác biệt và sẵn sàng hơn cho nhượng bộ.  

Chức năng thứ sáu của một xã hội dân sự dân chủ là tuyển lựa và đào tạo các lãnh tụ chính trị mới. Trong một vài trường hợp, đây chính là mục đích của các tổ chức dân sinh. Ví dụ, Quỹ Evelio B. Javier ở Philippines có các chương trình đào tạo trên cơ sở phi đảng phái cho các ứng cử viên và quan chức thắng cử vào các vị trí địa phương và quốc gia, tập trung không chỉ vào các kỹ năng hành chính và kỹ thuật, mà còn vào các quy phạm mang tính chuẩn tắc về trách nhiệm công và tính minh bạch [8]. Thông thường hơn, việc tuyển lựa và đào tạo chỉ là một phụ phẩm dài hạn của việc vận hành thành công các tổ chức xã hội dân sự mà ở đó, các nhà hoạt động và lãnh tụ của các tổ chức này học được các kỹ năng và sự tự tin, những thứ trang bị sẵn sàng cho họ, để phục vụ trong chính quyền và nền chính trị đảng phái. Họ học cách tổ chức và khơi cảm hứng cho người khác, tranh luận, gây và quản lý quỹ, lập ngân sách, quảng bá nghị trình, quản lý nhân sự, vận động sự ủng hộ, và xây dựng các liên minh. Cùng lúc đó, công việc của họ nhân danh những người ủng hộ, hay nhân danh những thứ mà họ thấy là thuộc về lợi ích công cộng, và sự minh biện (articulation) của họ về các phương án khác nhau, rõ ràng và thuyết phục, cho một chính sách, có thể đem lại cho họ sự ủng hộ chính trị rộng lớn hơn. Các nhóm lợi ích, các phong trào xã hội và các nỗ lực của cộng đồng đủ loại do đó có thể đào tạo, tôi luyện và giới thiệu cho công chúng một lớp các nhà lãnh đạo chính trị tiềm năng đa dạng hơn (và mang tính đại diện hơn), những người có thể được các chính đảng thu nhận. Vì sự thống trị truyền thống của nam giới trong các kênh quyền lực, xã hội dân sự là một căn cứ đặc biệt quan trọng để đào tạo và thu nhận phụ nữ (và thành viên của các nhóm bị gạt ra lề khác) vào các vị trí của nền chính trị chính thống. Khi mà việc tuyển lựa các lãnh tụ chính trị trong các chính đảng cũ trở nên hẹp hòi hay bế tắc, chức năng này của xã hội dân sự có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng sức sống cho nền dân chủ và hồi sinh tính chính đáng của nó.  

Bảy là, nhiều tổ chức dân sự có các mục đích xây dựng dân chủ rõ ràng không chỉ giới hạn trong việc đào tạo khả năng lãnh đạo. Các nỗ lực phi đảng phái nhằm giám sát bầu cử đã và đang giữ vai trò quyết định trong việc ngăn chặn gian lận [trong bầu cử] và nâng cao niềm tin của cử tri, khẳng định tính hợp hiến của kết quả, và trong nhiều trường hợp (như ở Philippines năm 1986 và Panama năm 1989) chứng minh chiến thắng của phe đối lập bất chấp sự gian lận của chính quyền đương nhiệm. Chức năng này đặc biệt quan trọng trong các cuộc bầu cử bản lề như các cuộc bầu cử đã khai sinh các nền dân chủ ở Chile, Nicaragua, Bulgaria, Zambia, và Nam Phi. Các tổ chức và viện nghiên cứu dân chủ đang làm việc ở nhiều nước để cải cách hệ thống bầu cử, dân chủ hoá các chính đảng, phi tập trung hoá và mở rộng chính quyền, tăng sức mạnh cho lập pháp, và củng cố tính khả tín của chính quyền. Và thậm chí sau chuyển đổi, các tổ chức nhân quyền vẫn tiếp tục đóng vai trò sống còn trong việc theo đuổi các cải cách luật pháp và tư pháp, cải thiện điều kiện trong nhà tù, và làm cho việc tôn trọng các quyền tự do cá nhân và quyền của người thiểu số được thể chế hoá rộng rãi hơn. 

Tám là, một xã hội dân sự sôi động sẽ lan truyền thông tin rộng rãi, do đó trợ giúp các công dân trong việc cùng nhau theo đuổi và bảo vệ quyền lợi và các giá trị của họ. Trong khi các nhóm của xã hội dân sự có thể đôi lúc thắng thế một cách tạm thời bởi con số thô (như trong các cuộc bãi công và biểu tình), họ thường không hiệu quả trong việc tranh cãi với các chính sách của nhà nước hay bảo vệ lợi ích của mình, trừ khi họ nắm được thông tin. Điều này đặc biệt đúng trong các tranh luận về chính sách quốc phòng và an ninh quốc gia, khi mà bên dân sự ở các nước đang phát triển thường thiếu những kiến thức căn bản nhất. Báo chí tự do chỉ là một kênh cung cấp cho công chúng thông tin và các quan điểm thay thế. Các tổ chức đối lập có thể cung cấp cho các công dân những thông tin khó kiếm về các hoạt động của chính phủ mà không cần dựa vào cái nhà nước nói  là nó đang thực hiện. Đây là một kỹ thuật căn bản của các tổ chức nhân quyền: bằng cách công kích các tuyên bố chính thức, họ làm cho nhà nước khó khăn hơn trong việc che giấu sự đàn áp và lạm dụng quyền lực.  

Sự lan truyền của thông tin và các tư tưởng mới  là thiết yếu cho việc đạt được cải cách về kinh tế trong một nền dân chủ, và đây là chức năng thứ chín của xã hội dân sự. Trong khi các chính sách ổn định kinh tế trong các tình huống khủng hoảng phải được giới lãnh đạo trúng cử thực thi một cách nhanh chóng, mạnh mẽ và đơn phương, thì các cải cách kinh tế mang tính cấu trúc sâu hơn, như tư nhân hoá, tự do hoá thương mại và tài chính- có vẻ như sẽ có hiệu quả lâu dài và rộng khắp hơn nếu chúng được thực thi qua một tiến trình mang tính dân chủ.  

Cải cách kinh tế thành công đòi hỏi sự ủng hộ của các liên minh chính trị trong xã hội và trong lập pháp. Những liên minh như thế không phải là tức thì, chúng phải được tạo lập dần dần. Ở đây, vấn đề chính không phải là quy mô, tính độc lập hay nguồn lực của xã hội dân sự, mà là sự phân phối của nó giữa các lợi ích. Các lợi ích cũ xác lập từ trước, những cái có nguy cơ bị mất đi do cải cách, thường được tổ chức thành các cấu trúc như các công đoàn trong khu vực quốc doanh và các mạng lưới kết nối các giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước hay chủ các ngành công nghiệp được ưu đãi với các ông chủ trong đảng cầm quyền. Đây chính là những lợi ích sẽ cản đường cải cách kinh tế, vốn sẽ đóng cửa các ngành công nghiệp không hiệu quả, giảm sự can thiệp của nhà nước và mở nền kinh tế ra cho cạnh tranh nội địa và quốc tế mạnh mẽ hơn. Các lợi ích mới và phân tán hơn, vốn sẽ được hưởng lợi từ cải cách –ví dụ như nông dân, các doanh nghiệp nhỏ, và người tiêu dùng- thường là có tổ chức yếu hơn và thông tin kém hơn về các chính sách mới sẽ ảnh hưởng đến họ. Ở châu Á, Mỹ Latinh, và Đông Âu, những diễn viên mới trong xã hội dân sự- như là các viện nghiên cứu kinh tế, phòng thương mại, và các phóng viên, nhà bình luận và hãng truyền hình chuyên sâu về kinh tế học- đang bắt đầu vượt qua những rào cản về thông tin và tổ chức, đang vận động sự ủng hộ (và vô hiệu hoá những chống đối) cho các chính sách cải cách.  

Cuối cùng, có một chức năng thứ mười của xã hội dân sự- cái tôi đã đề cập trước đây- bắt nguồn từ sự thành công của chính chức năng trước. “Tự do liên kết”, Tocqueville triết lý, có thể, “sau khi khuấy động xã hội một thời gian, … cuối cùng sẽ làm cho nhà nước mạnh lên” [9]. Bằng việc nâng cao tính khả tín, tính phản hồi, bao dung, hiệu quả và do đó tính chính đáng của hệ thống chính trị, một xã hội dân sự sống động sẽ đem lại cho các công dân một sự tôn trọng nhà nước và sự tham gia tích cực vào đó. Thêm nữa, một những liên kết đa dạng có thể còn làm nhiều hơn là nhân thêm các đòi hỏi cho nhà nước; nó còn có thể nhân lên năng lực của các nhóm để tự cải thiện phúc lợi của chính mình mà không cần đến nhà nước. Các nỗ lực phát triển ở cấp cơ sở do đó có thể đỡ bớt gánh nặng các kỳ vọng đặt lên vai nhà nước, và do đó giảm bớt vai trò của chính trị, đặc biệt là ở mức quốc gia ª 

Lâm Yến, Khải Minh dịch 

Nguồn: Larry Diamond and Marc F. Platter: “The Global Resurgence of Democracy”; Second Edition (The John Hopkins University Press, 1996), 227-240.  

 [1] Định nghĩa các khái niệm này được rút ra từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng ảnh hưởng chính là từ Naomi Chazan. Xem cụ thể trong Chazan, “Africa’s Democratic Challenge: Strengthening Civil Society and the State,” World Policy Journal 9 (Spring 1992): 279-308. Xem thêm Edward Shils, “The Virtue of Civil Society,” Government and Opposition 26 (Winter 1991): 9-10, 15-16; Peter Lewis, “Political Transition and the Dilemma of Civil Society in Africa,” Journal of International Affairs 27 (Summer 1992): 31-54. Marcia A.Weigle và Jim Butterfield, “Civil Society in Reforming Communist Regimes: The Logic of Emergence,” Comparative Politics 25 (October 1992): 3-4; và Philippe C. Schmitter, “Some Propositions about Civil Society and the Consolidation of Democracy” (Báo cáo tại một hội thảo về “Reconfiguring State and Society,” University of California, Berkeley, 22-23 April 1993).  

[2] Samuel Huntington, “Will More Countries Become Decocratic?” Political Science Quarterly 99 (Summer 1984): 204. Xem thêm Seymour Martin Lipset, Political Man (Baltimore: John Hopkins University Press, 1981), 52. 

[3] Bronislaw Geremek, “Civil Society Then and Now,” Journal of Democracy 3 (April 1992): 3-12.  

[4] Alexis de Tocqueville, Democracy in America, 2 vols. (New York: Vintage Books, 1945 [orig. publ 1840]), 2:124.  

[5] María Rosa de Martini và Sofía de Pinedo, “Women and Civic Life in Argentina,” Journal of Democracy 3 (July 1992): 138-46 và María Rosa de Martini, “Civic Participation in the Argentine Democratic Process,” in Larry Diamond, ed., The Democratic Revolution: Struggles for Freedom and Pluralism in the Developing World (New York: Freedom House , 1992), 29-52.  

[6] Georgina Waylen, “Women and Democratization: Conceptualizing Gender Relations in Transition Politics,” World Politics 46 (April 1994): 327-54. Mặc dù O’Donnell và Schmitter nói về các nguy cơ của việc huy động quần chúng quá mức trong quá trình chuyển đổi, chỉ trích của bà đối với khoa học về dân chủ nói chung-rằng môn khoa học này đã coi nhẹ  vai trò của xã hội dân sự-đã xuất phát từ chỗ khái quát hóa một cách không công bằng và hẳn nhiên là không thể áp dụng cho Phi Châu. Hơn thế, chấp nhận quan điểm thách thức của bà rằng xã hội dân sự đóng vai trò trung tâm trong quá trình dân chủ hóa không đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận quan điểm khăng khăng của bà trong việc định nghĩa dân chủ bao gồm cả các quyền kinh tế, xã hội và chính trị.  

[7] Jonathan Fox, “Latin America’s Emerging Local Politics,” Journal of Democracy 5 (April 1994): 114.  

[8] Dette Pascual, “Organizing People Power in the Philippines,” Journal of Democracy 1 (Winter 1990): 102-9.  

[9] Tocqueville, Democracy in America, 2:126. 

————————————————————————

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 2/2006

THƯƠNG HIỆU VÀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

LÊ ĐĂNG LĂNG

Trong bối cảnh kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi, các giá trị cốt lõi của sản phẩm không chênh lệch nhiều thì thương hiệu là chiếc chìa khoá tạo ra khác biệt giữa các doanh nghiệp. Chính thương hiệu không chỉ góp phần làm tăng giá trị của sản phẩm mà còn làm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp, hay nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp.

Thương hiệu doanh nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa

Thương hiệu theo như tên gọi là “thương“ và “hiệu”, nghĩa là ký hiệu của một doanh nghiệp trên thương trường. Chính thương hiệu dùng để nhận biết và phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, nếu thương hiệu chỉ là một ký hiệu thì sẽ không thể trở thành một tài sản của doanh nghiệp. Do vậy, nếu chỉ đơn thuần là tên gọi thì chưa thể gọi là thương hiệu. Theo quan điểm của nhiều chuyên gia Marketing, thương hiệu phải là tổng thể nhiều yếu tố tạo thành và phải được đăng ký sở hữu tại nước sở tại. Những yếu tố tạo nên thương hiệu bên cạnh tên gọi, logo, khẩu hiệu, nhạc hiệu, hình tượng, và kiểu dáng sản phẩm gọi là “phần xác” thì thương hiệu phải có “phần hồn” thể hiện qua tầm nhìn (Vision) và nhiệm vụ (Mission) của thương hiệu. Thêm vào đó, nếu thương hiệu không được người tiêu dùng biết đến và hiểu đúng sứ mạng, nhiệm vụ của nó (do không quảng bá) thì thương hiệu không còn mang ý nghĩa đầy đủ của một thương hiệu hay nói cách khác là không có ý nghĩa về mặt giá trị. Trái lại, khi nói đến nhãn hiệu hàng hoá là nói đến những dấu hiệu và đặc tính của sản phẩm dùng để nhận biết và phân biệt một sản phẩm đã được đăng ký bảo hộ và bày bán trên thị trường với những sản phẩm khác. Tuy nhiên, tại Việt Nam, thương hiệu doanh nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá thường được dùng cũng như hiểu lẫn lộn nhau, do đó khi đề cập đến thuật ngữ “thương hiệu” (Brand) thì đó có thể là thương hiệu doanh nghiệp hay nhãn hiệu hàng hoá.

