HỆ THỐNG TỔ CHỨC, THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC TỐ TỤNG CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP TẠI ÚC

THS. HOÀNG VĂN TÚ – NGUYỄN TRƯỜNG GIANG  – Vụ pháp luật – Văn phòng Quốc hội

Từ năm 1901, nước úc thống nhất là một liên bang gồm 6 tiểu bang (Queensland, New South Wales, Victoria, Tasmania, South Australia, Western Australia) và hai khu tự trị (Canberra, North Australia). úc là một thuộc địa của Anh nên hệ thống chính trị và luật pháp của úc ảnh hưởng rất nhiều theo hệ thống pháp luật Anh quốc. Bên cạnh Chính phủ liên bang có Tổng toàn quyền liên bang là người đại diện duy nhất của Nữ hoàng Anh tại úc. Chính phủ tiểu bang của úc có các toàn quyền là người đại diện của Nữ hoàng Anh tại các tiểu bang. úc là một nước theo hệ thống pháp luật án lệ (Common LawSystem). Tuy nhiên, vẫn có những đạo luật do Quốc hội liên bang ban hành. Toàn quyền của úc được thành lập theo Hiến pháp và là một tổ chức quyền lực trong hệ thống bộ máy nhà nước. Các phán quyết của Toà án là biểu thị quyền t pháp. Các quan toà được Chính phủ đề nghị Tổng toàn quyền liên bang bổ nhiệm và phải làm tốt nhiệm vụ để

nhân dân tín nhiệm.

Hệ thống tổ chức toà án của úc được thành lập theo thẩm quyền của liên bang và tiểu bang. 

 – Tại liên bang có: Toà án tối cao liên bang (Hight Court), Toà án liên bang (Federal Court) và toà án gia đình và các toà chuyên biệt.

– Tại tiểu bang: Toà án thợng thẩm tiểu bang (Supreme Court), Toà án khu vực (County Court or District Court) và Toà tiểu hình mà mỗi tiểu bang có tên gọi khác nhau (Local Court, Magistrate’s Courts or Court of Summary Jurisdiction).

II/ Hệ thống toà án liên bang

1. Toà án tối cao liên bang

(Hight Court) được đặt tại thủ đô Canberra, có 7 vị quan toà được Tổng toàn quyền liên bang úc bổ nhiệm.Toà án tối cao liên bang có thẩm quyền sơ thẩm các vụ án tranh chấp giữa tiểu bang với tiểu bang hoặc giữa tiểu bang với liên bang, giải thích hiến pháp và phúc thẩm những vụ án do Toà án gia đình, Toà chuyên biệt, Toà liên bang và Toà thợng thẩm chuyển lên. Do luật án lệ, Toà án tối cao ở úc cũng giống như Toà án tối cao của nước Anh (Viện trưởng lão) chỉ xét xử những án xét cho chống án.

2. Toà liên bang

(Federal Court) được đặt tại bang New South Wales, Toà án liên bang được thành lập năm 1977 theo đạo luật do Quốc hội Liên bang ban hành năm 1976; có 48 vị quan toà được phân bổ rải rác cả nước, đứng đầu là chánh án toà liên bang. Trước năm 1990, Toà liên bang do Bộ t pháp quản lý. Ngày nay, Toà liên bang độc lập và chỉ phải báo cáo trước Quốc hội về công việc cũng như về ngân quỹ.

Toà án liên bang có thẩm quyền xử lý các loại việc theo luật liên bang quy định. Toà liên bang không xét xử về hình sự và cũng không hớng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, nhưng các bản án mà Toà liên bang đã xử là án lệ cho các toà án khác.

Toà liên bang xét xử phúc thẩm các vụ án do Toà án gia đình, các Toà chuyên biệt của liên bang gửi lên và xét xử phúc thẩm những vụ án có kháng án do Toà liên bang xử sơ thẩm. Khi xử sơ thẩm có một thẩm phán và khi xử phúc thẩm có ba thẩm phán. Để bảo đảm quyền bình đẳng của công dân được chống án đủ bốn cấp, Toà liên bang còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những vụ án do Toà thợng thẩm của hai khu tự trị gửi lên vì tại hai lãnh thổ liên bang này không có Toà án khu vực.

3. Toà gia đình

(Family Court) thuộc liên bang được thành lập từ năm 1975, trụ sở chính đặt tại New South Wales, có nhiều chi nhánh ở các bang khác, tất cả các vụ án về hôn nhân và gia đình của úc được xử sơ thẩm và phúc thẩm tại đây.

4. Các toà chuyên biệt

của liên bang như Toà khánh tận, Toà đất đai, Toà hành chính, Toà lao động, Toà xử những việc liên quan đến cựu chiến binh.. . xét xử sơ thẩm các loại việc đúng như tên gọi của nó. Bản án sơ thẩm của toà chuyên biệt có kháng cáo thì Toà

liên bang xét xử phúc thẩm.

III. Hệ thống toà án tiểu bang

1. Toà thượng thẩm

(Supreme Court) được đặt tại các tiểu bang, có 9 thẩm phán chuyên xử phúc thẩm và nhiều thẩm phán khác xét xử sơ thẩm.

Toà thượng thẩm có quyền xét xử sơ thẩm về hình sự đối với các vụ án nghiêm trọng như giết người, xâm phạm an ninh quốc gia và các tội về ma tuý có số lượng lớn, xét xử các tranh chấp dân sự (bao gồm cả kinh tế, thơng mại) có giá trị từ 750.000 ASD trở lên.

Toà thượng thẩm xét xử các phúc thẩm các vụ án có kháng cáo của Toà án khu vực chuyển lên và các vụ án do Toà thợng thẩm xử sơ thẩm.

Những trường hợp đặc biệt, Toà thượng thẩm xét xử phúc thẩm các vụ án mà toà tiểu hình (Local Court) có kháng cáo.

Những án lệ và những đạo luật quy định (nh trách nhiệm lao động, bồi thường thiệt hại, khiếu nại luật s..) được Toà thợng thẩm áp dụng để xét xử. Nếu án sơ thẩm xử theo quy định nào thì phúc thẩm xét xử theo quy định ấy.

Toà Thợng thẩm khi xét xử sơ thẩm có một thẩm phán và có bồi thẩm đoàn gồm 12 người tham dự. Khi phúc thẩm án của Toà khu vực cũng có một thẩm phán nhng khi phúc thẩm các án do Toà thượng thẩm xử sơ thẩm thì có hội đồng gồm 3 thẩm phán. Những vụ án phức tạp thì hội đồng có thể là 5 hoặc 7 thẩm phán.

Khi xét xử phúc thẩm, hội đồng xét xử lại toàn bộ vụ án chứ không xét riêng nội dung mà bị cáo chống án.

2. Toà khu vực

(District Court) được đặt tại khu vực của tiểu bang (ở tiểu bang New South Wales có khoảng 6 triệu dân, có 5 Toà khu vực), số lượng thẩm phán được bổ nhiệm và bố trí theo yêu cầu.Toà khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có khung hình phạt từ 2 năm tù trở lên, trừ các vụ án giết người, xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm ma tuý có số lượng lớn; sơ thẩm các tranh chấp dân sự có giá trị từ 40.000- 750.000 ASD; xử phúc thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền của toà tiểu hình có kháng cáo. Toà khu vực xét xử sơ thẩm về hình sự gồm một thẩm phán và bồi thẩm đoàn gồm 12 người, trờng hợp bị cáo từ chối sự có mặt của bồi thẩm đoàn thì chỉ có 1 thẩm phán xử (quy định này được áp dụng cho cả các phiên toà sơ thẩm hình sự thuộc thẩm quyền của Toà thượng thẩm).

Ngoài việc xét xử phúc thẩm các vụ án do toà tiểu hình xử sơ thẩm, toà khu vực còn có quyền xét vụ án do toà tiểu hình xử sơ thẩm có được chống án hay không, nếu toà khu vực không cho chống án thì bản án sơ thẩm của toà tiểu hình có hiệu lực pháp luật.

3. Toà tiểu hình

(Local Court) được đặt rải rác ở các khu vực thuộc tiểu bang. Toà tiểu hình được thành lập theo khu vực dân c với nguyên tắc cứ 5000 dân có một toà tiểu hình (tiểu bang New South Wales có 161 toà tiểu hình). Số lượng các thẩm phán được bổ nhiệm theo yêu cầu. Toà tiểu hình có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự có khung hình phạt từ hai năm tù trở xuống và xét xử các tranh chấp có giá trị từ 40.000 ASD trở xuống. Những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của toà cấp trên cũng được xem xét sơ bộ tại Toà tiểu hình xem có quyết định truy tố tại toà cấp trên hay không.

Tại úc, 95% các sự việc được giải quyết tại toà tiểu hình.

4. Các toà chuyên biệt của tiểu bang bao gồm: Toà bồi thường, Toà vị thành niên.. xét xử những loại việc ngoài thẩm quyền của Toà tiểu hình, Toà khu vực và Toà thượng thẩm. Những bản án của các toà này có thể được chống án lên toà tiểu hình, Toà khu vực và Toà thượng thẩm.

Những vụ án không rõ thẩm quyền, pháp luật cho phép các thẩm phán của tiểu bang và liên bang thoả thuận giao cho toà nào xử (thông thường các vụ án mà đương sự ở hai tiểu bang khác nhau thì toà án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết).

IV . Thẩm phán- bồi thẩm đoàn- đoàn luật sư – công tố và cảnh sát

1. Thẩm phán

Nguồn bổ nhiệm thẩm phán tại các toà án của úc chủ yếu được lấy từ đội ngũ luật sư và trạng sư. Riêng Toà tiểu hình hoặc Toà khu vực còn lấy từ các lục sự lâu năm có kinh nghiệm.

Về tiêu chuẩn: Thẩm phán tại úc dựa trên năng lực, đạo đức và tôn trọng quyền lợi của  nhân dân. Khi cần bổ nhiệm thẩm phán, Chính phủ thông báo trên các phơng tiện thông tin đại chúng để các luật s, trạng sư biết được tiêu chuẩn, số lượng thẩm phán đang cần. Những người có đầy đủ tiêu chuẩn và tình nguyện làm đơn gửi tới Chính phủ xem xét. Các ứng cử viên thẩm phán phải qua một cuộc phỏng vấn (tổ chức phỏng vấn ở các tiểu bang và ở liên  bang gồm Chánh toà, Bộ t pháp, Luật sư đoàn, Trạng sư đoàn), thẩm phán ở bang nào do Bộ t pháp của bang đó đề nghị và Toàn quyền bang đó bổ nhiệm. Sau khi bổ nhiệm, Toà nào thiếu thì thẩm phán mới được điều động đến toà án đó. Thẩm phán tại các Toà thuộc liên

bang do Tổng toàn quyền liên bang bổ nhiệm. Thẩm phán ở úc được bổ nhiệm suốt đời, tuổi phục vụ của các thẩm phán tiểu bang không quá 72 và thẩm phán liên bang không quá 73. Các thẩm phán được bổ nhiệm thường bước vào tuổi 40 hoặc 50; ở những vùng đô thị lớn, thẩm phán tại các toà khu vực và toà tiểu hình cứ 3 năm lại thay đổi nơi công tác nhưng ở các vùng xa xôi hẻo lánh thì không theo quy định này.

Không ai có thể cách chức được thẩm phán trừ khi họ vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp, vi phạm đạo đức. Khi bãi nhiệm thẩm phán phải đa ra trước Quốc hội tiểu bang hoặc liên bang với đa số phiếu tán thành thì thẩm phán đó mới phải bãi nhiệm. Lịch sử ngành Toà án úc từ trước tới nay mới có hai thẩm phán tự từ chức khi có các khiếu kiện (trong đó có 1 thẩm phán phải đa ra trước Quốc hội, nhưng không bị miễn nhiệm và sau đó ông ta từ chức).

Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ căn cứ vào án lệ hoặc các đạo luật để quyết định. Khi quyết định, thẩm phán giải thích lý do tại sao phải quyết định như vậy. Tại phiên toà, thẩm phán có thể bị thay đổi khi có lý do sau:

+ Thẩm phán đồng thời là nhân chứng;

+ Thẩm phán là người thân thích với đương sự hoặc bồi thẩm nhân dân.

Khi xử một người phạm nhiều tội, thẩm phán có quyền tổng hợp hay không tổng hợp hình phạt mà không coi là vi phạm pháp luật. ở úc hiện nay không có hình phạt tử hình, nên hình phạt cao nhất là tù chung thân. Hàng năm không có việc xét giảm hoặc ân xá mà việc này được thẩm phán quy định ngay trong bản án. Nếu một người bị phạt tù chung thân, nếu trong bản án thẩm phán ghi phải ngồi tù được ít nhất 10 năm mới được ân xá, thì người đó có thể được tha sau khi đã thụ hình được 10 năm. Nhng nếu thẩm phán không ghi thêm câu nào tức là người đó phải ở tù suốt đời.

Năm 1982-1983 ở úc mới thành lập Viện quản lý t pháp, huấn luyện cho thẩm phán mới vào nghề và đang hành nghề. Thời gian tập huấn tối đa 3 ngày trong một năm, nội dung chủ yếu là cập nhật pháp luật, các kiến thức về văn hoá- xã hội- tập quán địa phơng và sử dụng công nghệ kỹ thuật.

2. Bồi thẩm đoàn

Bồi thẩm đoàn là những người dân sinh sống tại địa phơng có trong danh sách cử tri (18 tuổi trở lên) do Chính phủ quản lý khi bầu cử. Danh sách này được Toà án chọn làm bồi thẩm cho từng vụ xét xử. Những người dị tật, bị phá sản, bị tội hình sự hoặc những người đã học luật, nghị sĩ, luật sư, cảnh sát, công tố, quan toà.. . không được chọn làm bồi thẩm đoàn.

Trong những ngày làm nhiệm vụ bồi thẩm được trả lơng bất kể thời gian xử dài hay ngắn. Khi xét xử sơ thẩm từ cấp toà khu vực trở lên mới có bồi thẩm đoàn. Số lượng bồi thẩm đoàn là 12 người cho mỗi vụ án hình sự và 4 người cho vụ án dân sự. Việc có bồi thẩm đoàn hay không trong vụ xử hoàn toàn phụ thuộc vào ý nguyện của bị cáo. Nếu bị cáo từ chối không có bồi thẩm đoàn cũng được toà án chấp nhận. Khi xét xử, bồi thẩm đoàn quyết định về dữ kiện, quyết định có tội hay không có tội mà không cần phải giải thích lý do. Nếu ý kiến của các thành viên trong bồi thẩm đoàn trái ngược nhau, toà tuyên hoãn xử và triệu tập bồi thẩm đoàn khác, và lần này ông Trưởng công tố sẽ quyết định xử lại hay bỏ luôn mặc dù sau này có điều tra thêm chứng cứ khác.

Thông thường ý kiến của bồi thẩm đoàn là tuyệt đối 100%, riêng ở bang New South Wales nếu trong đoàn bồi thẩm có một vị không đồng ý, Toà vẫn có thể xử.

3. Luật sư – Trạng sư

– Luật sư (Solicitor) là người t vấn chuẩn bị hồ sơ cho công tố, quan toà, cho đương sự, bị cáo hoặc cho các công ty.. .

– Trạng sư (Barrister) là người biện hộ tại Toà.

Tại úc, luật sư, trạng sư có vai trò rất lớn, luật sư và trạng sư giúp đỡ các vấn đề về công tố, t tố cho bị cáo và đương sự. Luật sư có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ để trình toà. Hầu hết các vụ án đều có luật s, trạng s. ở úc có tổ chức luật sư để giúp dân nghèo không có điều kiện thuê luật sư vì tiền công thuê luật sư rất đắt. Bên nào thua kiện thì phải chịu

chi phí cho bên thắng kiện kể cả tiền thuê mớn luật sư. Luật sư khi hành nghề phải được cấp giấy phép. Gấy phép hành nghề của luật sư do đoàn luật sư cấp và Bộ t pháp chứng nhận. Luật sư đăng ký hành nhề tại tiểu bang nào chỉ được

hành nghề tại tiểu bang ấy. Khi có các vụ án mà đương sự ở các tiểu bang khác nhau, thì luật sư đại diện cho đương sự tại tiểu bang này phải liên hệ với luật sư ở tiểu bang mà tại đó toà án trực tiếp xét xử làm đại diện. Không làm như vậy, nếu thắng kiện cũng khó đòi được tiền bồi thường.

4. Công tố và cảnh sát t pháp

– Viện công tố có trách nhiệm truy tố bị can ra toà. ở úc công tố đa ra toà từ cấp toà khu vực trở lên.

– Cảnh sát t pháp (cũng được học luật và những kỹ năng cần thiết), truy tố bị ban, bị cáo ra trước toà tiểu hình. Ngoài ra, họ còn có trách nhiệm đa trát hầu toà, thông báo buộc thi hành án và trực tiếp thi hành án (trước đây, theo luật án lệ, ở úc không được đa trát hầu toà vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ, nhng nay quy định này đã bị bãi bỏ, trát hầu toà có thể đa bất kỳ ngày nào).

V. Trình tự thủ tục tố tụng tại toà

Theo pháp luật úc, cho đến khi mở phiên toà, thẩm phán không đọc trước và không biết gì về nội dung vụ án. Theo lịch phân công, khi được giao hồ sơ, lúc đó thẩm phán mới biết mình chịu trách nhiệm xử vụ nào.

1. Đối với các vụ án hình sự

Tại úc, 95% vụ án hình sự trước tiên được giải quyết tại Toà tiểu hình. Khi một người có tội đa đến toà, việc đầu tiên là lấy dấu vân tay của người đó lu vào hồ sơ. Sau đó, Toà tiểu hình xác định hành vi tội phạm đó thuộc thẩm quyền của toà nào. Nếu hành vi phạm tội đó được quy định có khung hình phạt từ hai năm tù trở lên thì Toà tiểu hình gửi hồ sơ vụ án sang Viện công tố để truy tố trước toà khu vực. Nếu hành vi phạm tội thuộc khung hình phạt dới hai năm tù, toà án sẽ ấn định ngày xử chính thức. Khi xét xử, công tố viên (thường là trạng sư công tác tại Viện công tố) đọc bản cáo trạng về hành vi phạm tội, trình toà các chứng cứ thu thập được. Sau đó, luật sư đại diện cho bị can, bị cáo trình bày và đa ra chứng cứ của mình; chứng cứ có thể là vật, lời khai của nhân chứng. Nếu nhân chứng có mặt tại tại toà, họ được bố trí ngồi cách biệt tại phòng bên cạnh. Khi cần đến lời khai của họ mới được nhân viên của toà dẫn vào phòng xử. Trước tiên, nhân chứng phải đặt tay lên quyển kinh thánh và thề nói sự thật. Thủ tục này rất uyển chuyển vì úc là một nước đa sắc tộc nên có nhiều người theo các tôn giáo khác nhau. Nếu không phải là người công giáo thì toà án cho phép họ thề theo cách riêng của họ. Có trường hợp, nhân chứng ở một nước khác nhng do kỹ thuật thông tin hiện đại nên có thể toà lấy lời khai của họ qua cầu truyền hình. Trong suốt quá trình xử án, thẩm phán nói rất ít và thường là nhắc nhở các bên đa ra các câu hỏi và trả lời đúng nội dung vụ án và giữ gìn trật tự phiên toà. Chính vì vậy, việc xét xử tại toà án của người úc, người ta chỉ dùng từ

“Nghe” (Hearing). Sau khi nghe các bên trình bày, tranh luận, thẩm phán xem xét chứng cứ có được thu thập một cách hợp pháp hay không, có phù hợp với sự thật vụ án hay không, sau đó tuyên án. Trong bản án, thẩm phán phải ghi rõ lý do tại sao lại quyết định như vậy. Đối với các vụ án có bồi thẩm đoàn, khi bồi thẩm đoàn nghe toàn bộ nội vụ án quyết định là có tội thì thẩm phán quyết định áp dụng pháp luật và tuyên án. Trong bản án thẩm phán có thể ghi thời hạn tối đa và thời hạn tối thiểu chấp hành hình phạt. Trong trường hợp ấy, khi bị cáo chấp hành hết thời hạn tối thiểu, nếu chấp hành tốt có thể được trả tự do sớm, phần thời gian còn lại coi như hưởng án treo.

Thời gian kết thúc một vụ xử tuỳ theo tính chất, mức độ phạm tội. ở toà tiểu hình có thể một ngày thẩm phán có thể giải quyết đến 40- 50 vụ, nhng cũng có vụ phải xử hàng tuầu lễ.

2. Đối với các tranh chấp dân sự

Các tranh chấp dân sự ở úc có đến 95% được giải quyết theo hớng khác (ngoài toà án) vì các lý do sau:

– Đỡ tốn kém;

– Giải quyết được nhanh chóng;

– Giữ được mối quan hệ giữa các đương sự (nhất là các vụ án thơng mại- kinh tế. ở úc quy định tất cả các vụ án nếu không là hình sự đều là dân sự).

– Thoả mãn được yêu cầu của các bên, vì vậy dễ thi hành án.

Có bốn cách giải quyết theo hướng khác:

a/ Thương lượng (Negotiation)

Các bên tranh chấp tự nguyện thơng lượng về cách giải quyết mà không có thể thức đặc biệt nào.

b/ Điều đình qua trung gian (Mediation)

Hai bên tranh chấp có thể nhờ một người thứ ba làm trung gian để đàn phán khi họ không tự thương lượng được. Người điều đình trung gian này có thể bất kỳ là người nào nhưng họ phải có uy tín, có kinh nghiệm và hiểu biết pháp luật giúp các bên tìm hướng giải quyết tranh chấp.

c/ Hoà giải (Conciliation)

Cũng là người thứ ba giúp đỡ hai bên, họ có thể nêu hớng giải quyết để các bên tranh chấp lựa chọn.

d/ Trọng tài (arbitation)

Cũng là biện pháp hoà giải nhng có mặt của trọng tài (người trọng tài thường là các trạng sư, luật sư); khi các bên đồng ý thoả thuận về cách giải quyết tranh chấp, trong tài ra quyết định và mọi người buộc phải tuân theo. Các quyết định của trọng tài nếu hai bên không đồng ý có thể ra toà và toà án chỉ xem xét việc trọng tài có áp dụng đúng pháp luật hay

không (ở úc, các quyết định của trọng tài quốc tế đều được thi hành, nhng các quyết định của trọng tài trong nước toà án có thể bác bỏ).

Nếu các bên không thoả thuận được cách giải quyết tranh chấp theo các hướng trên, hai bên có thể kiện ra toà để xét xử. Trước khi xét xử, toà án vẫn có thể tiến hành hoà giải, trong các toà án có một số quan toà, lục sự được huấn luyện phương pháp hoà giải nên nhiều vụ tranh chấp dù đã kiện ra toà vẫn được giải quyết bằng hoà giải. Có thể đến đây, đựơc sự

phân tích của các quan toà, lục sự, các đương sự mới nhận thấy được lợi ích của họ được bảo đảm khi hào giải.

e/ Tố tụng tại toà án

Quy định tố tụng tại toà về vụ án dân sự theo pháp luật úc cũng rất ngắn. Phiên toà diễn ra thế nào theo án lệ, luật pháp và các thông lệ. Toà án theo mong muốn của hai bên, yêu cầu của trạng sư hai bên. Tiến trình vụ án tiến hành nhanh hay chậm đều do trạng sư của hai bên quyết định. Khi trạng sư của một bên thấy có những điều bất lợi cho thân chủ thì

họ thường tìm cách trì hoãn, lúc đó toà can thiệp, nhắc nhở. Khi nhận đủ hồ sơ về vụ kiện, toà án quyết định ngày xét xử. Việc này được quy định chung cho các vụ án dân sự. Vì vậy, chúng tôi lấy trình tự giải quyết một vụ án kinh tế làm điển hình.

Trình tự tố tụng vụ án kinh tế

Bước 1:

Khi có những bất đồng trong hợp đồng, các bên đều mời luật sư đại diện cho mình tham gia tố tụng. Luật sư của bên nguyên gửi thư cho bên bị trình bày việc chuẩn bị kiện ra toà vì không tuân thủ hợp đồng. Nội dung thư cũng nêu rõ quyền của luật sư được thân chủ mời làm đại diện trong vụ kiện đồng thời nêu rõ nội dung tranh chấp và hẹn ngày giải

quyết. Nếu quá thời hạn trên sẽ kiện ra toà. Thường thì thư này không được bên bị trả lời, nếu có trả lời thì cũng do luật sư của họ thảo và trong th cũng nêu rõ lý do pháp lý để giải thích và không quên kèm theo câu “nếu chúng tôi thắng kiện, không những các ngài phải bồi thường mà còn phải chịu toà bộ chi phí”. Rất hiếm khi vụ tranh chấp được giải quyết tại

bước này.

Bước 2: Trát gọi hầu toà

Nguyên đơn khi đến toà nộp hồ sơ vụ kiện phải nộp lệ phí 3.320 ADS để lấy đựoc trát gọi hầu toà.

Nội dung của trát gọi hầu toà:

– Tên của các bên tranh tụng;

– Nội dung của sự việc (nêu vắn tắt nội dung tranh chấp, nếu là vụ kiện đòi trả nợ thì phải ghi rõ số tiến và quy định bên thua kiện sẽ phải chi phí và lãi suất, việc quy định mốc thời gian để tính lãi suất do phiên toà);

– Ngày giờ có mặt tại phiên toà;

– Chi tiết cụ thể của vụ án và những quy định của pháp luật;

– Đòi hỏi của nguyên đơn (tơng đối chi tiết).

Thí dụ: Nếu là tranh chấp hợp đồng phải ghi rõ hợp đồng đựơc ký kết như thế nào, quá trình thực hiện, hợp đồng viết tay hay hợp đồng miệng, địa điểm ký. Nội dung vi phạm, những yêu cầu để toà giải quyết. Ngoài ra, trong trát này cũng phải nêu địa vị hợp pháp của bên đi kiện. Toà yêu cầu trát này phải được đa tận tay bị đơn, nếu là công ty thì gửi cho người tiếp dân.

Bước 3: Hướng dẫn tại Toà

Toà triệu tập các bên tranh chấp để nghe các bên trình bày quan điểm của mình để xem xét các vấn đề: liệu hai bên có thực sự tranh chấp? Nội dung của sự tranh chấp? Liệu có khả năng giải quyết bằng hoà giải? Bên kia có chấp nhận sự cáo buộc hay còn khiếu nại? Có thể ngoài hợp đồng còn có nội dung nào khác nữa? Nếu toà thấy rõ ràng có sự tranh chấp, yêu cầu bị đơn trình bày. Bị đơn trình bày đúng các phần mà phía nguyên đơn đã nêu, nhng trước khi trình bày phải khẳng định có chấp nhận sự cáo buộc hay không. Bị đơn có thể trình bày những phần mà nguyên đơn không nêu. Sau đó, toà ấn định thời gian hớng dẫn lần 2. Trong lần hớng dẫn này toà yêu cầu các bên phải nộp tài liệu cũng như thẩm định các tài liệu đó. Tài liệu mà các bên nộp cho toà đều phải gửi đến bên kia. Qua bước này toà ấn định ngày đa vụ án ra xét xử.

Bước 4: Điều tra phát hiện

Việc điều tra phát hiện các chứng cứ trong các vụ án dân sự, pháp luật úc quy định không phải là việc của Toà án mà hoàn toàn thuộc trách nhiệm của các bên tranh tụng. Vì vậy, để bảo đảm cho vụ kiện thắng lợi, luật sư của hai bên phải tiến hành điều tra thu thập chứng cứ. Càng có nhiều chứng cứ khả năng thắng lợi tại toà càng nhiều. Quá trình này không những tốn kém về thời gian mà còn tốn kém cả về tiền bạc. Một trong các phơng án xây dựng hồ sơ là phỏng vấn, luật pháp quy định (tại toà thợng thẩm) mỗi bên được hỏi bên kia 30 câu, nếu quá 30 câu phải xin phép toà để họ trả lời. Luật sư phải là người đặt câu hỏi, vì vậy luật sư không chỉ là người hiểu biết pháp luật mà còn có kỹ năng đặt câu hỏi sao cho việc trả lời ngắn gọn mà lại thu được nhiều thông tin nhất. Khi đã có các câu hỏi, bên kia có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đồng thời đây cũng là tài liệu được trình toà. Mỗi câu trả lời đều có lời thề và chứng nhận của luật sư.

Nếu nguyên đơn không trở lời các câu hỏi, toà đình chỉ vụ án. Nếu bị đơn không trả lời, toà tuyên bố nguyên đơn thắng kiện. Ngoài việc đặt câu hỏi, luật sư của các bên có trách nhiệm thu thập tài liệu, tìm nhân chứng. Các tài liệu quá 6 tháng trước khi xảy ra tranh chấp luật sư có thể thu hồi hoặc yêu cầu thân chủ thu hồi. Những tài liệu không thu hồi được cũng phải nêu rõ quá trình tìm kiếm và thu hồi nhng không có kết quả. Khi đã thu thập được chứng cứ, tài liệu, luật sư lên danh sách các tài liệu trình toà, tài liệu phải được sắp xếp theo thời gian phù hợp với quá trình tranh chấp. Các tài liệu phải được

ghi rõ: tên văn kiện, ngày tháng, số liệu… Khi trình toà đồng thời phải gửi cho bên kia. Làm như vậy các bên đều biết rõ về nội dung các tài liệu trình toà và khi thẩm phán quyết định một vấn đề nào đó họ không bị bất ngờ. Nếu một bên cố tình giấu giếm chứng cứ khi ra toà mới trình sẽ không được chấp nhận. Không phải tài liệu, chứng cứ nào cũng phải trình toà mà có những tài liệu được miễn.

Những tài liệu đó thường là:

– Các tài liệu trong đó có các lời khuyên của thân chủ;

– Những tài liệu nào mà một bên cho rằng là bảo mật mà nội dung không chỉ liên quan đến vụ án. Khi nộp hồ sơ, chứng cứ cho toà án, các bên đều phải có lời tuyên thệ cam đoan không có chứng cứ, tài liệu nào nữa.

Bước 5: Thủ tục tại toà

Mở đầu phiên toà là lời cáo buộc của nguyên đơn, kèm theo lời cáo buộc có các bằng chứng (gồm hồ sơ và người làm chứng).

Lời đáp của bị đơn, ngoài bằng chứng trả lời nguyên đơn, bị đơn còn đa ra các bằng chứng của mình (cũng gồm hồ sơ và người làm chứng).

Các trạng sư đối chứng tài liệu bằng cách phỏng vấn người làm chứng của hai bên. Việc đưa nhân chứng thường diễn ra vào ngày đầu tiên của vụ xử. Trước hết là nhân chứng của nguyên đơn, sau đó là nhân chứng của bị đơn. Thẩm phán có nhiệm vụ xem xét các chứng cứ của hai bên thu thập hợp pháp hay không và kết luận chứng cứ nào có giá trị. Căn cứ vào chứng cứ, thẩm phán thấy lý thuộc về bên nào (66% có lý) tuyên bố bên đó thắng kiện.

source: CHƯA XÁC ĐỊNH

VẤN ĐỀ SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Th.S Vũ Lưu Mai

Chuyên viên Vụ Kinh tế và Ngân sách –Văn phòng Quốc hội

Tài sản và quyền sở hữu tài sản là một trong những yếu tố rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Do đó, các quan hệ về tài sản, quyền sở hữu tài sản trong các doanh nghiệp Nhà nước đợc nhiều đạo luật như Hiến pháp năm 1992, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Bộ luật dân sự… qui định. Thực tiễn những năm đầu của thập kỷ 90 cho thấy chế định về sở hữu đối với DNNN cơ bản đã đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của DNNN trong nền kinh tế bước đầu chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, lúc đó

các hoạt động kinh doanh của DNNN vẫn còn chịu sự chi phối không nhỏ của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu. Nghĩa là quyền hoạch định trong kinh doanh, quyền định đoạt vốn và tài sản trong DNNN luôn gắn chặt với quyền của người chủ sở hữu là Nhà nước. Mặc dù, nền kinh tế thị trường đòi hỏi các quan hệ hợp đồng, hợp tác, dịch vụ của

các tổ chức kinh tế (trong đó có DNNN) phải đợc hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, các bên cùng có lợi và phải giảm dần, đi đến chấm dứt sự điều hành trực tiếp bởi các biện pháp hành chính mệnh lệnh của Nhà nước. Quyền và lợi ích hợp pháp của DNNN đã đợc Nhà nước bảo hộ đặc biệt là quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng vốn mà Nhà nước giao để kinh doanh.