Quy trình xây dựng thương hiệu

Quy trình xây dựng thương hiệu được bắt đầu bằng việc thiết lập hệ thống thông tin marketing (Marketing Information System – MIS). Đây là một bước chuẩn bị cần thiết, gần như không thể thiếu đối với công tác xây dựng thương hiệu hay bất kỳ một chuyên gia thương hiệu nào. Để thiết lập MIS, doanh nghiệp có thể tự làm bằng cách thực hiện nghiên cứu marketing bởi một số phương pháp như: phương pháp nghiên cứu định tính – nghiên cứu khám phá (Focus Group, Face-to-Face), phương pháp nghiên cứu định lượng – nghiên cứu mô tả (Direct-Interview, Tele – Interview,..) dựa vào bảng câu hỏi (Questionnaire) đồng thời khảo sát, đánh giá lại nguồn nội lực. Mặt khác, doanh nghiệp cũng có thể yêu cầu một số công ty dịch vụ bên ngoài – agency để thực hiện các dự án nghiên cứu marketing. Ưu điểm của việc thuê agency là độ chính xác thông tin cao và thông tin thu được đáp ứng mục đích cần sử dụng. Tuy nhiên, khi sử dụng agency có một số vấn đề cần quan tâm là chi phí cho việc thu thập thông tin có thể tăng lên vượt qua ngân sách cho phép và độ bảo mật thông tin cũng cần phải xem lại, đặc biệt là với những agency hoạt động không chuyên nghiệp. Một số agency có uy tín trên thị trường hiện nay như: ACNielson (Mỹ), TNS (Anh), Trương Đoàn (Local Agency),… Kinh nghiệm cho thấy khi chọn agency để thực hiện các dự án nghiên cứu nên căn cứ vào ngân sách cho phép và/ hoặc mức độ quan trọng của thông tin cần thu thập, với các công ty nhỏ – ngân sách ít hay mức độ quan trọng của thông tin cần không cao thì nên chọn các agency địa phương là tốt nhất. Thêm vào đó, sau khi đã thu thập thông tin cần phân tích sự tác động – mức độ ảnh hưởng của những thông tin này đến thương hiệu và công tác xây dựng thương hiệu. Một số kinh nghiệm về lựa chọn loại thông tin để phân tích như sau: i) Phân tích khách hàng thông qua: xu hướng tiêu dùng, động lực thúc đẩy mua hàng, những nhu cầu chưa thoả mãn, phân khúc thị trường,..; ii) Phân tích đối thủ cạnh tranh thông qua: hình ảnh thương hiệu và việc nhận diện thương hiệu, phân tích các điểm mạnh và yếu, các rủi ro và cơ hội của đối thủ, chiến lược hiện tại và tương lai; iii) Phân tích môi trường doanh nghiệp thông qua: hình ảnh hiện tại, các điểm mạnh, yếu, cơ hội và rủi ro, các giá trị, văn hoá, truyền thống doanh nghiệp,…

Khi đã thiết lập MIS và phân tích, đánh giá thông tin thì công việc tiếp theo là xây dựng Tầm nhìn thương hiệu – Là một thông điệp ngắn gọn và xuyên suốt, định hướng hoạt động của công ty đồng thời cũng định hướng phát triển cho thương hiệu và sản phẩm qua phân tích định vị giữa hiện tại và tương lai. Nói chung, Tầm nhìn thương hiệu thể hiện lý do cho sự hiện hữu của doanh nghiệp. Tầm nhìn hương hiệu có một số vai trò như: i) Thống nhất mục đích phát triển của doanh nghiệp và tạo sự nhất quán trong lãnh đạo; ii) Định hướng sử dụng nguồn lực; iii) Xây dựng thước đo cho sự phát triển thương hiệu và tạo tiền đề cho việc xây dựng các mục tiêu phát triển; iv) Động viên nhân viên hướng tới mục đích phát triển chung. Mặt khác, khi xây dựng Tầm nhìn thương hiệu cần đảm bảo các yêu cầu sau: i) Tầm nhìn thương hiệu cần thể hiện loại hình doanh nghiệp, loại sản phẩm, lợi ích sản phẩm, khách hàng mục tiêu, triết lý và giá trị công ty, định hướng tương lai của doanh nghiệp; ii) Phong cách của Tầm nhìn thương hiệu là mở rộng, cốt lõi, động viên, dễ nhớ và khác biệt. Một số điển hình về Tầm nhìn thương hiệu như sau:

° “Mục tiêu căn bản của General Motor là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ chất lượng để khách hàng tiếp nhận một giá trị tuyệt hảo, nhân viên và đối tác sẽ chia sẻ sự thành công và cổ đông sẽ liên tục nhận được lãi cao từ những đầu tư của họ”.

° “Tại IBM, chúng ta phấn đấu để dẫn đầu trong việc sáng tạo, phát triển và sản xuất công nghệ thông tin hàng đầu, bao gồm hệ thống computer, phần mềm, hệ thống mạng, dự trữ dữ liệu và các thiết bị điện tử. Chúng ta chuyển đổi những khoa học kỹ thuật vượt trội này thành lợi ích cho khách hàng bằng những giải pháp chuyên nghiệp và phục vụ doanh nghiệp trên toàn cầu”.

Bước tiếp theo sau khi đã xây dựng Tầm nhìn thương hiệu là hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu. Một số chiến lược phổ biến như: 1) Chiến lược thương hiệu hình ô (Chiến lược thương hiệu gia đình): Chỉ sử dụng một thương hiệu chính làm chủ, chia làm hai loại: loại cùng tên (BMW gồm BMW 405, BMW 205, BMW 325) và loại khác tên (GE gồm GE Capital, GE Appliance, GE Profile). Lợi ích của chiến lược này là một thương hiệu chính mạnh sẽ giúp các thương hiệu phụ khác phát triển, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có một số rủi ro như khi thương hiệu mới thất bại có thể gây ảnh hưởng ngược đến thương hiệu chính; 2) Chiến lược thương hiệu phụ (Chiến lược thương hiệu nguồn): Xây dựng thương hiệu phụ từ thương hiệu chính với nhận diện riêng biệt cho dòng sản phẩm khác. Lợi ích là được hưởng uy tín trực tiếp từ thương hiệu chính nhưng có rủi ro là dễ làm ảnh hưởng đến uy tín của thương hiệu chính trong trường hợp xấu. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa thương hiệu chính và thương hiệu phụ thể hiện qua hai dạng: i)Thương hiệu chính dẫn đạo là khi thương hiệu chính đóng vai trò dẫn đạo và thúc đẩy thương hiệu phụ, thương hiệu phụ đóng vai trò hỗ trợ trong thúc đẩy tiến trình mua hàng của người tiêu dùng (Khi mua Dell Dimension thì đang nghĩ là mua Dell); ii) Thương hiệu chính – phụ song song là khi cả hai thương hiệu chính và phụ cùng đóng vai trò “lèo lái” và cùng được nhận thức như một; 3) Chiến lược thương hiệu – sản phẩm (Chiến lược ngôi nhà thương hiệu): Xây dựng thương hiệu gồm một tập hợp các thương hiệu độc lập nhau hoặc có tính bảo trợ xa. Trong thương hiệu độc lập, các thương hiệu riêng lẻ nhau và cạnh tranh nhau nhằm phát huy tối đa khả năng của từng thương hiệu và tránh trường hợp những thương hiệu yếu làm giảm uy tín của thương hiệu mạnh, điển hình cho chiến lược này là Pantene và Rejoice của P&G hoặc Sunsilk và Clear của Unilever. Trong thương hiệu bảo trợ xa, thường không kết nối rõ ràng với thương hiệu chính nhưng nhiều khách hàng biết đến sự liên hệ này (khách hàng mua Lexus vì tin vào Toyota); 4) Chiến lược thương hiệu bảo trợ: Xây dựng thương hiệu bảo trợ – thương hiệu mới có mối quan hệ gắn bó và được hỗ trợ bởi thương hiệu chủ. Mục đích khi áp dụng là xây dựng lòng tin của khách hàng cho thương hiệu mới và thay đổi nhận thức của khách hàng về thương hiệu được bảo trợ. Trong loại chiến lược này thì thương hiệu chủ bảo trợ chỉ đóng vai phụ hỗ trợ. Bên cạnh đó, chiến lược thương hiệu bảo trợ được chia làm 03 dạng: 1) Bảo trợ nhẹ – chiến lược thương hiệu & sản phẩm (Universal Picture do Sony bảo trợ, Lotus do IBM bảo trợ); 2) Bảo trợ mạnh – chiến lược thương hiệu nhóm (Couryard bởi Marriott); 3) Nối tên – chiến lược thương hiệu dãy (trong sản phẩm Nestlé có Nescafé và Nestea)..

Trên cơ sở chiến lược phát triển thương hiệu đã lựa chọn tiến hành định vị thương hiệu – Xác định vị trí của thương hiệu đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường được nhận thức bởi người tiêu dùng, có 08 bước định vị thương hiệu như sau:

Bên cạnh đó, trong lời phát biểu định vị phải ngắn gọn, xác định đặc tính sản phẩm, lợi ích sản phẩm và nhóm khách hàng mục tiêu. Ngoài ra, việc định vị phải đảm bảo tính tin cậy (đúng thực tế nhưng vẫn rộng đường cho thương hiệu phát triển), tính động viên (khách hàng và nhân viên có thể liên tưởng chính họ trong định vị của thương hiệu và thả ước vọng của họ), độc đáo (khác biệt so với đối thủ) và bền vững (có thể giữ vững vị trí định vị lâu dài từ 3-5 năm). Một số câu hỏi giúp cho việc định vị thương hiệu như: tôi là ai? tôi đang ở đâu? tôi sẽ như thế nào trong tương lai? Khách hàng của tôi là những đối tượng nào? Họ có lợi gì khi sử dụng sản phẩm của tôi? Họ muốn gì? Họ cần được thoả mãn những gì?…Nói chung việc định vị thương hiệu nên tập trung dựa vào sứ mạng của thương hiệu, đặc tính thị trường, sản phẩm, thế mạnh của doanh nghiệp… Một ví dụ về định vị thương hiệu: “Tigi là thương hiệu hàng đầu về các sản phẩm được chế biến từ rau – quả nhằm cung cấp cho người tiêu dùng VN những sản phẩm tiện lợi, giàu vitamin với cảm giác sử dụng thật sảng khoái, năng động và trẻ trung”. (Nguồn: Công ty rau quả Tiền Giang, 2003).

Sau khi đã định vị thương hiệu, bước tiếp theo là xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu -Tập hợp những liên tưởng mà công ty muốn xây dựng và gìn giữ trong suy nghĩ của khách hàng thông qua sản phẩm (chủng loại, đặc tính, chất lượng và giá trị sản phẩm, cách sử dụng, người sử dụng và nguồn gốc sản phẩm), công ty (những giá trị văn hoá hay triết lý kinh doanh), con người (hình ảnh nhân viên, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài) và biểu tượng (tên gọi, logo, khẩu hiệu, nhạc hiệu, hình tượng, kiểu dáng và mẫu mã).

Tiếp theo là tiến hành thiết kế thương hiệu, bao gồm: đặt tên, thiết kế logo, biểu tượng, nhạc hiệu, câu khẩu hiệu và bao bì. Khi thiết kế thương hiệu cần xem xét 5 yếu tố: i) Tính dễ nhớ; ii) Có ý nghĩa; iii) Dễ chuyển đổi; iv) Dễ thích nghi; và v) Dễ bảo hộ, đồng thời khi đặt tên thương hiệu hay nhãn hiệu sản phẩm mới nên theo quy trình bên:

Bên cạnh đó, nếu chỉ xây dựng thôi thì chưa đủ, thương hiệu phải được mọi người biết đến, hiểu nó và chấp nhận nó. Đây là vấn đề cốt lõi dẫn đến sự thành công của công tác xây dựng thương hiệu. Do đó, xây dựng thương hiệu chỉ mới dừng lại ở trong nội bộ thì chưa đủ, phải thực hiện các hoạt động quảng bá thương hiệu với thị trường thì thương hiệu mới được tạm gọi là đang được xây dựng. Nhưng làm thế nào để quảng bá thương hiệu? Công việc này có tốn kém không? Về tốn kém chắc chắn là có nhưng mức độ tốn kém phụ thuộc vào mục đích cần đạt và công cụ quảng bá thương hiệu. Một số yếu tố làm cơ sở cho việc lựa chọn công cụ quảng bá: i) Sứ mạng của thương hiệu; ii) Nguồn lực doanh nghiệp; iii) Qui mô thị trường; iv) Đặc tính thị trường – khách hàng mục tiêu; v) Phương tiện truyền thông. Sau đây là một số công cụ để quảng bá thương hiệu:

° Quảng cáo trên các phương tiện truyền thông: Dùng để xây dựng hình ảnh cũng như thông tin đến khách hàng về thương hiệu, các sản phẩm của thương hiệu và được thực hiện bằng các chương trình quảng cáo trên truyền hình (TVC ) hay qua báo chí (Print – Ad)… Về TVC có khá nhiều loại (15 giây, 30 giây hay 45 giây) với lợi điểm là phạm vi truyền thông rộng – có nhiều người biết đến thương hiệu, tuy nhiên khả năng truyền tải thông tin bị hạn chế do thời gian ngắn và tốn khá nhiều chi phí. Về Print–Ad cũng có nhiều loại (màu hay trắng đen với nhiều kích cỡ). Khi sử dụng Print-Ad có những lợi điểm là khả năng truyền tải thông tin tốt hơn và thường ít tốn chi phí hơn các chương trình TVC, tuy nhiên hiệu quả mang lại cũng tuỳ thuộc vào số lượng phát hành và đối tượng sử dụng báo.

° Quảng cáo trực tiếp tới khách hàng: Thông qua việc gởi thư, e-mail hay phát tờ rơi (leaflet) nhằm để giới thiệu về công ty, về sản phẩm, về triết lý kinh doanh,… việc sử dụng công cụ này có thuận lợi là ít tốn chi phí và hiệu quả cao – do tiếp xúc trực tiếp đến khách hàng mục tiêu, tuy nhiên khả năng phổ biến rất hạn chế và thường chỉ những công ty có qui mô hoạt động nhỏ sử dụng.

° Quảng cáo ngoài trời: Sử dụng panô hay áp phích quảng cáo cũng là một công cụ xây dựng thương hiệu khá phổ biến và thường áp dụng tại những công ty hoạt động không phải trong ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG). Khi sử dụng các công cụ này có thuận lợi là thời gian tác động đến đối tượng lâu và cũng ít tốn chi phí, tuy nhiên khả năng tác động đến khách hàng mục tiêu là không cao và hiệu quả phụ thuộc rất nhiều tính sáng tạo trong việc thiết kế và điểm đặt công cụ quảng cáo.

°Quảng cáo tại điểm bán: Sử dụng các vật phẩm như: Poster, Hangging, Shopbanner,… bên cạnh mục đích thu hút khách hàng tiềm năng còn là một công cụ quảng bá thương hiệu rất hiệu quả. Điểm mạnh của công cụ này là dễ sử dụng và tác động trực tiếp đến khách hàng tiềm năng và cũng ít tốn chi phí nhưng điểm hạn chế là mức độ phổ biến không cao và đôi khi gây tác dụng ngược.

° Khuyến mãi kênh phân phối: Sử dụng các chương trình tăng thêm quyền lợi cho người bán như: mua 1.000 sản phẩm được tặng thêm 05 sản phẩm hay giảm giá đầu vào nhằm tạo động lực để người bán quan tâm hơn việc hợp tác phân phối sản phẩm, từ đó tạo thuận lợi cho công tác bao phủ thị trường và hạn chế sự phát triển của đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ này cần chú ý đến vấn đề chi phí và dễ tạo ra tiền lệ “trông chờ khuyến mãi” từ hệ thống kênh phân phối.

° Khuyến mãi người tiêu dùng: Sử dụng các chương trình tăng thêm giá trị của sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng (End-User) như: mua bia Tiger trúng xe hơi BMW, mua sữa Dumex trúng đồ chơi Lego,… Những chương trình này nhằm mục đích tạo thêm động lực để khách hàng tiềm năng chọn mua sản phẩm, từ đó tạo mối quan hệ gắn bó giữa thương hiệu công ty với khách hàng.

°Tổ chức các sự kiện: Tổ chức các sự kiện như tổ chức “cuộc thi chạy từ thiện” cũng là một công cụ xây dựng thương hiệu khá phổ biến. Công cụ này có đặc điểm là có tiếng vang về thương hiệu lớn tuy nhiên khả năng truyền đạt những thông tin cốt lõi đến khách hàng tiềm năng rất hạn chế và có rủi ro là dễ dẫn đến hình ảnh không tốt về thương hiệu nếu việc tổ chức các sự kiện không thành công.

°Các chương trình tài trợ như: Các chương trình như: “Nhịp cầu âm nhạc”, “Vui để học”,… thường được các công ty sản xuất hàng tiêu dùng nhanh sử dụng để xây dựng thương hiệu. Đặc điểm của các chương trình dạng này là phạm vi truyền tải thông tin rộng nhưng tốn khá nhiều chi phí và hạn chế trong việc truyền tải những thông tin cốt lõi của thương hiệu đến nhóm khách hàng mục tiêu.

°Quan hệ công chúng – PR: Sử dụng các chương trình quan hệ cộng đồng như: xây dựng nhà tình thương, đóng góp quỹ từ thiện,… cũng là một công cụ xây dựng thương hiệu. Thông qua các hoạt động này sẽ giúp tạo dựng hình ảnh thương hiệu trong công chúng.

°Bán hàng trực tiếp: Sử dụng đội ngũ nhân viên bán hàng trực tiếp đến tận nhà, cơ quan,… cũng là một hình thức xây dựng thương hiệu. Thông qua đội ngũ bán hàng này khách hàng biết đến thương hiệu và có những nhận định về thương hiệu theo khuynh hướng doanh nghiệp muốn xây dựng.

Bước tiếp theo và cuối cùng trong một chu trình xây dựng thương hiệu là đánh giá thương hiệu. Việc đánh giá thương hiệu thông qua mức độ nhận biết thương hiệu, mức độ nhận thức giá trị sản phẩm và sự liên tưởng rõ ràng trong tâm thức của khách hàng, đặc biệt là mức độ trung thành với thương hiệu (nên sử dụng các công cụ trong nghiên cứu marketing). Bên cạnh đó, việc đánh giá thương hiệu cũng căn cứ vào mức độ tăng doanh số mà thương hiệu đã đóng góp vào kết hợp với những chi phí đã bỏ ra ª

Tài liệu tham khảo:

1) David A.Aaker (1996), Building Strong Brands, Free Press, New York.

2) Kevin Lane Keller (1998), Strategic Brand Management, Prentice Hall, New Jersey.

3) Kapferrer J.N (1994), Strategic Brand Management, Free Press, New York.

4) Lê Anh Cường (2004),Tạo dựng & Quản trị thương hiệu, NXB Lao Động – Xã Hội.

————————–

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 2/2006

ÁP DỤNG ÁN LỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC DUY MỸ

Có một thực tế là, dù VN rất tích cực đổi mới pháp luật theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng pháp luật về kinh tế, thương mại của nước ta vẫn còn có những khoảng cách nhất định so với pháp luật về thương mại của các nước, đặc biệt là với những chuẩn mực pháp lý của WTO mà VN sẽ trở thành thành viên trong một tương lai gần. Vấn đề không chỉ là những cách biệt về mặt quan điểm và kỹ thuật pháp lý, mà trong thực tiễn, chúng tạo nên những khó khăn cho việc hội nhập và nhất là đối với các quan hệ thương mại quốc tế. Một dẫn chứng sau đây cho thấy điều đó:

Vụ việc

Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung VN. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết.

Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại VN.

Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại VN. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.

Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ tư pháp, phán quyết của Trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại VN.

Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật VN khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại VN.

Vấn đề

Vụ việc trên đặt ra những vấn đề sau:

– Có sự khác biệt giữa pháp luật VN và quốc tế về khái niệm thương mại:

Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất, mua bán và dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của VN. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loạt các hành vi thương mại, theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thác hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán, các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian thương mại, ngân hàng, hối đoái, … đều được xem là hành vi thương mại.

Ngược lại, trong Luật thương mại VN năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hoá, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm thương mại. Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp; tức chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá và những tác vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hoá. Luật thương mại năm 2005, tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại, là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành có liên quan. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không nhất quán trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.

– Nếu cho phép vận dụng án lệ, vấn đề trở nên dễ dàng hơn:

Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại VN qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước.

Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ.

Đăt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại VN, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.

Án lệ

Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật đặc thù, đó là án lệ. An lệ là trường hợp các quyết định xét xử của toà án hoặc của cơ quan hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc toà án tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của toà trong trường hợp này có giá trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan toà đưa ra các bản án. Nói cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của toà án về một hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc bản thân các quy định của pháp luật có thiếu sót, hoặc không thể giải thích.

Các luật gia ở các nước thuộc hệ thống luật Anh, Mỹ chứng minh sự cần thiết của án lệ khi cho rằng toà án trong nhiệm vụ xét xử của mình có quyền sáng tạo các quy tắc mang tính chuẩn mực trong án lệ, giúp tạo ra quan niệm đồng nhất trong xét xử, nhất là trong điều kiện pháp luật thường lạc hậu hơn so với những gì đang diễn ra trong đời sống. Trong thực tiễn, việc vận dụng án lệ buộc các thẩm phán phải đọc các án văn của các toà án khác cũng như những bản án của toà án cấp trên trong quá trình phúc thẩm, nhất là các bản án giám đốc thẩm.

Thực ra, án lệ có lịch sử xuất hiện từ rất lâu. Trong pháp luật La Mã có một nguyên tắc là “Stare decisis”, nghĩa là phải tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một ”tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này. Có thể được tóm tắt án lệ qua những đặc điểm như: tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ giống nhau; giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp, điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng; tiết kiệm công sức của các thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc …

Thông thường, người ta có quan niệm rằng án lệ là một hình thức pháp luật đặc thù của các nước thuộc hệ thống Anh, Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của toà phúc thẩm có giá trị như một nguồn luật qua việc công bố các bản án của toà cấp phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc tương tự.

Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, từ lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để toà án, trọng tài thương mại dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp thương mại. Cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc tương tự. Điểm khác là, các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông luật.

Áp dụng ở VN

VN trước nay không xem án lệ là một nguồn luật. Thẩm phán khi xét xử vụ việc chỉ dựa vào các quy định trong văn bản pháp luật, không đặt ra những tiền lệ để áp dụng sau này. Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 3 có đề cập đến khả năng áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự nhưng không đề cập đến án lệ như là hình thức vận dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại toà. Việc không thừa nhận án lệ trong các tranh chấp thương mại ở VN có thể làm tăng thêm khó khăn cho các chủ thể tố tụng như các thẩm phán, luật sư và cả các bên đương sự. Sở dĩ như vậy là vì từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các vụ việc tranh chấp trong kinh doanh có một số điểm đặc thù so với tranh chấp trong dân sự thông thường.

Mặt khác, một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc khả năng áp dụng án lệ ở VN là việc VN đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và sắp tới là việc gia nhập WTO. Điều này đặt ra yêu cầu là công tác tài phán phải biết cách tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài qua việc công nhận và cho thi hành tại VN. Phương án sử dụng án lệ có thể được xem như là một nguồn luật bổ sung tuỳ theo mức độ để hoà nhập hệ thống tài phán của VN với hệ thống tài phán quốc tế. Điều này không hề làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp nước ta mà trái lại tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại VN thay vì phải đưa vụ tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài.

Thực hiện áp dụng án lệ tại VN là một quá trình lâu dài, song hành với tiến trình hội nhập. Trước mắt, Toà án nhân dân tối cao đã hoàn chỉnh và công khai hóa các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại điển hình của năm 2004, trong đó có các quyết định giám đốc thẩm về các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại. Đây là cách tiến hành theo hướng hình thành và công nhận án lệ. Cần phải thừa nhận những nỗ lực từ lâu của ngành toà án với việc trong các báo cáo tổng kết hàng năm của mình, Tòa án nhân dân tối Cao đều có trình bày, phân tích những vụ án điển hình, chỉ ra những vướng mắc, sai sót trong tố tụng ở cấp sơ thẩm và ban hành các thông tư hướng dẫn để các Tòa án nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong công tác xét xử khi gặp những vụ việc tương tự. Điều này có thể xem là những nỗ lực ban đầu theo hướng tiếp cận án lệ phục vụ công tác xét xử. Về lâu dài, cần xuất bản hẳn một tập san án lệ như cách làm của nhiều nước. Tập san án lệ sẽ thường xuyên phổ biến những quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao làm căn cứ cho tòa án các cấp. Tất nhiên, cùng với điều này, phải có những quy định bắt buộc đối toà án các cấp trong việc sử dụng có hiệu quả các phán quyết của toà cấp trên khi gặp những vụ việc tương tự.

Phổ biến án lệ cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải. Cần phải nghĩ đến việc phổ biến công khai các bản án của Toà án nhân dân tối cao trên các phương tiện thông tin như internet chẳng hạn. Điều này góp phần không nhỏ vào việc tăng cường giáo dục pháp luật và tạo niềm tin nơi doanh nhân và công chúng vào tính minh bạch, công khai của hệ thống toà án – một điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của VN ª

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 5/2006

VỀ TÍNH KHÓ HIỂU CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO HIỂM NHÂN THỌ TIẾP CẬN NGƯỜI DÂN DẼ HƠN

NGUYỄN TIẾN HÙNG

Tính khó hiểu

1. Trên phương diện lý luận

° Hệ quả của các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm

– Thứ nhất, xuất phát từ tính may rủi (aléatoire/ aleatory) của hợp đồng bảo hiểm. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm gắn liền với những rủi ro tức những biến cố không chắc chắn. Chính vì vậy mà nhà bảo hiểm khi chấp bút hợp đồng phải đưa ra nhiều tình huống giả định (nếu thế này thì.., nếu thế kia thì…, ngoại trừ…. v..v…). Điều này làm cho câu văn sử dụng để diễn đạt luôn phức tạp, hơn nữa, nhà bảo hiểm miêu tả các trường hợp giả định ở mức độ khái quát cao làm người đọc phải cố gắng hình dung ra các trường hợp đó. Tất nhiên, vì trình độ rất khác nhAau và lĩnh vực hoạt động rất khác nhau nên không phải ai nếu không nói là ít người có thể có trình độ, hiểu biết chuyên môn đầy đủ để hiểu tường tận một cách thống nhất với nhà bảo hiểm. Sự khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm, vì vậy, e rằng khó tránh khỏi;

– Thứ hai, xuất phát từ tính gia nhập của hợp đồng bảo hiểm, biểu hiện ở chỗ hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu, mở sẵn và do nhà bảo hiểm soạn thảo (và được Bộ tài chính chấp nhận) chứ không phải hình thành từ việc đàm phán trực tiếp của hai bên như các hợp đồng mua bán khác. Điều này đòi hỏi người mua bảo hiểm phải đọc thật kỹ để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trước khi ký kết và trong khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Nhưng, ngay cả khi đọc kỹ, nếu không có sự giúp đỡ, tư vấn của người hoạt động chuyên ngành, chưa chắc người mua bảo hiểm có thể hiểu đúng và thống nhất với người chấp bút các điều khoản.

° Xuất phát từ các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: bảo hiểm nhân thọ là có tính “đa mục đích” (bảo vệ, tiết kiệm và đầu tư), dài hạn và có mối quan hệ phức tạp bên người mua bảo hiểm (người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng,…), vì thế, hệ thống sản phẩm nhân thọ rất đa dạng về chủng loại: sản phẩm chính (sinh kỳ, tử kỳ, niên kim, trọn đời, hỗn hợp,…), sản phẩm bổ trợ (tai nạn, bệnh, từ bỏ thu phí..) và phức tạp (sản phẩm kết hợp, sản phẩm có khả năng chuyển đổi, liên kết nhân mạng,…). Điều này dẫn đến có sự mâu thuẫn giữa tính phức tạp, chuyên biệt của sản phẩm bảo hiểm với mức độ hiểu biết về bảo hiểm chưa cao của đại đa số khách hàng.

2. Trên phương diện thực tiễn

– Một là, ngành bảo hiểm là một ngành du nhập vào nước ta và cũng chỉ mới trong thời gian đầu. Hầu hết các hợp đồng bảo hiểm, đặc biệt, là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đều dựa theo mẫu của nước ngoài nên khi chuyển đổi ngôn ngữ, một số từ ngữ còn rất mới mẻ và khó hiểu chưa được bổ sung vào từ điển tiếng Việt phổ thông (trong khi đó vẫn chưa có từ điển thuật ngữ chuyên ngành bảo hiểm nhân thọ đầy đủ).

– Hai là, thị trường bảo hiểm nhân thọ nước ta chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây. Nhận thức của người dân về bảo hiểm còn nhiều hạn chế mà việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo hiểm cho người dân một cách rộng rãi hình như chưa được quan tâm đúng mức. Một khi chưa biết nhiều về bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm thì khi tiếp cận với hợp đồng bảo hiểm nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng gặp khó khăn, khó hiểu là điều dễ hiểu.

– Ba là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng hiện nay chưa đủ và bất cập. Chính vì thế, thật khó khăn cho việc tiếp cận tìm hiểu ngay cả đối với những người hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm chứ đừng nói đến từng người dân bình thường.

Làm thế nào để sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tiếp cận cho người dân dễ hơn?

Như vậy, tính khó hiểu, khó tiếp cận của hợp đồng bảo hiểm là do những tính chất vốn có của nó (tính may rủi, tính gia nhập,…) và do những nguyên nhân thực tế khách quan. Rõ ràng rằng nếu chỉ một mình nhà bảo hiểm không thể làm cho HĐBH dễ hiểu hơn.