Thực tế cho thấy, trong thời kỳ đó, các nguyên tắc vận động của vốn trong các quan hệ kinh tế thị trường là tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu lợi nhuận cha đợc thể hiện rõ nét trong hoạt động của các DNNN.

Qua 5 năm thực hiện luật DNNN, đến nay số lợng các DNNN là rất lớn. Tính đến đầu năm 1998, cả nước có khoảng 5740 doanh nghiệp với tổng số vốn khoảng 1.027.000 tỷ đồng. Song nếu nhìn vào hiệu quả hoạt động của DNNN những năm gần đây cho thấy một thực trạng rất đáng lo ngại là nhiều DNNN hoạt động kém hiệu quả, kinh doanh

thua lỗ kéo dài; tình trạng này thể hiện rõ nét trong năm 1999. Theo báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ VI – QH Khoá X thì chỉ có 20% DNNN làm ăn có hiệu quả, còn lại số đông lâm vào tình trạng phá sản. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó bao gồm cả những hạn chế về chính sách, pháp luật và những yếu kém trong tổ chức thực hiện Luật DNNN, thiếu trách nhiệm trong quản lý… Là người làm công tác nghiên cứu pháp luật, chúng tôi xin nêu một số suy nghĩ trong việc nghiên cứu sửa đổi và hoàn thiện các chế định về sở hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt vốn, tài sản trong DNNN.

1.Về nguyên tắc xác định chủ sở hữu đối với tài sản trong DNNN

Với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản trong DNNN, Nhà nước là người cấp vốn đầu tư ban đầu và đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp. như vậy, cho dù theo quy định của pháp luật, DNNN có quyền sử dụng, định đoạt vốn và tài sản trong kinh doanh để tạo ra lợi nhuận nhng vai trò chủ sở hữu đối với các tài sản trong doanh nghiệp vẫn thuộc về Nhà nước. Trên thực tế, vốn, tài sản trong DNNN hiện nay không chỉ duy nhất là vốn, tài sản do Nhà nước giao từ nguồn Ngân sách mà còn bao gồm cả vốn và tài sản có đợc từ vay tín dụng, từ việc tái đầu tư bằng lợi nhuận do người lao động trong doanh nghiệp làm ra sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Việc xác định chủ sở hữu đối với tài sản trong DNNN liên quan trực tiếp đến nguyên tắc phân chia, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn do Nhà nước cấp và từ vốn của bản thân doanh nghiệp tự đầu tư, nhất là xác định tỷ lệ lợi nhuận mà doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp vào Ngân sách Nhà nước. Do đó, khi cha có quy định cụ thể, rõ ràng làm căn cứ để phân định tài sản thuộc về sở hữu Nhà nước và tài sản thuộc sở hữu của tập thể người lao động trong doanh nghiệp để xác định phạm vi trách nhiệm đối với từng tài sản đó thì các nguyên tắc để bảo đảm quyền tự chủ về tài chính trong kinh doanh, bảo toàn vốn, ổn định nguồn thu cho NSNN sẽ

khó thực hiện. Mặt khác, nếu vẫn quan niệm tài sản trong DNNN thuộc sở hữu Nhà nước và lợi nhuận làm ra đều phải nộp cho Nhà nước, thì sẽ không tạo ra động lực gắn bó người lao động với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, khi họ đa lợi nhuận thu được, tức tài sản thuộc sở hữu của chính bản thân tập thể người lao động để tái đầu tư sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiện nay, chế định về sở hữu tài sản trong DNNN vẫn chưa quy định rõ các căn cứ để xác định chế độ sở hữu khác nhau đối với các nguồn vốn, tài sản trong DNNN và các nguyên tắc, chế độ phân phối lợi nhuận thu đợc từ

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Về nguyên tắc xác định quyền hạn, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và quyền, trách nhiệm của DNNN đối với việc quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp.

Vấn đề xác định ranh giới rõ ràng giữa quyền hạn, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu với quyền, trách nhiệm của DNNN đối với việc quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp đang là vấn đề hết sức phức tạp và có nhiều ý kiến khác nhau. Được ban hành vào những năm Nhà nước chủ trơng phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hớng XHCN, Luật DNNN (30/4/1995) đã xác định một cách căn bản quyền tự chủ của DNNN trong hoạt động kinh doanh, trong đó bao gồm các quyền hoạch định phơng án kinh doanh, tự chủ trong hoạt động tài chính, chủ động tuyển dụng lao động…

Tuy nhiên, mới chỉ xét trên giác độ chế định pháp lý về vấn đề chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền

quản lý của doanh nghiệp thì đã thấy có những điểm không khả thi. Theo quy định tại Điều 6 Luật DNNN thì DNNN hoạt động kinh doanh có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp. Song các quyền này lại bị hạn chế bởi quy định \” Những thiết bị, nhà xởng quan trọng thì phải được cơ

quan có thẩm quyền cho phép\”. như vậy, vấn đề đặt ra là quyền tự chủ về tài chính của DNNN, trong đó có việc định đoạt đối với các tài sản đợc thực hiện đến đâu, như thế nào khi mà cơ chế thị trường đòi hỏi sự linh hoạt, nhạy bén trong quyết định của doanh nghiệp để chớp thời cơ tạo lợi nhuận mà lại phải chờ các cơ quan Nhà nước cho phép với

những thủ tục thờng lâu và phiền hà.

Việc phân biệt giữa nội dung quyền của chủ sở hữu Nhà nước với nội dung quản lý Nhà nước là những vấn đề cần đợc làm rõ, quy định cụ thể. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy vẫn còn xảy ra không ít tình trạng lẫn lộn giữa thực hiện quyền quản lý của chủ sở hữu và quyền quản lý Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực công. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp thì Nhà nước ở vị trí của người góp vốn vào doanh nghiệp, mà mối quan tâm hàng đầu của người góp vốn đó là lợi nhuận. Song trên thực tế, không ít tình trạng Nhà nước can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính, do đó rất khó bảo đảm tính tự chủ của doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng, khi Nhà nước thờng xuyên kiểm tra, thanh tra, giám sát chặt chẽ, theo sát từng bớc hoạt động của doanh nghiệp thì hiệu quả quản lý Nhà nước sẽ đợc nâng cao. Có lẽ đây là vấn đề mang tính hai mặt. Phải phân định rõ tính chất kiểm tra, thanh tra, giám sát thuộc nội dung quản lý Nhà nước trong việc doanh nghiệp chấp hành pháp luật với việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước với tư cách của người góp vốn, thực hiện quyền quản lý của mìnhtrong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đứng trớc cơ chế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt thì sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước cộng với sự thụ động, ỷ lại vào Nhà nước chính là nguyên nhân của tình trạng hoạt động kém hiệu quả, không có khả năng cạnh tranh trong phần đông các DNNN. Một thực tế là, trong năm 1998 có 40% DNNN làm ăn thua lỗ, đến cuối năm 1999 chỉ còn 20% DNNN hoạt động có hiệu quả, cơ chế tái bao cấp trở thành phổ biến, việc khoanh nợ, dãn nợ, xoá nợ đã gây thiệt hại không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước song không xác định đợc trách nhiệm thuộc về hoạt động kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp hay thuộc về các cơ quan quản lý Nhà nước.

3. Về nguyên tắc xác định cơ quan thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về vốn, tài sản Nhà nước trong DNNN.

Việc xác định cơ quan thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về vốn, tài sản của Nhà nước trong DNNN hiện nay đang rất phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau. Điều 27 Luật DNNN quy định Chính phủ thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về vốn, tài sản Nhà nước trong DNNN, trong đó bao gồm các quyền thành lập, giao vốn đầu tư, quyền quản lý vốn, tài sản, quyền chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp …Thực hiện chế độ phân cấp, uỷ quyền, Chính phủ giao cho Bộ Tài chính là người thực hiện quyền và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu về vốn và tài sản trong DNNN (theo NĐ 34/CP ngày 27/5/1995). Song

trên thực tế, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, các Bộ quản lý ngành cũng có một số quyền của đại diện chủ sở hữu như quyết định bổ sung vốn lu động, quyết định phơng án đầu tư vốn vào các dự án liên doanh, quyền phê duyệt các phơng án thế chấp, cầm cố các tài sản có giá trị lớn…Nh vậy, rõ ràng có sự chồng chéo trong việc thực hiện quyền của chủ sở hữu là Nhà nước với tư cách là người góp vốn đối với việc quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp. Hiện nay chúng ta đang có quá nhiều đại diện sở hữu, có quá nhiều cơ quan Nhà nước vừa thực hiện quyền quản lý Nhà nước, vừa thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu cùng một lúc đối với DNNN. Với một thực trạng như vậy, việc chỉ đạo, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như việc tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh khó có thể bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, có hiệu quả, gây khó khăn, lúng túng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Điều đáng lu ý là do có nhiều cơ quan quản lý, đại diện chủ sở hữu nên khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, vi phạm pháp luật thì việc xác định trách nhiệm cũng rất khó khăn.

Việc sửa đổi Luật doanh nghiệp Nhà nước là một vấn đề hệ trọng, có liên quan tới nhiều chủ trơng, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong phạm vi bài viết, với thực tế nghiên cứu của mình, tôi xin nêu một số kiến nghị góp phần vào việc nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện chế định sở hữu vốn, tài sản trong DNNN như sau:

1. Cần phân định và tách bạch rõ ràng giữa quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu với quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp; phân biệt giữa nội dung quản lý Nhà nước với nội dung quản lý doanh nghiệp của Nhà nước với tư cách là người góp vốn.

Trên cơ sở bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền tự chủ cho các doanh nghiệp trong kinh doanh, cần thực hiện đúng chủ trơng khi góp vốn Nhà nước chỉ tham gia quản lý doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu vốn, người góp vốn, quản lý tính hiệu quả và việc sử dụng hợp pháp đồng vốn giao cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền thực sự trong việc thay đổi cơ cấu tài sản để mở rộng kinh doanh, chủ động huy động vốn và tự chịu tránh nhiệm về việc huy động vốn dới các hình thức phát hành trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu…

Với tư cách là một pháp nhân độc lập, DNNN phải tự chịu trách nhiệm dân sự bằng vốn, tài sản trong doanh nghiệp, trong đó bao gồm vốn được Nhà nước giao và vốn của bản thân doanh nghiệp. Cần có quy định cụ thể, chặt chẽ để bảo toàn vốn Nhà nước đầu tư cho doanh nghiệp, phát huy tinh thần tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, xoá bỏ mọi hình thức bao cấp như cho vay theo lệnh, khoanh nợ, xoá nợ, dãn nợ … Cơ quan Nhà nước (các Bộ, ngành, UBND) với tư cách là người thực hiện quyền lực công chỉ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp trong việc thực thi và chấp hành pháp luật.

2. Cần xác định rõ đại diện chủ sở hữu đối với DNNN theo hướng cải cách hành chính, giảm đầu mối nhằm bảo đảm tính nhất quán, chặt chẽ trong quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp.

Hiện nay, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi Luật DNNN có nhiều phơng án lựa chọn cơ quan làm đại diện chủ sở hữu đối với DNNN. Có ý kiến đề nghị nên giao cho Bộ quản lý ngành hoặc giao cho Bộ Tài chính, cũng có ý kiến cho rằng khi xác định cơ quan này thì cần phải phân biệt doanh nghiệp TƯ và doanh nghiệp địa phơng, trên cơ sở đó giao cho Bộ quản lý ngành hoặc UBND làm đại diện sở hữu… Chúng tôi cho rằng, việc xác định một cơ quan phù hợp làm đại diện chủ sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng để cải cách hành chính đối với việc quản lý DNNN, nhng vấn đề còn quan trọng hơn chính là việc tổ chức thực hiện chức năng đó như thế nào, vì hiệu quả quản lý thực sự không chỉ phụ thuộc vào việc giao cho ai mà phụ thuộc không nhỏ vào chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý, biện pháp điều hành và tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện quyền năng của người được giao nhiệm vụ này.

3.Tăng cường quyền năng và trách nhiệm của Hội đồng quản trị đối với việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp.

Cần giải quyết tốt và quy định cụ thể mối quan hệ giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu Nhà nước với Hội đồng quản trị (HĐQT) là người thực hiện một số chức năng đại diện trực tiếp của chủ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp và Giám đốc, bộ phận điều hành trực tiếp hoạt động kinh doanh của DNNN. Để bảo đảm thực hiện tốt chức năng quản lý của HĐQT, cần xác định cụ thể chế độ trách nhiệm trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn được giao, chịu trách nhiệm về việc bảo toàn và phát triển vốn trong doanh nghiệp; phân định rõ trách nhiệm của Chủ tịch HĐQT và trách nhiệm của từng thành viên HĐQT, trách nhiệm giữa HĐQT là người quản lý doanh nghiệp trong đó có quản lý, quyết định những vấn đề về vốn, tài sản và trách nhiệm của Giám đốc là người điều hành, tổ chức thực hiện các phơng án kinh doanh lại càng phải phân định một cách cụ thể và rõ ràng hơn. Với tính chất là DNNN thì sự can thiệp của Nhà nước bằng biện pháp bố trí nhân sự đối với bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp có ý nghĩa qhyết định đến hiệu quả kinh doanh của DNNN (kinh nghiệm của Trung Quốc sử dụng rất tốt phơng pháp này). Trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, không bảo toàn vốn, vi phạm các quy định về quản lý vốn, gây thất thoát tài sản thuộc sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp thì phải xử lý nghiêm mịnh đối với Chủ tịch HĐQT, từng thành viên HĐQT, Giám đốc và các chức danh quản lý khác trong doanh nghiệp.

4. Cần đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sở hữu, đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong DNNN.

Việc đa dạng hoá sở hữu đối với tài sản trong DNNN là một chủ trơng tạo điều kiện để DNNN thích ứng với sự vận động của nền kinh tế thị trường, tăng cường sức cạnh tranh. Song điều quan trọng nhất là gắn chặt lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp với lợi ích của doanh nghiệp, tạo động lực cho sự phát triển, tăng cường đợc trách nhiệm của người lao động gắn với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, khắc phục đợc tình trạng “cha chung không ai khóc”.

**************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 3/2000

LUẬT THƯƠNG MẠI: KHÁI NIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH

NGÔ HUY CƯƠNG – Trung tâm TT-TV&NCKH, Văn phòng Quốc hội

Ngày 10 tháng 5 năm 1997 đã đánh dấu một sự kiện rất quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật nói riêng và trong khoa học pháp lý nói chung ở Việt Nam. Đó là việc Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 11 thông qua “ Luật thương mại”.

Sự kiện này là rất quan trọng bởi hai nghĩa. Trước hết là bởi lần đầu tiên một đạo luật về thương mại của Nhà nước cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam, ra đời. Nó khẳng định quyết tâm xây dựng một nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hớng xã hội chủ nghĩa. ở nghĩa thứ hai thì đây cũng là lần đầu tiên một đạo luật ra đời mà tập trung rất nhiều rắc rối, băn khoăn, trăn trở về mặt lý luận, cũng như thực tiễn pháp lý. Người ta đặt ra rất nhiều câu hỏi qua sự kiện này, chẳng hạn như: Có cần thiết phải xây dựng một đạo luật riêng về thương mại không? Có một ngành luật thương mại độc lập hay không? Ngành luật này được phân biệt như thế nào với ngành luật kinh tế và ngành luật dân sự? Nếu có một ngành luật thương mại như vậy thì đối tượng và phạm vi điều chỉnh của nó là gì? Khi một tranh chấp cụ thể xảy ra thì áp dụng Bộ luật dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hay Luật thương mại để giải quyết tranh chấp? Có nên thành lập toà án thương mại thay cho toà án kinh tế hay không? Ngành luật kinh tế có còn tồn tại nữa hay không? v….v…

Lẽ dĩ nhiên, những người đặt ra các câu hỏi như vậy cũng hiểu biết rất rõ rằng trên thế giới hiện nay nhiều quốc gia có những Bộ luật thương mại nổi tiếng như: Pháp, Đức, Nhật, Hoa kỳ, Czech, Tây Ban Nha, Bỉ… ở Việt nam trước kia (trong các chế độ cũ) đã từng tồn tại một ngành luật thương mại và đã có những Bộ luật đồ sộ về thương mại như Bộ luật thương mại Trung kỳ, Bộ luật thương mại năm 1972 của chính quyền Sài gòn cũ, hơn nữa trong hệ thống pháp luật quốc tế đang tồn tại một ngành luật thương mại quốc tế với một loạt các Điều ớc quốc tế như: Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế ký kết tại Vienna 1980, Hiệp ước về hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ quốc tế của Liên hiệp quốc ký kết tại New York năm 1988 v..v. Nhưng việc đặt ra các câu hỏi này xuất phát từ thực tiễn của Việt nam, cộng thêm thực tiễn của nhiều nước trên thế giới mà ở đó đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận hàng thế kỷ về sự tồn tại song song của ngành luật dân sự và ngành luật thương mại. Cũng như nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác, trước kia trong thời kỳ quan liêu bao cấp, chúng ta đã từng nhấn mạnh đến một ngành luật đặc trng của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa là “ ngành luật kinh tế”. Ngành luật này điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sản xuất,lưuthông, phân phối theo kế hoạch được lập từ một trung tâm quốc gia, mang tính bắt buộc đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã là những thực thể hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa được lập nên bởi nhà nước hoặc bởi sự hỗ trợ của nhà nước. Các thực thể này quan hệ với nhau thông qua các hợp đồng kinh tế được ký kết bắt buộc theo các chỉ tiêu pháp lệnh được phân bổ từ trung tâm đã nói. Ngành luật này vừa điều chỉnh các quan hệ dọc ( quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới), vừa điều chỉnh các quan hệ ngang (quan hệ giữa các đơn vị kinh tế cơ sở), với hai phương pháp mệnh lệnh hành chính và thoả thuận hợp đồng2[1].

Khi các nước xã hội chủ nghĩa chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường thì hệ thống luật kinh tế trở nên bối rối và đòi hỏi sự thay đổi. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp khắc trước kia có một ngành luật kinh tế phát triển cao trong các nước xã hội chủ nghĩa cũ thì nay Cộng hoà Czech (một phần lãnh thổ lớn tách ra từ Tiệp khắc) đã có một Bộ luật thương mại ban hành năm 1991 thay thế. Vậy “luật thương mại” là gì cần phải có câu trả lời rõ ràng, cụ thể.

I. Khái niệm về luật thương mại

Black’s Law Dictionary giải nghĩa rằng “luật thương mại” (Commercial Law) là thuật ngữ được sử dụng để chỉ toàn bộ một ngành luật vật chất áp dụng cho các quyền lợi giao dịch và quan hệ của những người thực hành nghề nghiệp thương mại, buôn bán(commerce; trade; or mercantile pursuits). Petit Dictionnaire de Droit (Dalloz) giải nghĩa rằng “ luật thương mại” (Droit de Commerce) là ngành luật tư điều tiết mối quan hệ giữa các thương nhân hay các hành vi thương mại. Qua các định nghĩa trong các cuốn từ điển nổi tiếng này, chúng ta thấy có hai vấn đề lớn cần xem xét là thương nhân và hành vi thương mại.

1. Trên căn bản các quan niệm này, nhiều quốc gia trong khi xây dựng các đạo luật cũng xác định phạm vi áp dụng của đạo luật đối với các giao dịch thương mại (hay hành vi thương mại) giữa các chủ thể của luật thương mại với nhau. Các chủ thể này gồm hai nhóm là “thương nhân” (Trades or Merchants) và “phi thương nhân” (Non- Traders or Non- merchants). Các thương nhân là chủ thể thông thường của luật thương mại có quy chế riêng, còn các phi thương nhân chỉ trở thành chủ thể của luật thương mại khi tham gia giao dịch thương mại với thương nhân mà hành vi giao dịch này mang tính chuyên nghiệp của thương nhân, xác định nghề nghiệp của thương nhân.

Loại chủ thể thứ hai có thể gọi là chủ thể đặc biệt hay chủ thể phụ thuộc của luật thương mại. Có những quan điểm khác biệt, Bộ luật thương mại Nhật bản điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các thương nhân, giữa thương nhân và những người khác hoặc những quan hệ thương mại do các pháp nhân công pháp thực hiện (Điều 2, Điều 3). ở đây đã nhắc đến giao dịch thương mại giữa các chủ thể hoàn toàn không phải là thương nhân nhưng vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thương mại. Cũng theo cách này, Điều 1 và Khoản 1, Điều 5 của Luật thương mại (Việt Nam) xác định các giao dịch thương mại (hay hành vi thương mại) bao gồm cả giao dịch giữa thương nhân đều với người không phải thương nhân nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật thương mại.

Không giống thế, một số nước theo quan điểm tự do thương mại không có sự phân biệt giữa thương nhân và phi thương nhân. Chẳng hạn như Hoa kỳ, ngoài mục đích bảo vệ đặc biệt đối với người tiêu dùng và một số mục đích khác, bất kỳ người nào hoặc thực thể nào giao kết một hợp đồng đều thuộc phạm vi điều chỉnh của một ngành luật mà không kể là có hay không có một bên thực hiện công việc thương mại3[2]. ở Hà lan, theo Bộ luật thương mại năm 1838 có một phần nhỏ phân biệt giữa thương nhân và phi thương nhân, nhưng sự phân biệt này bị huỷ bỏ bởi một Đạo luật ngày 2/7/1934 và do đó Bộ luật nói trên áp dụng cho tất cả công dân4[3].

2. Việc xem xét một hành vi là hành vi thương mại tỏ ra rất phức tạp và có nhiều quan điểm hết sức khác nhau. Song ở đây cũng cần nêu một vài định nghĩa sơ bộ để có thể nói lên luật thương mại là gì.

Khoản1, Điều 2 của Bộ luật thương mại Czech cho rằng: “ Hành vi thương mại (cũng được xem như hành vi của thương nhân) được hiểu là một hoạt động do các thương nhân tiến hành một cách độc lập với danh tính của mình và tự chịu trách nhiệm nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.

Khoản1, Điều 5 của Luật thương mại Việt nam cũng sử dụng cách thức định nghĩa như trên, nhưng không làm rõ được các thuộc tính của hành vi thương mại. Điều khoản này viết: “ Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và ” nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa các thương nhân với các bên có liên quan”.

Theo một cách khác, Luật miễn trừ quốc gia (the States Immunity Act) của Canada định nghĩa: “ Hoạt động thương mại có nghĩa là bất kỳ giao dịch, hành vi hoặc hoạt động cụ thể nào, hoặc bất kỳ phạm vi hoạt động thông thường nào mà bản chất của nó có đặc tính thương mại”.

Bởi sự khó khăn và phức tạp nên, Điều 632 và Điều 633 của Bộ luật thương mại Pháp đã sử dụng phương pháp liệt kê các hành vi thương mại để làm rõ nội hàm của khái niệm hành vi thương mại.

Bộ luật thương mại Nhật bản định nghĩa: “Từ thương nhân được sử dụng trong Bộ luật này có nghĩa là một người thực hiện các giao dịch thương mại như một công việc thường xuyên nhân danh bản thân mình” (Điều 4). Vậy điều đó chứng minh rằng khái niệm thương nhân và hành vi thương mại (hay nói cách khác là giao dịch thương mại) là hai khái niệm có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời. Do đó, cần phải làm rõ cả hai khái niệm này trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Hành vi thương mại có tính chất khách quan và chúng ấn định nghề nghiệp của thương nhân, hay nói cách khác, chúng là dấu hiệu cơ bản để nhận rõ thương nhân, nếu họ lấy hành vi đó làm hoạt động thường xuyên của mình. Nhưng khi một hành vi không có bản chất thương mại được thương nhân thực hiện trong khi hành nghề thì cũng được coi là hành vi thương mại.

Khái niệm hành vi thương mại và khái niệm giao dịch thương mại ở đây được sử dụng đồng nhất. Chúng đều là sự vận động của chủ thể nhằm những mục đích nhất định. Về phương diện pháp lý, chúng đều làm phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định. Khi ta nói hành vi mua bán kiếm lời thì cũng có nghĩa là giao dịch mua bán kiếm lời. Tiếng Pháp thường sử dụng thuật ngữ “ Actes de Commerce”(hành vi thương mại) 5[4]. Tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “Commercial Transaction” (giao dịch thương mại) 6[5].

3. Vậy có thể nói, luật thương mại là một ngành luật tư điển hình trong hệ thống pháp luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa các thương nhân với các chủ thể khác hoặc giữa các chủ thể khác với nhau có liên quan đến hoạt động thương mại, hoặc các hành vi thương mại.

Định nghĩa này mang tính bao quát mà không phải là đúng hoàn toàn cho mọi trường hợp hoặc ở mọi quốc gia. Nó chỉ đúng từng phần với sự lựa chọn phạm vi điều chỉnh của luật thương mại ở từng quốc gia. Kể từ thời La mã cổ đại cho đến ngày nay, hầu hết các nền tài phán theo hệ thống pháp luật bắt nguồn từ Luật La mã đều có sự phân biệt giữa luật công và luật t. Trong đó luật dân sự và luật thương mại là những ngành luật tư điển hình. Sự phân chia này đã làm ảnh hưởng tới bốn vấn đề lớn như:

  • Tổ chức tư pháp;
  • Tính chất của học thuyết pháp lý;

  • Phương thức giảng dậy pháp lý7[6]; và

  • Xây dựng các đạo luật.

Không bàn sâu về sự phân chia này và các hệ quả của nó, nhưng có thể hiểu rằng luật tư theo nghĩa cổ điển xác định, điều chỉnh các quyền lợi tư của các cá nhân, tổ chức không có tính chất công quyền, nên luật tư chỉ có tính chất giải thích cho ý chí của các đương sự. Chính sự phân biệt này cũng góp phần xác định rõ đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật thương mại. Phần về phương pháp điều chỉnh của luật thương mại sẽ đề cập lại về vấn đề này.

Ở các nước theo hệ thống Common Law, sự phân chia giữa luật công và luật t, luật thương mại và luật dân sự không được đặt ra từ xa, nhưng trong học thuật và giảng dạy, nghiên cứu, người ta vẫn đề cập tới. Đặc biệt là ở Mỹ (một nước theo Common Law) đã pháp điển hoá luật thương mại thành Bộ luật thương mại nhất thể (UCC) được nhiều Tiểu bang ghi nhận.

Trong những nước theo Common Law thường có những ấn phẩm mang tên “Business Law” mà được dịch ra tiếng Việt là “Luật kinh doanh”, trong đó nói đến nhiều vấn đề liên quan tới thương mại từ các giao dịch thương mại, tổ chức kinh doanh cho tới thẩm quyền của toà án, luật lệ về tài sản, chế tài hình sự, các hành vi cản trở kinh doanh, gian lận thương mại, bảo vệ người tiêu dùng, chuyển giao công nghệ, đầu t, chống độc quyền… Song Business Law không phải là

một ngành luật mà là một lĩnh vực pháp luật về kinh doanh, có nghĩa là tổng thể các quy phạm pháp luật, bao gồm các chế định của cả luật tư và luật công điều chỉnh việc tổ chức, hoạt động thương mại và các hoạt động khác có liên quan. Đặc biệt là trong các ấn phẩm về luật kinh doanh, người ta thường đề cập đến phần phân loại pháp luật (Classifications of Law) thành luật vật chất và luật thủ tục; luật hình sự và luật dân sự; luật công và luật t; luật thành văn và luật không thành văn; thông luật và luật công bình…8[7].

Mặc dù các thông tin kể trên biểu lộ sự phức tạp cho việc chứng minh về một ngành luật thương mại độc lập, song chúng cũng cho thấy rằng việc phân biệt giữa các ngành luật là cần thiết để làm đơn giản hoá không chỉ cho việc xây dựng pháp luật mà còn cho việc nghiên cứu, giảng dạy và áp dụng pháp luật vào thực tiễn đời sống. Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng đã hàm chứa quan niệm về phân chia ngành luật giống với hệ thống Civil Law (hay còn gọi là hệ thống pháp luật bắt nguồn từ luật La mã). Cho nên việc chứng minh cho tính độc lập của luật thương mại là cần thiết khi nghiên cứu đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nó.

II. Phương pháp điều chỉnh của luật thương mại

1. Hiện nay, người ta vẫn biết rằng luật dân sự và luật thương mại là những ngành luật tư điển hình, mặc dù ranh giới và tiêu chí phân biệt giữa luật công và luật tư còn mang lại nhiều tranh luận. ở phần khái niệm về luật thương mại, chúng tôi đã đề cập đến việc phân loại này để làm rõ thêm cho định nghĩa luật thương mại, nhưng trong phần này việc phân loại lại được đề cập lại để nói về phương pháp điều chỉnh của luật thương mại.

Trong khi bàn về việc xây dựng Bộ luật dân sự Việt nam, GS.TS. Đào Trí úc có nói rõ sự phân biệt luật tư và luật công là sự phân biệt quan trọng về đối tượng và phạm vi điều chỉnh 9[8]. Tại đây, ông còn nhấn mạnh tới một tiêu chí phân chia luật công và luật tư theo phương pháp điều chỉnh pháp luật. Phương pháp bắt buộc và phục tùng là phương pháp điều chỉnh đặc trưng của luật công và phương pháp bình đẳng pháp lý là phương pháp điều chỉnh đặc trng của luật tư. Điều đó khiến người ta suy luận ngợc lại rằng những ngành luật được xếp vào luật tư thì đều có phương điều chỉnh đặc thù là phương pháp bình đẳng, tự do cam kết, thoả thuận.

Kể từ thời Justinian (La mã), hầu hết các nước theo hệ thống Civil Law đều có sự phân biệt giữa luật công và luật t. Sự phân chia này đã làm ảnh hưởng tới nhiều vấn đề pháp lý.

(1). Đối với tổ chức tư pháp

Các nước theo hệ thống Civil Law thông thường có hai hệ thống toà án để thi hành luật công và luật t. Trước hết, luật dân sự và luật thương mại được thi hành ở các toà án thường. Luật hành chính và luật hiến pháp là những ngành luật công điển hình được thi hành trước hết tại các toà án hành chính mà có thể được chia thành các toà chuyên trách như toà thuế vụ, toà an ninh xã hội …

(2). Đối với học thuyết pháp lý

Học thuyết pháp lý lục địa ( Civil Law) nhấn mạnh tới sự phân biệt giữa luật công và luật tư như một phương tiện tạo nên khái niệm tổng quát về luật lệ. Các học thuyết đều cho rằng luật tư được pháp điển hoá để bảo vệ tài sản tư và nguyên tắc tự do khế ớc thông qua việc điều chỉnh sự vi phạm. Chức năng duy nhất của nhà nước trong lĩnh vực này là công nhận và luôn tôn trọng tài sản tư và quyền hợp đồng. Việc thực hiện chức năng này của nhà nước bằng cách đa ra hình thức trọng tài, trung gian khi có tranh chấp giữa các bên tư nhân. Khác với luật t, luật công thường không pháp điển hoá ở mức độ cao mà tồn tại để hỗ trợ các “lợi ích công cộng”. Điều này dẫn đến hệ quả là nhà nước hay quốc gia được xem như một bên và

không phải là trọng tài mà là đại diện cho một quyền lợi được xem là cao hơn quyền lợi tư trong tranh chấp xảy ra. Các quyền lợi này là các lợi ích công cộng.

Các học giả theo Civil Law đã sử dụng việc phân chia này để phân tích một cách nghiêm túc học thuyết về quyền lực. Các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp không thể thực hiện chức năng của nhau. Ví dụ hệ thống toà án tư và toà án công đã nói lên phần nào sự phân biệt này. Các thẩm phán công pháp không được xét xử các vụ việc tư và họ được coi như các công chức của ngành hành pháp.

(3). Đối với giảng dạy và đào tạo pháp lý

Các luật gia công pháp được đào tạo như những công chức hành chính chứ không được đào tạo như luật sư bào chữa. Họ phải chú trọng tới các môn học như khoa học chính trị, kinh tế cũng như luật hiến pháp và luật hành chính 10[9]….

(4). Đối với xây dựng pháp luật

Bởi các vấn đề pháp lý nói trên, các nước theo Civil Law thường xây dựng các bộ luật lớn trong lĩnh vực luật tư mà biểu hiện của nó là trong các bộ luật này có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngành luật. Sự phân biệt giữa luật công và luật tư rất ít ảnh hưởng tới các nước theo hệ thống Common Law có thể vì các lý do :

Thứ nhất, sự phân biệt này ít có ý nghĩa trong thời kỳ phong kiến ở Anh, giai đoạn đầu của sự phát triển common law, bởi vì các quyền công và tư được xác định thông qua các quyền lợi về tài sản, nhưng không có sự phân biệt giữa sở hữu tài sản và các cơ quan công theo kiểu ở các nước theo Civil Law;

Thứ hai, có một hệ thống toà án trở thành nơi xem xét lại các hoạt động lập pháp, hành pháp, kể cả trong tranh chấp tư, do vậy không có sự phân biệt hoàn toàn về quyền lực theo kiểu Châu Âu lục địa;

Thứ ba, các học giả Mỹ từ thủa ban đầu đã có khuynh hớng lờ đi sự phân biệt và xem như không cần thiết cho xu hớng tổng hợp của các quyết định phán xử.

Nhưng gần đây, các học giả theo hệ thống Common Law cho rằng sự phân chia luật công và luật tư là cần thiết. Họ quan niệm rằng luật tư bao gồm luật về trái vụ và luật về tài sản. Vậy qua đây, có thể thấy rằng luật thương mại có các đặc tính của luật tư và có phương pháp điều chỉnh đặc trưng của luật.

2. Phương pháp điều chỉnh của pháp luật, trước hết là cách sử dụng pháp luật để mô hình hoá, điển hình hoá và định hớng các quan hệ xã hội và nó bao gồm:

  • Xác định địa vị pháp lý của các bên trong quan hệ xã hội đã được điều chỉnh hoá, mô hình hoá;
  • Xác định cơ sở phát sinh và biến đổi hoặc chấm dứt tồn tại của các quan hệ pháp luật;

  • Xác định tính chất của các quyền và nghĩa vụ của chủ thể;

  • Xác định các biện pháp tác động pháp lý đối với những trường hợp vi phạm hoặc không thực hiện nghĩa vụ chủ thể, khả năng, tính chất và mức độ của các chế tài tương ứng;

  • Xác định những biện pháp nhằm thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của chủ thể 11[10].

Ngành luật thương mại có một phương pháp điều chỉnh riêng là sự kết hợp các yếu tố điều chỉnh chung nêu trên theo đặc trng của các quan hệ xã hội mà luật thương mại bao quát, tức là những biện pháp và cách thức mà nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ tài sản giữa các thương nhân và những chủ thể khác khi thực hiện các hành vi thương mại theo bản chất. Các thương nhân hoặc các chủ thể khác tham gia các quan hệ thương mại đều là những thực thể độc lập, bình đẳng với nhau về tổ chức và tài sản, không có quan hệ phụ thuộc trên dưới.

Chính yếu tố này làm cho các thực thể phải thoả thuận với nhau để cùng có lợi. Vì mu cầu lợi ích riêng của mình, họ phải tự định đoạt, tự do cam kết, thoả thuận để xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ của mình. Nhưng lẽ tất nhiên là sự tự định đoạt và tự do cam kết, thoả thuận không trái với trật tự công cộng, đạo đức xã hội, không vi phạm các điều cấm và quyền lợi của người thứ ba.

Theo học thuyết về luật thực định (droit positif) thì các quy tắc trong luật thực định không có cùng một sức cưỡng chế đồng nhất và có thể được phân thành ba loại:

Thứ nhất Là luật cưỡng chế (lois imperatives);

Thứ hai là luật giải thích (lois interprétatives);

Thứ ba là luật quy định (lois dispositives). Các quy tắc của luật thương mại chủ yếu là thuộc phân loại thứ hai nhằm giải thích cho ý chí của các đương sự. Những quy tắc luật này thường thấy trong chế định về khế ớc. Nếu khế ước không làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên thì người ta có thể căn cứ vào luật để xác định. Phân loại thứ hai gần giống với phân loại thứ nhất cũng thường tìm thấy trong luật thương mại. Và các quy tắc này cũng được áp dụng trong trường hợp các đương sự không ấn định rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Nhưng các quy tắc này không được coi là biểu thị ý chí của các đương sự. Ví dụ dù không ấn định tỷ lệ được hưởng lợi nhuận thì thành viên công ty vẫn được hưởng theo tỷ lệ góp vốn. Phân loại thứ nhất cũng xuất hiện trong luật thương mại khi liên quan đến trật tự công cộng mà nhà nước can thiệp vào. Ví dụ không được kinh doanh những ngành nghề mà nhà nước cấm hay trái với đạo đức xã hội… Khi quyền lợi của các bên bị vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ của mình hoặc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc phải bồi thường hoặc phạt; trong trường hợp có gian lận thương mại mà đã được luật hình bảo vệ thì phải chịu tránh nhiệm hình sự. Người ta cho rằng chế tài trong ngành luật tư hoàn hảo hơn các chế tài của ngành luật công. Khi có một bản án đã được tuyên buộc đương sự trong vụ tranh chấp có tính chất luật tư phải tuân thủ, nếu không thì sẽ bị cưỡng chế. Đối với luật công, khi quốc gia là một bên chủ thể thì việc cưỡng chế thi hành sẽ khó khăn hơn.

Cơ chế điều chỉnh của pháp luật thương mại chủ yếu nhằm thúc đẩy các hành vi tích cực chủ động và sáng tạo của các chủ thể trong việc thiết lập và thực hiện các quan hệ theo định hướng của nhà nước.

Vấn đề giải quyết tranh chấp dựa trên phương pháp hoà giải, trọng tài. Các bên tự lựa chọn và định đoạt nội dung, cách thức giải quyết các tranh chấp phát sinh. Các bên có thể tự lựa chọn trọng tài hay toà án giải quyết tranh chấp, hoặc có thể lựa chọn luật áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp, thậm chí thoả thuận lựa chọn chứng cứ… Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng nhà nước rất ít can thiệp theo kiểu luật công tới các quan hệ thương mại.

Có quan điểm cho rằng do khuyết tật của nền kinh tế thị trường nên nhà nước sử dụng cả “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình” để tác động vào quá trình kinh tế- xã hội, nhất là trong các nền kinh tế hỗn hợp. Nghiên cứu mô hình kinh tế của các nước trên thế giới, người ta thấy dù là mô hình kinh tế của Mỹ hay mô hình kinh tế thị trường xã hội của Đức hay mô hình kinh tế chuyển đổi ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, thì vai trò của nhà nước tác động vào quá trình kinh tế- xã hội là rất quan trọng, nhưng không thể đặt thứ yếu vai trò của tính tự tổ chức, tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường. Viết về kinh tế chuyển đổi và hội nhập của các nước Trung và Đông Âu, các chuyên gia kinh tế nổi tiếng tư bản đã xác định mục tiêu của kinh tế thị trường ở các nước này như sau: “…nền kinh tế thị trường hiện đại, công bằng về mặt xã hội và bền vững về môi trường, và sự hội nhập đầy đủ của các quốc gia ở Châu âu “.12[11] Sự công bằng về mặt xã hội, bền vững về môi trường và hội nhập đầy đủ chỉ có thể làm được khi có sự can thiệp của nhà nước. Các chính sách hay pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống độc quyền có tác động tới hoạt động thương mại, nhưng vốn dĩ không phải là các quy tắc của luật thương mại. Vậy tỷ trọng các phương pháp điều tiết của luật tư là hoàn toàn áp đảo trong luật thương mại.

3. Khi nghiên cứu “Luật thương mại” của Việt nam có nhiều quan điểm cho rằng nếu nói luật thương mại hoàn toàn là một ngành luật tư thì khó giải thích cho các quy định hàm chứa việc tuyên bố các chính sách từ Điều 10 tới Điều 16 và Chương V- Quản lý nhà nước về thương mại. ở đây cần phải nhấn mạnh rằng Đạo luật về thương mại của Việt nam là một đạo luật thương mại không nguyên nghĩa, bởi phạm vi điều chỉnh quá hẹp, không xác định được ranh giới với luật dân sự và luật kinh tế… Và hơn nữa, cần phải phân biệt giữa hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản pháp luật hay nói cách khác là phải phân biệt mặt khách quan của pháp luật và mặt chủ quan của pháp luật để nhận diện một cách chính xác “Luật thương mại” của Việt nam13[12]. Trong khoa học pháp lý, người ta căn cứ vào tính khách quan và chủ quan để chia thành hai loại nguồn của pháp luật là nguồn sáng tạo (les sources créatrices) và nguồn hình thức (les sources formelles). Nguồn sáng tạo bao gồm các yếu tố xã hội hay mối liên hệ nội tại của các quan hệ xã hội làm phát sinh ra nhu cầu điều chỉnh pháp luật. Người ta còn gọi loại nguồn này là nguồn chất liệu (les sources matérielles). Luật phát sinh từ các yếu tố này gọi là luật khách quan (le droit objectif). Nguồn hình thức này không tạo ra luật mà chỉ nhận thức, xác nhận các thuộc tính của nguồn chất liệu. Việc xây dựng một đạo luật chính là cách thức tìm tòi và tiếp cận tới luật khách quan. Nhưng luật khách quan chỉ được sử dụng khi đánh giá và xem xét sự phù hợp với thực tiễn cuộc sống của các văn bản quy phạm pháp luật, tục lệ, án lệ…Vậy, phải nói rằng “Luật thương mại” của Việt nam cha đáp ứng được đòi hỏi thực của cuộc sống và cha thấm nhuần được tính cấu trúc của hệ thống pháp luật bao gồm sự phân chia các ngành luật mà nó chỉ giải quyết các vấn đề trong phạm vi chức trách quản lý nhà nước của Bộ thương mại Việt nam. Tuy nhiên việc giải quyết tranh chấp các khế ớc mua bán hàng hoá và dịch vụ mua bán hàng hoá được quy định trong Luật thuộc thẩm quyền của trọng tài hoặc toà án. Cũng phải thừa nhận rằng, giống như các đạo luật khác của Hoa kỳ, Bộ luật thương mại nhất thể (UCC) của nước này cũng có một điều khoản tuyên bố chính sách của Nhà nước Hoa kỳ đối với lĩnh vực xã hội mà Bộ luật này điều chỉnh. Song, chính sách được ghi nhận ở Bộ luật (UCC) này hoàn toàn mang tính chất của luật t, có nghĩa là nhà nước thừa nhận tính chất luật tư của luật thương mại như: đơn giản hoá, rõ ràng hoá và hiện đại hoá luật điều chỉnh các giao dịch thương mại; cho phép mở rộng thực tiễn thương mại thông qua tục lệ và thoả thuận của các bên; thống nhất pháp luật trong các nền tài phán khác nhau (Article 1, Part 1, Đ 1-02).

Đây thực chất là các nguyên tắc cơ bản của luật tư nói chung và luật thương mại nói riêng. Qua đấy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung “ Luật thương mại” của Việt Nam là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.


2[1]. Xem TS. Nguyễn như Phát -“ Lý luận chung về luật kinh tế ” trong cuốn” Giáo trình Luật kinh tế Việt nam”- Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà nội- 1997- Tr 5-40.

3[2]. Xem “ Digest of Commercial Laws of the World”- Oceana Publication, INC. New York – London – Rome 1994, “ The Commercial Laws of United States” by Lyda L. Laing.

4[3]4[3]. Xem “ Digest of Commercial Laws of the World”- Oceana Publication, INC. New York – London – Romme – 1994, “ The Commercial Laws of Netherlands” by The Late J.C.S Warendoff, F.I.L.

5[4]. Xem thêm Điều 632, Điều 633 của Bộ luật thương mại Pháp.

6[5]. Xem thêm Điều 4 của Bộ luật thương mại Nhật bản – Bản dịch tiếng Anh chính thức – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Hà nội 1994 – trong cuốn “ Bộ luật thương mại và Luật những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật bản”.

7[6]. Xem Richard J. Pierce, Jr, Sidney A. Shapiro, Paul R. Verkinl- “ Administrative Law and Process” – Mineola, New York – The Foundation Press, Inc – 1985.

8[7]. Xem A. James Barnes, Terry Morehead Dworkin, eric L. Richards – “ Law for Bussines, Richard D. Irwin, Inc.1991; Robert W. Emerson, John W. Hardwicke- “ Bussiness Law”- Barron’s Educational series, Inc.1997, Paul Latimer Australian Bussiness Law”- 1987, H .R. Light- “The Legal Aspects of Business”- Sir Issac Pitman & Sons Ltd- London 1967

9[8]. Xem GS-TS. Đào Trí “Một số vấn đề cơ bản về Bộ luật dân sự Việt nam”- Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số chuyên đề năm 1997.

10[9]. Xem Richard J.Pierce, JR; Sidney A.Shapiro; Paul R.Verkuil-\”Administrative Law and Process\”- Mineola, New York- The Foundation Press, Inc. 1985.P2-7.

11[10]. Xem “Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật\”- NXB Chính trị Quốc gia 1995.

12[11]. Xem TS.Lê Minh Thông \”Hệ thống pháp luật\” trong cuốn \”Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật\”- NXB Chính trị Quốc gia- Hà nội-1995 tr.182-188.

13[12]. Xem John Eatwell- Michael Ellman – Mats Karlsson – D. Mario Nuti – Judith Shapiro – ” Chuyển đổi và hội nhập – Định hướng tương lai của các nước Trung và Đông Âu” – NXB Chính trị Quốc gia – Tr. 17

===========================

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SÔ 3/2000

NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/ND-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Ngày 27/12/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2005/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 01/4/2006) thay thế cho Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Qua hơn 1 năm thực hiện đã được được một số kết quả bước đầu. Công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từng bước ổn đinh và đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất bước đầu được cải thiện. Người dân đã nhận thức tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sữa chữa, thêm, bớt. Tự giác thực hiện đi đăng ký các sự kiện hộ tịch. Không còn tình trạng “sinh không khai, tử không báo” như trước đây.

Cán bộ hộ tịch cấp xã đã xác định được tầm quan trọng của công tác này nên đã tuân thủ trình tự, thủ tục của Nghị định. Nghiệp vụ được nâng cao nên thụ lý giải quyết nhanh chóng, hướng dẫn rõ ràng cho dân nên không có khiếu nại về hộ tịch.

Kết quả một năm thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch của thành phố Đồng Hới thể hiện qua số liệu cụ thể sau: UBND thành phố đã thực hiện cấp lại bản chính giấy khai sinh cho144 trường hợp; Thay đổi CCHT cho116 trường hợp. UBND xã, phường: đăng ký khai sinh 2852 ­­trường hợp; kết hôn: 990 tr­­ường hợp; Đăng ký tử: 560 trư­­ờng hợp. Đăng ký lại: 8 trường hợp và thay đổi cải chính hộ tịch: 156  tr­ường hợp.

So với Nghị định 83/CP thì Nghị định 158 đã tháo gỡ những vướng mắc trên thực tế mà Nghị định 83 chưa giải quyết được. Đó là: đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết công việc phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, thuận tiện cho người dân.

Để thực hiện tốt công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, trước hết phải làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết về mục đích, ý nghĩa của công tác đăng ký, quản lý hộ tịch; quyền và nghĩa vụ công dân về đăng ký hộ tịch… Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch có vai trò và ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công tác hộ tịch. Vì thế trước ngày Nghị định có hiệu lực phòng Tư pháp thành phố Đồng Hới đã tham m­ưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố tổ chức hội nghị triển khai và tổ chức lớp tập huấn cho lãnh đạo UBND, cán bộ Tư pháp-Hộ tịch cấp xã, đồng thời tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân trên địa bàn thành phố.

Nghị định 158 có nhiều điểm mới, đặc biệt việc phân cấp cho UBND các xã, phường  thực hiện việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân dưới 14 tuổi. UBND cấp huyện thực hiện việc cấp bản chính giấy khai sinh và thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân từ 14 tuổi trở lên.  Đây là việc mới, lần đầu thực hiện lại chưa có hướng dẫn cụ thể nên khi thực hiện còn gặp phải vướng mắc:

Nhiều tr­ường hợp cải chính họ tên, chữ đệm và các nội dung khác trong Giấy khai sinh là để hợp pháp hóa hồ sơ hiện tại do công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trước đây còn lỏng lẻo, do người dân chưa hiểu biết quy định pháp luật về hộ tịch. Không thụ lý giải quyết thì công dân rất khó khăn trong việc phải thay đổi tất cả các loại giấy tờ tuỳ thân. Nếu cho phép cải chính thì không đảm bảo nguyên tắc của Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP: “ Mọi giấy tờ đều phải phù hợp giấy khai sinh”.

.           Sổ đăng ký hộ tịch hiện đang lưu trữ ghi chép không đầy đủ, rõ ràng, thiếu nhiều nội dung như: mục phần khai về cha mẹ trong sổ đăng ký khai sinh có đơn vị chỉ ghi về cha hoặc mẹ; cấp giấy khai sinh không ghi số, quyển số hoặc cấp bản chính nhưng không vào sổ hộ tịch. Số gốc và bản chính giấy khai sinh  không trùng nhau…

Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân có nhiều nơi tạm trú khác nhau còn gặp nhiều khó khăn do không đủ điều kiện, thời gian để xác minh.

Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP chưa quy định cụ thể như:  Được cấp lại mấy lần bản chính Giấy khai sinh, nội dung xác nhận thay đổi, cải chính hộ tịch…

Về trách nhiệm phối hợp trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hộ tịch tại khoản 2 Điều 99 chỉ mới quy định Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp mà bỏ sót Bộ Giáo dục-Đào tạo trong khi trên thực tế việc điều chỉnh văn bằng, chứng chỉ cho phù hợp với giấy tờ hộ tịch là rất lớn. Do quy chế quản lý văn bằng chỉ cấp một lần nên khi có sai sót hoặc cần đính chính thì chưa được thụ lý giải quyết do chưa có văn bản hướng dẫn của ngành. Khó khăn cho công dân trong trường hợp có sai lệch giữa văn bằng, chứng chỉ với giấy tờ hộ tịch.

Việc đăng ký lại việc sinh theo quy định tại Đ 46 NĐ: chỉ giải quyết trong trường hợp sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được. Về thủ tục: trong trường hợp xuất trình được bản sao khai sinh hợp lệ thì không cần phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh trước đây. Như vậy, nếu công dân xin đăng ký lại tại nơi thường trú hiện tại để đảm bảo đúng nguyên tắc quy định tại Đ 46 NĐ thì cán bộ tư pháp phải trực tiếp đi xác minh hoặc gửi công văn đề nghị xác minh sẽ không đảm bảo về thời gian và kinh phí thực hiện. Bên cạnh những vướng mắc thì công tác đăng ký, quản lý hộ tịch công gặp phải một số khó khăn:

Khó khăn về con người thực hiện nhiệm vụ: Cán bộ t­­ư pháp ngoài nhiệm vụ đăng ký hộ tịch còn phải thực hiện chứng thực theo Nghị định 79/2007/ NĐ-CP trong khi hầu hết chỉ có 1 cán bộ t­ư pháp, đặc biệt có đơn vị Bắc Lý thành phố Đồng Hới có trên 13.000 dân vẵn chỉ có 01 cán bộ tư pháp trong khi Nghị định quy định trên 10.000 dân bố trí 02 cán bộ.

Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc: phòng còn chật hẹp, thiếu bàn, ghế, máy vi tính nên ch­ưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân và còn ảnh hưởng đến chất lượng công tác này.

Về thời hạn giải quyết: Việc cấp bản sao hộ tịch quy định phải thực hiện trong ngày nhưng trên thực tế không đáp ứng được do điều kiện công tác của lãnh đạo địa phương. Mặt khác việc cấp bản chính giấy khai sinh từ Sổ lư­u đăng ký hộ tịch còn khó khăn do nhận chuyển giao Sổ l­ưu hộ tịch  từ Sở Tư­ pháp chỉ có từ năm 1995 đến nay, vì vậy đối với  nhu cầu cấp lại bản chính Giấy khai sinh từ năm 1995 trở về tr­ước thì phải mất nhiều thời gian xác minh, yêu cầu UBND cấp xã cung cấp thông tin và xác nhận mới cấp đư­ợc bản chính. Sổ l­ưu đăng ký hộ tịch ở một số đơn vị  từ năm1965 đến 1980 do l­ưu trữ không cẩn thận, bảo quản  không tốt nên hiện nay nhiều sổ rách nát, nhiều trang không sử dụng đ­ược nên nhiều trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu cấp giấy tờ hộ tịch cho công dân.

Về kinh phí phục vụ cho công tác đăng ký quản lý hộ tịch: Do chưa có quy định về đầu tư kinh phí cho công tác này nên lứng túng khi thực hiện. Các địa phương chưa cấp kinh phí ban đầu cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch nên còn luẩn quẩn trong việc nhận và thanh toán biều mẫu (Sở nợ nhà xuất bản, Phòng nợ Sở và UBND cấp xã nợ phòng). Nhận trước và thanh toán sau để kịp thời phục vụ, khi có tiền thu lệ phí biểu mẫu thì mới thanh toán do vậy cán bộ tư pháp phải mở sổ  theo dõi việc nhận và thanh toán biều mẫu, mất nhiều thời gian trong khi cả cán bộ phòng và cán bộ tư pháp cơ sở không có nghiệp vụ kế toán…

 Trước yêu cầu cần thiết của việc xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, nâng cao tính  chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và đẩy mạnh hiệu quả công tác hộ tịch; Trước những khó khăn, vướng mắc qua hơn một năm thực hiện Nghị định 158 xin mạnh dạn đề xuất, kiến nghị:

Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP và kịp thời ban hành công văn hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc thực tế của địa phương trong quá trình thực hiện.

Chỉ đạo các địa phương  bổ sung biên chế, bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn đảm nhiệm công tác tư pháp.

 Hàng năm có kế hoạch tổ chức tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ cấp huyện, cấp xã. Tổ chức tọa đàm tại cơ sở, lắng nghe ý kiến cơ sở để kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

            Phối hợp với các Bộ có liên quan ban hành Thông tư liên tịch để giải quyết các trường hợp liên quan đến hộ tịch ( phối hợp thực hiện việc điều chỉnh hồ sơ công dân theo Giấy khai sinh đối với những trường hợp không thuộc phạm vi cải chính hộ tịch) như Bộ Công an, Bộ nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục-Đào tạo và Bộ Tài chính để công tác này được thực hiện thống nhất, chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc./.

Hoàng Hồng

 HTTP://WWW. MOJ.GOV.VN

CẦN PHÂN BIỆT GIỮA CÔNG CHỨNG VÀ CHỨNG THỰC

Trong thời gian qua khi thực hiện Luật Công chứng và Nghị định 79 về chứng thực thì có rất nhiều báo, đài đưa tin về hoạt động công chứng, chứng thực.Tuy nhiên một số cơ quan thông tin đại chúng đưa tin  về hoạt động này không chính xác, không phân biệt được  giữa hai khái niệm công chứng với chứng thực.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Công chứng thì công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Còn chứng thực là là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 79  căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính hoặc chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực. Như vậy công chứng là hành vi của Công chứng viên, còn chứng thực là là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền( theo điều 5 Nghị định 79 thì người có thẩm quyền chứng thực bao gồm: Trưởng, Phó phòng tư pháp, chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp xã,Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài).

Vừa qua có  số báo điện tử đưa tin bài về chứng thực đã lấy tít nghe rất hay nhưng lại rất thiếu chính xác như: vnexpress.net với bài “Ách tắc công chứng vì lãnh đạo phường ký ‘không xuể’, Công chứng ở phường: “Phân bổ Quota”! của báo điện tử  vnn.vn và còn rất nhiều tờ báo khác đã đưa tin về vấn đề này cũng thiếu chính xác. Việc chứng sao từ bản chính hay  chứng thực chữ ký của UBND cấp xã là hoạt động chứng thực chứ không phải là hoạt động công chứng, điều này cho thấy những người viết  các bài này cũng chưa phân biệt được giữa công chứng với chứng thực.

Không chỉ có các báo mà ngay cả  một số cán bộ, công chức cũng chưa phân biệt được giữa công chứng với chứng thực cho nên dễ dàng thấy các bảng “Nơi ký công chứng”, “Nơi đóng dấu công chứng” tại UBND các xã.

Luật Công chứng và Nghị định 79 về chứng thực đã được áp dụng hơn hai tháng nay nhưng đến nay xem ra không phải người dân nào cũng biết các quy định này, vì thế nên hàng ngày các Phòng công chứng vẫn phải tiếp một lượng người khá đông đến yêu cầu chứng thực bản sao giấy tờ, ngay cả một số cán bộ, công chức vẫn chưa nắm được cụ thể các quy định của hai văn bản luật này.Cho nên có sự nhần lẫn giữa công chứng và chứng thực là chuyện đương nhiên.

KHOA LY –  WWW.MOJ.GOV.VN

Quy định sử dụng tài sản công thiếu định mức cụ thể

Ở các nước tiên tiến, việc quản lý và sử dụng tài sản công đều có các tiêu chuẩn, định mức hết sức chi tiết, cụ thể, cũng như tính đến hiệu quả việc đầu tư, mua sắm tài sản công của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp. Trong khi đó, ở nước ta, các tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản Nhà nước (TSNN) đã quy định còn thiếu yếu tố tính đến hiệu quả trong việc đầu tư, mua sắm, cũng như phân định rõ trách nhiệm của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp đối với việc quản lý sử dụng tài sản.

Soạn: HA 923591 g��i đến 996 để nh��n ảnh này

Quy định sử dụng xe công thiếu cụ thể gây nên lãng phí lớn.

Hàng triệu USD bị rút ruột, lãng phí từ các dự án giao thông đô thị Hà Nội vừa được thanh tra Chính phủ phát hiện; Hiện đang có hơn 6 triệu m2 nhà đất công ở Hà Nội bị sử dụng sai mục đích; Hai ông lãnh đạo mới về hưu đã có tiêu chuẩn xe công phục vụ suốt đời, vẫn tưởng xe của hai ông dùng còn tốt nhưng lại được các cơ quan chức năng mua cho mỗi ông một xe mới giá 2,5 tỉ đồng/xe… Không khó khăn lắm để tìm ra hàng loạt những vụ việc như vậy trên mặt báo mỗi ngày. Tình trạng này có thể coi là những thách thức đối với Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí và Luật Phòng chống tham nhũng – đã được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành từ 1/6/2006.

Thực tế hiện nay cho thấy việc lãng phí, thất thoát trong việc sử dụng TSNN đang diễn ra khá nghiêm trọng. Mức độ lãng phí có xu hướng ngày càng gia tăng trên nhiều phương diện: xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất, vay nợ nước ngoài, xây dựng trụ sở, sử dụng ô tô, xe máy, điện thoại… Thực trạng này đang gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Mặc dù trong thời gian qua, Nhà nước đã có nhiều chế độ, chính sách đối với việc quản lý và sử dụng TSNN, cũng như các chủ trương biện pháp để triển khai việc chống lãng phí trong quản lý, sử dụng TSNN. Nhưng thực tế việc lãng phí, thất thoát TSNN vẫn diễn ra nghiêm trọng, nhiều vụ việc được phát hiện với quy mô thất thoát, lãng phí tài sản rất lớn… Phải chăng công tác chống lãng phí trong quản lý và sử dụng TSNN chưa được đẩy mạnh, hay chúng ta chưa “bắt đúng bệnh, kê đúng thuốc”?

Sẽ có nhiều giải pháp để chống lãng phí trong quản lý và sử dụng TSNN, tuy nhiên, một vấn đề mà nhiều chuyên gia, nhà khoa học cùng thống nhất cho rằng một trong những điểm yếu trong cuộc chiến chống lãng phí hiện nay chính là nguyên nhân từ cơ chế, chính sách. Nghe có vẻ như là một mâu thuẫn, bởi thực tế cho thấy chủ trương, cơ chế, chính sách của chúng ta không thiếu, thậm chí có rất nhiều chủ trương, về chính sách (?). Lý giải điều này, nhiều chuyên gia cho rằng: cơ chế, chính sách không thiếu nhưng lại rất yếu về sự đồng bộ, chặt chẽ. Chính sự vừa thừa, vừa thiếu này đã làm cho cuộc chiến chống lãng phí trong sử dụng TSNN hiện nay chưa được như mong muốn.

Có thể dẫn chứng ngay về nhận định này: Hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản hiện hành là công cụ quan trọng cho việc quản lý, sử dụng TSNN; là cơ sở để Nhà nước và nhân dân kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tuy nhiên, hệ thống này đang bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là đối với hai loại tài sản lớn là trụ sở làm việc và ô tô, thể hiện như sau:

Thứ nhất, hệ thống tiêu chuẩn, định mức hiện hành quy định chưa chặt chẽ, chưa cụ thể, ví dụ như quy định về các chức danh tương đương, định mức trang bị xe cho các đơn vị sự nghiệp, các ban quản lý dự án… dẫn đến vận dụng một cách tùy tiện, lãng phí.

Thứ hai, tiêu chuẩn định mức chưa đảm bảo tiết kiệm, đối tượng sử dụng xe ô tô phục vụ công tác còn rộng, chưa có quy chế quản lý và công khai việc sử dụng phương tiện đi lại tại các cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước.

Thứ ba, tiêu chuẩn, định mức chưa phù hợp với thực tiễn, lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung, như quy định về thanh lý và thay thế xe chưa sát với từng loại xe dẫn đến có những xe đã đủ km và thời gian nên tiến hành thanh lý để mua xe mới trong khi giá trị sử dụng còn rất lớn làm lãng phí ngân sách nhà nước. Mặc dù chế độ tiền lương đã được sửa đổi theo Quyết định 05/2004/QĐ-TTg ngày 10/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ, nhưng quy định về hệ số phụ cấp của các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe vẫn theo quy định cũ. Quy định về diện tích phụ trợ trong trụ sở làm việc không sát dẫn đến các đơn vị sai phạm trong tiêu chuẩn sử dụng khi đầu tư xây dựng.

Thứ tư, tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSNN hiện hành chưa có sự phân biệt giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, mặc dù hai tổ chức này hoạt động hết sức khác nhau.

Ở các nước tiên tiến, việc quản lý và sử dụng tài sản công đều có các tiêu chuẩn, định mức hết sức chi tiết, cụ thể, cũng như tính đến hiệu quả việc đầu tư, mua sắm tài sản công, cơ quan hành chính được đầu tư, trang bị thế nào, đơn vị sự nghiệp được đầu tư của Nhà nước mức độ ra sao; không có lẫn và đồng nhất giữa cơ quan hành chính với đơn vị sự nghiệp. Trong khi đó, ở nước ta, hiện nay, các tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSNN đã quy định còn thiếu yếu tố tính đến hiệu quả trong việc đầu tư, mua sắm, cũng như phân định rõ trách nhiệm của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp đối với việc quản lý sử dụng tài sản là nhà cửa, trang thiết bị làm việc, phương tiện đi lại, cũng như diện tích nhà đất giao cho đơn vị, việc hoàn trả dần vốn đầu tư ban đầu của Nhà nước.

Có thể nói rằng, một khi hệ thống tiêu chuẩn, định mức không chính xác, lạc hậu tất yếu dẫn đến việc chấp hành tuỳ tiện, dối trá trong chi tiêu. Khi hiện tượng dối trá trong chi tiêu phát triển tất yếu sẽ dẫn đến lãng phí và lạm công quỹ. Tiêu chuẩn sử dụng TSNN nếu không chi tiết và phù hợp tất yếu dẫn đến vi phạm tiêu chuẩn tràn lan, không ai kiểm soát nổi.

Chỉ tính riêng việc vi phạm tiêu chuẩn sử dụng xe con, mua sắm xe con gây lãng phí của Nhà nước hàng trăm tỷ đồng/năm nhưng khắc phục tình trạng này quả là không dễ nếu không xác định lại bộ tiêu chuẩn minh bạch và áp dụng triệt để, đồng thời có chính sách thay thế kịp thời.

Chế độ sử dụng công quỹ và TSNN của ta nặng về bao cấp, lại thiếu các biện pháp kiểm tra thưởng, phạt cũng dẫn đến lãng phí. Chỉ tính riêng lĩnh vực xe con, nếu có chế độ mới theo hướng khoán chi hoặc đưa tiền vào lương chắc chắn sẽ giảm chi phí sử dụng xe con ở các cơ quan công quyền xuống 2 – 4 lần.

Như vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải nhanh chóng hoàn thiện, bổ sung hệ thống chế độ, định mức, tiêu chuẩn về sử dụng TSNN như trang bị và sử dụng xe ô tô, xe máy, sử dụng điện thoại, trụ sở làm việc, nhà công vụ, tài sản của các dự án viện trợ nước ngoài… Cần tăng cường kiểm tra, quản lý việc mua sắm, sử dụng TSNN, tuân thủ đúng quy định của Luật đấu thầu và quy chế mua sắm công; Rà soát việc sử dụng trụ sở làm việc của các cơ quan đơn vị; Rà soát lại các tài sản công để có biện pháp điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNN; Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá kỹ để phân loại các TSNN và có kế hoạch sử dụng hợp lý, phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế, chống lãng phí, tham nhũng và tiêu cực, bảo đảm công bằng và công khai trong việc sử dụng các TSNN.