Để sản phẩm bảo hiểm dễ hiểu hơn, tiếp cận dân chúng dễ dàng hơn, một số giải pháp có thể đặt ra như sau:

1. Về phía Nhà nước và Hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm:

– Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng.

– Việc thông tin và giáo dục về bảo hiểm cũng như pháp luật bảo hiểm cần được tăng cường và phổ biến rộng rãi (các phương tiện thông tin đại chúng, biên sọan và xuất bản các ấn phẩm có liên quan, biên sọan từ điển bảo hiểm…).

– Tạo điều kiện khuyến khích mạng lưới trung gian bảo hiểm phát triển dưới hình thức môi giới bảo hiểm, đại lý độc lập để giúp người dân tiếp cận bảo hiểm một các dễ dàng và bảo vệ quyền lợi của người mua bảo hiểm.

2. Về phía các nhà bảo hiểm:

– Tăng cường đào tạo chuyên môn cho các cán bộ – nhân viên;

Việc chấp bút hợp đồng bảo hiểm phải cố gắng làm sao cho phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ của nước ta, đơn giản đến mức có thể có nhưng không ảnh hưởng đến những nội dung quan trọng của hợp đồng bảo hiểm.

– Tăng cường hệ thống đại lý bảo hiểm về trình độ lẫn đạo đức nghề nghiệp để phục vụ tốt và tận tâm cho khách hàng bảo hiểm.

3. Về phía người mua bảo hiểm:

Chủ động tiếp cận và tự nâng cao trình độ về mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bảo hiểm. Phải thấy được rằng hợp đồng bảo hiểm khó hiểu bởi vì tính chất vốn có của nó, muốn hiểu được thì bản thân phải tự hoàn thiện, khắc phục điểm yếu của mình trong mối quan hệ với nhà bảo hiểm trên hợp đồng bảo hiểm. Đành rằng, khi thị trường bảo hiểm phát triển, mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm và nhà bảo hiểm là qua trung gian (môi giới, đại lý), nhưng kiến thức cơ bản về bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm sẽ giúp người mua tự bảo vệ quyền lợi của mình tốt nhất và với chi phí thấp nhất ª

———————————————————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 7/2006

QUẢN LÝ LAO ĐỘNG THEO GIỚI LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 TS. LÊ THANH HÀ

1. Bản chất của quản lý lao động theo giới 

Theo chúng tôi, quản lý lao động (QLLĐ) theo giới về thực chất là việc thường xuyên quan tâm đến yếu tố giới, tạo cơ hội bình đẳng cho sự tham gia của nam và nữ trong các nội dung QLLĐ, bao gồm các nội dung xây dựng và tổ chức thực hiện luật pháp và chính sách lao động (LĐ) các cấp từ trung ương đến cơ sở; ra các quyết định về LĐ và tuyển dụng, sử dụng LĐ ở các địa phương, cơ quan, đơn vị. 

Rõ ràng, các nội dung QLLĐ tác động trực tiếp đến người LĐ, trong đó có cả nam và nữ, họ vừa là người thực thi, vừa là người thụ hưởng thành quả của các nội dung QLLĐ này. Việc đưa vấn đề giới vào các nội dung QLLĐ, với mục đích tạo sự tham gia tích cực của cả nam và nữ trong việc hình thành luật pháp, chính sách, quyết định về các vấn đề LĐ là cần thiết bởi lẽ, bằng chính sự tham gia đó của cả hai giới, các nội dung QLLĐ sẽ có tính bao phủ cao hơn, thoả mãn hài hoà lợi ích của cả hai giới, sẽ được người LĐ chấp nhận và mang lại hiệu quả cao. Nhiều tổ chức quốc tế đã thực hiện nghiên cứu, tổng kết cho các kết luận bổ ích về khía cạnh kinh tế của vấn đề này. Theo Ngân hàng Thế giới “Đầu tư vào sự phát triển của phụ nữ mang lại lãi suất cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào khác ở các nước đang phát triển” Theo Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc: “Đầu tư vào khả năng của phụ nữ và tạo quyền cho họ thực hiện lựa chọn cơ hội không chỉ đem lại lợi ích cho phụ nữ, mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển chung” [1].  

Mặt khác, mục tiêu của phát triển là lấy con người làm trung tâm: phát triển vì con người, của con người và do con người, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Song con người bao gồm nữ và nam có cấu tạo cơ thể khác nhau, xã hội lại quan niệm và nhìn nhận họ khác nhau nên các cơ hội của họ cũng khác nhau khi tham gia các nội dung QLLĐ. Ở phần lớn các quốc gia, bao giờ nữ cũng thiếu các cơ hội so với nam nên LĐ nữ cũng thiếu cơ hội hơn so với LĐ nam. Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng: tạo cơ hội cho nữ bình đẳng với nam trong LĐ và QLLĐ sẽ làm cho quá trình phát triển bền vững hơn, hiệu quả hơn. Cho nên, việc tạo điều kiện và cơ hội cho nữ đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước và hưởng lợi bình đẳng kết quả của phát triển xã hội là nội dung quan trọng trong QLLĐ. Những phân tích trên đã chỉ ra rằng, nghiên cứu vấn đề QLLĐ theo giới về thực chất là nghiên cứu sự bình đẳng giữa nam và nữ trong quá trình LĐ, cũng như sự tham gia của họ trong vấn đề xây dựng, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chính sách và quyết định về LĐ ở các cấp từ trung ương đến cơ sở. 

2. Tiếp cận QLLĐ theo giới ở các quốc gia trên thế giới 

Đã có sự thay đổi trong quá trình nhìn nhận vấn đề QLLĐ từ góc độ giới. Trước đây, LĐ nữ thụ động trong mọi công việc và phụ thuộc vào nam giới, ngày nay, LĐ nữ đã được coi là những người độc lập. Đã có 6 quan điểm trong quá trình nghiên cứu phụ nữ kể từ những năm 50 của thế kỷ XX, từ những quan điểm này đã có các chính sách đối với LĐ nữ khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. 

Quan điểm phúc lợi xuất hiện trước năm 1950 ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước châu Á. Người phụ nữ bị phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới, họ hầu như không tham gia vào quá trình QLLĐ, “họ chỉ được xem là những người hưởng lợi một cách thụ động trong quá trình phát triển “ và “nhấn mạnh vai trò sinh đẻ của họ”. Theo quan điểm này các chính sách xã hội vĩ mô được xây dựng để hỗ trợ vai trò làm mẹ, làm vợ của LĐ nữ (trợ cấp lương thực, vật phẩm, tiền…) và hầu như không có sự tham gia của nữ trong các nội dung QLLĐ. 

Quan điểm về bình đẳng thuần tuý ra đời từ những năm 1960 đến 1970 là quan điểm đầu tiên liên quan đến phụ nữ trong sự phát triển. Quan điểm này cho rằng phụ nữ tham gia tích cực trong quá trình phát triển nhưng họ lại bị “tụt hậu” quá xa so với nam giới, vì vậy chính sách vĩ mô của Nhà nước cần chú ý tới cơ cấu phụ nữ trong cơ cấu hiện hành, xây dựng sự bình đẳng trong luật pháp. Quan điểm này chưa làm rõ mối quan hệ giữa nam và nữ và sự khác nhau về những khoảng cách giữa hai giới, đồng thời bỏ qua tình trạng bất bình đẳng giới ở từng địa phương. 

Quan điểm chống nghèo đói xuất hiện cuối những năm 1970, cho rằng sự bất bình đẳng về kinh tế giữa nam và nữ là do nghèo đói chứ không phải là hậu quả của sự phụ thuộc. Do vậy, chính sách của Nhà nước đề cập đến vai trò sản xuất của nữ và tăng việc làm, thu nhập cho nữ. Quan điểm này không đề cập đến vai trò tái sản xuất của nữ và những phong tục, tập quán cản trở sự tham gia của nữ. Do vậy, LĐ nữ hầu như chỉ làm các nghề đơn giản có thu nhập thấp. Vai trò của nữ được thừa nhận nhưng vị trí của họ chưa được cải thiện. Mức độ tham gia của họ trong QLLĐ, đặc biệt ở cấp cao, bị hạn chế. 

Quan điểm sử dụng triệt để sức LĐ của nữ giới cho rằng sự đóng góp của phụ nữ vào quá trình phát triển của quốc gia chưa nhiều và LĐ nữ là nguồn tiềm năng phát triển chưa được vận dụng hết, cần phải được sử dụng tốt hơn. Theo đó, các chính sách vĩ mô được xây dựng nhằm hoà nhập phụ nữ vào quá trình phát triển để sử dụng hết nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả quá trình phát triển. Quan điểm này mới chú ý tới sử dụng LĐ nữ, chưa đề cập tới sự hưởng lợi của họ nên họ phải chịu áp lực nhiều hơn trong công việc: vừa phải làm tốt việc cơ quan, vừa đảm nhận vai trò tái sản xuất sức LĐ trong gia đình. Các bất bình đẳng mới lại xuất hiện… phụ nữ làm việc từ 10h ? 16h/ ngày, sức khoẻ kém, học hành bị hạn chế… , vị trí của họ chưa được đánh giá đúng và việc sử dụng LĐ nữ cũng chưa thực sự có hiệu quả. 

 Các quan điểm trên không đề cập tới sự bất bình đẳng về quyền lực giữa nam và nữ đã kéo dài suốt thời kỳ phát triển. Quan điểm trao quyền lực xuất hiện giữa thập kỷ 70 với mục tiêu tạo cơ hội để củng cố và mở rộng quyền lực của nữ nhằm đạt được sự tự chủ cho họ. Việc “Trao quyền” cho nữ không phải là lấy quyền của nam trao cho nữ, mà là thực hiện quyền dân chủ đối với nữ trong mọi lĩnh vực, trong sản xuất cũng như sinh hoạt, trong cơ quan cộng đồng cũng như gia đình ở mọi lúc, mọi nơi. Thực hiện dân chủ cần được xem xét dưới góc độ giới mới đạt được dân chủ thật sự, nếu không chỉ có nam được dân chủ còn nữ vẫn không có tiếng nói, không thể hiện được nguyện vọng của mình và luôn bị phụ thuộc nam như một “thói quen”. Quan điểm trao quyền đặt nữ vào đúng vị trí của họ, tạo điều kiện để họ có tiếng nói của mình và tham gia vào các nội dung QLLĐ có hiệu quả hơn. 

 Quan điểm giới và phát triển xuất phát từ việc gắn quan hệ sản xuất với quan hệ tái sản xuất, phân tích bản chất đóng góp của nữ và nam trong quá trình phát triển cả trong xã hội và gia đình, gồm cả việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ để trao đổi và cả việc sản xuất không phải hàng hoá hoặc các dịch vụ không có lương. Quan điểm tiếp cận này chỉ ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất bình đẳng giới trong quá trình LĐ. Đây là vấn đề cần giải quyết của LĐ nữ để sử dụng LĐ có hiệu quả góp phần vào sự phát triển đất nước hiệu quả và bền vững hơn. 

 Quan điểm này không coi nữ là nhóm riêng biệt mà nhấn mạnh vai trò và nhu cầu của nữ và nam, chỉ ra rằng phải có đóng góp của cả nam và nữ mới tạo ra sự thay đổi cần thiết để đạt được bình đẳng, thúc đẩy bình đẳng nam – nữ trong QLLĐ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội và phát triển bền vững cho quốc gia. Theo quan điểm này, các chính sách của Nhà nước cần chỉ rõ vai trò của nữ và nam trong quá trình phát triển và nhiệm vụ của cả hai giới trong việc thúc đẩy bình đẳng giới. Quan điểm này đáp ứng nhu cầu của cả hai giới, nâng cao địa vị cho giới bị thiệt thòi (thường là nữ) và thực hiện công bằng xã hội. Các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới chính là những hoạt động nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn LĐ, đặc biệt là LĐ nữ. 

3. Quản lý lao động theo giới ở Việt Nam 

 Xét về khía cạnh chính sách và thực hiện chính sách, Bộ Luật LĐ đã dành một chương với mười điều đối với LĐ nữ (chương X) tạo điều kiện cho LĐ nữ tham gia vào quá trình LĐ bình đẳng mọi mặt với nam. Điều 119, Điểm 2 quy định: “Nhà nước có chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cải thiện điều kiện LĐ, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần cho LĐ nữ nhằm giúp họ phát huy hiệu quả năng lực, nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống LĐ và cuộc sống gia đình”. Bộ luật LĐ cũng đã quy định cụ thể tại Điều 5, Điều 109, Điều 111 về vấn đề không phân biệt đối xử, vấn đề bình đẳng nam – nữ và quyền của LĐ nữ. Luật đã ban hành và có Nghị định và Thông tư hướng dẫn song việc thực hiện các chính sách vẫn còn một số bất cập nhất định. Tỷ lệ LĐ nữ làm các công việc được trả công, trả lương chỉ chiếm khoảng 40%, LĐ nữ vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi, vẫn là đối tượng yếu thế trên thị trường LĐ [2].  

 LĐ nữ thường bị phân biệt đối xử trong trường hợp tuyển dụng vì lý do lập gia đình, trách nhiệm khi sinh đẻ, nuôi con nhỏ (người phụ nữ mất ít nhất hai năm khi sinh và nuôi một người con. Nếu sinh hai con, người phụ nữ mất đi ít nhất là 4 năm so với nam giới. Ngoài sự mất mát về thời gian, sức khoẻ của phụ nữ cũng bị suy yếu, thậm chí tính mạng bị đe dọa. Ở giai đoạn phụ nữ sinh và nuôi con, nam giới tiếp tục học tập và phát triển, vì vậy, sau thời gian này nhìn chung phụ nữ “tụt hậu” hơn so với nam giới). Một số doanh nghiệp (DN) có hiện tượng áp đặt khoảng thời gian tối thiểu làm việc tại DN để được lập gia đình hoặc sinh con đối với LĐ nữ nếu được tuyển dụng vào làm việc. Theo kết quả điều tra [3], có 15% DN quy định thời gian làm việc tối thiểu để được kết hôn, trong đó DN nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất (34,04%) và thấp nhất là Công ty TNHH (3,03%). Về thời gian kết hôn có 45,45% quy định tối thiểu dưới 1 năm, 18,18% quy định từ 1- 2 năm và 36,37% – trên 2 năm. 

 Tương tự, có 25,69% DN quy định LĐ nữ chỉ được phép sinh con sau khi làm việc một thời gian nhất định. Tỷ lệ này cao nhất trong các DN nhà nước (50%) và thấp nhất ở các Công ty TNHH (9,09%). Thời gian làm việc tối thiểu các DN này quy định đối với LĐ nữ để được sinh con chủ yếu là trên 2 năm (58,33%). 