Một vấn đề quan trọng khác là Chính phủ cần khẩn trương xây dựng và trình Quốc hội ban hành ngay Luật Quản lý và sử dụng TSNN. Đây có thể coi là yêu cầu hết sức bức thiết, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định rõ nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cũng như đối tượng được giao trực tiếp quản lý, sử dụng TSNN trong công tác thực hiện tiết kiệm chống lãng phí.

Luật này quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu TSNN, việc quản lý nhà nước về TSNN, chế độ quản lý và sử dụng TSNN, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khi sử dụng TSNN. Các quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng TSNN cần phân định rõ ở 02 cơ quan khác nhau, không đồng nhất, hoà đồng hai chủ thể sử dụng TSNN là cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp; hành chính là hành chính, sự nghiệp là sự nghiệp, không thể gộp chung là hành chính sự nghiệp được. Khi đạo luật này ban hành, cùng với Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, sẽ là khung pháp lý quan trọng để thực hiện chống lãng phí trong quản lý và sử dụng TSNN.

BUÔN TÀI SẢN ẢO LÀ VẤN ĐỀ SỐNG CÒN CỦA GAME ONLINE

NGUYỄN HẰNG – HƯNG HẢI

Việc hai nhà cung cấp game FPT Telecom và VASC gần như đồng loạt tuyên bố thừa nhận quyền mua bán, trao đổi tài sản trong game một lần nữa chứng minh tốc độ phát triển như vũ bão của ngành công nghiệp mới. Tuy nhiên, nhà quản lý vẫn tỏ ra từ tốn trước những diễn biến của đời sống công nghệ.

Nhiều gamer cho rằng điều có ý nghĩa nhất đối với người chơi game online là thành quả đạt được trong game. Các cao thủ có thể miệt mài hàng giờ bên máy tính, "cày xới" và "chinh chiến" đến quên mình cũng chỉ vì mục đích lên level, sở hữu thật nhiều đồ vật có giá trị. Việc trao đổi buôn bán tài sản ở môi trường ảo xuất hiện và diễn biến như quy luật tự nhiên. Hơn ai hết, nhà cung cấp trò chơi nào cũng ý thức được rằng bảo vệ và tạo điều kiện để thương trường trong game phát triển cũng chính là vấn đề sống còn của chính doanh nghiệp mình.

Giá trị thực của tài sản ảo

Trước khi nhà cung cấp chính thức công nhận việc giao thương, hoạt động buôn bán, trao đổi những món đồ hoặc nhân vật trong hầu hết các game đã diễn ra theo kiểu "chợ đen" và các game thủ tự thoả thuận với nhau giá cả. Không ít thương vụ có giá trị lên đến nhiều triệu đồng. Thanh Khai Sơn Kiếm dành cho nhân vật Knight đầu tiên trong game PTV từng được mua với giá 4 triệu đồng. Những bộ giáp làm phần thưởng cho giải vô địch MU VN được các game thủ lùng sục với giá từ 5 đến 7 triệu đồng. Giới mộ điệu vẫn nhắc đến kỷ lục giao dịch một bộ đồ Hoàng Kim trong Võ Lâm Truyền Kỳ với số tiền trao tay là 30 triệu đồng. Chỉ tính riêng những giao dịch nhỏ lẻ của các đồ vật trong game PTV nếu quy ra tiền mặt cũng lên đến khoảng 4 tỷ đồng/tháng.

Theo ý kiến của đa phần game thủ thì giá trị của các tài sản ảo được tạo nên từ những yếu tố: công sức của người chơi, tính ổn định, phổ biến của game và sự quý hiếm của món đồ. Trong đó, công sức của người chơi được tính bằng chi phí thời gian và tiền bạc bỏ ra để có được một nhân vật có cấp độ cao, lên điểm (phân phối các chỉ số tiềm năng). "Tiền trả cho cửa hàng Internet, trả cho nhà cung cấp game là tiền thật. Vậy những gì thu được từ số tiền thật đó không hoàn toàn ảo", game thủ của PTV mang nick Thái Shiva tuyên bố sau khi nạp xong 720 nghìn đồng để được "giành lại miền đất hứa" suốt đời.

"Có người mua thì ắt có kẻ bán. Việc trao đổi các món đồ và nhân vật trong game giữa các người chơi với nhau tuân theo đúng các quy luật của thị trường", game thủ Nguyễn Hoài An (Hà Nội) phân tích. "Đối với những món đồ hiếm thì có khi người chơi hết số tiền bỏ ra mua đồ cũng không thể có được. Vậy tại sao lại không mua?".

Nguyễn Khánh Toàn, một du học sinh tại Đức, cũng đồng tình: "Mua đồ ảo là mua thông tin của game đó. Đối với game thông thường, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cuốn sách về cheat code hoặc các thủ thuật để qua các màn khó. Game online cũng vậy, bạn phải trả tiền cho cái gì đó giúp bạn mạnh mẽ hơn".

Nhiều gamer quan niệm đồ ảo trong game luôn mang giá trị thật. Nguyễn Trọng Hải, một kỹ sư máy tính, so sánh: "Đối với những người không chơi game online, những thứ đó (các tài sản ảo) thật phù phiếm. Điều này cũng giống như mang chiếc máy tính xịn nhất đến nơi không có điện vậy".

Theo ông Trương Đình Anh, Tổng giám đốc FPT Telecom – nhà cung cấp PTV và MU Việt Nam – sự phát triển và phổ biến của các trò chơi trực tuyến đã hình thành nhiều lớp game thủ trong đó có cả những người chuyên nghiệp, coi game trực tuyến là một phương tiện kiếm tiền để sinh sống, có nhu cầu bán tài sản kiếm được trong game ra tiền mặt. "Vì thế mà việc công nhận tài sản ảo trong game là một xu hướng tất yếu", ông Trương Đình Anh khẳng định.

Ra tuyên bố công nhận quyền mua bán tài sản ảo của các game thủ chỉ sau FPT vài ngày, nhà cung cấp trò chơi trực tuyến VASC cũng tỏ ý đồng tình với FPT Telecom. "Nếu không công nhận quyền mua bán tài sản trong game, nhà cung cấp sẽ không thể kiểm soát được mâu thuẫn và những tranh chấp xung quanh việc bán đồ. Đây là một trong những biện pháp để chúng tôi điều tiết thị trường, giảm thiểu tệ nạn xung quanh những thương vụ trong game", ông Lê Việt Thành, Phó giám đốc Trung tâm game online VASC, cho biết.

Võ lâm truyền kỳ là trò chơi được thu phí đầu tiên trong số các game có bản quyền tại Việt Nam và hiện có hàng nghìn game thủ là thành viên của các bang phái Võ lâm. Tuy nhiên, nhà cung cấp VinaGame vẫn chưa có động thái gì đặc biệt trước những diễn biến mới của thị trường. "Chúng tôi không có bình luận gì về mọi vấn đề liên quan đến tài sản ảo trong game", ông Nguyễn Hoàng Tuấn Anh, đại diện của VinaGame, nói.

Hành lang pháp lý cho tài sản ảo

Trong suốt thời kỳ “chợ đen”, việc trao đổi giữa các game thủ diễn ra phức tạp và rắc rối. Đối với những món đồ và vật dụng, việc trao đổi từ tài khoản này sang tài khoản khác tương đối đơn giản: chỉ cần “tiền trao” bên ngoài và “cháo múc” trong game là xong. Nhưng đối với các trường hợp trao đổi nhân vật thì khác hoàn toàn. Mua một nhân vật là phải mua luôn tài khoản có chứa nhân vật đó. Việc chuyển đổi các thông tin cá nhân liên quan đến tài khoản rất khó khăn, đặc biệt là địa chỉ e-mail để thông báo các xác nhận đổi mật khẩu hiện không thể thay đổi được.

Đây cũng chính là nguyên nhân của hàng loạt khúc mắc giữa người mua bán và gây khó khăn cho chính nhà cung cấp game. Nhiều trường hợp người mua sau khi trả tiền bị cướp trắng, vì e-mail không thay đổi được. Người bán sau khi nhận tiền thông báo với nhà cung cấp là bị hack, yêu cầu được cấp lại mật khẩu. Chính vì thế đa phần nhà cung cấp game hiện nay vẫn tuyên bố đứng ngoài cuộc trước các khiếu kiện xung quanh việc buôn bán tài khoản. Hiện chỉ có game PTV mới đưa vào hình thức chuyển đổi nhân vật từ tài khoản này sang tài khoản khác. VASC sau khi tuyên bố chính thức cho phép người chơi giao dịch tài sản trong RYL II bằng tiền mặt vẫn từ chối can thiệp các xung đột về tài khoản. Đại diện VASC Lê Việt Thành cho biết doanh nghiệp này đang hoàn chỉnh hệ thống trợ giúp giao dịch cho các game thủ.

Theo nhận định của VnExpress, cả giới gamer và nhà cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến trong nước đều trông ngóng một quy chế quản lý game online hoàn chỉnh và phù hợp với thực tế để có "chỗ dựa" an toàn trong khi mải mê "chinh chiến và… đi buôn". Tuy nhiên, dù từng hứa sẽ có một quy chế quản lý game online công bố trước ngày 31/12/2005, Thứ trưởng Bộ Văn hóa thông tin Đỗ Quý Doãn đến nay đã thừa nhận chưa biết lúc nào văn bản đó mới được hoàn chỉnh và đi vào thực tiễn. “Vấn đề tài sản ảo trong game chúng tôi cũng rất lưu tâm. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng cần có thời gian để nghiên cứu thực tiễn mới có thể đưa nó vào luật được”.

Theo luật sư Nguyễn Hoàn Thành của văn phòng Luật sư Phạm và liên danh, dù các phạm trù ảo trong game chưa có luật điều chỉnh, song nếu đã dẫn đến những hệ lụy đời thường thì những gì xảy ra trong đời thực vẫn có thể áp dụng Luật dân sự hay hình sự như bình thường. “Tất nhiên, trong quan hệ con người với nhau ở thế giới ảo cũng phải tuân thủ quy tắc đạo đức nhất định. Tôi nghĩ rằng game online là vấn đề cần bổ sung vào các văn bản quản lý vật dụng Internet”, luật sư Nguyễn Hoàn Thành phân tích. “Đặc biệt, Internet là một môi trường tự do nên những quy định về nguyên tắc đạo đức nhiều khi rất quan trọng để người tham gia vào đó có ý thức tự giác. Nếu không tuân thủ theo những điều đó thì người chơi sẽ bị nhà cung cấp gạt khỏi dịch vụ hoặc ngay cả những người xung quanh loại trừ”.

Luật sư Nguyễn Hoàn Thành cũng lưu ý rằng trong những quy định về game online cần có những quy định rõ ràng về trách nhiệm của nhà cung cấp cung cấp dịch vụ. “Nhà cung cấp phải có những quy chế rõ ràng về phân phối sản phẩm và đưa ra những quy tắc nhất định đối với người tham gia chơi game. Thậm chí, họ có quyền và nghĩa vụ quản lý người tham gia game tuân thủ các quy định đó. Bởi lẽ xét về mọi phương diện kỹ thuật, dù là công nghệ hay khả năng bám sát các diễn biến thực tiễn, họ hoàn toàn có thể làm được”, ông Thành nói.

SOURCE: http://www.vnexpress.net

NGHỊ ĐỊNH SỐ 151/2007/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 10 NĂM 2007 VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TÁC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Nghị định này quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

Tổ hợp tác được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc sau:

1. Tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi;

2. Biểu quyết theo đa số;

3. Tự chủ tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ và các tổ viên.

Điều 3. Tên, biểu tượng của tổ hợp tác

Tổ hợp tác có quyền chọn tên và biểu tượng của mình phù hợp với quy định của pháp luật và không trùng lắp với tên, biểu tượng của tổ hợp tác khác trong phạm vi xã, phường, thị trấn.

Điều 4. Thành lập tổ hợp tác

1. Việc thành lập tổ hợp tác do các cá nhân có nhu cầu đứng ra tổ chức.

2. Khi thành lập, tổ hợp tác thảo luận và thống nhất các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Mục đích và kế hoạch hoạt động của tổ hợp tác;

b) Nội dung hợp đồng hợp tác;

c) Tên, biểu tượng (nếu có) của tổ hợp tác;

d) Danh sách tổ viên;

đ) Bầu tổ trưởng, bầu ban điều hành (nếu thấy cần thiết);

e) Các vấn đề liên quan khác.

Điều 5. Hợp đồng hợp tác

1. Hợp đồng hợp tác là thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ viên, có tên gọi là hợp đồng hợp tác hoặc tên gọi khác nhưng nội dung phải phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng hợp tác

a) Mục đích, thời hạn hợp đồng hợp tác;

b) Họ, tên, nơi cư trú, chữ ký của tổ trưởng và các tổ viên;

c) Tài sản đóng góp (nếu có); phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức giữa các tổ viên;

d) Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ viên, của tổ trưởng, ban điều hành (nếu có);

đ) Điều kiện kết nạp tổ viên mới và tổ viên ra khỏi tổ hợp tác;

e) Điều kiện chấm dứt tổ hợp tác;

g) Các thoả thuận khác.

3. Nội dung hợp đồng hợp tác có thể được sửa đổi, bổ sung khi được sự đồng ý của đa số tổ viên.

Điều 6. Chứng thực Hợp đồng hợp tác

1. Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực hoặc chứng thực lại (ký xác nhận, đóng dấu) vào hợp đồng hợp tác hoặc hợp đồng hợp tác sửa đổi, bổ sung và ghi vào sổ theo dõi trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hợp đồng hợp tác của tổ có nội dung phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị định này.

Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã không chứng thực hợp đồng hợp tác thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối.

2. Trường hợp tổ hợp tác tổ chức và hoạt động với quy mô liên xã thì tổ có quyền lựa chọn nơi chứng thực hợp đồng hợp tác thuận lợi cho tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác.

Chương II

TỔ VIÊN

Điều 7. Điều kiện, thủ tục kết nạp tổ viên tổ hợp tác

1. Điều kiện kết nạp tổ viên:

a) Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tự nguyện tham gia và tán thành các nội dung của hợp đồng hợp tác đều có thể trở thành tổ viên tổ hợp tác. Một cá nhân có thể là thành viên của nhiều tổ hợp tác;

b) Hợp đồng hợp tác có thể quy định thêm về các tiêu chuẩn khác đối với tổ viên tổ hợp tác.

2. Thủ tục kết nạp tổ viên mới:

a) Cá nhân có đơn gửi tổ trưởng, trong đó nêu rõ nguyện vọng tham gia và cam kết thực hiện hợp đồng hợp tác của tổ;

b) Hội nghị tổ viên xem xét, biểu quyết và công nhận tổ viên mới khi được đa số tổ viên đồng ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều 8. Quyền của tổ viên

Tổ viên có các quyền sau đây:

1. Tổ viên có quyền ngang nhau trong việc tham gia quyết định các công việc của tổ hợp tác, không phụ thuộc vào mức độ đóng góp tài sản của mỗi tổ viên;

2. Được hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ hoạt động của tổ hợp tác theo thoả thuận;

3. Thực hiện việc kiểm tra hoạt động của tổ hợp tác;

4. Ra khỏi tổ hợp tác theo các điều kiện đã thoả thuận;

5. Các quyền khác theo thoả thuận trong hợp đồng hợp tác không trái với quy định của pháp luật.

Điều 9. Nghĩa vụ của tổ viên

Tổ viên có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện hợp tác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, giúp đỡ lẫn nhau và bảo đảm lợi ích chung của tổ hợp tác;

2. Bồi thường thiệt hại cho tổ hợp tác do lỗi của mình gây ra;

3. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo thoả thuận trong hợp đồng hợp tác nhưng không trái với quy định của pháp luật.

Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của tổ viên khi ra khỏi tổ hợp tác

1. Tổ viên khi ra khỏi tổ hợp tác có quyền yêu cầu nhận lại tài sản mà mình đã đóng góp vào tổ hợp tác, được chia phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của tổ hợp tác, trừ tài sản không chia đã được thoả thuận của đa số tổ viên. Nếu việc phân chia tài sản bằng hiện vật làm ảnh hưởng đến việc tiếp tục hoạt động của tổ thì tài sản được trị giá bằng tiền để chia;

2. Khi ra khỏi tổ hợp tác, tổ viên phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với tổ hợp tác theo thỏa thuận.

Chương III

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TÁC

Điều 11. Họp tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác tự quyết định việc họp toàn thể tổ viên một năm một lần hay nhiều lần.

2. Tổ trưởng tổ hợp tác triệu tập họp tổ bất thường khi:

a) Có phát sinh vướng mắc cần thiết phải họp tổ để giải quyết;

b) Có yêu cầu của đa số tổ viên hoặc đa số thành viên ban điều hành (nếu có).

Điều 12. Quyền của tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác được lựa chọn ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, hoạt động không giới hạn theo phạm vi hành chính địa phương nơi tổ hợp tác chứng thực hợp đồng hợp tác. Tổ hợp tác hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề đòi hỏi phải có Giấy phép hành nghề hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì phải tuân thủ các quy định về giấy phép hành nghề hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để mở rộng sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

3. Được hưởng các chính sách hỗ trợ và tham gia xây dựng, thực hiện các kế hoạch, chương trình, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội, tạo việc làm và xoá đói, giảm nghèo ở địa phương.

4. Được mở tài khoản riêng tại ngân hàng theo quy định của pháp luật và theo cơ chế người đại diện được ghi trong hợp đồng hợp tác.

5. Được ký kết các hợp đồng dân sự.

6. Quyết định việc phân phối hoa lợi, lợi tức và xử lý các khoản lỗ của tổ hợp tác.

7. Các quyền khác được ghi trong hợp đồng hợp tác nhưng không trái với các quy định của pháp luật.

Điều 13. Trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh tổ hợp tác.

2. Tổ hợp tác chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của tổ; nếu tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của tổ thì tổ viên phải chịu trách nhiệm liên đới tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.

3. Thực hiện các thoả thuận đã cam kết với các tổ viên, tổ chức và cá nhân khác.

4. Thực hiện các trách nhiệm đối với người lao động do tổ hợp tác thuê theo quy định của pháp luật về lao động.

5. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Giải quyết tranh chấp

1. Tranh chấp giữa các tổ viên tổ hợp tác trong phạm vi của hợp đồng hợp tác được tiến hành hoà giải tại tổ hợp tác; trường hợp không hoà giải được thì tranh chấp đó được giải quyết thông qua cộng đồng thôn, bản, tổ hòa giải cấp xã hoặc khởi kiện ra toà án.

2. Tranh chấp giữa tổ hợp tác với các cá nhân, tổ chức khác thì tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 15. Chấm dứt tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác;

b) Mục đích của việc hợp tác đã đạt được;

c) Các tổ viên thoả thuận chấm dứt tổ hợp tác;

d) Tổ hợp tác chấm dứt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong những trường hợp do pháp luật quy định.

2. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hoạt động, tổ hợp tác phải thông báo bằng văn bản về chấm dứt hoạt động của mình cho Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã chứng thực hợp đồng hợp tác.

3. Khi chấm dứt hoạt động, tổ hợp tác phải thanh toán các khoản nợ chung của tổ; nếu tài sản chung của tổ không đủ trang trải các khoản nợ thì lấy tài sản riêng của các tổ viên để thanh toán theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định này. Trường hợp các khoản nợ đã được thanh toán xong mà tài sản chung của tổ vẫn còn thì tài sản còn lại được chia cho các tổ viên theo tỷ lệ tương ứng với giá trị tài sản góp vào tổ của mỗi tổ viên, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Chương IV

ĐIỀU HÀNH TỔ HỢP TÁC

Điều 16. Điều hành tổ hợp tác

1. Người điều hành công việc chung của tổ hợp tác là tổ trưởng tổ hợp tác. Các tổ viên tổ hợp tác thoả thuận về tiêu chuẩn, cách thức bầu tổ trưởng tổ hợp tác.

2. Trường hợp cần thiết, tổ hợp tác có thể bầu ban điều hành. Tổ trưởng là trưởng ban điều hành. Số lượng, tiêu chuẩn và cách thức bầu ban điều hành thực hiện theo thoả thuận của các tổ viên tổ hợp tác.

3. Việc thay đổi tổ trưởng phải được ghi nhận bằng biên bản họp tổ và phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã đã chứng thực hợp đồng hợp tác.

Điều 17. Trách nhiệm của tổ trưởng và ban điều hành tổ hợp tác

1. Tổ trưởng tổ hợp tác có trách nhiệm sau:

a) Là người đại diện cho tổ hợp tác xác lập các giao dịch dân sự vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác;

b) Tổ chức thực hiện và điều hành các hoạt động của tổ hợp tác.

2. Thành viên ban điều hành có trách nhiệm sau:

a) Giúp việc cho tổ trưởng điều hành các hoạt động của tổ hợp tác;

b) Thực hiện những công việc được tổ trưởng phân công.

Điều 18. Đại diện của tổ hợp tác

1. Đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng tổ hợp tác. Tổ trưởng tổ hợp tác có thể uỷ quyền cho thành viên ban điều hành hoặc tổ viên thực hiện một số công việc nhất định của tổ theo quy định của pháp luật về uỷ quyền.

2. Giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của tổ hợp tác.

3. Các giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện của tổ hợp tác xác lập thì hậu quả của giao dịch này thực hiện theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Dân sự.

4. Các giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì hậu quả của giao dịch này thực hiện theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Dân sự.

Chương V

TÀI SẢN, TÀI CHÍNH CỦA TỔ HỢP TÁC

Điều 19. Tài sản của tổ hợp tác

1. Tài sản của tổ hợp tác hình thành từ các nguồn:

a) Tài sản đóng góp của tổ viên tổ hợp tác bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản;

b) Phần được trích từ hoa lợi, lợi tức sau thuế để tăng vốn;

c) Các tài sản cùng tạo lập và được tặng, cho chung;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Tổ hợp tác cần ghi chép theo dõi riêng những tài sản bằng hiện vật không quy thành giá trị, trong đó phân rõ thành 2 loại: loại tài sản do từng tổ viên góp và sẽ trả lại khi tổ viên đó ra khỏi tổ hợp tác và loại tài sản không chia cho các tổ viên khi tổ viên ra khỏi tổ hợp tác.

2. Việc quản lý và sử dụng tài sản của tổ hợp tác được thực hiện theo phương thức thoả thuận. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý.

3. Tài sản của tổ hợp tác được kiểm kê, đánh giá định kỳ và ghi vào biên bản kiểm kê hoặc sổ sách ghi chép của tổ theo thỏa thuận.

Điều 20. Công tác tài chính, kế toán của tổ hợp tác

Công tác tài chính của tổ hợp tác phải bảo đảm tính công khai, minh bạch để tổ viên biết, theo dõi và kiểm tra; hình thức và nội dung báo cáo tài chính do các tổ viên bàn bạc, quyết định. Những tổ hợp tác có tài sản chung, có hoạt động tài chính chung cần có sổ sách kế toán ghi chép về tài sản, vốn và hoạt động kinh doanh của tổ hợp tác theo hướng dẫn của cơ quan tài chính.

Điều 21. Phân phối hoa lợi, lợi tức và xử lý lỗ

1. Hoa lợi, lợi tức của tổ hợp tác được phân chia cho tổ viên và để tạo tích lũy chung của tổ theo thoả thuận.

Hợp đồng hợp tác quy định cụ thể việc phân phối hoa lợi, lợi tức từ các hoạt động của tổ sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước (nếu có).

2. Trong trường hợp bị lỗ, các tổ viên thoả thuận đóng góp để bù lỗ nếu tích lũy chung của tổ các năm trước đó không đủ bù đắp.

Hợp đồng hợp tác quy định cụ thể việc xử lý các trường hợp bị lỗ và rủi ro.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 22. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 23. Trách nhiệm thi hành

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn thi hành Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

MỘT SỐ Ý KIẾN XUNG QUANH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Những hành vi gây thiệt hại cho công dân trong hoạt động của công chức thuộc cơ quan hành chính đều phải bồi thường thiệt hại. Cần mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật, xử sai án dân sự cũng phải bồi thường.
Án dân sự cũng có”oan sai”
Các quy định về bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra đã được ban hành từ khi Bộ luật Dân sự 1995 ra đời. Tuy nhiên, các quy định này gần như không thể thực hiện được do thiếu các quy định cụ thể về một cơ chế xác định trách nhiệm bồi thường, cũng như các thủ tục để người dân khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra chỉ được hiện thực hóa một phần khi có Nghị quyết 388 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ban hành năm 2004. Tuy nhiên, Nghị quyết 388 chỉ giới hạn việc bồi thường trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử oan sai của các cơ quan tiến hành tố tụnh hình sự. Vì thế, đến nay vẫn chưa có một cơ chế để tất cả các công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân đối với thiệt hại họ đã gây ra trong quá trình thực thi công vụ.
Theo Dự thảo Luật Bồi thường nhà nước đang được xây dựng thì tới đây, tất cả các hoạt động của công chức trong lĩnh vực quản lý hành chính và tư pháp mà gây ra thiệt hại cho công dân đều phải bồi thường. Trong quá trình thực thi công vụ, công chức có vi phạm pháp luât hoặc thực hiện không đúng bổn phận, chức trách được giao mà gây thiệt hại đến quyền và tài sản của công dân sẽ phải bồi thường. Dự thảo luật cũng đã đưa vào các quy định về bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự đã được quy định trong Nghị định 47 năm 1997 và Nghị quyết 388 năm 2003. Tuy nhiên, Dự thảo luật đã bỏ qua vấn đề bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp án xử sai trong lĩnh vực tố tụng hành chính và dân sự, kinh tế, thương mại. Theo ý kiến của một số thành viên Ban soạn thảo Dự thảo luật thì lĩnh vực dân sự đã có các cấp tòa án giải quyết theo trình tự phúc thẩm và giám đốc thẩm, không có oan sai nên việc đặt ra vấn đề bồi thường oan sai trong lĩnh vực tố tụng dân sự là không cần thiết. Vì thế nội dung này đã không được đưa vào trong Dự thảo luật.
Việc không đưa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng dân sự vào điều chỉnh trong Dự thảo luật đã gây thất vọng cho nhiều người hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, liên quan đến các vụ án dân sự, đặc biệt là giới luật sư. Theo luật sư Trần Hoàng Anh, rất nhiều người dân chờ đợi các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng dân sự của các Tòa án để họ được thực hiện quyền đòi bồi thường của mình, bởi đang có rất nhiều vụ án kinh tế, dân sự bị xử sai, hoạt động tố tụng không đúng pháp luật, gây thiệt hại lớn cho công dân. Thế nhưng, Dự thảo luật lại không xây dựng cơ chế để người dân bảo vệ quyền lợi của mình. Đến nay, tình trạng tòa xử sai nhưng chưa ai “xử tòa” vẫn tồn tại trong tố tụng dân sự và cũng chưa có cơ chế nào để buộc tòa phải chịu trách nhiệm cho việc xử sai của thẩm phán. Theo luật sư Nguyễn Minh Anh, các công dân thường xuyên phải đối diện với những việc làm không tròn bổn phận của đội ngũ cán bộ Tòa án. Rất nhiều bản án dân sự đã được thi hành những phải hủy bỏ do xử sai, hậu quả là thiệt hại đối với người dân đang là thực tế. Không có căn cứ nào để khẳng định rằng Tòa án sẽ không sai trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự và hành chính. Vì vậy, việc nêu ra quan điểm rằng không có “oan sai” trong tố tụng dân sự để không đặt ra cơ chế trách nhiệm của công chức, vô tình đã tạo ra một lỗ hổng pháp luật để tình trạng “án dân sự muốn xử kiểu gì cũng được” tồn tại.
Chưa có cơ chế xác định thiệt hại
Một số vấn đề cũng được nhiều người quan tâm là trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công dân thuộc về cơ quan nào? Cơ chế bồi thường thực hiện ra sao? Theo quy định của Dự thảo luật thì Bộ Tư pháp là cơ quan nhà nước ở Trung ương đứng ra thực hiện việc giải quyết bồi thường cho công dân đối với những việc bồi thường do cơ quan nhà nước ở Trung ương gây ra. Đối với các địa phương thì Sở Tư pháp sẽ là cơ quan đứng ra giải quyết bồi thường cho công dân. Cơ quan quản lý công chức và bản thân công chức đã có hành vi gây thiệt hại cho công dân có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan giải quyết bồi thường để giải quyết vụ việc. Vấn đề này hiện tại vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, dù chưa lấy được ý kiến rộng rãi trong nhân dân. Theo PGS, TS, LS Phạm Hồng Hải, việc bồi thường thiệt hại nên để chính cơ quan nhà nước có công chức gây thiệt hại đứng ra bồi thường cho công dân. Việc làm này sẽ nhằm nâng cao trách nhiệm của các công chức, cũng như các cơ quan quản lý. Bởi, khi phải đứng ra trả tiền cho những sai phạm của mình, người ta mới ý thức được rõ ràng hơn trách nhiệm với công dân. Hơn nữa, bản thân công dân cũng muốn những người làm sai phải trực tiếp bồi thường, như thế mới công bằng.
Vấn đề khó khăn nhất trong việc bồi thường thiệt hại cho công dân, mà hiện nay các cơ quan có thẩm quyền đang giải quyết là việc xác định mức độ thiệt hại cũng như cơ chế giải quyết bồi thường cho công dân. Hầu hết các vụ yêu cầu bồi thường đã và đang giải quyết đều có mâu thuẫn giữa cơ quan phải bồi thường và người yêu cầu bồi thường trong việc xác định mức độ thiệt hại. Vì thế, gần như tất cả các vụ yêu cầu bồi thường thiệt hại đều phải đưa ra tòa để giải quyết. Không ít trường hợp, bản án dân sự về bồi thường thiệt hại cũng bị coi là xử sai, gây thiệt hại cho công dân. Hệ quả là, tình trạng đòi bồi thường trở thành cái vòng luẩn quẩn mà người bị thua thiệt sau cùng là công dân. Song, trong Dự thảo luật này chưa quy định cơ chế xác định thiệt hại và những thiệt hại nào mà cơ quan nhà nước có nghĩa vụ bồi thường. Vì thế, các ý kiến cho rằng Dự luật phải có quy định cụ thể về vấn đề này cần được cơ quan soạn thảo xem xét kỹ lưỡng.
Là những người có thể bị thiệt hại do công chức gây ra, các công dân và tổ chức quan tâm đến 3 vấn đề chính của Dự thảo này là: Những hành vi nào của công chức gây thiệt hại thì phải bồi thường; những thiệt hại nào được bồi thường và cơ quan đứng ra bồi thường. Tuy nhiên, đã qua bản Dự thảo lần 3, nhưng Dự thảo Luật Bồi thường nhà nước vẫn chưa làm các công dân – người được Dự luật này bảo vệ – thỏa mãn. Bởi, Dự thảo luật vẫn chưa xác định đầy đủ hành vi của công chức có thể gây thiệt hại cho công dân, dẫn đến việc còn nhiều lĩnh vực mà người dân không được bảo vệ trước việc làm không đúng pháp luật và bổn phận của đội ngũ công chức. Quy định về thiệt hại được bồi thường chưa rõ ràng sẽ dẫn đến tình trạng giữa người được bồi thường và người phải bồi thường lại phải kéo nhau ra tòa để giải quyết. Những vấn đề này cần được xem xét kỹ hơn để đạo luật đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. 
PGS.TS.LS Phạm Hồng Hải –  Chủ nhiệm ĐLS Hà Nội
Việc cho rằng trong tố tụng dân sự không có án sai và đã có các cấp xét xử phúc thẩm, cũng như thủ tục giám đốc thẩm để không đưa các hành vi của công chức trong tố tụng dân sự vào điều chỉnh trong Luật này là không thuyết phục. Tố tụng dân sự và tố tụng hình sự nước ta giống nhau về cấp xét xử. Hiện nay, đang có rất nhiều vụ án dân sự xử sai mà người dân bị thiệt hại thực tế về tài sản nhưng họ lại không được bồi thường là bất hợp lý. Mọi hoạt động của công chức đều tiềm ẩn những nguy cơ sai phạm một cách cố ý hay vô ý, ngoài việc không tuân thủ pháp luật còn có việc lơ là thiếu trách nhiệm, kể cả trong tố tụng dân sự. Vì thế, quyền lợi và tài sản của công dân luôn bị đe dọa bị gây thiệt hại. Do đó, tôi cho rằng cần phải đưa các hoạt động trong tố tụng dân sự vào điều chỉnh trong Luật này. Đây là điều mà các chuyên gia nước ngoài và nhiều đại diện của công dân, doanh nghiệp rất đồng tình ủng hộ.

Xuân Bính – Theo Pháp luật VN ngày 26/9/2007

=============================================================

Bồi thường và đền bù: khác nhau về bản chất!

Trong khuôn khổ hoạt động hỗ trợ xây dựng pháp luật của dự án JICA, ngày 18/7/2007, các chuyên gia Nhật Bản đã có buổi làm việc với các thành viên Tổ biên tập dự án Luật bồi thường Nhà nước (BTNN). Tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia về đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng, cơ chế bồi thường nhà nước trên cơ sở yếu tố lỗi, mô hình cơ quan giải quyết bồi thường…. Thường trực Tổ biên tập đã hoàn thiện nội dung Dự thảo 2 Luật BTNN. Đặc biệt, Dự thảo 2 dành hằn một chương quy định đền bù thiệt hại đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự (Chương VII).

          Phân biệt rõ trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm đền bù Nhà nước.

Theo các chuyên gia Nhật bản, bồi thường được hiểu là phục hồi nguyên trạng, có căn cứ là hành vi trái pháp luật. trong khi đó, đền bù được hiểu là Nhà nước bù đắp cho người dân những thiệt hại gây ra bởi hoạt động hoàn toàn hợp pháp của nhà nước. hay nói cách khác, một số người phải hy sinh một số lợi ích của mình vị lợi ích chung của cả xã hội nên họ được đền bù. Tuy nhiên, đền bù thì không phục hồi nguyên trạng như bồi thường. các chuyên gia đề nghị, để có sự phân biệt rõ ràng 2 loại trách nhiệm này, Việt Nam có thể xây dựng các đạo luật riêng biệt điều chỉnh riêng từng loại trách nhiệm (như kinh nghiệm của Nhật Bản), hoặc nếu quy định 2 loại trách nhiệm này trong cùng một đạo luật thì phải hoàn toàn tách bạch với nhau.
ThS. Nguyễn Thanh Tịnh – phó Vụ trưởng vụ Pháp luật – Dân sự Kinh tế bộ Tư pháp – cũng nhất trí Luật BTNN cần tách biệt trách nhiệm đền bù. Ông Tịnh cho rằng BTNN là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được cấu thành do lỗi. Còn đền bù nhà nước không mang bản chất trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không căn cứ vào yếu tố lỗi mà phụ thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia.
Có thể nói trách nhiệm đền bù thiệt hại đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự là nội dung hoàn toàn mới của Dự thảo 2 so với Dự thảo 1. Trong Dự thảo 1, việc bồi thường cho những thiệt hại của cá nhân trong hoạt động tố tụng hình sự được điều chỉnh bằng các quy định về BTNN (lỗi vẫn là một trong những điều kiện bắt buộc). Dự thảo 2 lại quy định việc bù đắp những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cá nhân bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự được hiểu là: Thứ nhất, lỗi không được quy định là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm đền bù. Thứ hai, việc gây thiệt hại của công chức có thẩm quyền trong tố tụng hình sự được mặc nhiên hiểu là việc gây thiệt hại hoàn toàn đúng pháp luật và nằm ngoài ý muốn của họ. Có nghĩa, các công chức có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự dù đã thực hiện các nhiệm vụ theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, nhưng kết quả cuối cùng vẫn cho thấy người bị áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù, thi hành hình phạt tử hình là người không phạm lỗi. Thứ ba,  mức đền bù cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự là mức cố định không thay đổi. Như vậy, mức đền bù này có thể tương xứng với những thiệt hại của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Sở dĩ mức đền bù được quy định ở các mức cố định cụ thể là dựa trên cơ sở suy đoán tính không có lỗi và đúng pháp luật của việc gây thiệt hại nên mức đền bù chỉ nhằm bù đắp một phần tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu.
Hoán đổi cơ chế từ đền bù sang bồi thường.

Phát biểu tại buổi làm việc TS. Dương Đăng Huệ – vụ trưởng vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế bộ Tu pháp – khẳng định, điểm cơ bản của Chương VII  là sự hoán đổi từ cơ chế đền bù sang cơ chế bồi thường. Tại Điều 39 Dự thảo 2 đã quy dịnh về quyền khởi kiện theo cá quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Quy định này là nhằm tạo điều kiện cho người bị thiệt hại có thể được bảo đảm tối đa các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chẳng hạn, trong trường hợp người bị thiệt hại là do công chức có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã có lỗi khi gây ra thiệt hại cho mình hay mức đền bù là không thoả đáng, thì họ có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường theo các quy định về BTNN để có thể nhận mức bồi thường cao hơn, nhưng họ phải chứng minh yếu tối lỗi.
Nội dung của Chương VII cũng hoàn toàn khác so với phần còn lại của Dự thảo 2. Cụ thể là, không đề cập đến yếu tố lỗi. Trong mọi trường hợp, khi một cá nhân bị thiệt hại trong tố tụng hình sự sẽ được nhà nước chủ động bồi thường thiệt hại mà họ không cần phải khởi kiện yêu cầu bồi thường. Việc bồi thường của nhà nước được hiểu là sự bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại dù conog chức nhà nước đã thực hiện công việc của mình hoàn toàn đúng pháp luật. Bên cạnh đó, về mặt thuật ngữ, việc bù đắp tổn thất của nhà nước cho người bị thiệt hại được thể hiện thông qua thuật ngữ “đền bù thiệt hại” để là nổi bật tính chất của trách nhiệm nhà nước trong trường hợp này – trách nhiệm của nhà nước trong trường hợp này không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ là trách nhiệm bù đắp một phần tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu vì công chức nhà nước đã không làm trái pháp luật khi thực hiện công việc của mình.
Theo Pháp luật Việt Nam

“388” VÀ HÀNH TRÌNH GIẢI OAN CỦA CÁC DOANH NHÂN

Khi giới doanh nhân trở thành chủ thể của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế – là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, họ được cả xã hội tôn vinh. Nhưng con đường chinh phục “nghiệp làm giàu” không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng.

Trong những năm qua do sự cố tình hay vô ý của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự khiến cho không ít doanh nhân rơi vào vòng lao lý. Nghị quyết 388/NQ-UBTV QH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra được coi là một trong nững chính sách tích cực của Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, trên thực tế vẫn còn không ít bất cập.

Ba “án oan” điển hình


Ông Hoàng Minh Tiến từng phát biểu: “Nếu như tôi không bị bắt thì chắc chắn đã có thể xây dựng được một nhà máy thuộc da lớn nhất khu vực Đông Nam Á, tạo việc làm cho hàng trăm lao động vì trước đó chúng tôi đã ký thoả thuận hợp tác với một đối tác nước ngoài”. Nhưng ở cái tuổi gần 60, sức khoẻ yếu, vốn liếng không còn thì có lẽ ước mơ của ông giờ chỉ là… mơ ước. May mắn hơn, ông Lương Ngọc Phi cũng bắt đầu gây lại được sự nghiệp theo đúng con đường mà ông đã… phải vào nhà giam nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn do bị mất thị trường và mất cơ hội tốt nhất. Còn với ông Chiến – bản lĩnh của doanh nhân đã được khẳng định bởi trong thời gian chạy đôn chạy đáo minh oan ông cũng đã kịp gây dựng lên DN Bắc Hà, trả được 20 tỷ đồng cho ngân hàng để giải chấp tài sản. Tuy vậy, thời cơ tốt nhất đã qua.


1. Tháng 7/2004, ông Hoàng Minh Tiến là người bị oan đầu tiên được VKS Hà Nội xin lỗi theo tinh thần Nghị quyết 388. Sau đó “ông yêu cầu VKS bồi thường 2,2 tỷ đồng cho thời gian vướng vòng lao lý theo tinh thần Nghị quyết 388 nhưng chỉ được VKS chấp nhận “thanh toán” gần 28 triệu, đồng thời bác 12 khoản khác ông Tiến yêu cầu, trong đó có việc trả lại căn nhà 6/95 Bạch Mai. Sau 3 lần thương lượng không thành, ông Tiến kiện VKS Hà Nội ra Toà án. Ông cũng là trường hợp đầu tiên của thành phố Hà Nội làm đơn kiện VKS ra toà theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự của Nghị quyết 388. Vì vậy, đây là vụ việc được dư luận đặc biệt quan tâm.Tại phiên sơ thẩm ngày 16/6/2005, TAND Hai Bà Trưng đã bác 12 trong 13 khoản ông Tiến yêu cầu, chỉ chấp nhận khoản bồi thường gần 28 triệu đồng cho hơn 400 ngày bị tạm giữ và 900 ngày tại ngoại (bị quản thúc) của ông Tiến. Các thiệt hại về nhà cửa, xưởng sản xuất… xảy ra trong lúc nguyên đơn bị bắt toà không xem xét vì cho rằng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 388. Quan điểm này cũng giống như lập luận của VKS Hà Nội trong những lần thương lượng bồi thường với ông Hoàng Minh Tiến trước đó.

Trong đơn kháng cáo, ông Tiến tiếp tục đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, buộc VKS Hà Nội bồi thường 13 khoản thiệt hại ông đưa ra, tổng cộng 2,7 tỷ đồng. Đó là khoản thiệt hại về vật chất, tinh thần mà ông và gia đình phải gánh chịu trong suốt thời gian vướng vòng lao lý. Đồng thời nhận lại ngôi nhà 6/95 Bạch Mai. Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm ông Tiến cũng chỉ được tòa ra phán quyết yêu cầu Viện kiểm sát khoản tiền 44,4 triệu đồng, nhiều hơn phán quyết sơ thẩm trên 15 triệu đồng. Phán quyết được đưa ra chưa thực sự thuyết phục được người bị oan cũng như những ai quan tâm theo dõi vụ việc. Theo ông Tiến thì số tiền đó không đủ chi phí cho việc ông đi lại viết đơn gửi các cơ quan chức năng trong suốt thời gian bị oan.

2. Một vụ án oan khác là việc ông Lương Ngọc Phi – Giám đốc Cty TNHH khai thác chế biến nông hải sản xuất khẩu Hoà Bình. Trong quá trình kinh doanh, Cty của ông Phi vay tiền của Ngân hàng Công thương tỉnh Thái Bình đầu tư cho nông dân địa phương trồng hơn 700 ha kê vàng để XK sang Nhật Bản. Đến hạn phải thanh toán, do chưa tới kỳ thu hoạch nên ông Phi khất nợ ngân hàng. Ngân hàng chưa kiện ông Phi nhưng ngày 1/5/1998, công an tỉnh Thái Bình đã bắt giam ông vì cho rằng đã có hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”. Ngày 28/9/1999, TAND tỉnh Thái Bình đã xét xử và tuyên phạt ông Phi 14 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và ba năm tù về tội trốn thuế.

Sau khi xem xét bản án, ngày 25/4/2000, TAND tối cao đã xử phúc thẩm, tuyên ông Phi không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Oan sai đã rõ, ngày 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bình thay mặt các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh tổ chức công khai xin lỗi ông Lương Ngọc Phi. Ngay sau đó ông Phi đã làm đơn đề nghị TAND tỉnh Thái Bình thương lượng bồi thường nhưng đến thời điểm hiện tại hai bên vẫn chưa ngồi được vào “bàn đàm phán” vì TAND tỉnh Thái Bình luôn lần lữa khất. Mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do ông Phi đưa ra ban đầu là 23.203.844.110 đồng (trên 23 tỷ đồng). Cũng cần phải nói thêm, để “xác định” được cơ quan… xin lỗi, VKSND và TAND Thái Bình đã đùn đẩy trách nhiệm cho nhau suốt cả năm trời…

3. Kỷ lục nhất có lẽ là trường hợp đòi bồi thường oan sai của ông Nguyễn Đình Chiến, người bị truy tố oan sai gần 10 năm (có 28 tháng bị tạm giam) trong “vụ án tranh cãi xuyên thế kỷ”. Ngày 2/8/2006, ông đã gửi đơn đến VKSND TP Cần Thơ yêu cầu bồi thường thiệt hại hơn 452 tỷ đồng. Trong đó, thiệt hại trực tiếp của ông là hơn 75 tỷ đồng, thiệt hại đối với 2 DN của ông là hơn 216 tỷ đồng, thiệt hại đối với các ngân hàng và DN liên quan là hơn 160 tỷ đồng. Nhiều khoản thiệt hại (của các ngân hàng, nợ của ông và các DN do ông làm chủ…) được lấy số liệu từ chính cáo trạng truy tố ông của VKSND TP Cần Thơ. Nguyên nhân vụ án oan sai đã được chỉ rõ tại các phiên tòa tuyên ông Chiến vô tội: Lẫn lộn vai trò DN với cá nhân trong hoạt động kinh doanh. Tính ra Nguyễn Đình Chiến đã tốn trên 500 triệu bay vào ra nhiều lần theo yêu cầu của các cơ quan tố tụng Cần Thơ, đó là chưa kể tiền thuê luật sư mỗi tháng 2 triệu đồng, trong gần 10 năm.

Thấy gì qua các vụ án oan

Qua một thời gian thực thi Nghị quyết 388 đã có hàng trăm vụ án oan được “giải oan” nhưng với cơ chế thương lượng như hiện nay và với số lượng án oan ngày một gia tăng thì chắc chắn trong thời gian tới toà án sẽ có thêm nhiều việc phải làm. Bởi theo trình tự của Nghị quyết 388 thì hầu hết các vụ oan sai đòi bồi thường sẽ phải dẫn nhau ra toà giải quyết, ngoại trừ những trường hợp có mức bồi thường thấp. Cơ chế giải quyết bồi thường oan sai theo Nghị quyết 388 vẫn hạn chế ở… thương lượng bởi một bên nhân danh nhà nước khó đảm bảo khách quan. Trong trường hợp người bị oan không thoả thuận được mức bồi thường sẽ kiện ra toà dân sự nhưng trong nhiều vụ việc toà sẽ phải tự xử hoặc toà cấp dưới xử toà cấp trên.

Có ý kiến cho rằng nên thành lập cơ quan độc lập đứng ra giải quyết bồi thường oan sai. Vì theo trình tự hiện nay và với những vụ bồi thường oan sai đã diễn ra, hầu hết đều chưa thoả mãn yêu cầu của người bị oan và thường vụ việc bị kéo dài hàng năm trời. Nếu không giải quyết dứt điểm, người bị oan lại phải vác đơn ra toà, tốn kém thời gian và tiền của. Thường thì mức bồi thường thấp hơn thực tế khá nhiều. Dẫu biết rằng cho dù có bồi thường như thế nào cũng không thể bù đắp được những gì mà người bị oan đã phải gánh chịu bởi những thiệt hại về tinh thần khó có thể lượng hoá thành tiền.

Các vụ án oan không chỉ làm mất niềm tin của người dân vào cơ quan hành pháp, tổn hại đến nền kinh tế, lãng phí tiền của nhà nước (trong trường hợp phải bồi thường với số tiền lớn). Điều đáng nói là trong rất nhiều vụ án oan, trách nhiệm thuộc về những người “cầm cân nảy mực”. Tuy nhiên, trong hầu hết các vụ án oan đã được công khai xin lỗi ít thấy đề cập đến trách nhiệm cá nhân của những “công bộc” ấy. Điển hình như trong vụ án của ông Lương Ngọc Phi – kiểm sát viên Đặng Đình Liêm là người được VKSND tỉnh Thái Bình giao nhiệm vụ kiểm sát vụ án đã cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án bằng cách rút khỏi hồ sơ tờ hoá đơn nộp thuế của ông Phi, làm cho ông mang tội trốn thuế. Mặc dù năm 2000 ông Phi đã được minh oan nhưng người trực tiếp đẩy ông vào con đường lao lý liên tục trong các năm 2001, 2002 và 2003 vẫn được công nhận là lao động giỏi.

Và cho đến giờ, người ta vẫn chờ một… chế tài đối với những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng.

Trong phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội mới đây, Chánh án TAND TC Nguyễn Văn Hiện đã thừa nhận: Trong vòng 4 – 5 năm qua ngành toà án đã phải cố gắng “vơ vét” tận dụng những lực lượng đã có để bổ nhiệm cho đủ. Ông Hiện cũng đưa ra những con số rất ảm đạm cho thấy ngành công an, kiểm sát còn thiếu điều tra viên, kiểm sát viên trầm trọng. Toà án thiếu tới 1.116 thẩm phán, công an thiếu trên 1.000 điều tra viên, VKSNDTC thiếu gần 1.000 kiểm sát viên, thẩm phán thiếu gần 900 người. Năm 2006, tòa án đã giải quyết gần 200.000 vụ, trong đó 5% (khoảng 9.000) bị hủy và sửa. nếu tính 5% thì có hàng nghìn bản án bị hủy, sửa. Trong số bản án bị sai, sửa, nguyên nhân chủ quan chiếm 30%. Với những bản án bị hủy sửa, tất cả những thẩm phán đều phải có tờ trình lý do vì sao bị sửa. Theo đó, tùy theo do mức độ, năng lực hay thiếu trách nhiệm, tiêu cực thì sẽ xử lý theo mức độ đó.

Nhưng án sửa và hủy bao nhiêu phần trăm là do năng lực của thẩm phán, bao nhiêu do có sự can thiệp của bàn tay vô hình làm cán cân công lý bị nghiêng thì chưa có con số thống kê chính thức.

Phan Nam (Theo Diễn đàn Doanh nghiệp ngày 01/01/2007)

SOURCE: www.vcci.com.vn

“388” VÀ HÀNH TRÌNH GIẢI OAN CỦA CÁC DOANH NHÂN

Khi giới doanh nhân trở thành chủ thể của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế – là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, họ được cả xã hội tôn vinh. Nhưng con đường chinh phục “nghiệp làm giàu” không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng.

Trong những năm qua do sự cố tình hay vô ý của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự khiến cho không ít doanh nhân rơi vào vòng lao lý. Nghị quyết 388/NQ-UBTV QH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra được coi là một trong nững chính sách tích cực của Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, trên thực tế vẫn còn không ít bất cập.

Ba “án oan” điển hình


Ông Hoàng Minh Tiến từng phát biểu: “Nếu như tôi không bị bắt thì chắc chắn đã có thể xây dựng được một nhà máy thuộc da lớn nhất khu vực Đông Nam Á, tạo việc làm cho hàng trăm lao động vì trước đó chúng tôi đã ký thoả thuận hợp tác với một đối tác nước ngoài”. Nhưng ở cái tuổi gần 60, sức khoẻ yếu, vốn liếng không còn thì có lẽ ước mơ của ông giờ chỉ là… mơ ước. May mắn hơn, ông Lương Ngọc Phi cũng bắt đầu gây lại được sự nghiệp theo đúng con đường mà ông đã… phải vào nhà giam nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn do bị mất thị trường và mất cơ hội tốt nhất. Còn với ông Chiến – bản lĩnh của doanh nhân đã được khẳng định bởi trong thời gian chạy đôn chạy đáo minh oan ông cũng đã kịp gây dựng lên DN Bắc Hà, trả được 20 tỷ đồng cho ngân hàng để giải chấp tài sản. Tuy vậy, thời cơ tốt nhất đã qua.


1. Tháng 7/2004, ông Hoàng Minh Tiến là người bị oan đầu tiên được VKS Hà Nội xin lỗi theo tinh thần Nghị quyết 388. Sau đó “ông yêu cầu VKS bồi thường 2,2 tỷ đồng cho thời gian vướng vòng lao lý theo tinh thần Nghị quyết 388 nhưng chỉ được VKS chấp nhận “thanh toán” gần 28 triệu, đồng thời bác 12 khoản khác ông Tiến yêu cầu, trong đó có việc trả lại căn nhà 6/95 Bạch Mai. Sau 3 lần thương lượng không thành, ông Tiến kiện VKS Hà Nội ra Toà án. Ông cũng là trường hợp đầu tiên của thành phố Hà Nội làm đơn kiện VKS ra toà theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự của Nghị quyết 388. Vì vậy, đây là vụ việc được dư luận đặc biệt quan tâm.Tại phiên sơ thẩm ngày 16/6/2005, TAND Hai Bà Trưng đã bác 12 trong 13 khoản ông Tiến yêu cầu, chỉ chấp nhận khoản bồi thường gần 28 triệu đồng cho hơn 400 ngày bị tạm giữ và 900 ngày tại ngoại (bị quản thúc) của ông Tiến. Các thiệt hại về nhà cửa, xưởng sản xuất… xảy ra trong lúc nguyên đơn bị bắt toà không xem xét vì cho rằng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 388. Quan điểm này cũng giống như lập luận của VKS Hà Nội trong những lần thương lượng bồi thường với ông Hoàng Minh Tiến trước đó.

Trong đơn kháng cáo, ông Tiến tiếp tục đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, buộc VKS Hà Nội bồi thường 13 khoản thiệt hại ông đưa ra, tổng cộng 2,7 tỷ đồng. Đó là khoản thiệt hại về vật chất, tinh thần mà ông và gia đình phải gánh chịu trong suốt thời gian vướng vòng lao lý. Đồng thời nhận lại ngôi nhà 6/95 Bạch Mai. Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm ông Tiến cũng chỉ được tòa ra phán quyết yêu cầu Viện kiểm sát khoản tiền 44,4 triệu đồng, nhiều hơn phán quyết sơ thẩm trên 15 triệu đồng. Phán quyết được đưa ra chưa thực sự thuyết phục được người bị oan cũng như những ai quan tâm theo dõi vụ việc. Theo ông Tiến thì số tiền đó không đủ chi phí cho việc ông đi lại viết đơn gửi các cơ quan chức năng trong suốt thời gian bị oan.

2. Một vụ án oan khác là việc ông Lương Ngọc Phi – Giám đốc Cty TNHH khai thác chế biến nông hải sản xuất khẩu Hoà Bình. Trong quá trình kinh doanh, Cty của ông Phi vay tiền của Ngân hàng Công thương tỉnh Thái Bình đầu tư cho nông dân địa phương trồng hơn 700 ha kê vàng để XK sang Nhật Bản. Đến hạn phải thanh toán, do chưa tới kỳ thu hoạch nên ông Phi khất nợ ngân hàng. Ngân hàng chưa kiện ông Phi nhưng ngày 1/5/1998, công an tỉnh Thái Bình đã bắt giam ông vì cho rằng đã có hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”. Ngày 28/9/1999, TAND tỉnh Thái Bình đã xét xử và tuyên phạt ông Phi 14 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và ba năm tù về tội trốn thuế.

Sau khi xem xét bản án, ngày 25/4/2000, TAND tối cao đã xử phúc thẩm, tuyên ông Phi không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Oan sai đã rõ, ngày 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bình thay mặt các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh tổ chức công khai xin lỗi ông Lương Ngọc Phi. Ngay sau đó ông Phi đã làm đơn đề nghị TAND tỉnh Thái Bình thương lượng bồi thường nhưng đến thời điểm hiện tại hai bên vẫn chưa ngồi được vào “bàn đàm phán” vì TAND tỉnh Thái Bình luôn lần lữa khất. Mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do ông Phi đưa ra ban đầu là 23.203.844.110 đồng (trên 23 tỷ đồng). Cũng cần phải nói thêm, để “xác định” được cơ quan… xin lỗi, VKSND và TAND Thái Bình đã đùn đẩy trách nhiệm cho nhau suốt cả năm trời…

3. Kỷ lục nhất có lẽ là trường hợp đòi bồi thường oan sai của ông Nguyễn Đình Chiến, người bị truy tố oan sai gần 10 năm (có 28 tháng bị tạm giam) trong “vụ án tranh cãi xuyên thế kỷ”. Ngày 2/8/2006, ông đã gửi đơn đến VKSND TP Cần Thơ yêu cầu bồi thường thiệt hại hơn 452 tỷ đồng. Trong đó, thiệt hại trực tiếp của ông là hơn 75 tỷ đồng, thiệt hại đối với 2 DN của ông là hơn 216 tỷ đồng, thiệt hại đối với các ngân hàng và DN liên quan là hơn 160 tỷ đồng. Nhiều khoản thiệt hại (của các ngân hàng, nợ của ông và các DN do ông làm chủ…) được lấy số liệu từ chính cáo trạng truy tố ông của VKSND TP Cần Thơ. Nguyên nhân vụ án oan sai đã được chỉ rõ tại các phiên tòa tuyên ông Chiến vô tội: Lẫn lộn vai trò DN với cá nhân trong hoạt động kinh doanh. Tính ra Nguyễn Đình Chiến đã tốn trên 500 triệu bay vào ra nhiều lần theo yêu cầu của các cơ quan tố tụng Cần Thơ, đó là chưa kể tiền thuê luật sư mỗi tháng 2 triệu đồng, trong gần 10 năm.

Thấy gì qua các vụ án oan

Qua một thời gian thực thi Nghị quyết 388 đã có hàng trăm vụ án oan được “giải oan” nhưng với cơ chế thương lượng như hiện nay và với số lượng án oan ngày một gia tăng thì chắc chắn trong thời gian tới toà án sẽ có thêm nhiều việc phải làm. Bởi theo trình tự của Nghị quyết 388 thì hầu hết các vụ oan sai đòi bồi thường sẽ phải dẫn nhau ra toà giải quyết, ngoại trừ những trường hợp có mức bồi thường thấp. Cơ chế giải quyết bồi thường oan sai theo Nghị quyết 388 vẫn hạn chế ở… thương lượng bởi một bên nhân danh nhà nước khó đảm bảo khách quan. Trong trường hợp người bị oan không thoả thuận được mức bồi thường sẽ kiện ra toà dân sự nhưng trong nhiều vụ việc toà sẽ phải tự xử hoặc toà cấp dưới xử toà cấp trên.

Có ý kiến cho rằng nên thành lập cơ quan độc lập đứng ra giải quyết bồi thường oan sai. Vì theo trình tự hiện nay và với những vụ bồi thường oan sai đã diễn ra, hầu hết đều chưa thoả mãn yêu cầu của người bị oan và thường vụ việc bị kéo dài hàng năm trời. Nếu không giải quyết dứt điểm, người bị oan lại phải vác đơn ra toà, tốn kém thời gian và tiền của. Thường thì mức bồi thường thấp hơn thực tế khá nhiều. Dẫu biết rằng cho dù có bồi thường như thế nào cũng không thể bù đắp được những gì mà người bị oan đã phải gánh chịu bởi những thiệt hại về tinh thần khó có thể lượng hoá thành tiền.

Các vụ án oan không chỉ làm mất niềm tin của người dân vào cơ quan hành pháp, tổn hại đến nền kinh tế, lãng phí tiền của nhà nước (trong trường hợp phải bồi thường với số tiền lớn). Điều đáng nói là trong rất nhiều vụ án oan, trách nhiệm thuộc về những người “cầm cân nảy mực”. Tuy nhiên, trong hầu hết các vụ án oan đã được công khai xin lỗi ít thấy đề cập đến trách nhiệm cá nhân của những “công bộc” ấy. Điển hình như trong vụ án của ông Lương Ngọc Phi – kiểm sát viên Đặng Đình Liêm là người được VKSND tỉnh Thái Bình giao nhiệm vụ kiểm sát vụ án đã cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án bằng cách rút khỏi hồ sơ tờ hoá đơn nộp thuế của ông Phi, làm cho ông mang tội trốn thuế. Mặc dù năm 2000 ông Phi đã được minh oan nhưng người trực tiếp đẩy ông vào con đường lao lý liên tục trong các năm 2001, 2002 và 2003 vẫn được công nhận là lao động giỏi.

Và cho đến giờ, người ta vẫn chờ một… chế tài đối với những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng.

Trong phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội mới đây, Chánh án TAND TC Nguyễn Văn Hiện đã thừa nhận: Trong vòng 4 – 5 năm qua ngành toà án đã phải cố gắng “vơ vét” tận dụng những lực lượng đã có để bổ nhiệm cho đủ. Ông Hiện cũng đưa ra những con số rất ảm đạm cho thấy ngành công an, kiểm sát còn thiếu điều tra viên, kiểm sát viên trầm trọng. Toà án thiếu tới 1.116 thẩm phán, công an thiếu trên 1.000 điều tra viên, VKSNDTC thiếu gần 1.000 kiểm sát viên, thẩm phán thiếu gần 900 người. Năm 2006, tòa án đã giải quyết gần 200.000 vụ, trong đó 5% (khoảng 9.000) bị hủy và sửa. nếu tính 5% thì có hàng nghìn bản án bị hủy, sửa. Trong số bản án bị sai, sửa, nguyên nhân chủ quan chiếm 30%. Với những bản án bị hủy sửa, tất cả những thẩm phán đều phải có tờ trình lý do vì sao bị sửa. Theo đó, tùy theo do mức độ, năng lực hay thiếu trách nhiệm, tiêu cực thì sẽ xử lý theo mức độ đó.

Nhưng án sửa và hủy bao nhiêu phần trăm là do năng lực của thẩm phán, bao nhiêu do có sự can thiệp của bàn tay vô hình làm cán cân công lý bị nghiêng thì chưa có con số thống kê chính thức.

Phan Nam (Theo Diễn đàn Doanh nghiệp ngày 01/01/2007)

SOURCE: www.vcci.com.vn

XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI CỦA DOANH NGHIỆPTRONG TRƯỜNG HỢP GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ OAN SAI

(Trích tham luận của ông lương Ngọc Phi Giám đốc công ty TNHH thương mại Thanh Phong tại một Hội thảo về bồi thường Nhà nước. SOURCE: WWW.VCCI.COM.VN)

Kính thưa hội nghị !
Tên tôi là : Lương Ngọc Phi 58 tuổi
Địa chỉ : Số nhà 28, tổ 16, phường Quang Trung – Thành phố Thái Bình.
Chức vụ : Giám đốc công ty TNHH Thương mại Thanh Phong.
Kính thưa hội nghị !
– Ngày 1/5/1998 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình khởi tố vụ án, khởi tố bị can bắt giam khẩn cấp đối với tôi về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” theo điều 135 Bộ luật hình sự năm 1985.
– Quá trình bắt giam tôi điều tra về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình tiếp tục khởi tố bổ sung đối với tôi về tội “trốn thuế” theo điều 169 Bộ luật hình sự năm 1985.
– Ngày 27/4/1999 VKSND Tỉnh Thái Bình đã ra cáo trạng truy tố tôi 2 tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và tội “trốn thuế”.
– Ngày 29/9/1999 Toà sơ thẩm Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình đưa vụ án ra xét xử quy kết tôi phạm 2 tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và tội “trốn thuế” tuyên phạt 17 năm tù giam.
– Sau khi xét xử sơ thẩm, tôi đã làm đơn kháng cáo kêu oan cả 2 tội tới Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
– Ngày 25, 26/4/2000 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao đã xét xử lại vụ án và tuyên tôi không phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” huỷ phần bản án sơ thẩm về tội “trốn thuế” để điều tra lại.
– Ngày 16/10/2006, sau thời gian dài điều tra lại tội “trốn thuế” Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với tôi về tội “trốn thuế” theo khoản 2 điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Như vậy tôi hoàn toàn bị oan, do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Với khoảng thời gian rất dài từ khi khởi tố bị can bắt giam tôi 1/5/1998 đến 16/10/2006 là 8 năm 6 tháng = 3096 ngày, trong đó có 35 tháng giam oan và hơn 68 tháng tại ngoại bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Kính thưa hội nghị !
– Là người bị hàm oan, bị bắt giam suốt thời gian dài tôi biết rất rõ những thiệt hại về uy tín, danh dự, kinh tế, sức khoẻ, tinh thần của bản thân mình và gia đình mình. Những thiệt hại đó ảnh hưởng của nó còn rất lâu dài, nó đeo đẳng theo suốt cuộc đời của tôi chưa có hồi kết thúc. Tại hiến pháp năm 1992 ghi nhận tại các điều 72 và 74 “người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”.
– Ngày 17/3/2003 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 11 đã ra nghị quyết số 388 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Tuy nhiên đó mới chỉ là trách nhiệm của nhà nước bồi thường đối với người bị oan mà thôi, còn trách nhiệm bị thiệt hại toàn diện khi giám đốc – người đại diện theo pháp luật bị bắt oan thì nhà nước bồi thường cho doanh nghiệp như thế nào ? mà những thiệt hại đó vô cùng to lớn.
Kính thưa hội nghị !
– Năm 1992 chúng tôi gồm có 13 thành viên góp 1 tỷ năm trăm bốn mươi triệu đồng để cùng nhau kinh doanh sản xuất, được UBND Tỉnh Thái Bình ra quyết định thành lập Công ty TNHH Hoà Bình với ngành nghề kinh doanh sản xuất nông sản xuất khẩu cơ cấu tổ chức công ty TNHH Hoà Bình với 13 hành viên sáng lập, có hội đồng quản trị, tôi là người được các thành viên bầu làm giám đốc công ty – người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
– Từ năm 1992 đến năm 1998 doanh nghiệp do tôi làm giám đốc kinh doanh rất hiệu quả, được UBND Tỉnh Thái Bình giao cho dự án sản xuất nông sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tạo điều kiện công ăn việc làm cho hàng vạn người dân làm nông nghiệp trong việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn làm ra hàng hoá nông sản, xuất khẩu cho nước ngoài đồng thời nâng cao giá trị thu nhập trên đầu diện tích.
– Việc làm ăn của công ty đang trên đà phát triển, tạo dựng được kế hoạch sản xuất hàng nghìn ha nông sản, tìm kiếm ổn định được đối tác nước ngoài cho việc xuất khẩu. Có uy tín trên thương trường, được ngân hàng tín nhiệm cho vay vốn, được bạn bè khách hàng gần xa tin tưởng, được UBND Tỉnh Thái Bình đánh giá là doanh nghiệp kinh doanh đúng hướng, đạt hiệu quả, ấy vậy mà chỉ một thời gian ngắn ngủi, các cơ quan tố tụng hình sự tỉnh Thái Bình đã hình sự hoá dân sự vụ án quy kết bắt giam giám đốc công ty, niêm phong nhà cửa kho tàng, kê biên toàn bộ tài sản, tịch thu con dấu của doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, phao tin thất thiệt tuyên truyền báo chí nói xấu doanh nghiệp, tổ chức phát mại tài sản với giá rẻ mạt, đưa doanh nghiệp nhanh chóng tới phá sản hoàn toàn.
Kính thưa hội nghị !
+ Tại thời điểm khi tôi là giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự oan thì thiệt hại thực tế xảy ra đối với doanh nghiệp vô cùng to lớn.