 Nguyên nhân của sự phân biệt này là DN thường cho rằng sử dụng LĐ nữ tốn kém và không hiệu qủa bằng sử dụng LĐ nam; chi phí cho LĐ nữ thường nhiều hơn do việc nghỉ đẻ, trợ cấp thai sản, nghỉ việc do con ốm … Trong khi đó các quy định ưu tiên đối với DN sử dụng nhiều LĐ nữ lại có thủ tục rườm rà, khó thực hiện.  

 Về tiền lương (TL), Hiến pháp và pháp luật đều quy định sự bình đẳng giữa nam và nữ, song, theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2000, mức thu nhập bình quân của LĐ nữ chỉ bằng 87,6% của nam. Trong khu vực nhà nước, thu nhập của LĐ nữ thấp hơn LĐ nam 15,3%. Một số khác biệt này xuất phát từ sự chênh lệch về trình độ, thâm niên công tác, nhưng không phải mọi trường hợp đều như vậy.  

 TL trung bình của nam cao hơn nữ từ 10 – 11% trong điều kiện như nhau về đặc điểm (tuổi đời, trình độ, kỹ năng tay nghề, công việc, địa điểm làm việc…), riêng các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ trả lương tương đối bình đẳng hơn [4]. 

 Tương tự, theo kết quả điều tra 505 DN với 2696 người LĐ thực hiện năm 2001 do trường Đại học KTQD và Viện HAGUE thực hiện cho thấy TL và thu nhập của nữ luôn bị yếu thế so với nam. TL giờ bình quân của nữ thấp hơn nam khoảng 15%. Khoảng cách này tồn tại ở tất cả các ngành kinh tế, các hình thức sở hữu của DN, khu vực, vị trí công việc, trình độ giáo dục, nhóm tuổi và loại hợp đồng. Khoảng cách TL giờ của khu vực tư nhân cao nhất (26%). Trong các ngành, sự chênh lệch TL giờ giữa LĐ nam và LĐ nữ cao nhất ở ngành điện lực (1,33 lần), TL giờ bình quân của hai giới ở miền Bắc và miền Trung gần như nhau trong khi miền Nam khoảng cách này khá rõ nét. Số liệu điều tra của VLSS cũng cho thấy TL của LĐ nữ luôn thấp hơn TL của LĐ nam trong công việc được trả lương ở tất cả các mảng thị trường LĐ trong điều kiện giống nhau về đặc điểm (tuổi đời, trình độ, kỹ năng tay nghề, nơi làm việc…) [5].  

 Về thời gian làm việc và nghỉ ngơi, theo kết quả điều tra [6], có tới 60% LĐ nữ có phải làm việc thêm tới trên 4h/ngày so với 40% LĐ nam. Ngoài ra, phụ nữ còn làm việc hơn 2 – 6 giờ trong 1 ngày so với nam vì công việc nội trợ. Vì thế nữ thiếu thời gian để học tập, giải trí nâng cao sức khỏe và trí tuệ để tham gia vào quá trình LĐ. 

 Nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là người sử dụng LĐ đặc biệt là người QLLĐ chưa chú ý tới các đặc điểm giới và giới tính trong quá trình LĐ. Nguyên nhân sâu xa là nhà QLLĐ chưa được đào tạo QLLĐ theo giới. Thực tế cho thấy rằng, ở các trường chuyên nghiệp, vấn đề quản lý lao động theo giới gần như không được quan tâm. Thậm chí, ngay cả các trường đại học đào tạo các chuyên ngành về LĐ, vấn đề QLLĐ theo giới rất ít được quan tâm, vấn đề lồng ghép giới vào các môn học hầu như chưa được thực hiện hoặc thực hiện rất ít. 

 Xét về khía cạnh tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách LĐ, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có chủ trương về bình đẳng nam – nữ rất sớm và có nhiều chính sách tạo điều kiện để phụ nữ tiến bộ và phát triển song những chính sách đó chưa thực sự đi vào thực tiễn. Vì vậy, để giải quyết các bất cập nêu trên cần phải đưa quan điểm “giới và phát triển” vào QLLĐ. Số liệu của Văn phòng Quốc hội cho thấy, tuy Việt Nam có tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội cao nhất trong khu vực Châu Á (Khoá XI – 27,3%), đứng thứ hai sau ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương (sau New Zealand), đứng thứ 10 thế giới (sau Cuba, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Iceland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Nam Phi và Thuỵ Điển), song điều này không có nghĩa là các nguyên tắc của QLLĐ theo giới đã được thực hiện đầy đủ. Cũng theo số liệu của Văn phòng Quốc hội, phụ nữ chỉ tập trung với tỷ lệ cao ở Uỷ ban Giáo dục, Thiếu niên nhi đồng (41,2%); Uỷ ban Dân tộc miền núi (39,5%) và Uỷ ban về các vấn đề xã hội (32,3%), trong khi đó ở một số uỷ ban khác, tỷ lệ này rất thấp (Uỷ ban các vấn đề quốc tế – 15,8%; Uỷ ban khoa học và kỹ thuật – 10,7%; Uỷ ban kinh tế và ngân sách – 3,1%). 

 Theo số liệu thống kê [7], tỷ lệ phụ nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp trong ba khoá gần đây tuy có tăng lên nhưng vẫn thấp hơn so với yêu cầu của QLLĐ theo giới. Tỷ lệ nữ cao nhất vẫn là ở cấp tỉnh – 23,8%, sau đó đến cấp huyện – 23,22% và thấp nhất là ở cấp xã – 20,3%.  

 Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới về việc phụ nữ tham gia vào công việc địa phương ở một số tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa như Hà Giang, Lào Cai, Quảng Trị.., tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo ở cơ sở rất thấp. Tại các điểm khảo sát (Hà Giang), không có xã nào có cán bộ nữ tham gia lãnh đạo cấp xã, thôn; ở Lào Cai, Quảng Trị, phụ nữ nghèo và phụ nữ vùng cao ít đi họp hoặc nếu đi thì chỉ ngồi nghe, ít tham gia ý kiến vào các công việc của địa phương… 

 Nguyên nhân sâu xa của tất cả các hiện tượng trên là do công tác giáo dục – đào tạo dành cho nữ vẫn còn nhiều điểm bất cập, ý thức, nhận thức về QLLĐ theo giới chưa cao, công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ nữ kế cận vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. 

4. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLLĐ theo giới 

 Để nâng cao hiệu quả QLLĐ theo giới, chúng tôi có một số khuyến nghị sau: 

 Một là, cần tiếp tục bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh hệ thống văn bản luật và chính sách nhằm đưa vấn đề QLLĐ theo giới là vấn đề bắt buộc đối với quốc gia, trong đó nên quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia vào bộ máy lãnh đạo các cấp, tham gia vào quá trình hoạch định chính sách phải không duới 30%. Cần có văn bản hướng dẫn quy trình ra quyết định QLLĐ các cấp theo đúng quy trình lồng ghép giới. 

 Hai là, cần thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề QLLĐ theo giới. Trước hết, các nhà quản lý, lãnh đạo trong bộ máy quản lý nhà nước, trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần được cung cấp các kiến thức cơ bản về QLLĐ theo giới và áp dụng kiến thức này vào việc hoạch định luật pháp, chính sách và ra các quyết định về QLLĐ. Các kiến thức cần được cung cấp tối thiểu gồm: (1) Nhạy cảm giới: có kiến thức về giới, có nhận thức về vai trò khác nhau của phụ nữ và nam giới, hiểu được nguyên nhân của sự khác nhau dẫn đến hạn chế sự tiến bộ của phụ nữ hoặc nam giới; (2) Trách nhiệm giới: đưa ra được các biện pháp nhằm khắc phục nguyên nhân làm hạn chế sự tiến bộ của phụ nữ hoặc nam giới; (3) Chu trình và nguyên tắc lồng ghép giới vào vấn đề QLLĐ; (4) Lợi ích của việc lồng ghép giới vào QLLĐ. Cũng cần tăng cường hoạt động tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng về vấn đề QLLĐ theo giới và lợi ích của vấn đề này.  

 Hơn nữa, thông qua đào tạo và các phương tiện truyền thông đại chúng, cần thay đổi cách nhìn nhận người LĐ theo hướng chú ý đến đặc điểm giới để phân công nhiệm vụ, trách nhiệm phù hợp với mỗi người theo đặc điểm giới và giới tính của họ. Khi sử dụng LĐ nữ, cần nhìn nhận cả những hoạt động tái sản xuất của họ. Nếu khoảng cách giới còn lớn, LĐ nữ còn phải làm phần lớn các công việc trong gia đình, cần có các biện pháp phù hợp để sử dụng hợp lý lực lượng LĐ nữ. 

 Ngoài ra, cần tăng cường đào tạo về QLLĐ theo giới tại các trường đại học, cao đẳng, mà trước hết là đào tạo về QLLĐ theo giới cho đội ngũ giáo viên. Dựa vào đội ngũ giáo viên đã được trang bị kiến thức QLLĐ theo giới, tiến hành lồng ghép vấn đề QLLĐ theo giới vào nội dung các môn học. Với các trường đại học, nên đưa học phần: “Giới và phát triển” vào nội dung chương trình đào tạo. Với các chuyên ngành đào tạo về lao động, nên hình thành học phần: “Quản lý lao động theo giới” như là một nội dung kiến thức chuyên ngành. 

 Ba là, cần tiến hành lồng ghép giới trong các nội dung của QLLĐ ở các cơ quan, doanh nghiệp. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc (1997), lồng ghép giới được hiểu là quá trình đánh giá và kết hợp giữa phụ nữ và nam giới trong bất cứ hoạt động có kế hoạch nào; trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, để phụ nữ và nam giới đều hưởng lợi như nhau tiến tới bình đẳng nam nữ. Cần nhấn mạnh rằng, lồng ghép giới chính là công cụ hữu hiệu của QLLĐ theo giới. 

Để lồng ghép giới có hiệu quả trong các hoạt động QLLĐ ở cơ quan, DN, cần thực hiện các bước sau: 

Bước 1: Nghiên cứu, phân tích về giới.

 Trong bước này cần tập hợp được các số liệu và đề ra các biện pháp tách biệt theo giới tính:  

° Xác định tỷ lệ nam, tỷ lệ nữ tham gia và cách thức điều chỉnh tỷ lệ này hợp lý (mỗi giới nên có tỷ lệ tối thiểu 30%).  

° Xác định các kinh nghiệm của nam và nữ và cách thức sử dụng hiệu quả các kinh nghiệm này. 

° Xác định các nhu cầu, nguyện vọng của nam và nữ và cách thức đáp ứng các nhu cầu của nam và nữ. 

° Xác định mức độ ảnh hưởng của chính sách, quyết định đưa ra đến nam, nữ trong tất cả các quá trình từ khâu xây dựng đến giám sát, đánh giá… và các hoạt động tiếp theo và xây dựng các biện pháp khắc phục các tác động xấu. 

° Xác định mức độ ưu tiên của các mục tiêu cần đạt được đối với nam, nữ. 

° Lựa chọn các mục tiêu ưu tiên đối với nam, nữ trong khuôn khổ nguồn lực hạn chế, đảm bảo cả nam và nữ đều được tham gia và hưởng lợi bình đẳng trong thực hiện công việc [8] cũng như thành quả công việc đó mang lại. 

Bước 2: Lập và phê duyệt kế hoạch giới.

 Dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và phân tích ở bước 1, xây dựng và phê duyệt kế hoạch (chính sách) nhằm sử dụng hợp lý và bình đẳng LĐ nam và LĐ nữ , đảm bảo cả nam và nữ đều được hưởng lợi bình đẳng. 

Bước 3: Tổ chức thực hiện kế hoạch (chính sách).

 Trong bước này cần thực hiện phân công công việc, trong đó đảm bảo có sự tham gia chủ động, bình đẳng của phụ nữ và nam giới ở tất cả bước công việc với tư cách người tham gia hưởng lợi và ra quyết định.  

Bước 4: Kiểm tra, giám sát và đánh giá.

Vấn đề kiểm tra, giám sát và đánh giá cũng tập trung vào vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ trong thực hiện công việc và mức độ hưởng lợi từ công việc. 

Có thể khái quát chu trình lồng ghép giới vào QLLĐ theo sơ đồ 1. Để thực hiện chu trình này có hiệu quả, cần xây dựng khuôn khổ thể chế và tổ chức thích hợp để lồng ghép giới. Cũng cần đảm bảo cho phụ nữ có cơ hội nói lên những khó khăn, nhu cầu cần thiết của họ và mong muốn của họ trong công việc. Ngoài ra, các cán bộ lãnh đạo, tổ chức quản lý cần có kiến thức về giới, có nhạy cảm giới và trách nhiệm giới, nếu không, cần lấy ý kiến tư vấn của các chuyên gia về giới. 

 Bốn là, cần nhân rộng các điển hình thực hiện tốt việc lồng ghép giới vào các nội dung QLLĐ. Trước hết, cần tập trung xây dựng các điển hình QLLĐ theo giới trong một số cơ quan, DN hoặc dự án được lựa chọn, dưới sự trợ giúp của các chuyên gia về QLLĐ theo giới. Sau một thời gian (nên là 1 năm), tổ chức đánh giá hiệu quả của QLLĐ theo giới ở các cơ quan, DN, dự án này và xây dựng thành các mô hình QLLĐ theo giới. Các mô hình này, cùng hiệu quả thiết thực của nó so với trước khi thực hiện QLLĐ theo giới sẽ được phổ biến, tuyên truyền và nhân rộng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng để các cơ quan, DN, dự án khác học tập và áp dụng. 

Năm là, cần đẩy mạnh việc triển khai các chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, đào tạo cho cán bộ và LĐ nữ ở các vùng sâu, vùng xa, nâng cao nhận thức cho các đối tượng này về QLLĐ theo giới ª 

Chú thích

[1] Báo cáo phát triển của UNDP 1995 

[2] VLSS, 1997-1998; RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000. 

[3] RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000 

[4] RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000 

[5] Phân mảng thị trường LĐ: Tác động của chính sách LĐ và các chính sách khác đến phân mảng thị trường LĐ ở Việt nam, Dự án Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo – ADB, Viện Khoa học Lao động và Xã hội. 

[6] Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ năm 2000; Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001; Điều tra các DN sử dụng nhiều LĐ nữ năm 2000. 

[7] http://ebiz.com.vn/?page=tintuc&code=congnghe&id=w3schinhtriw3sdoimoiw3snctdws3ws34w3sws36w3s159467w3s ngày 19.8.2005 

[8] Công việc được hiểu như là việc sản xuất một sản phẩm, thực hiện một dự án hay quá trình xây dựng, thực hiện một chính sách…) 

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo phát triển của UNDP, 1995. 

2. Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ năm 2000. Viện khoa học lao động và xã hội.  

3. Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001. Viện khoa học lao động và xã hội. 

4. Điều tra các DN sử dụng nhiều LĐ nữ năm 2000. Viện khoa học lao động và xã hội. 

5. Phân mảng thị trường lao động: Tác động của chính sách lao động và các chính sách khác đến phân mảng thị trường lao động ở Việt Nam. Dự án nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo. ADB, Viện khoa học lao động và xã hội.

6. Các trang Web: http://www.nld.com.vn/tintuc/the-gioi/124605.asphttp://ebiz.com.vn/?page=tintuc&code=congnghe&id=w3schinhtriw3sdoimoiw3snctdws3ws34w3sws36w3s159467w3s http://www.undp.org.vn/undp/docs/2000/gbkv/plan-v.htm

———————————————————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 7/2006

CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY

TRẦN NGỌC MINH – Giám đốc NHNN Chi nhánh TP.HCM

NHTM nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng.

Vấn đề cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) đặt ra trong giai đoạn này là phù hợp với tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng để hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc cổ phần hoá (CPH) một NHTM nhà nước không đơn thuần như việc CPH một doanh nghiệp nhà nước nhưng cũng không phải là vấn đề quá khó khăn không thể không thực hiện được. Do đó, quan trọng hiện nay là xác định được mục tiêu CPH, xác định những điều kiện cần và đủ để giải quyết những vấn đề trong quá trình CPH và phải đảm bảo được một ngân hàng sau khi CPH phải đáp ứng được các chuẩn mực Hội nhập kinh tế quốc tế, đủ năng lực cạnh tranh được với các ngân hàng trong nước và trên thế giới.

Với những yêu cầu và ý nghĩa như trên, Chi nhánh NHNN TP.HCM tham gia một số nội dung về việc cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước (CPH NHTMNN) như sau:

I. Sự cần thiết phải CPH NHTMNN

Hoạt động ngân hàng, trong đó NHTM nhà nước với vai trò chủ đạo trong những năm qua đã có sự đóng góp rất lớn vào sự thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đã triển khai thực hiện chính sách tiền tệ một cách tích cực, cơ bản ổn định được giá trị và sức mua của đồng tiền, kìm chế lạm phát, tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia và góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế, chưa phát huy hết chức năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả để làm cho kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo.

Việc CPH ngân hàng là một khâu trong quá trình đổi mới hoạt động NH, củng cố và cơ cấu lại các NHTM theo hướng tiếp tục phát huy thành tựu, khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới trong những năm tới

NHTM nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng.

Do yêu cầu của CNH-HĐH đất nước cần phải có một khối lượng vốn, vì vậy cần phải có NHTM đủ tiềm lực tài chính để thực hiện phân phối và sử dụng vốn một cách hiệu quả. Chính vì vậy, đặt ra vấn đề CPH NHTM nhà nước là rất cần thiết.

Quá trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và chuẩn bị hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế với việc tự do hóa tài chính đã làm cho môi trường cạnh tranh gay gắt hơn, đầy rủi ro hơn. Bối cảnh này đã đặt ra cho ngành ngân hàng cần thiết phải CPH NHTM nhà nước.

Với những yêu cầu hết sức cần thiết và bức xúc như đã nêu trên, đòi hỏi trong hoạt động của ngân hàng VN phải có một ngân hàng với quy mô lớn, năng lực tài chính mạnh trong khi các NHTM nhà nước cũng như các NHTM cổ phần không thể đáp ứng được thì vấn đề CPH NHTM nhà nước là một yêu cầu cần thiết khách quan.

II. Mục tiêu, yêu cầu cổ phần hoá

Thực chất cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển hình thức sở hữu nhà nước thành hình thức đa sở hữu thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp nhà nước cho nhiều chủ thể khác. Việc cổ phần hoá các NHTM nhà nước nhằm các mục tiêu sau:

– CPH ngân hàng thương mại nhà nước với mục đích sẽ tăng quy mô năng lực vốn trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu vốn (nhà nước, tổ chức kinh tế, cá nhân trong ngoài nước) để tăng năng lực cạnh tranh, vì vậy ngân hàng được CPH không phải như là một dạng của NHTM cổ phần và cũng không phải là một dạng của ngân hàng liên doanh (góp vốn của hai phía VN và nước ngoài). Vì vậy, đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý từ phía nhà nước ở tầm vĩ mô làm cơ sở cho Hội đồng quản trị điều hành ngân hàng một cách hiệu quả, linh hoạt.

– Tạo ra những NHTM lớn có khả năng phục vụ phát triển kinh tế xã hội và truyền tải các chính sách của nhà nước.

– Nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế .

III. Những vấn đề đặt ra trong quá trình CPH NHTM nhà nước

Thực hiện CPH đối với NHTM là vấn đề mới của ngành ngân hàng, do đó sẽ có những khó khăn nhất định. Việc thực hiện CPH NHTM nhà nước cần rút kinh nghiệm từ CPH các DNNN, không thực hiện chủ quan, nhưng cũng không được chậm trễ, do đó khi thực hiện phải đảm bảo những điều kiện cần và đủ như sau:

1. Về quy mô vốn tự có:

Hiện nay về quy mô vốn hoạt động của một NH trung bình trên thế giới khoảng từ một tỷ USD trở lên. Do đó, trong quá trình hội nhập và để đủ năng lực trong cạnh tranh, các NHTMNN được CPH đạt quy mô vốn ít nhất phải tương ứng với một ngân hàng trung bình trên thế giới, tức là mức vốn tự có của ngân hàng này phải đạt từ 16.000 tỷ đồng trở lên trong đó, vốn sở hữu của nhà nước đạt tối thiểu 8.160 tỷ đồng, phần còn lại gọi vốn từ cổ đông trong và ngoài nước.

Quy mô vốn của NH CPH phải luôn luôn bảo đảm được yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% trên tổng tài sản có, đây là một chuẩn mực quốc tế không thể thiếu được.

2. Về mức vốn giữ vai trò chi phối của nhà nước trong NH được CPH:

NHTM nhà nước khi thực hiện CPH tuy hình thức chủ sở hữu có sự thay đổi nhưng vai trò chủ đạo trong việc triển khai thực hiện chính sách tiền tệ vẫn không thay đổi mà vẫn tiếp tục phát huy dưới hình thức mới được điều hành bởi một Hội đồng quản trị theo cơ chế quản lý phù hợp. Vì vậy, nhất thiết NHTM nhà nước khi thực hiện CPH vốn nhà nước tham gia phải nắm vai trò điều phối với tỷ lệ tối thiểu 51%.

Việc này có thể thực hiện thông qua hình thức :

Một là, giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại NHTMNN (xem đó là 51%), phần 41% còn lại sẽ phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn từ các cổ đông trong và ngoài nước.

Hai là, mức vốn điều lệ tăng đến đâu thì vốn của nhà nước luôn giữ tỷ trọng 51%.

Tuy nhiên, việc quy định Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ vốn tối thiểu 51%, sẽ có hai khó khăn cần được giải quyết :

– Hiện nay, ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, không đủ vốn để luôn duy trì tỳ lệ 51% khi mức vốn điều lệ cần phải tăng cao theo yêu cầu.

– Khi Nhà nước nắm giữ số cổ phần khống chế và có quyền chỉ định các vị trí điều hành then chốt, các vấn đề nhân sự, cơ chế hoạt động… Như vậy về cơ bản sẽ chỉ là “bình mới rượu cũ”, hiệu quả hoạt động sẽ vẫn thấp, lợi ích đem lại không đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.

3. Về góp vốn của cổ đông nước ngoài:

Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia góp vốn để thu hút các nguồn lực ngoài nước, tỷ lệ tham gia của các cổ đông nước ngoài dần dần được mở rộng nhưng tỷ lệ tối đa không quá 30% vốn điều lệ. Trong đó, nên tập trung ưu đãi cho các cổ đông nước ngoài là các ngân hàng nước ngoài với tỷ lệ góp vốn tối đa không quá 20% vốn tự có. Bởi vì chính các ngân hàng này sẽ là cơ sở, điều kiện giúp cho ngân hàng được CPH mở rộng phát triển mạng lưới hoạt động (chi nhánh, văn phòng đại diện) đến các nước sở tại này.

4. Về vai trò chủ đạo trong thực hiện chính sách tiền tệ của NH được CPH:

NHTM nhà nước sau khi CPH phải trở thành một ngân hàng cùng với hệ thống NHTM nhà nước là lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực ngân hàng, là NH triển khai thực hiện tốt chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước VN, là một ngân hàng có khả năng huy động tốt mọi tiềm lực kinh tế xã hội trong và ngoài nước để phân phối và sử dụng một cách an toàn hiệu quả, an toàn góp phần thực hiện thành công CNH-HĐH đất nước.

Việc CPH ngân hàng đảm bảo ổn định được hoạt động tiền tệ-tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế.

5. Về tình hình tài chính:

Mặc dù hiện nay, Chính phủ đã có những chủ trương xử lý nợ tồn đọng và các NHTMNN đã tích cực xử lý nhưng nhìn chung tỷ lệ nợ tồn đọng vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao (trên địa bàn TP.HCM khoảng 5,1%). Kinh nghiệm từ thực tiễn CPH các DNNN về việc xử lý nợ tồn đọng luôn luôn là vấn đề hết sức khó khăn, phụ thuộc vào các cơ chế chính sách xử lý nợ, sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc xử lý nợ. Ngoài ra, việc xác định thực tế giá trị ngân hàng để CPH cũng không phải là vấn đề đơn giản, hiện nay đã có nhiều phương pháp để xác định giá trị tài sản hữu hình nhưng việc xác định giá trị tài sản vô hình đang gặp vướng mắc trong xác định thương hiệu và vị thế hoạt động:

– Xử lý các khoản nợ tồn đọng, đặc biệt Nhà nước phải có cơ chế xử lý dứt điểm các khoản nợ theo chủ trương như nợ cho vay thanh toán công nợ, nợ khoanh… Đây là một thực trạng khó khăn của các NHTM nhà nước hiện nay. Quá trình xử lý nợ đọng sẽ kéo dài thời gian ảnh hưởng đến tiến trình CPH.

– Xây dựng một ngân hàng CPH đủ thực lực tài chính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Muốn thực hiện được điều này, cần phải xác định chính xác giá trị thực tế của ngân hàng được CPH, đưa ra một mức giá phù hợp mà người mua và cả người bán đều có thể chấp nhận được, trên cơ sở đó việc gọi vốn góp cổ đông rất dễ dàng.

6. Xác định chiến lược kinh doanh ngân hàng:

Các nội dung khác của tiến trình CPH mặc dù được chuẩn bị tốt đến đâu nhưng không xác định được mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng thì cũng không thể đánh giá được tầm quan trọng của ngân hàng được CPH cũng như không thể làm cơ sở xác định được hiện giá ròng trong tương lai của ngân hàng. Vì vậy, NHTM CPH phải xây dựng được chiến lược kinh doanh mới theo thông lệ quốc tế và là một ngân hàng đa năng với các sản phẩm dịch vụ NH hiện đại như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, đầu tư tài chính, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường mua bán nợ…

Đảm bảo được hoạt động kinh doanh của ngân hàng được CPH theo nguyên tắc thị trường, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế.

Việc CPH NHTM nhà nước phải gắn liền với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng và phát triển mạng lưới hoạt động ra các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có cổ đông góp vốn (đây sẽ là một ưu thế của ngân hàng CPH ).

IV. Giải pháp

1. Về cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động:

Ngân hàng Nhà nước trình Quốc hội nghiên cứu điều chỉnh bổ sung loại hình NHTM CPH trong loại hình các TCTD làm cơ sở pháp lý thực hiện.

Là ngân hàng có yếu tố vốn đầu tư nước ngoài nên sẽ chịu điều chỉnh bởi Luật các TCTD và Luật đầu tư nước ngoài.

2. Về cơ chế quản trị ngân hàng:

Phải xây dựng được cơ chế quản lý của Hội đồng quản trị theo hướng nâng cao quyền lực. Theo đó, Hội đồng quản trị được quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với Tổng giám đốc điều hành; bộ phận kiểm soát và kiểm toán nội bộ ngân hàng hoạt động độc lập với Ban điều hành, chỉ trực thuộc Hội đồng quản trị, từ đó mới phát huy được vai trò hoạt động của Kiểm soát và kiểm toán nội bộ. Quy định một số quyền hạn nhất định của các cổ đông nước ngoài trong việc tham gia các quyết sách hoạt động của ngân hàng.

Xây dựng được các chuẩn mực quốc tế về quy trình nghiệp vụ quản trị rủi ro, quản lý tín dụng hiện đại, quản lý tài sản nợ-có, quản lý đầu tư, quy trình kiểm toán nội bộ….

3. Xác định giá trị thực tế ngân hàng:

Trong quá trình thực hiện CPH điều quan trọng là xác định giá trị thực tế ngân hàng để đưa giá bán cổ phần cho phù hợp, người mua và người bán có thể chấp nhận được. Tiến hành thí điểm và mở rộng bán đấu giá cổ phần lần đầu thông qua thị trường chứng khoán. Trong giai đoạn đầu, có thể nghiên cứu bán cổ phần không chi phối cho các nước có thực lực kinh tế phát triển mạnh để thu hút nhanh vốn.

4. Xây dựng lộ trình phát triển theo mục tiêu chiến lược của NH được CPH:

Trên cơ cơ sở mục tiêu chiến lược đã được định hướng, cần thiết phải xây dựng lộ trình phát triển hoạt động cho ngân hàng được CPH như sau :

– Từ năm 2006 đến 2010: Phải đạt một số chuyển biến lớn về cơ sở hạ tầng, nguồn vốn, phát triển các loại hình sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại. Phát triển mạng lưới văn phòng đại diện và chi nhánh hoạt động ở nước ngoài, hình thành một NHTM mạnh có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

– Từ năm 2010: Hoạt động NHTM theo chuẩn mực quốc tế kể cả về vốn, quản lý, công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu về vốn và thanh toán chủ yếu của nền kinh tế, đồng thời khẳng định vai trò nhất định trên thị trường tài chính khu vực và quốc tế.

5. Cổ phần hoá gắn với niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán:

Sau khi cổ phần hoá, cổ phiếu của các NH sẽ được đưa lên sàn giao dịch, để giá trị cổ phiếu được giao dịch công khai và phản ảnh đúng giá trị .

Đòi hỏi phát triển thị trường chứng khoán của VN phải lớn mạnh, xứng đáng là sàn giao dịch công bằng, bình đẳng, minh bạch, hiệu quả cho các nhà đầu tư. Để đạt được điều đó, thị trường chứng khoán VN cần thực hiện một số biện pháp sau:

° Về cơ sở pháp lý: Thị trường chứng khoán VN chưa thực sư là một kênh vốn dài hạn của nền kinh tế, do đó cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với tình hình thực tiễn của TTCK VN cũng như với thông lệ của các TTCK lớn trên thế giới. Đó là :

Phải sớm xây dựng và ban hành Luật chứng khoán, hoàn chỉnh các văn bản pháp quy về thuế, phí, chế độ theo hướng thông thoáng hơn nhằm khuyến khích các chủ thể tích cực tham gia thị trường.