1. Thiệt hại về tinh thần.
– Đặc thù của loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH với cơ cấu tổ chức các thành viên trong doanh nghiệp là anh em ruột thịt, cha, con, vợ, chồng, bạn bè thân thiết cùng góp vốn làm ăn, cho nên khi giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự thì các thành viên doanh nghiệp bị hoang mang, chán nản, giao động bị tai tiếng, bị xa lánh, bị các cơ quan tố tụng điều tra, xét hỏi, doạ dẫm, lợi dụng vợ con ốm đau bệnh tật, không ai còn thiết tha làm ăn gì nữa.
2. Thiệt hại về uy tín doanh nghiệp.
– Để xây dựng doanh nghiệp có uy tín trong làm ăn như doanh nghiệp tôi thì cũng phải mất thời gian khá dài, doanh nghiệp tôi đã mua bán hàng hoá với nhiều bạn hàng, nhiều tổng công ty trong nước, nhiều khách hàng nước ngoài rất có uy tín. Trong việc thanh toán tiền hàng, ứng vốn đầu tư đảm bảo chất lượng hàng hoá, quan hệ tín dụng với ngân hàng rất uy tín. Từ khi thành lập đến khi tôi bị bắt, riêng về mặt hàng nông sản, các bạn hàng lớn trong nước đều biết tên tuổi công ty tôi, họ rất tin tưởng khi doanh nghiệp tôi mua hàng hoặc bán hàng cho họ. Nhưng khi giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự đến nay thì tên tuổi doanh nghiệp tôi bị lu mờ, mọi giao dịch đều khó khăn ai ai cũng cho là doanh nghiệp bị phá sản.
3. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất.
– Khi bắt giam giám đốc, các cơ quan tố tụng đã tịch thu con dấu tròn của doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho các thành viên và người lao động trong doanh nghiệp mất công ăn việc làm suốt 3 năm làm thiệt hại thu nhập thực tế bị mất từ tiền lương của 13 hành viên hơn 700.000.000đ (chưa kể thu nhập của người lao động thời vụ bị mất việc).
Cộng : 700.000.000 đồng.
4. Thiệt hại về tài sản.
a. Thiệt hại do không thực hiện được hợp đồng với đối tác nước ngoài.
Đầu năm 1998 doanh nghiệp tôi ký hợp đồng, sản xuất kê vàng ở 27 HTX trong tỉnh Thái Bình và 4 HTX ở tỉnh Hà Nam với diện tích gần 700ha, sản lượng thu hoạch khoảng 2000 tấn kê hạt với giá doanh nghiệp mua vào 3.000.000đ/tấn. Trước đó doanh nghiệp đã ký hợp đồng bán cho khách hàng Nhật Bản và Hàn Quốc 450USD/tấn tương đương = 5.400.000đ/tấn, do không thực hiện được hợp đồng cho nên đã gây thiệt hại cho doanh nghiệp 5.000.000.000đ lợi nhuận .
Cộng = 5.000.000.0000 đồng
b. Thiệt hại do không thực hiện được hợp đồng mua hàng hoá của HTX
– Sau khi ký hợp đồng bán hàng cho khách nước ngoài xong thì doanh nghiệp triển khai sản xuất, ứng vốn, giống, phân bón đầu tư trước cho cho các HTX với giá trị hàng trăm triệu đồng. Nhưng sau khi giám đốc bị bắt, hợp đồng không thực hiện được, doanh nghiệp không mua sản phẩm cho HTX, vì vậy HTX không thanh toán giá trị vật tư đã ứng làm cho doanh nghiệp bị thiệt hại 235.000.000 đồng.
Cộng = 235.000.000 đồng
– Sản phẩm các HTX không tiêu thụ được bị ứ đọng nhiều năm, bán tiêu thụ nội địa từ 1.500.000đ/tấn đến 2.000.000đ/tấn, hàng vạn hộ lao động bị thiệt hại, cơ cấu kinh tế ở các vùng nguyên liệu đảo lộn phải chuyển đổi sang sản xuất cây trồng kém hiệu quả, không tập trung, mất lòng tin vào chính sách của nhà nước. Các HTX bị thiệt hại hàng tỷ đồng.
c. Thiệt hại thực tế từ tài sản bị thu giữ, bị tịch thu, bị kê biên bán phát mại.
– Sau khi tôi bị bắt, các cơ quan tố tụng tỉnh Thái Bình đã tịch thu của doanh nghiệp tôi tiền
mặt = 504.000.000đ
– Kê biên bán phát mại 281.000kg hạt ý rĩ với giá trị mua vào tại thời điểm
= 1.800.000.000đ
– Kê biên bán phát mại 31.000kg hạt kê giống Nhật Bản giá trị mua vào tại thời điểm = 1.550.000.000đ.
– Kê biên bán phát mại 1 xe du lịch 4 chỗ ngồi còn mới giá trị mua vào tại thời điểm = 450.000.000đ.
Tổng cộng : 4.304.000.000 đ
Ấy thế mà toàn bộ tài sản trên bán với giá rẻ mạt chỉ thu về được với số tiền
941.000.000đ.
Các cơ quan tố tụng đã làm thiệt hại cho doanh nghiệp = 3.363.000.000đ
5. Thiệt hại do các cơ quan tố tụng bắt giam oan các bạn hàng làm ăn với doanh nghiệp.
– Khi Giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự oan, các cơ quan tố tụng lại bắt giam luân tất cả, các bạn hàng đang làm ăn với doanh nghiệp còn nợ nần tiền hàng của doanh nghiệp làm cho họ bị phá sản không có khả năng thanh toán nợ cho doanh nghiệp được nữa, làm thiệt hại cho doanh nghiệp : 2.077.000.000đồng.
Cộng : 2.077.000.000 đồng.
6. Thiệt hại do không được sử dụng khai thác tài sản.
a. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay bạn hàng 3% tháng khoản tiền cơ quan tố tụng tịch thu 504.000.000đ kể từ khi giám đốc bị bắt đến nay 108 tháng gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 1.650.000.000 đồng.
b. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay ngân hàng 1,75%/ tháng khoản tiền đầu tư cho 27 hợp tác xã trồng kê 235.000.000đ từ khi giám đốc bị bắt đến nay 108 tháng gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 444.000.000đ
c. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay ngân hàng 1,75%/ tháng khoản tiền mua lô hàng ý rĩ 281.000kg giá trị 1.800.000đ từ khi giám đốc bị bắt đến nay gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 3.403.000.000 đồng.
d. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng 1,75%/ tháng khoản tiền mua lô hàng kê giống trị giá 1.550.000.000đ từ khi giám đốc bị bắt đến nay gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 2.929.000.000 đồng.
e. Doanh nghiệp phải trả lãi vay ngân hàng 1,75%/tháng khoản tiền 2.077.000.000đ khách hàng nợ bị cơ quan tố tụng bắt oan, 108 tháng gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 3.926.000.000đồng.
Tổng cộng : (1.650.000.000đ + 444.000.000đ + 3.403.000.000đ
+ 2.929.000.000đ +3.926.000.000đ) = 12.352.000.000đ
Như vậy : Tổng thiệt hại các cơ quan tố tụng gây ra cho doanh nghiệp tôi là:
1. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất = 700.000.000đ
2. Thiệt hại do không thực hiện hợp đồng nước ngoài = 5.000.000.000đ
3. Thiệt hại do không thực hiện hợp đồng với HTX = 235.000.000đ
4. Thiệt hại do bắt oan đối tác làm ăn bị phá sản = 2.077.000.000đ
5. Thiệt hại tài sản tịch thu, kê biên, bán phát mại = 3.363.000.000đ
6. Thiệt hại do không được sử dụng khai thác tài sản và lãi phát sinh phải trả nợ ngân hàng: = 12.352.000.000đ
Cộng = 23.727.000.000đ
(Hai mươi ba tỷ bẩy trăm hai mươi bẩy triệu đồng chẵn)
Đây là khoản tiền rất lớn mà Nhà nước phải bồi thường cho doanh nghiệp do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra trong khi thi hành công vụ.
Kính thưa hội nghị !
Đã gần 10 năm qua, kể từ ngày tôi bị các cơ quan tố tụng tỉnh Thái Bình khởi tố điều tra, truy tố, xét xử, bắt giam oan đối với tôi 1/5/1998 thì việc xác định cơ quan tố tụng nào phải giải quyết bồi thường thiệt hại vô cùng khó khăn.
Thứ nhất : Các cơ quan tố tụng khi đã biết vụ án bị oan rồi thì họ co cụm lại với nhau, tìm cách trốn tránh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cố tìm những từ ngữ chưa hoàn chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật để lách luật.
Thứ 2: Khi đã biết rõ phải bồi thường rồi thì họ lại đổ lỗi cho nhau, đổ lỗi cho nhận thức, cơ quan này đùn đẩy cho cơ quan tố tụng khác và cuối cùng họ đẩy trách nhiệm cho tập thể 3 ngành tố tụng.
Thứ 3: Khi đã xác định chính thức cơ quan nào phải chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường, thì họ kéo dài thời gian thương lượng, gây khó dễ cho người bị oan. “Ngày 13/6/2006 toà án nhân dân tỉnh Thái Bình chính thức tổ chức buổi trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai đối với tôi, nhưng sau đó trải qua 6 lần thương lượng kéo dài gần 1 năm nữa, ngày 8/5/2007 Toà án mới ra được biên bản thương lượng không thành”. Cơ quan giải quyết bồi thường thiếu tinh thần hợp tác họ vẫn nhìn tôi bằng con mắt là kẻ phạm tội, chánh án uỷ quyền cho 2 thẩm phán thương lượng giải quyết bồi thường, nhưng hội đồng thương lượng bị vô hiệu hoá, chẳng giải quyết được gì cả, chánh án quyết định tất cả.
Sự nhận thức của cơ quan tố tụng là đổ lỗi cho tập thể, chẳng cá nhân ai việc gì cả. Người bị oan muốn kiện đến đâu thì kiện, các cơ quan tố tụng chẳng bao giờ quan tâm tới đời sống của người bị oan và doanh nghiệp bị thiệt hại đang vô cùng khó khăn.
Kính thưa hội nghị !
– Việc chứng minh thiệt hại của doanh nghiệp không có gì khó khăn, mọi thiệt hại đều có thể tính toán bằng con số được. Cái khó của việc giải quyết bồi thường là các văn bản pháp luật ra đời còn nhiều kẽ hở, còn bất cập, chưa rõ ràng, gây thiệt hại cho người bị oan và doanh nghiệp.
Thiệt hại tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Trong khi các doanh nghiệp đều có hệ thống kế toán, chứng từ sổ sách ghi chép đầy đủ theo quy định kế toán thống kê.
– Tài sản cố định của doanh nghiệp sử dụng, có khấu hao giá trị sử dụng còn lại, nếu khi phát mại dưới mức giá trị của nó thì Nhà nước phải bồi thường giá trị tài sản và lãi vay hợp pháp tới khi giải quyết bồi thường xong.
– Tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở, nếu khi phát mại không đúng giá trị thực của nó thì Nhà nước phải bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường.
– Riêng tài sản lưu động là hàng hoá, tiền bạc bị xâm phạm, bị phát mại thì nhà nước phải bồi thường bằng giá trị mua vào bán ra theo giá thị trường tại thời điểm thu giữ, đồng thời phải bồi thường cả khoản lãi suất tiền vay hợp pháp của doanh nghiệp tới khi giải quyết bồi thường xong.
Thí dụ: Tại điểm a, khoản 2 điều 8 Nghị quyết 388 trong việc trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản bị xâm phạm, có ghi rõ: “Trong trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất, bị hư hỏng, bị huỷ hoại thì thiệt hại được xác định tương đương với giá trị tài sản bị thiệt hại tại thời điểm giải quyết bồi thường”. Như vậy đối với vụ án oan của tôi thì từ khi tôi bị bắt đến nay đã gần 10 năm nếu nhà nước giải quyết bồi thường cho tôi số tiền tài sản mà giá trị thị trường mặt hàng lúc đó tại thời điểm lại thấp hơn lúc mua cách đây gần 10 năm thì giải quyết thế nào? mà số tiền này vay ngân hàng vẫn sinh lãi, làm sao doanh nghiệp trả đủ Ngân hàng cả gốc và lãi được. Hơn nữa hiện trạng tại các bản án của Toà xét xử tuyên về phần dân sự lại ghi rằng : “Kể từ ngày có đơn thi hành án, hàng tháng … A… còn phải chịu một khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành xong theo tỷ lệ lãi nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định”. Do vậy khi giám đốc doanh nghiệp bị oan, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bị thu giữ, bị kê biên, bán phát mại thì Nhà nước phải bồi thường toàn bộ tài sản đó bằng giá trị bán ra tại thời điểm thu giữ và phải bồi thường cả khoản lãi hợp pháp của tổng giá trị tài sản tới khi giải quyết bồi thường xong. Có như vậy việc nhà nước bồi thường cho doanh nghiệp mới được công bằng.
Việc chứng minh thiệt hại do không được khai thác từ tài sản, không phải là không chứng minh được một khi giám đốc bị bắt oan thì các đối tác làm ăn của doanh nghiệp thường xù nợ không hoàn trả các khoản tài sản đã đầu tư, họ lấy lý do đổ lỗi cho doanh nghiệp. Vì vậy Nhà nước phải bồi thường cả khoản tiền này và lãi phát sinh thì doanh nghiệp mới không thiệt thòi.
Kính thưa hội nghị !
Để xây dựng luật bồi thường Nhà nước, là người bị hàm oan doanh nghiệp tôi đã bị thiệt haị rất lớn vì vậy tôi kiến nghị :
1. Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, sự hoạt động đa dạng của các thành phần kinh tế, nâng cao trách nhiệm của các công chức nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền, tôn trọng dân chủ bình đẳng của mọi người, mọi doanh nghiệp để quy định việc nhà nước phải bồi thường cho doanh nghiệp về các thiệt hại mà mình gây ra trong quá trình thi hành công vụ. Tôi đề nghị các cơ quan có thẩm quyền khẩn trương xây dựng và ban hành luật bồi thường Nhà nước.
2. Đề nghị xây dựng luật bồi thường nhà nước là phạm vi bồi thường cho doanh nghiệp toàn diện, mọi thiệt hại mà cơ quan Nhà nước gây ra, kể cả khi cán bộ, công chức, viên chức không có lỗi trong khi thi hành công vụ.
3.Đề nghị xử lý nghiêm minh người đứng đầu cơ quan gây ra thiệt hại và cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước gây ra thiệt hại trên cơ sở định lượng, định khung cụ thể. “Nếu không như vậy thì họ sẽ đổ lỗi cho tập thể hoặc đổ lỗi do nhận thức pháp luật…”.
Cuối cùng tôi chân thành cảm ơn Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi khoảng thời gian dài để nêu nên được ý kiến của mình góp phần nhỏ bé vào công việc xây dựng luật bồi thường nhà nước, trong đó có việc nhà nước bồi thường cho doanh nghiệp một khi giám đốc doanh nghiệp bị các cơ quan tố tụng khởi tố, truy tố xét xử oan..
Kính chúc hội nghị thành công tốt đẹp !
Thái Bình, ngày 17 tháng 7 năm 2007
Lương Ngọc Phi
Giám đốc C.ty TNHH Thương mại Thanh Phong
Điện thoại : 0913.019.576

TÀI LIỆU THAM KHẢO
SỰ VIỆC OAN SAI CỦA ÔNG LƯƠNG NGỌC PHI VÀ CÔNG TY TNHH HÒA BÌNH (TỈNH THÁI BÌNH)
Khởi đầu của vụ án oan
Cụng ty Khai thỏc chế biến nụng hải sản xuất nhập khẩu Hũa Bỡnh (sau đây viết tắt là Cty Hũa Bỡnh) được thành lập từ năm 1992, do ông Lương Ngọc Phi làm giám đốc đó trở thành một trong số ớt cụng ty lớn ở Thỏi Binh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Ông Lương Ngọc Phi đó thay mặt cụng ty viết dự ỏn cú tờn “Sản xuất nụng sản xuất khẩu kờ hạt – vừng đen (mè) 1996 – 2001”. Ngân hàng Công thương Thái Bỡnh đó cho Cty Hũa Bỡnh vay tổng số tiền gần 5,5 tỉ đồng.
Năm 1998, do bị một số đối tác chậm thanh toán nên Cty Hũa Bỡnh gặp khú khăn và đó phỏt sinh nợ quỏ hạn đối với Ngân hàng Công thương Thái Bỡnh số tiền 5,5 tỉ đồng.
Cụng an tỉnh Thỏi Bỡnh ra quyết định khởi tố vụ án hỡnh sự, khởi tố bị can Giỏm đốc Lương Ngọc Phi về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”.
Ngày 1/5/1998, ụng Phi bị bắt khẩn cấp.
Ngày 6/7/1998, Cơ quan CSĐT, Công an tỉnhkhởi tố ông Phi thêm tội “Trốn thuế”.
Công an đó phỏt mại hàng loạt tài sản bị kờ biờn của Cty trong thời gian khởi tố vụ ỏn gồm 20 tấn kờ giống, 1 tấn vừng, 10 tấn kờ xuất khẩu trị giỏ 1,4 tỉ đồng, nhưng chỉ được hội đồng định giá bán hơn 28 triệu đồng; lô hàng ý dĩ 290 tấn trị giỏ hơn 2 tỉ, nhưng chỉ phát mại được 300 triệu đồng; chiếc xe ôtô vừa mua xong của ông Phi trị giá 25.000USD bị bán với giá 120 triệu đồng.
Tháng 9/1999 TAND tỉnh tuyên phạt 14 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và 3 năm tù tội “Trốn thuế”. Tổng mức hỡnh phạt mà ụng Phi phải chấp hành là 17 năm tù và buộc ông phải bồi hoàn số tiền 475 triệu đồng tiền “trốn thuế”.
Ngày 26/4/2000, Tũa phỳc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đó xử phỳc thẩm vụ ỏn núi trờn. Sau khi xem xột, nghiờn cứu hồ sơ, Hội đồng xét xử đó kết luận: “Việc ụng Phi chưa trả tiền cho Nhà nước là do các nguyên nhân khách quan, các nguyên nhân này là có thật và chính đáng. Do đó, hành vi của ông Phi không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Số tiền ông Phi cũn nợ ngõn hàng, trỏch nhiệm của ụng Phi cựng với Cty Khai thỏc chế biến nụng hải sản xuất khẩu Hũa Bỡnh phải thanh toỏn, nhưng đó chỉ là trách nhiệm dân sự”. Cũn với tội “Trốn thuế”, Tũa ỏn tối cao trả hồ sơ về Tũa ỏn tỉnh Thỏi Bỡnh để “giải quyết lại vụ án từ giai đoạn điều tra”. Với tội trốn thuế, sau 2 lần Tũa tối cao trả lại hồ sơ, Công an Thái Bỡnh ra bản kết luận chớnh xỏc: “Cty Hũa Bỡnh chỉ thiếu 4,8 triệu đồng tiền thuế”. Ngày 12/12/2003 VKSND tỉnh mới quyết định đỡnh chỉ điều tra tội trốn thuế.
Ngày 30/3/2001 ông Phi được trả tự do. Ông Phi đó được minh oan sau 1.066 ngày ngồi tù và trong tỡnh trạng mất sạch tài sản.
Quá trình đòi bồi thường thiệt hại
Cuộc họp giữa 3 ngành: Cụng an, Toà ỏn, Viện Kiểm sỏt tỉnh ngày 22/11/2004 thống nhất ụng Phi khụng thuộc diện bồi thường theo Nghị quyết 388 của UB Thường vụ QH (UBTVQH). Tuy nhiên, tại cuộc họp lónh đạo liên ngành giữa Tũa ỏn NDTC, Bộ Cụng an, VKSND tối cao ngày 25/10/2005 đó thống nhất xỏc định ông Lương Ngọc Phi bị oan ở cả hai tội đó bị khởi tố điều tra nên được áp dụng Nghị quyết 388 để bồi thường thiệt hại. Nhưng do cũn cú nhiều quan điểm khác nhau về xác định cơ quan nào đứng ra giải quyết bồi thường nên theo đề nghị của Thường trực Uỷ ban Pháp luật Quốc hội ngày 13/12/2005, một cuộc họp liên ngành với sự có mặt của UB Pháp luật của Quốc hội và Ban Nội chính trung ương được tổ chức. Kết quả, cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại cho ông Lương Ngọc Phi là TAND tỉnh Thái Bình.
Mói đến ngày 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bỡnh đó chớnh thức tổ chức buổi xin lỗi doanh nhân Lương Ngọc Phi, Giám đốc Công ty Khai thác chế biến nông hải sản xuất nhập khẩu Hũa Bỡnh (Thái Bình) vỡ đó kết ỏn oan sai ụng Phi hai tội danh “Lạm dụng tớn nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và “Trốn thuế”.
Từ mức đòi bồi thường oan sai là 18,3 tỉ đồng năm 2004, đến nay mức đũi bồi thường đó lờn đến con số hơn 23 tỉ đồng. Tất cả những con số đũi bồi thường đều được ông Phi thống kê rành mạch, có cơ sở và dựa vào Nghị quyết 388 .
Căn cứ tính thiệt hại:
Thời điểm ông Phi bị bắt Cty TNHH Hoà Bỡnh là một trong số ớt DN làm ăn hiệu quả của tỉnh Thái Bỡnh và thường xuyên tạo việc làm cho hàng nghỡn lao động. Cty Hũa Bỡnh khụng hoạt động được và lâm vào cảnh bị phá sản hoàn toàn. Hàng ngàn hộ nông dân nghèo ở Thái Bỡnh mất thu nhập từ các mặt hàng nông sản xuất khẩu đó ký với Cty TNHH Hoà Bỡnh khi ụng Phi bị bắt. Trong 1.000 ngày ụng ngồi tự oan, vợ con ụng đầu đường cuối chợ nuôi nhau, tài sản công ty và tài sản gia đỡnh bị tịch thu, phỏt mại lờn tới hàng tỷ đồng không biết đi đâu về đâu.
Số tiền bồi thường này theo ông Phi tính toán gồm:
– Thiệt hại về tinh thần;
– Tổn hại sức khoẻ;
– Thu nhập bị mất trong thời gian bị bắt giam;
– Thiệt hại về tài sản bị thu giữ, kờ biờn
– Thiệt hại không được khai thác từ tài sản.
Đến nay vẫn chưa giải quyết xong việc bồi thường.

VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN TỪ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TY TNHH HÀ VINH