Trong thời gian trước mắt chưa có Luật chứng khoán, Uỷ ban chứng khoán nhà nước cần phối hợp với Bộ kế hoạch và đầu tư xây dựng và trình Chính phủ Nghị định về quản lý, phát hành và giao dịch chứng khoán chưa niêm yết. Bên cạnh đó, cần phải ban hành thêm các hướng dẫn cụ thể về niêm yết cổ phiếu ngân hàng.

° Cần gắn liền việc niêm yết trên thị trường chứng khoán với việc CPH ngân hàng: Việc đưa vào quy định pháp lý ngay từ đầu các điều khoản yêu cầu các doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết khi cổ phần hoá phải tổ chức bán đấu giá và niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán. Điều này sẽ tạo ra một thói quen cho NH khi CPH với việc minh bạch và công khai hoá thông tin ngay từ đầu.

Có như vậy TTCK sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá NHTMNN thông qua việc thực hiện thành công việc bán cổ phần của các NHTMNN cổ phần hoá. Và một khi cổ phiếu ngân hàng được niêm yết trên TTCK thì sẽ có một khối lượng hàng hoá lớn được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán, tạo nên sự sôi động trên TTCK và chắc chắn TTCK VN sẽ tiến lên một bước ª

———————————————————————-

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 10/2006

TÀI SẢN VÔ HÌNH VÀ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG KINH DOANH

ĐÀO MINH ĐỨC

Phi cơ đang lướt êm trên không phận thành phố Sài Gòn, đêm dưới cánh bay trải rộng qua những tuyến và luồng giao thông nhấp nháy với những mảng sáng, tối đan xen, gợi lên trong lòng vị Tổng giám đốc vừa trở về từ nước ngoài một cảm nhận vừa huyền ảo, vừa thực tại, vừa chờ đợi, vừa thách thức … Hai hôm nay, những đánh giá và nhận định lạc quan của Trưởng văn phòng đại diện tại châu Âu luôn dằng co với các thông tin và báo cáo trực tuyến từ Tổng công ty về một số vấn đề mà ông sẽ phải chủ trì giải quyết trong ba buổi họp liên tục đã lên lịch ngày mai. 

Vấn đề thứ nhất, nhân viên marketing lâu năm N được cử đi nghiên cứu thị trường Ấn Độ vừa trở về đã nộp đơn nghỉ việc do xung đột tính cách không thể hoà giải với Giám đốc tiếp thị, và có khả năng sẽ nhận lời làm việc với một đối thủ cạnh tranh. Hàng loạt bí mật kinh doanh (trade secret) như phương án xâm nhập thị trường Ấn Độ mà công ty đã điều nghiên trước đó, các dữ liệu, thông tin và phán đoán mới mà nhân viên N vừa thu thập nhưng không báo cáo lại đầy đủ, các đối tác cung ứng nguồn nguyên liệu rẻ cho công ty … có nguy cơ bị thất thoát. Câu hỏi đầu tiên mà luật sư tư vấn hỏi Giám đốc điều hành về vụ việc này là công ty có quy chế bảo mật hay không? Trong thực tế thì quả là tổng công ty chưa từng quan tâm đến một quy chế như vậy … 

Vấn đề thứ hai, giáo sư M trước đây có giao kết với công ty về việc nghiên cứu quy trình đưa thêm một thành phần dược thảo vào một loại thực phẩm chức năng mà công ty đang lưu hành trên thị trường. Công ty đã trang trải toàn bộ chi phí và và phương tiện cần thiết cho việc nghiên cứu với thù lao đặc biệt. Tuy nhiên, do vị trí rất cao của giáo sư trong chuyên ngành, công ty đã đồng ý để giáo sư M đứng tên đăng ký sáng chế đối với quy trình được xác lập và Giáo sư M thỏa thuận cấp li-xăng sử dụng độc quyền cho Công ty trong việc khai thác sáng chế trong lĩnh vực thực phẩm. Vấn đề tế nhị xảy ra: Hiện Giáo sư N đang được một hãng dược phẩm nước ngoài đề nghị cấp li-xăng áp dụng quy trình này vào việc sản xuất một loại thuốc chữa bệnh mà họ đang có thị trường toàn cầu ! 

Vấn đề thứ ba, Công ty liên doanh giữa Tổng công ty với một đối tác Úc đã bước vào năm thứ 14. Các mục tiêu cơ bản của Liên doanh được hai bên nhất trí đánh giá là đã đạt từ cuối năm hoạt động thứ tám. Hợp đồng li-xăng theo đó Liên doanh được phép sử dụng nhãn hiệu R của đối tác Úc đã được gia hạn thêm một chu kỳ bảy năm và năm nay cũng là năm kết thúc hai chu kỳ giao kết. Giá trị nhãn hiệu R đã tăng lên nhiều lần cả ở thị trường trong nước cùng một số thị trường nước ngoài do nỗ lực tiếp thị của Liên doanh nhưng tài sản này lại không thuộc quyền sở hữu của Liên doanh hoặc Tổng công ty. Đối tác Úc vừa chính thức khẳng định sẽ không tái giao kết li-xăng này. Sự kiện này đã được tiên liệu và Liên doanh cũng đã chuẩn bị nhãn hiệu thay thế T từ năm năm trước đây nhưng trong thực tế, nhãn hiệu T hiện chỉ đóng góp chưa tới 27% tổng doanh thu thị trường nội địa và đã không tiếp thị thành công ra thị trường nước ngoài. Trong hợp đồng liên doanh và hợp đồng li-xăng đã ký, không có điều khỏan nào hạn chế quyền sử dụng nhãn hiệu R của đối tác Úc trên các thị trường trong và ngoài nước của Liên doanh sau khi hết hạn hợp đồng li-xăng !!! 

Mẫu trích một tình huống phân tích (case study) trên đây trong chuyên đề “Quản trị tài sản trí tuệ” khơi gợi đến một nhóm các đối tượng quản trị ngày càng chi phối các quyết định điều hành của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp: các tài sản trí tuệ (intellectual assets) nói riêng và các tài sản vô hình (intangible assets) nói chung với sự phức hợp các đặc trưng về pháp lý, công nghệ, thương mại và tài chính tương đối khó nắm bắt và vận dụng hơn so với nguồn vốn tiền tệ hoặc các tài sản hữu hình quen thuộc khác trong các hoạt động kinh doanh. 

Quyền sở hữu trí tuệ 

Trước hết, trong hoạt động hàng ngày của một tổ chức, bên cạnh các công việc đều đặn tuân thủ theo các quy trình đã được hoạch định, luôn luôn có thể xuất hiện các khó khăn cần phải khắc phục hoặc các tình huống ngoài dự liệu phải được xử lý, đòi hỏi người lao động ở các vị trí liên quan phải suy nghĩ và tìm ra các cách thức, biện pháp giải quyết. Các cách thức, biện pháp mới nảy sinh đó được gọi chung là các sáng kiến (innovations). Chủ tịch hội đồng quản trị có thể phát hiện một cơ hội đầu tư mới trên sân golf, trưởng phòng kỹ thuật trong một lần lướt web có thể tìm thấy một sáng chế ở nước ngoài có giá trị khai thác thương mại tại thị trường nhiều nước khác mà chủ sở hữu sáng chế đã không quan tâm đến và cũng không còn cơ hội đăng ký bảo hộ tại các thị trường đó, một designer trong một phút ngẫu hứng có thể phác hoạ ra một mẫu thiết kế sẽ trở thành một trong các chỉ dẫn thương mại quan trọng nhất trong phong cách kinh doanh (corporate identity) của công ty, một nhân viên marketing đang mải miết quan sát cách trình bày và thái độ chọn mua của khách trước quầy hàng trong siêu thị có thể bật ra trong đầu một tên nhãn hiệu (brand name) mới có tính phân biệt cao và độ gợi nhớ tốt giúp tiết giảm chi phí truyền thông trong giai đoạn đầu xâm nhập thị trường cho một sản phẩm mới, một công nhân cơ khí thạo việc có thể chợt chú ý và phát hiện sự thay đổi đôi chút trong độ cong của một chi tiết máy đã làm tăng độ ổn định của đầu ra một dây chuyền ngoại nhập sử dụng nguyên, vật liệu nội địa … Theo đó, mối bận tâm đầu tiên của nhà điều hành là, liệu mọi sáng kiến nảy sinh trong quá trình công vụ sẽ được các tác giả sáng kiến báo cáo lại đầy đủ để đưa vào áp dụng và làm giàu thêm cơ sở tri thức (intellectual base) của doanh nghiệp? hay sẽ được cất giữ và ẩn tàng trong kiến thức, kỹ năng cá nhân và sẽ ra đi hợp pháp không dấu vết vào một buổi đẹp trời nào đó? 

Trong dòng sáng kiến mới nảy sinh đó, có những sáng kiến có tính đơn giản chỉ có tác dụng cục bộ hay nhất thời và chỉ có giá trị như một kinh nghiệm chuyên môn cho một vị trí lao động cụ thể ; có những sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi hơn trong cả doanh nghiệp hoặc có giá trị khai thác trong ngắn hạn hay trung hạn ; có những sáng kiến lại có thể áp dụng lâu dài hoặc đại trà trong ngành, nghề và cần được bảo vệ thích đáng nhằm hạn chế khả năng sao chép để nhảy vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh. Dòng sáng kiến đa dạng đó, một khi được bộc lộ và cụ thể hoá theo một quy trình quản trị thích hợp, sẽ là các tri thức mới hoà thêm vào dòng dữ liệu (data), dòng thông tin (information) và dòng tri thức (knowledge) hiện có trong tổ chức, giúp hình thành và phát triển dòng tài sản trí tuệ (intellectual assets – IA) của doanh nghiệp. Khái niệm tài sản theo nghĩa pháp lý được phân thành bốn dạng: tiền, vật, giấy tờ có giá và “quyền tài sản”. Quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao lưu dân sự (như quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê mướn cầu thủ, thỏa thuận gia công …). Các tài sản trí tuệ là loại tài sản tồn tại dưới hình thức “quyền tài sản” và bao gồm các nhân tố trí tuệ mà doanh nghiệp có thể kiểm soát hoặc xác lập quyền sở hữu như: các cơ sở dữ liệu (data base), các quy trình tác nghiệp, các bí quyết công nghệ … Quyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể bao gồm ba khía cạnh: quyền chiếm hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản và quyền định đoạt tài sản. 

Một tài sản trí tuệ nếu thỏa mãn các điều kiện bảo hộ pháp lý cụ thể theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ sẽ trở thành một đối tượng sở hữu trí tuệ (intellectual property – IP) như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tác phẩm có bản quyền (copyright) … Tập hợp các đối tượng sở hữu trí tuệ mà một doanh nghiệp nắm giữ được gọi là tập đối tượng sở hữu trí tuệ (IP Portfolio) của doanh nghiệp đó. Một đối tượng sở hữu trí tuệ nếu được doanh nghiệp xúc tiến đầy đủ các biện pháp hoặc thủ tục bảo hộ thích ứng sẽ xác lập nên một quyền sở hữu trí tuệ (IP right) như bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu … Một quyền sở hữu trí tuệ có thể có tính độc quyền tuyệt đối (như bằng độc quyền sáng chế) hoặc độc quyền tương đối (như bí mật kinh doanh hoặc các tác phẩm có bản quyền). Điểm đáng chú ý của các đối tượng sở hữu trí tuệ so với các tài sản trí tuệ khác là, pháp luật sở hữu trí tuệ không chỉ điều chỉnh quá trình xác lập, bảo vệ và chuyển giao quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ, mà còn chú trọng bảo vệ quyền nhân thân của các tác giả đã tạo ra các đối tượng sở hữu trí tuệ đó (như quyền đứng tên trên văn bằng độc quyền, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền nhận thù lao và giải thưởng liên quan …).  

Việc chuyển giao hẳn quyền sở hữu (bao gồm cả quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) đối với một tài sản trí tuệ cụ thể hoặc một đối tượng sở hữu trí tuệ cho một chủ thể khác được gọi là sự chuyển nhượng tài sản (assignment), như trong trường hợp Unilever mua lại nhãn hiệu P/S của Công ty hoá mỹ phẩm P/S. Việc chủ sở hữu vẫn nắm quyền sở hữu tài sản và chỉ cấp phép cho một chủ thể khác sử dụng tài sản trí tuệ liên quan của mình gọi là sự cấp li-xăng (licensing), như trong trường hợp Unilever cấp li-xăng cho Kinh Đô sử dụng nhãn hiệu WALL trong một thời gian ngắn để thuận tiện cho việc chuẩn bị và lăng xê nhãn hiệu thay thế sau khi mua lại xưởng kem từ Unilever. Trong một hợp đồng nhượng quyền thương mại (franchising), việc cấp li-xăng nhãn hiệu hay thương hiệu là một trong các giao kết cơ bản và bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ tác nghiệp và hỗ trợ tiếp thị có thể dẫn theo việc cấp li-xăng một số tài sản trí tuệ khác như bí quyết công nghệ hoặc tác nghiệp, các tài liệu hướng dẫn hoặc các mẫu thiết kế có bản quyền … 

Bên cạnh các sáng kiến đóng góp trực tiếp vào việc làm giàu cơ sở tri thức (intellectual base) của doanh nghiệp, mọi người lao động trong doanh nghiệp cũng thường xuyên vận dụng kinh nghiệm, kỹ năng, óc phán đoán và tri thức cá nhân của mình trong quá trình lao động công vụ. Do vậy, nhìn từ góc độ huy động và khai thác nguồn lực, nhà điều hành cũng nên chú ý đến một đối tượng quản trị khác được gọi là nguồn vốn trí tuệ (intellectual capital – IC) của doanh nghiệp, bao gồm nguồn nhân lực hiện hữu cùng các tài sản trí tuệ (IA) được họ thường xuyên vận dụng và tạo dựng bổ sung cho doanh nghiệp, trong đó có các quyền sở hữu trí tuệ (IP). Ở góc độ chiến lược kinh doanh, có thể nói rằng, các quyền sở hữu trí tuệ (IP) là công cụ để bảo vệ các tài sản hiện tại, trong khi nguồn vốn trí tuệ (IC) và các tài sản trí tuệ (IA) đảm nhận vai trò khai thác các giá trị tương lai. Cách tiếp cận này sẽ giúp phân định rõ nhiệm vụ tác nghiệp của một luật sư sở hữu trí tuệ (Patent Attorney, Trademark Agency, IP lawyer …) với một quản trị viên tài sản trí tuệ (IP Manager, IA Manager). Một doanh nghiệp đã phát triển đến một tầm mức nào đó có thể sẽ có nhu cầu thiết lập một nhóm, tổ hoặc bộ phận quản trị sở hữu trí tuệ (IP team/group) hoặc chuyên nghiệp hơn nữa là quản trị tài sản trí tuệ (IA group/division), đảm nhiệm cả hai chức năng pháp lý lẫn quản trị. 