NGUYỄN THẾ VINH – Giám đốc Công ty TNHH Hà Vinh-Bắc Ninh

PHẦN 1: NGUYÊN NHÂN VÀ HÀNH VI VI PHẠM CỦA HẢI QUAN
Vụ việc liên quan đến việc áp mã thuế cho Công ty TNHH Hà Vinh kéo dài từ năm 2002 đến nay qua nhiều cấp từ Chi Cục Hải Quan đến Cục Hải Quan, Viện Nghiên Cứu Hải Quan,Vụ Kiểm Tra Tính Thuế, Vụ Pháp Chế, Thanh tra Tổng Cục.
Công ty TNHH Hà Vinh đư­ợc thành lập theo Luật Doanh nghiệp, mọi hoạt động của doanh nghiệp chấp hành theo luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Năm 2000 sau khi khảo sát thị trư­ờng thấy giấy tráng sáp trong nư­ớc ch­ưa sản xuất, hoàn toàn phải nhập ngoại trong khi chính sách nhà nư­ớc khuyến khích đầu t­ư trong n­ước đồng thời chi nhánh XNK H­ưng Yên đặt dây chuyền sản xuất giấy tráng sáp ghép đầu lọc và điếu thuốc lá tại phố mới thị xã Lao Cai.
Công ty Hà Vinh sau khi xem dây chuyền sản xuất của Chi nhánh XNK H­ưng Yên, thuế nguyên liệu đã đư­ợc nhập khẩu thư­ờng xuyên qua cửa khẩu Quốc Tế Lao Cai. Để cẩn thận Công ty lấy mẫu giấy gửi Chi Cục Hải Quan Lao Cai, Chi Cục Hải Quan Lao Cai cho giám định tại Viện Giấy và Xenluylô theo đúng quy định về giám định cấp nhà nư­ớc. Sau khi có giám định Chi Cục Hải Quan Lao Cai phân tích phân loại áp mã 4805 6000 vì giấy có trọng l­ượng d­ới 150 gam/m2 cùng mã với Chi nhánh XNK H­ưng Yên đang thực hiện nhập khẩu bình thư­ờng (Chi nhánh XNK H­ưng Yên giám định mẫu giấy tại VINACONTRON ) Như­ vậy với hai kết quả giám định đều đ­ược Chi Cục Hải Quan phân tích phân loại đều áp mã 4805. Công ty tiến hành đầu tư­ dây chuyền sản xuất giấy tráng sáp công dụng làm phụ liệu cho sản xuất giấy ghép đầu lọc thuốc lá và giấy tráng bao gói chống ẩm chống dính khác…
Từ tháng 8 năm 2000 Công ty Hà Vinh chính thức nhập khẩu giấy về để sản xuất và đ­ược áp mã 48056000 thuế xuất 5% để tính thuế nhập khẩu, như­ vậy Công ty TNHH Hà Vinh chấp hành theo đúng quy trình của Tổng Cục Hải Quan quy định cho công tác xuất nhập khẩu.
Tháng 7/2001, Công ty TNHH Hà Vinh không đáp ứng yêu cầu một số cán bộ Hải quan Lao Cai và mã số thuế bắt đầu thay đổi từ 48056000 lên 48052900 thuế xuất 10% mặc dù bất hợp lý nh­ưng Công ty vẫn chấp nhận không khiếu nại và công việc nhập khẩu vẫn bình th­ường.
Tháng 6/2002, mặt hàng này lại bị chuyển sang áp mã 48139000 thuế xuất 30% để tính thuế trong khi luật thuế biểu thuế xuất nhập khẩu không hề thay đổi, Công ty TNHH Hà Vinh phản đối ngay và nhận đ­ược cách giải quyết là nếu đồng ý ký vào thông báo thuế thì cho thông quan, để có nguyên liệu cho sản xuất Công ty chúng tôi phải chấp nhận và khiếu nại, sau gần một tháng ân hạn thuế nhập khẩu và khiếu nại Công ty chúng tôi nhận đ­ợc quyết định điều chỉnh thuế từ 48139000 thuế xuất 30% sang mã 48025190 Thuế xuất 40% và không đ­ược biết nguyên nhân và nhận đ­ược trả lời là làm theo sự chỉ đạo của Tổng Cục Hải Quan, yêu cầu ngư­ời khai Hải Quan chấp hành không cho biết lý do. Ngay lập tức Công ty TNHH Hà Vinh làm đơn khiếu nại yêu cầu Chi Cục Hải Quan ra quyết định chính xác mã số thuế 48025190 là đúng cho Công ty chúng tôi lấy cơ sở khiếu nại tiếp theo đến Thanh Tra Cục Hải Quan Lao Cai , Cục Trư­ởng Cục Hải Quan Lao Cai. Trong thời gian chưa có trả lời, việc nhập hàng vẫn cứ tạm áp mã cho đến tháng 10, Công ty Hà Vinh mới nhận đư­ợc công văn trả lời của Chi Cục Hải Quan Lao Cai là căn cứ vào kết quả phân tích phân loại của Viên Nghiên Cứu Hải Quan làm cơ sở.
Để cho Viện Nghiên Cứu trả lời khách quan Công ty TNHH Hà Vinh tạm dừng nhập khẩu sử dụng Công ty TNHH Thuận Phát là Công ty tiêu thụ đứng ra nhập khẩu cho Công ty TNHH Hà Vinh theo tờ khai số 3835 ngày 25/11/2002 và ngay lập tức bi lập biên bản giữ hàng không cho thông quan đến ngày 4/12/2002 ra quýêt định giữ hàng hoá, cả biên bản của Chi Cục Hải Quan và Quyết định của Cục Hải quan đều không hẹn ngày giải quyết, sau đó Công ty Thuận Phát đ­ược Viện Kiểm sát tỉnh Lao Cai mời, Công ty Thuận Phát phải làm đơn đề nghi giải toả hàng. Viện Kiểm sát tỉnh Lao Cai đồng ý nh­ng Phòng tham mưu chống buôn lậu Cục Hải Quan Lao Cai đồng ý trả hàng với điều kiện phải đặt cọc tiền phạt là: 57.600.000đ. Công ty cũng đành phải nộp để lấy hàng cho sản xuất. Trong khi chư­a có quyết định mã số thuế chính xác, Cục Hải Quan ra quyết định tạm giữ hàng, xử phạt hoàn toàn tùy tiện trái pháp luật cho đến nay số tiền đặt cọc không xử lý và cũng không trả lại.
Thấy việc nhập khẩu qua đơn vị khác không ổn Công ty Hà Vinh lại tiếp tục nhập trên tờ khai Công ty tự khai mã 48056000 kiểm hoá Hải Quan kết luận mã 48139000 bộ phận tính thuế áp mã 48025190. Nh­ vậy chỉ có 1 loại hàng mà trên tờ khai áp 3 mã khác nhau với những mã đều do Chi Cục Hải Quan Cửa khẩu Lao Cai ban hành.
Ngày 8/3 Cục Hải Quan Lao Cai làm việc Công ty Hà Vinh ban lãnh đạo Cục Hải Quan Lao Cai không thừa nhận việc áp mã 48025190 là đúng biểu thuế nhập khẩu hiện hành lấy lý do làm theo chỉ đạo của Tổng Cục Hải Quan.
Ngày 3/7/2003 Công ty TNHH Hà Vinh đư­ợc làm việc trực tiếp với một số cán bộ lãnh đạo của Tổng cục Hải quan[1]. Tại buổi làm việc này chưa có câu trả lời việc áp mã thuế 48025190 là đúng hay không đúng với chính sách thuế, biểu thuế XNK hiện hành.
Từ khi xảy ra sự việc thay đổi mã số thuế nói trên, doanh nghiệp bị ra quyết định giữ hàng không cho thông quan, xử phạt vi phạt hành chính, thế chấp tiền phạt mới cho thông quan hàng hoá. Doanh nghiệp khiếu nại kéo dài đến 15 tháng nhưng không nhận đư­ợc bất cứ quyết định giải quyết khiếu nại từ cấp Chi Cục, Thanh Tra Cục, Cục Hải Quan, Trung Tâm Phân Tích Phân Loại, Vụ Kiểm Tra Tính Thuế, Vụ Pháp Chế, Thanh Tra Tổng Cục, Tổng Cục Hải Quan.
Quá trình khiếu nại, Công ty đã có 4 lần đối thoại với các cơ quan chức năng
Lần 1: ngày 08/3/2003 tại Cục Hải quan Lao Cai
Lần 2: ngày 30/5/2003 tại trung tâm phân tích phân loại miền Bắc có sự chứng kiến của Thanh tra tổng cục Hải quan.
Lần 3: ngày 10/6/2003, Hội thảo chuyên ngành do Trung tâm phân tích, phân loại Miền Bắc và các ban ngành trong và ngoài Tổng cục Hải quan.
Lần 4: ngày 3/7/2003 Tổng Cục Phó Lê Mạnh Hùng, Đ/c Chuẩn – Chánh Thanh tra, Đ/c X­ương Phó Thanh tra, Đ/c Xuân Giám đốc Trung tâm phân tích phân loại Miền Bắc, Đ/c Hồng Vụ phó Vụ Pháp chế, Đ/c Tâm Vụ Tr­ưởng kiểm tra tính thuế Tổng cục Hải quan.
Ngày 26-9-2003 Thanh tra Tổng cục Hải quan trả lời Công ty và báo Đầu tư­ theo công văn gửi khẳng định do Hải quan không tuân thủ các quy định về pháp luật, huỷ các quyết định xử phạt và biên bản vi phạm hành chính và h­ướng dẫn cụ thể theo mặt hàng và thuế nhập khẩu.
Ngày 3 tháng 10 năm 2003 theo biên bản Công ty làm việc với Cục Hải quan Lao Cai theo chỉ đạo của Thanh tra Tổng cục đều thống nhất huỷ bỏ quyết định xử phạt và biên bản vi phạm hành chính theo kết luận của thanh tra, như­ vậy về thủ tục hành chính doanh nghiệp không vi phạm Công ty yêu cầu hoàn trả tiền thuế tiền phạt tiền thuế phạt đặt cọc hải quan Lao Cai hoãn xem lại.
Ngày 6-2-2004, theo biên bản Công ty khiếu nại nhiều lần hải quan Lao Cai mới làm việc với Công ty. Kết qủa thống nhất phần trả tiền phạt, tiền thuế phạt đặt coc, tiền bồi thư­ờng các khoản trên còn tiền thuế hải quan không chấp nhân chờ ý kiến trên.
Ngày 16-4-2004 Cục Hải quan Lao Cai lại thay đổi sang một mã thuế nhập khẩu 4823 với tên hàng giống các lô hàng mà công ty đang tranh chấp mã số thuế, nh­ng thực tế tại mã số thuế nhập khẩu mới không đúng với tên hàng công ty nhập từ tr­ước tới nay và bắt công ty phải chấp nhận và phạt hành chính bất chấp sự phản đối và khiếu nại của Công ty.
Năm 2005 khi Pháp lệnh giám định tư pháp và Nghị định hư­ớng dẫn thi hành Pháp lệnh giám định t­ư pháp có hiệu lực, Công ty Hà Vinh khởi kiện ra Toà hành chính và đã đư­ợc xử nhiều lần. Toà án và Hải quan đi tr­ưng cầu đơn vị không có chức năng giám định t­ư pháp và đây cũng là nguyên nhân b­ước sang một tên hàng mới không đúng nội dung theo quyết định xử phạt và từ đó phần thắng luôn thuộc về hải quan phần thua thuộc về doanh nghiệp. Tại thời điểm này Công ty Hà Vinh mất hết niềm tin vào Luật khiếu nại, Tố cáo vì khi chuyển Toà, Hải quan lại thông đồng với toà án “hành” doanh nghiệp.
Kết luận tại nhiều kỳ đối thoại trực tiếp không một cấp nào, lãnh đạo nào khẳng định việc áp mã số thuế xuất nhập khẩu đang áp đặt cho 3 Công ty Hà Vinh, Công ty Thuận Phát, Công ty H­ưng Phát là đúng chính sách và Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành, đồng thời không một lãnh đạo nào khẳng định việc xử lý của Cục Hải quan Lao Cai là đúng Luật Hải quan, Nghị định 101, Luật khiếu nại, tố cáo là đúng luật pháp và pháp lệnh cán bộ, công chức.
Luật khiếu nại, tố cáo đã đư­ợc Quốc Hội n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành số 09/1998/QH 10 ngày 02/12/1998 trong đó các Điều từ 34 đến 38 của Luật ghi rõ thời hạn giải quyết khiếu nại, đến nay việc giải quyết khiếu nại của Tổng Cục Hải quan đã quá thời hạn theo luật định.
Kính th­ưa hội nghị.
Cùng một mặt hàng giấy nguyên liệu chúng tôi nhập về để sản xuất mà bị áp thuế như­ sau:
Năm 2000 thuế 5%
Tháng7 /2001 lên thuế nhập khẩu 10%
Tháng 6/2002 lên thuế nhập khẩu 30% và sau đó lên 40%
Tháng 10-2003 xuống 20% với mã số thuế mới không đúng với tên hàng theo biểu thuế
Đầu năm 2005 khi khởi kiện tại Toà, lập tức tên hàng lại đư­ợc thay đổi theo đúng với biểu thuế hiện hành.
Năm 2007 khi Công ty tiếp tục khiếu nại và đối thoại tại Bộ Tài chính và ngay lập tức tên hàng lại thay đổi về đúng với giấy nguyên liệu [Hải quan kết luận giấy làm nền sản xuất giấy gói đầu lọc thuốc lá] và ng­ược lại nhiều lần doạ làm biên bản nh­ưng khi doanh nghiệp quy trách nhiệm thì Hải quan không phản hồi.
Trong khi theo Luật thuế xuất nhập khẩu, biểu thuế xuất nhập khẩu không hề thay đổi dẫn đến sự việc khiếu nại kéo dài gây ảnh hư­ởng đến sản xuất của Công ty Hà Vinh đồng thời làm mất uy tín của ngành Hải quan. Đến nay 5 năm 1 tháng, Viện Nghiên cứu Hải quan là người xây dựng các mã thuế cũng không thừa nhận là mã thuế nào đúng chính sách thuế xuất nhập khẩu hiện hành trong khi doanh nghiệp vẫn phải chấp hành, xử phạt một cách trái pháp luật do một số công chức Hải quan không làm đúng pháp luật.
Khi có các văn bản của Tổng cục, Thanh tra Hải quan đến nay ch­ưa trả hoàn toàn và mới trả một phần trong số thuế được trừ và Hải quan không trừ ngay. Trong khi doanh nghiệp nộp thuế chậm thì bị phạt nhưng Hải quan hoàn thuế chậm thì lại không bị chế tài gì.
Trên các biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt, bản án của Toà không chứng minh đ­ược doanh nghiệp vi phạm luật Hải quan, như­ng vẫn bị phạt và Toà án vẫn bảo vệ Hải quan.
– Nhữ­ng sai sót của Hải quan và Toà án: Vi phạm luật hải quan, nghị định, quy chế, quy trình, Pháp lệnh giám định tư­ pháp, Nghị quyết toà án nhân dân tối cao.
– Về thiệt hại: Do việc ách tắc gây cho doanh nghiệp thiệt hai nhiều về mất cơ hội kinh doanh, mất thị trường, mất uy tín doanh nghiệp, thiệt hại vì phải trả lãi suất ngân hàng, chi phí đi lại, bảo quản hàng hoá, phạt hợp đồng.
-Quá trình giải quyết thniệt hại: Công ty đề nghị nhiều lần họ không giải quyết vì ho biết sai nh­ưng do trình độ thấp, cấp trên chỉ đạo sao nghe vậy không giám trái lệnh. Doanh nghiệp luôn luôn yêu cầu bồi th­ường với số tiền thiệt hại và mong muốn qua hội nghị này đề nghị các cơ quan hữu quan có biện pháp để doanh nghiệp đ­ược bồi th­ường thoả đáng.
Kiến nghị:

Việc xây dựng Luật Bồi thư­ờng nhà n­ước đối với doanh nghiệp là hoàn toàn cấp bách và cần thiết cho toàn dân và các doanh nghiệp. Khi xây dự­ng phải mang tính chất công bằng ví dụ nh­ư sau. Theo luật thuế thì khi doanh nghiệp nợ thuế bị phạt chậm ng­ược lại khi tiền bồi thư­ờng, và các khoản tiền thu sai phải trả cũng phải tính phạt chậm theo luật thuế. Đề nghị phải có tổ chức giám sát vi phạm bồi thư­ờng độc lập nếu không khi các cơ quan nhà n­ước sai họ không nhận ngay mà Toà lại đứng về phía cơ quan nhà nước thì người dân và doanh nghiệp biết kêu ai.
Thay mặt Công ty Hà Vinh, Công ty Thuận Phát, Công ty H­ưng Phát
Chúc hội nghị lời chúc sức khoẻ .
Xin Chân thành Cảm ơn.
CÔNG TY HÀ VINH BẮC NINH
————————————————-
TÀI LIỆU THAM KHẢO:

SỰ VIỆC CỦA CÔNG TY TNHH HÀ VINH (ĐÌNH BẢNG BẮC NINH)


Phóng sự-Điều tra
Nhập nhằng áp mã thuế
(Nguồn: Báo Đầu tư)

Kỳ 1
Một mặt hàng do một doanh nghiệp (DN) nhập về qua chỉ một cửa khẩu, nhưng trong vòng chưa đầy 4 năm đã bị hải quan tỉnh Lào Cai áp tới 5 mã số thuế khác nhau và tương đương với nó là 5 mức thuế suất. Doanh nghiệp (DN) càng thắc mắc, thuế suất nhập khẩu càng… tăng lên và các cơ quan đầu ngành của Tổng cục Hải quan đã phải vào cuộc để tháo gỡ. Nhưng điều này lại khiến cho sự việc rắc rối thêm. Chủ DN đã không hề ngoa khi nói rằng “đây là vụ việc tiêu biểu cho tình trạng một số cán bộ hải quan lợi dụng chức quyền sách nhiễu DN”.

Đầu năm 2000, khi thấy giấy tráng sáp vàng đầu lọc thuốc lá là sản phẩm trong nước chưa sản xuất được, phải nhập ngoại, ông Nguyễn Tiến Vinh, một doanh nhân ở tỉnh Bắc Ninh đã quyết định thành lập Công ty TNHH Hà Vinh (DN Hà Vinh) để gia công sản xuất loại giấy sáp vàng đầu lọc thuốc lá từ nguồn giấy nguyên liệu nhập khẩu của Trung Quốc.
Trước khi chính thức bắt tay vào sản xuất, ông Vinh đã lấy mẫu giấy nguyên liệu nhập khẩu gửi Hải quan Cửa khẩu Lào Cai, còn gọi là Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai để cơ quan này chuyển đi giám định tại Viện Giấy và Xenluylô theo đúng quy định về giám định cấp nhà nước. Sau khi có kết quả giám định, Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai phân tích phân loại áp mã 48056000 với thuế suất thuế nhập khẩu là 5%.
Vậy là từ tháng 8 năm 2000, Công ty Hà Vinh bắt đầu nhập khẩu giấy nguyên liệu về để sản xuất. Mọi chuyện diễn ra ổn thoả cho cho đến tháng 7 năm 2001 – thời điểm mà Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai có sự thay đổi ở cấp lãnh đạo. Khi đó, ông Nguyễn Trung Tĩnh được Cục Hải quan Lào Cai điều về làm Chi cục trưởng Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai. Theo ông Vinh, những sách nhiễu, gây khó dễ cho DN Hà Vinh được ông Tĩnh thực hiện qua việc thay đổi mã số thuế đối với mặt hàng giấy nguyên liệu nhập về, từ 48056000 thành 48052900. Điều này có nghĩa là DN Hà Vinh đã bị nâng thuế nhập khẩu đánh vào mặt hàng giấy nguyên liệu nhập về thành 10%, thay vì mức 5% như lúc đầu.
“Khi đó, tuy nhận thấy việc thay đổi mã số thuế như nói trên là bất hợp lý, nhưng vì mỗi tấn giấy nhập về thuế chỉ tăng thêm hơn 2 triệu đồng và do không muốn mất thời gian, tiền bạc vào việc khiếu nại, khiếu kiện nên DN đành chấp nhận”, ông Vinh giải thích. Nhưng sự nín nhịn này chẳng giúp Công ty TNHH Hà Vinh yên ổn. Đầu tháng 6 năm 2002, khi ông Tĩnh được thăng chức Cục phó Cục Hải quan Lào Cai thì cũng là lúc mức thuế đánh vào mặt hàng giấy nguyên liệu nhập khẩu của DN Hà Vinh nhảy vọt từ 10% lên 30%, trong khi biểu thuế suất nhập khẩu không hề có sự thay đổi. Cơ sở của việc tăng thuế này là sự chuyển đổi một lần nữa mã số thuế của các lô hàng giấy nguyên liệu mà Công ty Hà Vinh nhập về từ 48052900 sang thành 48139000.
Sự tăng vọt số thuế phải nộp đã khiến cho ông chủ Công ty Hà Vinh không thể cam chịu được và đã khiếu nại ngay sau khi nhận được thông báo về mức thuế của lô hàng. Tuy nhiên, 1 tháng sau đó, thay vì nhận được văn bản giải thích từ phía hải quan Lào Cai, Công ty Hà Vinh lại nhận được Quyết định điều chỉnh thuế suất lô hàng nhập về từ 30% (theo mã số thuế 48139000) lên 40% (theo mã số thuế 48025190). Bị “sốc” trước quyết định này, ông Vinh tiếp tục làm đơn khiếu nại yêu cầu Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai có quyết định chính thức xác nhận việc áp mã số thuế 48025190 với với suất 40% cho lô hàng giấy nguyên liệu của Công ty Hà Vinh nhập về là đúng chính sách thuế hiện hành để Công ty có cơ sở khiếu nại tiếp lên Thanh tra và Cục trưởng Cục Hải quan Lào Cai… Thế nhưng phải tới 4 tháng sau, Công ty Hà Vinh mới nhận được văn bản trả lời của cơ quan hải quan, trong đó giải thích việc áp mã số thuế nói trên (48025190) là “căn cứ vào kết quả phân tích, phân loại của Viện Nghiên cứu khoa học hải quan (Tổng cục Hải quan), nên Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai không thể ra được quyết định chính thức xác nhận việc áp mã số thuế cho lô hàng của DN”.
Tuỳ tiện ra quyết định phạt DN?
Nhận thấy việc “đối đầu” với hải quan Lào Cai không giải quyết được triệt để vấn đề, đồng thời cũng để chờ Viện Nghiên cứu Hải quan có câu trả lời khách quan đối với mẫu giấy của Công ty nhập về, DN Hà Vinh đã tạm dừng nhập khẩu. Thế nhưng, do yêu cầu sản xuất, công ăn việc làm của người lao động và đảm bảo hợp đồng giao hàng cho khách, vào cuối tháng 11 năm 2002, DN Hà Vinh đã thông qua Công ty TNHH Thuận Phát (là công ty tiêu thụ sản phẩm của DN Hà Vinh) để nhập khẩu hộ giấy nguyên liệu về. Ngay lập tức, lô hàng nhập về đã bị hải quan Lào Cai lập biên bản và ra quyết định tạm giữ, không cho thông quan. Theo ông Vinh, cả Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai lẫn Cục Hải quan Lào Cai trong biên bản và quyết định giữ hàng hoá đều không hẹn ngày giải quyết. Quá bức xúc. Công ty đã làm đơn gửi Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Lào Cai nhờ can thiệp. Khi đó, Phòng Tham mưu Chống buôn lậu Cục Hải quan Lào Cai mới đồng ý “tạm tha” cho DN với điều kiện phải nộp phạt thêm một lần tiền thuế là 57,6 triệu đồng. Không còn cách nào khác, Công ty Thuận Phát đã phải nộp tiền phạt để lấy hàng về sản xuất.Ngoài ra, do chưa một cơ quan thẩm quyền nào thuộc Bộ Tài chính hay Tổng cục Hải quan có quyết định chính thức xác nhận các lô giấy nguyên liệu mà Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát… nhập về thuộc mã số thuế nào, nên trong suốt thời gian qua, trong tờ khai hải quan DN cứ kê khai một kiểu, bộ phận kiểm hoá Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai kết luận một kiểu và bộ phận tính thuế XNK của Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai lại tính thuế theo kiểu khác. Hậu quả là DN lãnh đủ bằng những quyết định xử phạt hành chính của hải quan Lào Cai cho mỗi lô hàng nhập về.
Cảm thấy quá oan ức, Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát đã gửi đơn khiếu nại, tố cáo tới Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan nhờ can thiệp. Khi đó, Thanh tra Tổng cục Hải quan đã thành lập Đoàn Thanh tra sự việc nêu trên. Đến cuối tháng 9 năm 2003, Đoàn Thanh tra kết luận rằng, việc các đơn vị nghiệp vụ thuộc Cục Hải quan tỉnh Lào Cai ra các quyết định xử phạt hành chính cũng như bắt DN phải đặt cọc tiền phạt như trên là “chưa tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về hải quan” và yêu cầu Cục Hải quan tỉnh Lào Cai phải huỷ các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với DN Hà Vinh và Công ty Thuận Phát…
Căn cứ vào Quyết định nói trên của Đoàn Thanh tra, Hải quan Lào Cai đã làm việc với đại diện Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát, thông báo sẽ huỷ các quyết định xử phạt hành chính trái pháp luật đã ban hành, đồng thời hoàn lại các khoản tiền phạt mà DN đã nộp. Nhưng đã hơn 1 năm trôi qua kể từ khi có các cuộc gặp gỡ đôi bên, theo đại diện của DN Hà Vinh và Thuận Phát, hiện họ vẫn chưa nhận được quyết định cũng như khoản bồi hoàn tiền phạt mà mình đã nộp.

Kỳ 2:
Báo Đầu tư số 132 ra ngày 3/ 11/2003 đã phản ánh việc Công ty TNHH Hà Vinh (Bắc Ninh) bị một số cán bộ Hải quan Lào Cai sách nhiễu, gây khó khăn trong việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất. Để giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH Hà Vinh trong việc áp mã thuế nhập khẩu giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu, Viện Nghiên cứu khoa học Hải quan, Vụ Kiểm tra thu thuế Xuất nhập khẩu, Vụ Pháp chế, Thanh tra Tổng cục Hải quan… đã vào cuộc. Thế nhưng, không hiểu sao các cơ quan chuyên môn của Tổng cục Hải quan lại làm cho vấn đề phức tạp thêm.
Cấp dưới đổ cho cấp trên.
Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Nguyễn Quang Hùng, Trưởng phòng Nghiệp vụ Cục Hải quan Lào Cai thừa nhận, trong vòng 4 năm mà thay đổi tới 5 mã số thuế áp cho một loại hàng hoá mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về qua cửa khẩu Lào Cai là “điều không bình thường và không chuẩn”. Tuy nhiên, ông Hùng không thừa nhận lỗi thuộc về Cục Hải quan Lào Cai mà đổ cho tại vì phải thực hiện theo “chỉ đạo” của Tổng cục Hải quan.“Từ năm 2002, thực hiện Luật Hải quan, chúng tôi đã lấy mẫu giấy nguyên liệu nhập khẩu của Công ty TNHH Hà Vinh gửi về Tổng cục Hải quan để phân tích, phân loại. Sau đó, Tổng cục Hải quan đã có tới gần 10 văn bản yêu cầu chúng tôi thu thuế nhập khẩu 40%, theo mã số thuế 4802.51.90 đối với những lô hàng này”, ông Hùng giải thích. Vẫn theo ông Hùng, một số cán bộ Hải quan Lào Cai nhận thấy có vấn đề không ổn từ những văn bản này, nhưng vì là cơ quan cấp dưới nên họ buộc phải thực hiện theo. “Tổng cục Hải quan đã có văn bản chỉ đạo trực tiếp, cụ thể, tại chỗ nên không có lý gì Cục Hải quan Lào Cai lại bác bỏ, không thực hiện theo”, ông Hùng phân bua. Những văn bản “chỉ đạo” mà ông Hùng nói đến ở trên là của Cục Kiểm tra thu thuế Xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu Hải quan…
Tất nhiên là Công ty TNHH Hà Vinh đã không chấp nhận cách áp thuế như vậy và tiếp tục khiếu nại lên Bộ Tài chính. Phải mất gần một năm thực hiện áp mã thuế các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh theo thuế suất 40%, vào trung tuần tháng 9 năm 2003, Tổng cục Hải quan mới có Công văn số 4494/TCHQ – KTTT do Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Lê Mạnh Hùng ký, trong đó chỉ đạo Cục Hải quan Lào Cai tiến hành áp thuế nhập khẩu đối với các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh nhập về trước ngày 1 tháng 9 năm 2003, theo thuế suất 30% (tương ứng với mã số thuế 4823.90.90). Còn những lô hàng nhập về sau ngày 1 tháng 9 năm 2003 thì áp thuế suất 20% (tương ứng với mã số thuế 4823.90.91).
Công văn 4494 của Tổng cục Hải quan đã chính thức phủ nhận những văn bản do các bộ phận nghiệp vụ của Tổng cục ký trước đó. Cũng theo tinh thần Công văn này thì Cục Hải quan Lào Cai phải tiến hành thoả thuận hoàn trả và đền bù thiệt hại cho doanh nghiệp, do thu vượt ít nhất là 10% thuế nhập khẩu các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh . Tuy nhiên, những bất cập của Tổng cục Hải quan trong việc chỉ đạo thu thuế đối với Công ty TNHH Hà Vinh đến đây chưa phải là đã hết.
Càng “chỉ đạo” càng sai.

Sau khi có Văn bản số 4494 của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Lào Cai đã tổ chức cuộc gặp với đại diện Công ty TNHH Hà Vinh để huỷ bỏ các Quyết định xử phạt Công ty TNHH Hà Vinh và thoả thuận bồi thường thiệt hại. Nhưng tại buổi làm việc này, Cục Hải quan Lào Cai đã nhận ra các lô hàng mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về trước đó thuộc loại giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu nên không thể tính thuế nhập khẩu của loại giấy tráng sáp vàng (loại giấy thành phẩm) mà Tổng cục Hải quan đã hướng dẫn trong Công văn số 4494. Do vậy, Cục Hải quan Lào Cai phải xin khất doanh nghiệp để “tiếp tục xin ý kiến chỉ đạo cụ thể hơn của Tổng cục Hải quan để thực hiện trong thời gian sớm nhất”.
Tuy nhiên, cuộc gặp này cũng đã giúp Cục Hải quan Lào Cai và Công ty TNHH Hà Vinh đạt được thống nhất là sẽ bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp do các quyết định xử phạt và lập biên bản vi phạm hành chính của Cục Hải quan Lào Cai đối với Công ty TNHH Hà Vinh. Trường hợp hai bên không thoả thuận được mức bồi thường thì đưa vụ việc ra phân xử tại Toà hành chính.Khoảng nửa tháng sau khi ban hành Công văn số 4494, vào ngày 29 tháng 9 năm 2003, một Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan khác là ông Nguyễn Ngọc Túc đã ký văn bản “đính chính” Công văn này. Theo văn bản “đính chính” thì nguyên liệu giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về cũng áp mã số thuế như giấy thành phẩm tráng sáp vàng. Điều này đã đi ngược lại chủ trương của Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính là bảo hộ sản xuất trong nước thông qua việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá thành phẩm cao hơn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Việc giải quyết khiếu kiện của Công ty TNHH Hà Vinh vì thế càng thêm rắc rối và tiếp tục kéo dài.
“Nếu tôi là lãnh đạo Tổng cục Hải quan thì để giải quyết dứt điểm vụ việc trên, tôi chỉ cần ban hành một văn bản áp thuế suất nhập khẩu đối với mặt hàng giấy nguyên liệu của doanh nghiệp nhập về thấp hơn thuế suất nhập khẩu giấy thành phẩm. Đây cũng chính là điều mà khung bảng thuế nhập khẩu các loại hàng hoá khác đang thể hiện”, một cán bộ Hải quan Lào Cai nói. Một số cán bộ Hải quan Lào Cai đã mang thắc mắc này tới hỏi các chuyên gia của Hải quan Nhật Bản đang công tác tại Tổ chức Hải quan Thế giới. Các chuyên gia Nhật Bản đã trả lời : Tổng cục Hải quan Việt Nam đã xếp mặt hàng giấy nguyên liệu vào nhóm mặt hàng giấy thành phẩm (mã số 4823) là không phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trong thời gian chờ đợi hướng dẫn cụ thể của Tổng cục Hải quan, Công ty TNHH Hà Vinh vẫn bảo lưu mã số thuế đã khai từ ngày đầu nhập khẩu (với thuế suất nhập khẩu chỉ là 5%), còn Hải quan Cửa khẩu Lào Cai thì buộc phải theo “chỉ đạo” cũ là áp thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng giấy nguyên liệu bằng mặt hàng giấy thành phẩm là 20%. Vì sự khập khiễng này mà Hải quan Cửa khẩu Lào Cai vẫn lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Hà Vinh, nhưng không dám ra quyết định xử phạt theo Luật Hải quan, vì sợ khi có kết luận chính thức lại phải làm thủ tục bồi hoàn cho doanh nghiệp. Tất nhiên, sự dai dẳng khiếu kiện của Công ty TNHH Hà Vinh đã làm lực lượng hải quan ở Lào Cai khó chịu và không ít lần họ đã dùng các thủ tục hành chính để gây khó cho Công ty TNHH Hà Vinh. Chẳng hạn, lần nhập khẩu 100 tấn giấy nguyên liệu của Công ty TNHH Hà Vinh vào ngày 30 tháng 10 năm 2004, ông Nguyễn Hải Phú, Cán bộ thuộc Đội Nghiệp vụ Hải quan Cửa khẩu Lào Cai từ chối cho làm thủ tục với yêu cầu doanh nghiệp phải giải trình bổ sung thêm vì sao trên các loại giấy tờ trong bộ hồ sơ nhập khẩu như C/O, Invoice, Packing List không thể hiện màu của giấy mà trong tờ khai hải quan doanh nghiệp lại ghi “giấy có màu vàng”. Rất may là sau đó lãnh đạo Hải quan Cửa khẩu Lào Cai đã bỏ qua hành vi này, cho hàng của doanh nghiệp thông quan.
Hải quan sợ ra Quyết định?
Cho đến nay, Cục Hải quan Lào Cai và Công ty TNHH Hà Vinh vẫn chưa thoả thuận được mức tiền đền bù thiệt hại do việc thu thuế nhập khẩu không đúng và xử phạt oan Công ty TNHH Hà Vinh. Thế nhưng, Công ty TNHH Hà Vinh hiện tại không thể kiện Cục Hải quan Lào Cai ra Toà hành chính vì tất cả những việc làm của Cục Hải quan Lào Cai đều tuân thủ công văn chỉ đạo nội bộ của Tổng cục Hải quan gửi xuống. Mà những công văn này khi đưa vào hồ sơ xét xử lại không có giá trị về mặt pháp lý.
Do vậy, ông Nguyễn Tiến Vinh, Giám đốc Công ty TNHH Hà Vinh mới đây đã gửi đơn đến ông Vũ Ngọc Anh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, đề nghị ông Vũ Ngọc Anh khi trả lời đơn khiếu nại của doanh nghiệp phải ra Quyết định giải quyết khiếu nại để Công ty TNHH Hà Vinh có cơ sở kiện Cục Hải quan Lào Cai ra Toà hành chính. Được biết, trước đó ông Vũ Ngọc Anh đã ký Công văn hướng dẫn số 1684/TCHQ-GSQL, ngày 16 tháng 4 năm 2004 về việc phân loại áp mã số thuế nhập khẩu mặt hàng giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu toàn bộ để làm cơ sở cho Cục Hải quan Lào Cai tiến hành áp mã, thu thuế nhập khẩu các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh.
Theo ông Vinh, việc ông Vũ Ngọc Anh chỉ ra Công văn giải quyết khiếu nại cho Công ty TNHH Hà Vinh là không đúng với quy định của Luật Khiếu nại tố cáo. “Chúng tôi muốn ông Vũ Ngọc Anh sớm có Quyết định giải quyết khiếu nại và gửi trực tiếp cho Công ty TNHH Hà Vinh”, ông Vinh nói.
Vẫn theo ông Vinh, sở dĩ ông muốn nhờ Toà hành chính xét xử vụ việc vì ngoài việc phải nộp oan tiền thuế, tiền phạt vi phạm hành chính…Công ty TNHH Hà Vinh, thời gian qua, còn phải chi phí không nhỏ cho việc đi lại, giải quyết các lô hàng bị tạm giữ không đúng pháp luật tại Cửa khẩu Lào Cai. “Khi Công ty tôi nợ thuế chỉ một ngày là họ (Cục Hải quan Lào Cai) đã tính ngay lãi suất phạt chậm nộp thì để công bằng, họ cũng phải trả tôi lãi suất tiền thu thuế sai, phạt hành chính không đúng”, ông Vinh bức xúc nói.
Trưởng phòng Nghiệp vụ Cục Hải quan Lào Cai Nguyễn Quang Hùng thừa nhận, các khoản tiền phạt vi phạm hành chính (không đúng pháp luật) của Công ty TNHH Hà Vinh đang nằm trong tài khoản tạm giữ của Cục Hải quan Lào Cai, có thể hoàn trả ngay cho doanh nghiệp. Nhưng các khoản khác (tiền chênh lệch thuế suất thuế nhập khẩu, lãi suất…), đã nộp vào ngân sách, phải hoàn trả cho doanh nghiệp thì Cục Hải quan Lào Cai không biết sẽ lấy từ nguồn nào. ng

[1] Đ/c Lê Văn Hùng Phó Tổng Cục tr­ưởng Tổng cục Hải quan, Đ/c Xuân Giám đốc Trung Tâm Phân tích phân loại Miền Bắc- Tổng Cục Hải quan TCHQ, Đ/c Tâm- Vụ Trưởng Vụ kiểm tra tính thuế- Tổng cụo Hải quan, Đ/c Hồng- Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế- Tổng cục Hải quan, Đ/c Chuẩn- ChánhThanh Tra, Đ/c Xư­ơng-Phó Chánh Thanh Tra TCHQ, Đ/c C­ường cán bộ phân tích phân loại và là tác giả của mã thuế 48025190.

=====================================

SOURCE: WWW.VCCI.COM.VN

QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI THEO CÁCH TIẾP CẬN TÀI SẢN

NGUYỄN THỊ CAM – Trưởng khoa Luật thương mại, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai với hai tư cách: Là chủ sở hữu đối với đất đai; Là chủ thể của quyền lực công thực hiện chức năng quản lý đất đai, nhằm đảm bảo lợi ích của chung toàn xã hội.

Liên quan tới vấn đề quản lý nhà nước về đất đai, Dự thảo Luật đất đai sửa đổi dường như mới chỉ tập trung củng cố các quyền của cơ quan quản lý nhà nước nh: tăng quyền giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng cho UBND các cấp. Đây là cách tiếp cận nặng về hành chính quản lý mà thiếu để ý tới đặc thù của đối tợng quản lý là một loại tài sản đặc biệt. Cách tiếp cận hành chính quản lý làm trầm trọng thêm cơ chế xin cho. Đất đai tài sản vô giá của quốc gia trở thành một thứ đặc quyền của cơ quan hành chính, làm màu mỡ thêm mảnh đất cho những kẻ trục lợi, tham nhũng, hối lộ, đầu cơ đất đai trong nền kinh tế thị trường. Bài viết này xin trao đổi về khía cạnh quản lý đất đai theo cách tiếp cận đối với tài sản nh một góp ý về chính sách pháp lý khi xem xét dự án Luật đất đai sửa đổi.

Vừa quản lý nhà nước, vừa kinh doanh

Hiến pháp đã quy định Đất Căn cứ vào hai tư cách đặc biệt trên, mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất không chỉ đơn thuần là mối quan hệ về quản lý Nhà nước mà còn là quan hệ tài sản. Dễ nhận thấy rằng trong Luật đất đai hiện hành cũng nh dự thảo Luật đất đai sửa đổi thì tính chất tài sản trong mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất được thể hiện rất mờ nhạt, cha mang tính chất đột phá đáng kể trong quản lý thị trường bất động sản.