Các đối tượng sở hữu trí tuệ 

Pháp luật sở hữu trí tuệ VN hiện hành có thể tạm chia thành ba bộ phận chính: pháp luật về quyền tác giả (copyright) đối với tác phẩm và các quyền liên quan (related right/neighbouring right), pháp luật sở hữu công nghiệp (industrial property) và pháp luật bảo hộ giống cây trồng (plant varieties). Dưới đây xin được phân tích vắn tắt vài khía cạnh giá trị của một số đối tượng sở hữu trí tuệ hiện được đa số các chủ thể sở hữu quan tâm nhất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. 

Sáng chế (invention) là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình, sẽ được bảo hộ độc quyền cho người đăng ký trước nếu thỏa ba điều kiện: có khả năng áp dụng công nghiệp, có tính mới và có trình độ sáng tạo. Một nhà sáng chế hoặc một doanh nghiệp có thể nộp đơn đăng tất cả các sáng chế mà học có ngay khi mỗi sáng chế vừa phát sinh để giành quyền ưu tiên. Sau đó, tùy theo điều kiện thương mại hoá của mỗi sáng chế, họ có thể tạm giữ kín sáng chế trong vòng 19 tháng để quan sát hoặc chuẩn bị thị trường, để hoàn thiện sáng chế … hay cho công bố để chào bán hoặc chào mời hợp tác, để có quyền tạm thời khuyến cáo các doanh nghiệp khác không được khai thác … Cũng từ sau ngày nộp đơn, họ có một thời hạn là 42 tháng để ra quyết định cuối cùng là có nên lấy bằng độc quyền hay không. Có khi chỉ một thời gian ngắn sau khi đăng ký, đã xuất hiện một sáng chế khác ưu việt hơn của người khác, hoặc có khi sau khi đã công bố và tìm mọi cách xâm nhập thị trường mà vẫn không thành công, người đăng ký có thể từ bỏ đơn sáng chế đã nộp do sáng chế không có triển vọng thương mại hoá. Các tập đoàn công nghiệp quốc tế hàng năm đều đăng ký vài ngàn đơn sáng chế vào nhiều nước khác nhau trong đó có VN, chủ yếu là để ém trước các thị trường (preempt the markets) của các sản phẩm dự định được sản xuất theo các sáng chế đã nộp đơn. Họ có thể tiến hành lấy bằng độc quyền hoặc không trong vòng một, hai, ba, bốn hoặc năm năm sau tùy theo giá trị khai thác thương mại của mỗi sáng chế. Theo đó, hệ thống đăng ký sáng chế về bản chất là một hệ thống pháp lý trợ giúp kinh doanh công nghệ chứ không phải là hệ thống để thể hiện hoặc tôn vinh tài năng. Cũng như mọi loại sản phẩm mới khác, có công nghệ mới sẽ hết sức đắt giá nhưng sẽ có nhiều hơn các công nghệ mới chỉ mang tính lót đường cho tri thức và công nghiệp.  

Nhãn hiệu (brand/trademark) là dấu hiệu để phân biệt các sản phẩm (hàng hoá và/hoặc dịch vụ) cùng loại. Giá trị của nhãn hiệu đuợc hình thành dần trong tiến trình tiếp thị và có thể phân tách thành năm thành tố giá trị khác nhau bao gồm: mức độ nhận biết về nhãn hiệu, chất lượng cảm thụ của nhãn hiệu, các ấn tượng liên kết với nhãn hiệu, ý hướng trung thành của khách hàng và các lợi thế cạnh tranh của nhãn hiệu. Một mức độ nhận biết (brand awareness) rõ ràng là cơ sở tối thiểu để tạo lập sự tin cậy đối với nhãn hiệu và giúp neo kết các thành tố giá trị khác. Tuy nhiên, một chất lượng cảm thụ (brand perceived quality) không thua kém hoặc tốt hơn nữa là khác biệt so với các nhãn hiệu cạnh tranh mới bảo đảm tốt nhất cho khả năng cạnh tranh của nhãn hiệu trong lâu dài. Ở một giai đoạn nào đó khi khách hàng đã rất am tường về sản phẩm do hoạt động tiếp thị và truyền thông liên tục của các đối thủ cạnh tranh, các ấn tượng liên kết (brand associations) sẽ phát huy cao nhất vai trò khác biệt hoá thông qua việc làm giàu hình ảnh trong mức độ nhận biết về nhãn hiệu hoặc tăng cường cảm xúc để nâng cao chất lượng cảm thụ riêng biệt của nhãn hiệu. Một nhãn hiệu có mức độ nhận biết cao, có chất lượng cảm thụ khác biệt hoặc có ấn tượng liên kết phong phú vẫn có nguy cơ bị tấn công bởi các nhãn hiệu cạnh tranh không ngừng tự hoàn thiện và khác biệt hoá. Do vậy, việc tiếp tục vun bồi mối quan hệ với khách hàng để củng cố ý hướng trung thành (brand loyalty) với nhãn hiệu trước các chiến thuật và sách lược lôi kéo khách hàng của các đối thủ cạnh tranh là nhu cầu tất yếu. 

Cả bốn thành tố giá trị trên khi được bồi tụ đến một mức độ nào đó sẽ tạo nên lợi thế hình ảnh cho nhãn hiệu, bên cạnh bốn loại lợi thế cạnh tranh khác mà nhãn hiệu có thể có là: lợi thế về công nghệ, lợi thế về tài chính, lợi thế về thương mại và lợi thế về pháp lý (như các văn bằng độc quyền sở hữu trí tuệ khác trợ lực cho nhãn hiệu). Việc phân tách giá trị nhãn hiệu thành năm thành tố giá trị như trên (hoặc qua một phương án phân tích khác) sẽ giúp nhận biết chính xác hơn các tương tác nhân – quả trong tác nghiệp quản trị nhãn hiệu. Thí dụ, một nhãn hiệu được nhận biết rộng rãi (well-known mark) nhờ đi trước trong thị trường, nhờ kinh doanh lâu năm, nhờ truyền thông tích cực hoặc nhờ lợi thế thương mại hay tài chính … chưa hẳn đã là một nhãn hiệu nổi tiếng (famous mark) nếu chất lượng cảm thụ không có điểm vượt trội (thí dụ, do non yếu hơn trong đầu tư công nghệ) hoặc các ấn tượng liên kết luôn mờ nhạt hay hỗn độn, thiếu nhất quán (thí dụ, do thường xuyên thay đổi quản trị viên hoặc đối tác quảng cáo). Trong một giao kết nhượng quyền thương mại, nếu nhãn hiệu được cấp li-xăng chỉ có được một mức độ nhận biết rộng rãi mà không thực sự là một nhãn hiệu mạnh về chất lượng cảm thụ hoặc ấn tượng liên kết so với các nhãn hiêu cạnh tranh, và phương thức kinh doanh hoặc tác nghiệp cũng thể bảo hộ bằng các quyền sở hữu trí tuệ liên quan khác (sáng chế, bí quyết công nghệ …), thì giao kết franchising tương ứng chỉ đơn thuần là một trong các biện pháp phát triển nhanh kênh phân phối nhằm khai thác thời cơ thị trường, thu hút nguồn lực đầu tư, san sẻ rủi ro và phí tổn …  

Tên thương mại của doanh nghiệp hoặc thương hiệu (corporate brand/trade name) là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt các chủ thể kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp sử dụng luôn thương hiệu làm nhãn hiệu (IBM, Prudential), thường là do kinh doanh đơn ngành hoặc phổ sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ) có tính liên kết hay bổ trợ cho nhau. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp lại quản trị thương hiệu và nhãn hiệu như những giá trị độc lập và tách biệt, thậm chí chẳng liên quan gì đến nhau (P&G, Unilever), thường là do phổ sản phẩm có tính đa dạng phục vụ các phân mảng thị trường (segment) khác biệt với chất lượng cảm thụ hoặc các ấn tượng liên kết không nên trộn lẫn với nhau hoặc đôi khi còn trái ngược với nhau (thí dụ, trong phổ sản phẩm vừa có tuyến (line) thực phẩm cho người, vừa có tuyến thực phẩm cho gia súc). Trong một giao kết licensing hoặc franchising, nếu có quá trình cấp phép sử dụng thương hiệu, có thể hiểu rằng về mặt bản chất, thương hiệu đó đang được sử dụng như một nhãn hiệu dịch vụ (service mark). Việc phân định về bản chất chức năng của thương hiệu với chức năng của nhãn hiệu trong cách tiếp cận này sẽ giúp phát triển các chiến thuật và sách lược khai thác mối tương quan giữa thương hiệu (corporate brand) với các nhãn hiệu (brand) trong tập nhãn hiệu (brand portfolio) của doanh nghiệp. Không như giá trị của nhãn hiệu về cơ bản được hình thành trong mối quan hệ với mảng khách hàng mục tiêu (target segment), giá trị của thương hiệu được hình thành qua quá trình giao kết và giao tiếp với hàng loạt các đối tác kinh doanh như: các nhà cung ứng, các nhà phân phối, khách hàng, các nhà đầu tư, cổ đông, người lao động trực thuộc, chính quyền, giới báo chí, giới phân tích … mà vào từng giai đoạn kinh doanh khác nhau, một đối tác nào đó lại có vai trò quan trọng hơn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Đó cũng là quá trình giúp doanh nghiệp thiết lập nên các mối quan hệ (relationships), xác lập các quyền (rights) được thụ hưởng, quản lý các công việc đang tiến triển (going concerns), phát triển các tài sản trí tuệ và tạo dựng nên lợi thế hình ảnh (corporate goodwill) cho doanh nghiệp. Năm thành tố vừa liệt kê cấu thành phần tài sản vô hình của doanh nghiệp, kết hợp cùng nguồn vốn tiền tệ và các tài sản hữu hình khác xác lập và củng cố giá trị của thương hiệu trên trường kinh doanh, phản ánh qua một trong những thước đo chủ yếu là giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp một khi đã được tung vào sàn giao dịch chứng khoán. Do vậy, việc chuyển nhượng tên thương mại hoặc thương hiệu bao giờ cũng phải đi kèm cùng toàn bộ cơ sở kinh doanh liên quan. 

Phân loại tài sản vô hình 

 Khái niệm tài sản vô hình vừa đề cập có thể định nghĩa khái quát hơn là các nhân tố phi vật chất được sử dụng trong (như một quy trình được cấp bằng sáng chế) hoặc đóng góp vào (như quyền sử dụng đất) quá trình sản xuất hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ, hay được kỳ vọng sẽ làm phát sinh một nguồn lợi tương lai (như ý hướng trung thành của khách hàng) cho doanh nghiệp.  

Nhìn dưới góc độ pháp lý, các tài sản vô hình có thể được phân định thành ba nhóm: các tài sản vô hình mà doanh nghiệp có thể sở hữu và chuyển giao như các quyền sở hữu trí tuệ hay một số quyền được thụ hưởng qua hợp đồng, giấy phép …, các tài sản vô hình mà doanh nghiệp có thể kiểm soát nhưng không thể chuyển giao như một số tài sản trí tuệ không thể bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ hoặc một số công việc đang tiến triển tại doanh nghiệp … và các nhân tố cùng các tác động vô hình khác như các mối quan hệ, lợi thế công nghệ, lợi thế tài chính, lợi thế thương mại hoặc lợi thế pháp lý của doanh nghiệp. Dưới góc nhìn quản trị, việc phân định các lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp vào năm nhóm lợi thế (công nghệ, tài chính, thương mại, pháp lý và hình ảnh) sẽ giúp doanh nghiệp chú ý chi tiết hơn đến vai trò và các ảnh hưởng vô hình của từng nhân tố tham gia cấu thành một lợi thế. Trong trường hợp doanh nghiệp tiến hành kinh doanh bằng một tập nhãn hiệu, thì các lợi thế cạnh tranh tương ứng của mỗi nhãn hiệu có thể được phân bổ hoặc hỗ trợ từ các lợi thế cạnh tranh của thương hiệu tức lợi thế cạnh tranh của toàn doanh nghiệp. 

Nhìn dưới góc độ kế toán tài chính, tài sản vô hình được phân thành tài sản cố định vô hình có thể hạch toán, phân bổ và khấu hao giá trị một cách chắc chắn và lợi thế thương mại chỉ hình thành qua một giao dịch sáp nhập (merger), thôn tính (acquisition) hay thanh lý (liquidation). Nếu xảy ra một giao dịch như vậy, lợi thế thương mại sẽ là khỏang chênh giữa giá trị được thanh toán của doanh nghiệp với tổng giá trị của vốn tiền tệ với các tài sản hữu hình và các tài sản vô hình đã được hạch toán (khái niệm lợi thế thương mại trong góc nhìn kế toán tài chính này xin đươc xem là bao hàm cà năm nhóm lợi thế trong góc nhìn quản trị bên trên). Các nhân tố vô hình khác không thỏa điều kiện hạch toán như một tài sản cố định vô hình (có thể xác định riêng biệt, có khả năng kiểm soát, có lợi ích kinh tế tương lai chắc chắn, thời gian sử dụng ước tính trên một năm …) hoặc chưa xuất hiện sự kiện để hạch toán vào lợi thế thương mại sẽ chỉ có thể hạch toán như các khỏan chi phí trong một kỳ kế hoạch. 

 Nhìn dưới góc độ phân bổ và huy động nguồn lực, các tài sản vô hình có thể chia thành: các tài sản vô hình liên quan đến công nghệ (sáng kiến, sáng chế, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bản thiết kế, sổ tay kỹ thuật …), các tài sản vô hình liên quan đến tiếp thị (danh sách khách hàng, danh sách nhà cung ứng, phương án tiếp thị, chính sách giá cả, chỉ dẫn thương mại …), các tài sản vô hình liên quan đến các tác phẩm (đồ án, tranh ảnh, mẫu thiết kế, giai điệu, phim, sách .., các tài sản vô hình liên quan đến hợp đồng (cung ứng, phân phối, khai thác, thi công, sử dụng chuyên gia, hợp tác nghiên cứu …) …  

 Trong xu thế toàn cầu hoá, đi kèm cùng quá trình “giải định chế” (deregulation) đối với cấu trúc và hệ thống kinh tế và các áp lực của tự do thương mại, các cơ chế bảo hộ thị trường về mặt tài chính, thuế quan, thương mại, kỹ thuật … ở tầm kích quốc gia nói chung đang từng bước bị tháo dỡ ; các tài sản vô hình và tài sản trí tuệ (trong đó có các quyền sở hữu trí tuệ) đang dần phát huy cao hơn vai trò vừa là một công cụ tự bảo vệ của doanh nghiệp, vừa là một rào cản cạnh tranh trên từng phân mảng thị trường mục tiêu, vừa là một nguồn lực mang tiêu chuẩn quốc tế cần được kiểm soát, phát triển và vận dụng trong mắt của các nhà hoạch định chiến lược và các nhà điều hành doanh nghiệp ª 

———————————————————————————————————-

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 11/2006