Mặt trái của cách tiếp cận quản lý nhà nước

Vậy bổ sung hướng tiếp cận tài sản trong quan hệ quản lý đất đai nên như thế nào? Trước hết, đất đai phải được quản lý nh một tài sản, một loại hàng hoá đặc biệt. Phải có sự phân biệt rạch ròi giữa quản lý hành chính và quản lý kinh doanh đối với đất đai. Với tư cách là một hàng hoá đặc biệt, theo tôi, loại hàng hoá đặc biệt này nên giao cho doanh nghiệp quản lý và kinh doanh; giá trị tài sản trong quá trình giao dịch phải được thể hiện trong chơng mục ngân sách Nhà nước. Thực tế cho thấy nếu chỉ củng cố vị thế quản lý hành chính đối với đất đai, sẽ sinh ra thủ tục hành chính rườm rà, công chức Nhà nước quan liêu, dẫn đến người sử dụng đất tránh né đăng ký giao dịch. Theo ước tính không chính thức trên thị trường bất động sản, thì phải có tới 80% những giao dịch của hàng hoá loại này không qua sự kiểm soát của nhà nước, không thể hiện trong chương mục ngân sách. Trong giai đoạn từ 1996 – 2000 bình quân mỗi năm Nhà nước thu được khoảng 4.645 tỷ đồng từ các giao dịch đất đai. Con số này cho thấy có sự thất thoát ngân sách, rơi vào tay một số đối tượng trục lợi từ thị trường này. Nếu theo cách tiếp cận tài sản, thì các thủ tục quản lý hành chính đều phải phục vụ cho việc đa loại tài sản này vào kinh doanh và theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Nếu chỉ trông chờ vào việc tăng quyền hạn hành chính cho cơ quan hành chính nhà nước quản lý, giao vào tay các công chức vừa quyền quản lý hành chính lẫn chức năng kinh doanh tài sản của nhà doanh nghiệp, thì một mặt dẫn đến quản lý hành chính tư lợi, lỏng lẻo, xin cho, mặt khác chức năng quản lý kinh doanh thì mờ nhạt, gò bó, không ra ngô cũng chẳng ra khoai; đất đai không được lưu thông một cách chính thức trong thị trường bất

động sản theo nguyên tắc kinh doanh chặt chẽ dưới sự quản lý nhà nước.

Kiến nghị: Theo cách tiếp cận tách quản lý hành chính nhà nước khỏi quản lý kinh doanh để tăng cờng cả hai chức năng này đối với nhà nước, theo tôi, dự thảo Luật đất đai lần này cần phải có một số quy định mang tính đột phá sau:

Thứ nhất, không trao quyền quản lý tài sản đất đai cho UBND các cấp mà trao quyền này cho Doanh nghiệp Nhà nước độc lập chuyên quản lý kinh doanh địa ốc hoặc quản lý công sản. Loại doanh nghiệp này độc lập với UBND và cơ quan địa chính về lĩnh vực kinh doanh để sử dụng đất đai có hiệu quả và bảo đảm mọi giao dịch đất đai phải qua doanh nghiệp đặc biệt này và được thể hiện trong mục lục ngân sách công. Doanh nghiệp hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế và theo quy luật thị trường. Người sử dụng đất, bất kể là hộ gia đình hay là cá nhân, tổ chức nước ngoài phải thuê đất như một hình thức sử dụng đất duy nhất. Đất thuộc diện quy hoạch là đất sử dụng cho mục đích công cộng không kinh doanh theo hình thức thuê nhng cũng được quản lý tập trung vào đầu mối này. Mọi giao dịch thứ cấp (sau đó) cũng đều phải thông qua một đầu mối kinh doanh và quản lý công sản này. Những dịch vụ phát sinh như giải phóng mặt bằng, bồi thờng, chuyển nhượng, chuyển mục đích phải thực hiện theo quy hoạch của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và cũng đều do các doanh nghiệp công sản này đảm nhiệm.

Để có thể trao quyền cho các doanh nghiệp đặc biệt nói trên tiến hành hoạt động theo phơng thức mới, Nhà nước cần phải giải quyết một cách sòng phẳng trên cơ sở giá trị tài sản tại thời điểm chuyển nhợng cho các hộ gia đình, cá nhân, và tổ chức kinh tế, đang sử dụng đất và bồi thờng cho họ (nếu thu hồi) hoặc ký hợp đồng thuê đất với họ (nếu tiếp tục sử dụng).

Thứ hai, trao quyền quản lý hành chính về đất đai (điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm kê, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho cơ quan quản lý đất đai hiện hành (Bộ tài nguyên môi trường, Sở tài nguyên môi trường…).

Đây là hoạt động quản lý hành chính về đất đai, rất cần thiết và chủ yếu là các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn, hành chính, không kinh doanh.

Thứ ba, khi đã coi quan hệ đất đai giữa Nhà nước với người sử dụng đất là quan hệ tài sản hành chính, thì vấn đề giá đất cũng cần phải được giải quyết một cách thỏa đáng. Theo chúng tôi, giá đất trong giao dịch là giá thỏa thuận trên cơ sở giá thị trường cho từng loại đất. Giá doanh nghiệp kinh doanh công sản, địa ốc cho cá nhân, tổ chức thuê phải trên cơ sở thỏa thuận hoặc đấu giá. Giá thỏa thuận chỉ nên áp dụng đối với các trường hợp đang sử dụng đất hợp lý, hợp pháp. Còn các trường hợp thuê đất mới nên áp dụng hình thức đấu giá.

Thứ tư, để quản lý đất đai theo mô hình quản lý tài sản, Nhà nước có thể thành lập quỹ bồi thờng, giải phóng mặt bằng, tái định c từ các khoản thu từ giao dịch và kinh doanh đất. Có thể có ý kiến cho rằng các khoản thu này không đáng kể, nhng trên thực tế, nếu kết hợp với đầu tư cơ sở hạ tầng, đô thị hoá thì việc kinh doanh đất sẽ đem lại những khoản lợi khổng lồ vào ngân sách, mặt khác người có nhu cầu sử dụng đất vẫn có khả năng lựa chọn thích hợp qua điều tiết chính sách kết hợp thị trường.

Thứ năm, cần phải có các quy định cụ thể để quản lý các doanh nghiệp kinh doanh địa ốc, công sản nói trên để loại trừ khả năng biến chúng thành các doanh nghiệp độc quyền.

Thực hiện theo cách tiếp cận trên đây, phần quản lý đất đai trong dự thảo luật phải được thiết kế mới một cách đồng bộ và toàn diện./.

****************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 10/2003

CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN: MỘT SỐ SUY NGHĨ

LÊ VĂN TỨ

* Chuyên viên cao cấp Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Tài chính Đại học Kinh tế Quốc dân

Dù đã qua hai lần sửa đổi, Luật đất đai vẫn khó đi vào cuộc sống. Điều đó chứng tỏ chính sách đất đai hiện hành còn nhiều điều cha phù hợp với thực tế khách quan. Nguyên nhân sâu xa có lẽ là ở tư duy bao cấp về đất đai còn nặng, tuy đã có đổi mới. Muốn Luật đất đai sửa đổi đạt được yêu cầu mong muốn, rất cần nhận thức lại một số vấn đề liên quan tới chính sách đất đai trong điều kiện hiện nay.

Sở hữu đất toàn dân khác với với sở hữu đất tư nhân

Khái niệm sở hữu đất toàn dân hiểu theo khái niệm chung về sở hữu tài sản, trong đó quyền sở hữu là cơ bản. Từ quyền này phát sinh quyền sử dụng, theo nghĩa hẹp là sử dụng công năng (trồng trọt, xây dựng, v.v…), theo nghĩa rộng thì tương đương quyền định đoạt, cho thuê, thừa kế, thế chấp, chuyển nhợng. Quyền sở hữu nhìn bề ngoài là quan hệ giữa người với vật, nhng thực chất lại là quan hệ giữa người với người, vì chỉ người sở hữu mới có quyền sử dụng. Đó là khái niệm chung. Tuy nhiên giữa sở hữu đất toàn dân và sở hữu đất tư nhân lại có những điểm khác nhau cần phân biệt.

Khác về cách thức xác lập

Sở hữu đất tư nhân chỉ có thể xác lập bằng con đường đầu tư (khai hoang hay mua). Người bỏ vốn đầu tư trở thành người sở hữu và mặc nhiên có mọi quyền sử dụng phát sinh từ quyền sở hữu. Và một khi đã không còn quyền sở hữu thì các quyền sử dụng cũng mặc nhiên chuyển sang chủ sở hữu mới.

Sở hữu đất toàn dân ở nước ta xác lập không phải bằng con

đờng nh vậy, mà từ chính sách công hữu hóa nền kinh tế, thực chất là sự chuyển quyền sở hữu đất về danh nghĩa pháp lý cho phù hợp với quyền sử dụng đất đã được công hữu hóa trớc đó qua chính sách cải tạo nông nghiệp và công thơng nghiệp. Thật vậy, vào thời điểm Hiến pháp 1980 xác lập chế độ sở hữu đất toàn dân, hầu nh toàn bộ đất đai đều đã thuộc quyền sử dụng của các tổ chức kinh tế quốc doanh và hợp tác xã. Thực tế đó cho thấy việc công hữu hóa đất đai thực chất là biện pháp tổ chức quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung dựa trên cơ sở chế độ công hữu.

Khác về chủ thể sở hữu

Chủ sở hữu đất tư nhân là một thể nhân hay một pháp nhân có khả năng trực tiếp sử dụng đất của mình. Còn chủ sở hữu đất toàn dân lại là một khái niệm chỉ toàn thể cộng đồng, tuy là chủ sở hữu, nhng lại không có khả năng trực tiếp sử dụng đất. Ngay cả khi quan niệm Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì vấn đề cũng vẫn vậy, vì Nhà nước cũng chỉ là một thiết chế đại diện mà thôi. Chính do đặc điểm này mà

trong sở hữu đất toàn dân, người sở hữu (toàn dân) thì không sử dụng, người sử dụng (tổ chức, cá nhân) thì không sở hữu. Cho nên để tránh tình trạng đất có chủ trên danh nghĩa, nhưng không có chủ trong thực tế, quyền sử dụng đất phải được giao cho tổ chức, cá nhân và được ghi vào Hiến pháp như một quyền hiến định.

Sở hữu đất toàn dân thời thị trường khác với thời kế hoạch hóa tập trung

Ba nội dung mới hiến định:

Sở hữu đất toàn dân ở nước ta bắt đầu được xác lập từ Hiến pháp 1980, thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp 1992, thời kinh tế thị trường. Do cơ chế vận hành của nền kinh tế mỗi thời một khác, nên tuy vẫn là 4 chữ “sở hữu toàn dân”, nhng trong Hiến pháp 1992 đã có 3 nội dung mới:

a) Xác định rõ “Nhà nước giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”, trong khi Hiến pháp 1980 chỉ quy định cho “tổ chức và cá nhân được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình”.

b) Mở rộng quyền cho tổ chức, cá nhân tới mức có thể chuyển nhợng quyền sử dụng

đất, trong khi Hiến pháp 1980 chỉ quy định cho họ quyền tiếp tục sử dụng. Luật đất đai 1993 còn cụ thể hóa thêm thành 6 quyền (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn).

c) Luật đất đai 1993 bổ sung nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao đất là phải nộp tiền sử dụng đất, ngoài đền bù cho người có đất bị thu hồi.

Những nội dung mới nêu trên thể hiện tư duy kinh tế đổi mới, đặt nền móng pháp lý chuyển việc quản lý đất từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên vẫn còn có những vấn để đáng gợi ra để suy ngẫm.

Những điều chưa rõ

1. Theo Hiến pháp, quản lý của Nhà nước về đất được diễn đạt bằng các cụm từ “quản lý theo quy hoạch chung” hoặc “theo quy hoạch và pháp luật”. Vậy là Nhà nước chỉ quản lý vĩ mô với tư cách là Nhà nước, không phải quản lý vi mô với t cách chủ sở hữu. Chiều sâu t duy hình nh còn ít được suy ngẫm, tìm hiểu, để xác định đúng phơng hớng quản lý, tìm giải pháp khắc phục những vướng mắc trong thực tế.

2. Mục tiêu quản lý đất được xác định trong Hiến pháp là bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả. Chỉ với tầm nhìn quốc gia mới có thể đề ra được mục tiêu quản lý đất như vậy. Và để đạt mục tiêu này, chính sách và pháp luật đất đai phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành một cơ cấu sử dụng đất hợp lý, có khả năng cho hiệu quả cao, thông qua cơ chế thị trường quyền sử dụng đất. Trong lần sửa đổi Luật đất đai lần này, cần nhấn mạnh lại mục tiêu quản lý nêu trên, lấy

đó làm định hướng để xử lý các vấn đề cụ thể.

3. Như đã nêu, trong điều kiện sở hữu đất toàn dân, giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng là tất yếu và đã được hiến định. Điểm mới ở đây là áp dụng nguyên tắc thị trường: sử dụng đất phải trả tiền (tiền sử dụng đất). Tuy nhiên theo quy định hiện hành, lại có những điều chưa sáng tỏ:

a) Hiến pháp chỉ quy định giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, nhng Luật đất đai lại quy định thêm cả cho thuê đất. Luật vi Hiến? Không vi Hiến nếu coi cho thuê chỉ là biện pháp phụ bổ sung, chỉ thực hiện trong trường hợp đất không thể giao. Nhng là vi Hiến nếu coi giao và cho thuê ngang nhau, đất có thể giao nhng chỉ cho thuê, nh trờng hợp “đất kinh doanh khác” hiện nay. Cũng là vi Hiến nếu giao đất “sử dụng ổn định lâu dài” nhưng lại quy định thời hạn giao nh hiện hành, nhiều trờng hợp thời hạn giao thậm chí cũng bằng thời hạn cho thuê. Cần có sửa đổi để cho Hiến pháp và Luật phù hợp với nhau.

b) Muốn được giao đất, tổ chức, cá nhân phải nộp tiền sử dụng đất theo giá quy định, có tính tới giá thực tế ở địa phương (Thông tư liên bộ 94/TT/LB ngày 141194) và vẫn phải đền bù cho người có đất bị thu hồi. Vậy là người được giao đất thực tế đã phải trả tiền mua đất hai lần, một lần nộp tiền sử dụng

đất, một lần đền bù. Thế mà họ vẫn không được sở hữu quyền sử dụng đất, chỉ được sử dụng

đất có thời hạn. Vậy “sử dụng ổn định lâu dài” có nghĩa là “sử dụng có thời hạn vài chục năm”, tức không khác thuê!

4. Theo quan niệm thông thường, khi người được giao đất đã phải trả tiền sử dụng đất, quyền sử dụng đất phải trở thành tài sản của họ và họ có quyền chuyển nhợng. Và quyền chuyển nhượng này cũng đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992. Song vẫn có những mâu thuẫn:

a) Về mặt lôgích, pháp luật đã cho phép họ chuyển nhợng cái mà họ không được công nhận là sở hữu?

b) Dù đã giao đất có thu tiền, nhng Nhà nước vẫn giữ quyền thu hồi với giá đền bù áp đặt.

Quyền sử dụng ổn định lâu dài cũng như quyền chuyển nhợng, tuy là hiến định, nhưng vẫn dễ bị thơng tổn.

c) Giá đất sử dụng có xu thế tăng dần nhờ tăng trưởng kinh tế, nhờ liên tục được đầu tư. Song vì đất sử dụng có thời hạn, nên giá chuyển nhợng sẽ giảm dần do thời hạn được sử dụng ngắn dần.

d) Một câu hỏi còn bỏ ngỏ: khi thời hạn giao đất kết thúc, người sử dụng đất có được giao tiếp tục hay không ? Và nếu tiếp tục được giao thì có phải nộp tiền sử dụng đất lần nữa không?

Với những mâu thuẫn và những điều còn cha sáng tỏ như trên, chính sách đất đai cha gắn kết được quyền lợi với nghĩa vụ của người sử dụng đất, cha thật sự khuyến khích người sử dụng đất thực hiện tốt nghĩa vụ là “bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất”./.

*****************************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 10/2003

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

NGUYỄN VĂN CƯƠNG – CHU THỊ HOA – VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ – BỘ TƯ PHÁP

Pháp luật không khuyến khích các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Người có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì phải bị xử lý, trừng trị nhằm ngăn ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm này quy định trong Bộ luật dân sự về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bài viết đóng góp một số ý kiến vào việc sửa đổi, bổ sung một số điều về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

1. Một số lý luận về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chức năng của chế định

Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hai chức năng chính:

Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có quyền lợi bị xâm hại.

Thứ hai, nhằm răn đe, phòng ngừa đối với những người có hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là các quy tắc nhằm khôi phục thiệt hại, bởi khi thiệt hại đã xảy ra thì không còn cơ hội để khắc phục, bù đắp được nữa.

Thực chất, chế định bồi thường thiệt hại là quy tắc phân bổ lại thiệt hại trong xã hội giữa các chủ thể có liên quan (tức là người gây thiệt hại, người bị thiệt hại hay một bên thứ ba nào khác). Chế định này còn có chức năng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật (chức năng phòng ngừa). Chức năng này nhằm làm cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội ý thức được rằng, nếu họ gây thiệt hại cho chủ thể khác, không những họ sẽ không được khuyến khích mà còn phải gánh chịu hậu quả bất lợi, thì họ sẽ phải có ý thức kiềm chế hành vi gây thiệt hại.

Như vậy, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng góp phần nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi chủ thể.

Cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Nguyên tắc pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta là người có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trên cơ sở này, các nhà làm luật xây dựng cơ sở trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) (gọi tắt là Dự thảo) dựa trên bốn yếu tố: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại ấy; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế xảy ra; (4) Người thực hiện hành vi gây thiệt hại có lỗi.

Quy định các yếu tố nêu trên không khác nhiều so với lý thuyết về cơ sở trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở nhiều nước trên thế giới (Xem hộp 1).

Hộp 1. Theo pháp luật của các nước theo hệ thống luật án lệ (Anh, Mỹ) quy định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là1: (1) Có sự tồn tại một nghĩa vụ (duty); (2) Có sự vi phạm nghĩa vụ (breach of duty); (3) Có mối mối quan hệ nhân quả (causation) giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nghĩa vụ; (4) Có thiệt hại thực tế xảy ra (injury).

Nếu đánh giá dựa trên từng cá nhân riêng rẽ, tự chủ được hành vi của mình, thì nguyên tắc này là đúng, chính xác. Nhng thực tế xã hội còn có: (1) sự tồn tại của những người không có đủ năng lực để thực hiện và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình (người cha thành niên, người đã thành niên nhng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi), (2) sự tồn tại của tổ chức (một tập thể người).

Vì vậy, xét từ khía cạnh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại thì cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nh nêu trên có phần cha hợp lý. Chẳng hạn, trường hợp người cha thành niên (hoặc người khác không có đủ năng lực chịu trách nhiệm dân sự) gây thiệt hại thì ai sẽ là người phải bồi thường? Theo nguyên lý chung, thì những người này sẽ phải bồi thường. Điều đó là không hợp lý, vì không những không bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại, mà còn làm cho những người giám hộ thờ ơ với trách nhiệm của mình.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại được thực hiện theo nguyên tắc: bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời”. Bồi thường “toàn bộ” thể hiện triết lý rằng, không ai được lợi từ việc bị thiệt hại và không ai phải bồi thường vợt quá phần thiệt hại mà mình đã gây ra. Nguyên tắc này đảm bảo cho các chủ thể cần có biện pháp phòng ngừa hợp lý, tránh tình trạng tạo dựng những tình huống gây ra thiệt hại để kiếm lời.

Tuy nhiên, pháp luật ở một số nước lại cho phép bồi thường gấp ba lần thiệt hại thực tế xảy ra, thậm chí, trong nhiều trường hợp, pháp luật còn buộc người có hành vi vi phạm phải bồi thường gấp rất nhiều lần đối với một số loại hành vi vi phạm nhất định (chẳng hạn vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng) với lý do “răn đe người có hành vi gây thiệt hại” và “khuyến khích người bị thiệt hại khởi kiện”.

2. Kiến nghị

Điều 593 của Dự thảo quy định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có thiệt hại xảy ra; b) Có hành vi trái pháp luật; c) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; d) Người gây thiệt hại có lỗi cố ý hoặc vô ý.

2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong

trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Đây là một sự khẳng định về mặt pháp lý đối với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, theo chúng tôi, quy định nh khoản 2 là chưa đủ để luận giải vì sao cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con vị thành niên, vì sao pháp nhân phải bồi thường do người của tổ chức mình gây ra và nhiều trường hợp tương tự khác.

Chúng tôi cho rằng, việc quy định cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho con, pháp nhân phải chịu bồi thường thiệt hại cho người của pháp nhân gây ra không phải là dựa trên căn cứ quy định rằng các chủ thể này phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi. Thực chất, các chủ thể này phải bồi thường ngay cả khi không có hành vi gây thiệt hại do chính mình gây ra. Vì vậy, để đảm bảo tính khái quát, Điều 593 nên quy định như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây trừ trường hợp Bộ luật này hoặc pháp luật có liên quan quy định khác: a) Có thiệt hại xảy ra; b) Có hành vi trái pháp luật; c) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; d) Người gây thiệt hại có lỗi cố ý hoặc vô ý”.

Điều 594 của Dự thảo giữ lại nguyên tắc bồi thường thiệt hại được thừa nhận rộng rãi từ trớc tới nay là: thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, hay nói cách khác “thiệt hại đến đâu thì bồi thường đến đó và việc bồi thường được diễn ra càng nhanh càng tốt”. Điều Luật này cũng quy định mức bồi thường có thể được thoả thuận. Song, liệu pháp luật có cho phép các bên được thoả thuận mức bồi thường vợt quá mức “thiệt hại thực tế” hay không? Tuy Điều luật không quy định rõ, nhưng theo nguyên tắc suy đoán thì mức bồi thường do các bên thoả thuận có thể cao hơn mức thiệt hại thực tế xảy ra. Đối với Toà án thì không cho phép ấn định mức bồi thường “vượt quá” mức “thiệt hại thực tế”.

Điều này sẽ gây ra sự bất lợi trong các trường hợp đòi bồi thường mang tính chất tập thể (ví dụ như thiệt hại về môi trường, thiệt hại đối với người tiêu dùng). Cụ thể là, Toà án không thể khuyến khích được những người bị thiệt hại khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho mình vì trong các trường hợp tính chất “tập thể”, thiệt hại của mỗi người ở mức khá nhỏ, vì thế mỗi người bị thiệt hại sẽ thiếu động lực tiến hành khởi kiện một cách riêng lẻ.

Vì vậy, Khoản 1, Điều 594 vẫn nên bổ sung quy định có tính ngoại lệ là: “thiệt hại được bồi thường toàn bộ và kịp thời trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Điều 595 Khoản 1 và Khoản 3 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân nhân sau:

“1 Người từ đủ mời tám tuổi trở lên gây thiệt hại, thì phải tự bồi thường.

3 Khi người cha thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có cá nhân, tổ chức giám hộ, thì cá nhân, tổ chức đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.

Về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định nêu trên cha thống nhất, vì khoản 1 đã khẳng định rằng “(mọi) người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”, trong khi đó, khoản 3 lại quy định trường hợp bồi thường đối với người mất năng lực hành vi dân sự (bất kể ở độ tuổi nào, tức là bao gồm cả độ tuổi thành niên). Do đó, khoản 1 Điều 595 cần bổ sung nh sau: “người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”.

Điều 598 Khoản 1 Điểm b, điểm d, quy định: “Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; d) Khoản tiền cấp dỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng,nếu có”.

Như chúng ta đã biết, một người khi thực hiện cấp dưỡng cho những người mình có nghĩa vụ cấp dưỡng thì mức cấp dưỡng không thể vượt quá khả năng thu nhập của họ. Vì vậy, điểm b khoản 1 đã xác định, khoản thiệt hại cần phải bồi thường là phần thu nhập bị mất của người bị thiệt hại, trong khi, điểm d lại quy định người gây thiệt hại phải cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dỡng. Có hai vấn đề cần xem xét:

Thứ nhất, cách xác định thiệt hại như trên đã vô tình buộc người gây thiệt hại phải bồi thường đến hai lần cho một thiệt hại xảy ra,đó là: thu nhập bị mất và khoản tiền mà người đó phải cấp dỡng cho người khác, trong khi, thu nhập mà người bị thiệt hại mất đi trên thực tế đã bao gồm cả nghĩa vụ cấp dỡng của người đó (nếu có). Quy định này rõ ràng là trái với nguyên tắc bồi thường toàn bộ tại Điều 595 của Dự thảo.

Thứ hai, quy định tại điểm b khoản 1 cũng chưa hợp lý, nhất là trong trường hợp thiệt hại xảy ra đối với những người mà tại thời điểm bị gây thiệt hại, họ cha có thu nhập thực tế nhng hoàn toàn có khả năng tạo thu nhập trong tơng lai nh: học sinh, sinh viên, người chờ việc…, cách xác định thiệt hại trên sẽ không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của họ. Điểm d chỉ quy định nghĩa vụ cấp dỡng của người gây thiệt hại đối với những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng chứ việc cấp dỡng cho chính bản thân người bị thiệt hại thì luật lại không quy định.

Điều 599 và điều 600 của Dự thảo.

Điều 599 của Dự thảo quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, theo đó người gây thiệt hại ngoài việc phải bồi thường thiệt hại về vật chất còn phải bồi thường một khoản tiền tối đa không quá sáu mươi (60) tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nạn nhân. Điều 600 của Dự thảo quy định về bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, theo đó người gây thiệt hại ngoài việc phải bồi thường thiệt hại về vật chất, bị buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai người bị thiệt hại, còn phải bồi thường một khoản tiền tối đa không quá mời (10) tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm. Nh vậy Dự thảo quy định theo hớng xác định mức trần khoản tiền bồi thường để bù đắp tổn thất về tinh thần.

Chúng tôi cho rằng, nên quy định để cho các bên đơng sự tự thỏa thuận mức bồi thường, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định trên cơ sở mức tối thiểu (mức sàn) do Bộ luật Dân sự quy định. Chúng tôi không đồng tình với quy định mức trần vì trên thực tế đương sự có thể thỏa thuận với nhau và chấp nhận bồi thường khoản tiền lớn hơn mức pháp luật quy định rất nhiều. Vì vậy, pháp luật chỉ nên quy định mức sàn làm cơ sở cho Tòa án áp dụng đối với từng vụ việc cụ thể.

Điều 602 và Điều 603 Dự thảo Điều 602 quy định: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

1 Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

2 Người gây thiệt hại do vợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Như vậy, Khoản 2, Điều 602 mới chỉ quy định trách nhiệm bồi thường chung mà cha xác định rõ mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp vợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là bồi thường toàn bộ hay được giảm một phần thích hợp. Chúng tôi cho rằng, việc quy định người vợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra từ hành vi đó không phải là cách quy định hợp lý, bởi quy định như vậy sẽ không khuyến khích được các chủ thể thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, nên quy định người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại do hành vi vượt quá của mình gây ra sau khi đã trừ đi phần thiệt hại mà trong trường hợp phòng vệ chính đáng gây ra.

Tương tự như vậy, để khuyến khích người ở trong tình thế cấp thiết có những hành động, lối ứng xử phù hợp, kịp thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể và các cá nhân khác, khoản 2, Điều 603 cần xác định rõ mức bồi thường trong trường hợp vợt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là bồi thường phần vượt quá chứ không phải là bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra.

Điều 610 của Dự thảo quy định: Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian ở trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý

1 Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra;

2 Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý, thì bệnh viện, các tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra;

3 Trong các trường hợp trên, nếu trường học, bệnh viện, các tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi, thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.

Chúng tôi cho rằng cách quy định tại Khoản 1 là chưa hợp lý. Đối với trường hợp này, cha mẹ và trường học cần phải chịu trách nhiệm liên đới vì trong thực tế, hầu hết các hành vi gây thiệt hại của các trẻ em trong thời gian học tập tại trường không đơn thuần là kết quả của quá trình giáo dục của riêng nhà trường, mà là sản phẩm của quá trình giáo dục của cả nhà trường và cha mẹ, trong đó, vai trò của cha mẹ rất quan trọng. Vì vậy, để tránh tình trạng phó thác việc giáo dục học sinh cho một bên, nên quy định nghĩa vụ liên đới của cha mẹ và nhà trường trừ các trường giáo dưỡng vì tính đặc thù về học viên trong loại hình trường

này. Trên cơ sở đó, khoản 1, Điều 610 nên quy định theo hướng: Người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì cha mẹ và trường học có trách nhiệm liên

đới bồi thường thiệt hại xảy ra, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Chúng tôi đồng ý với khoản 2 và khoản 3, Điều 610. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3, Điều 595, người giám hộ không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được mình không có lỗi, khoản 3, Điều 610 quy định trường học, bệnh viện, tổ chức khác cũng không phải bồi thường nếu chứng minh mình không có lỗi, vậy nếu cả hai bên đều chứng minh được mình không có lỗi trong việc người mất năng lực hành vi hoặc người dưới 15 tuổi gây thiệt hại, thì ai sẽ là người bồi thường cho người bị thiệt hại? Ban soạn thảo cần cần cân nhắc về vấn đề này để có quy định phù hợp./.

***************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG

TS. PHAN CHÍ HIẾU – HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Chế định hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng khung pháp lý cho các giao lưu dân sự, kinh tế. So với Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, Dự thảo BLDS sửa đổi đã mang nhiều ý tưởng và nội dung mới. Tuy vậy, vẫn còn một số quy định về chế định hợp đồng chưa thực sự hợp lý, cần được trao đổi thêm .

Phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng

Xác định chính xác phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng không chỉ góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mà còn tạo tiền đề cho việc thiết kế cấu trúc và xây dựng các nội dung cụ thể của chế định này trong BLDS (sửa đổi). Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng trong thời gian qua nổi lên một số vấn đề.

Thứ nhất, các quy định liên quan đến hợp đồng tản mát trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, từ những văn bản quy định chung về hợp đồng như BLDS, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) đến những văn bản quy định riêng về từng loại hợp đồng trong mỗi lĩnh vực cụ thể như Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng; dẫn đến có nhiều quy định về hợp đồng mâu thuẫn, chồng chéo với nhau.

Thứ hai, các tiêu chí phân định hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự không rõ ràng, vì vậy, thường xuyên xuất hiện những quan hệ “giáp ranh” không biết thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp luật nào, BLDS hay PLHĐKT?

Thứ ba, cách thức áp dụng phối hợp các văn bản pháp luật để điều chỉnh một quan hệ hợp đồng cụ thể cũng không rõ ràng. Cho đến thời điểm hiện nay vẫn không rõ có thể áp dụng các quy định của BLDS để điều chỉnh quan hệ hợp đồng kinh tế được hay không; thứ tự ưu tiên áp dụng các quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành so với các quy định trong BLDS, PLHĐKT n hư thế nào? Vì vậy, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng khá tuỳ tiện, thiếu thống nhất, phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của những ngời có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Thực tế trên đặt ra nhu cầu phải thống nhất sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ hợp đồng. Muốn vậy, cần mở rộng phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng trong BLDS theo hướng: Mọi quan hệ hợp đồng, bất luận được ký kết giữa những ai, trong lĩnh vực gì, hướng tới mục đích nào đều chịu sự điều chỉnh chung của các quy định trong BLDS. Bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc chung về hợp đồng trong BLDS, nếu thấy cần thiết, Nhà nớc có thể ban hành các quy định riêng trong các đạo luật chuyên ngành để điều chỉnh hiệu quả hơn các quan hệ hợp đồng phát sinh trong từng lĩnh vực cụ thể như: sản xuất, mua bán, vận chuyển, bảo hiểm, tín dụng, xây dựng… Để đơn giản hoá việc áp dụng pháp luật trong thực tế, Dự thảo cần bổ sung điều khoản quy định về nguyên tắc áp dụng phối hợp BLDS với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan đến hợp đồng.

Ví dụ: “Điều…

1. Các quy định của Bộ luật này đợc áp dụng cho việc ký kết và thực hiện mọi loại hợp đồng mà không phân biệt lĩnh vực phát sinh quan hệ.

2. Trường hợp có sự khác nhau giữa quyđịnh của BLDS và luật chuyên ngành thì áp dụng quy định của luật chuyên ngành.

3. Trường hợp luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của BLDS”.

Dự thảo nên thay thế thuật ngữ hợp đồng dân sự đang sử dụng bằng thuật ngữ hợp

đồng. Đây không phải thuần tuý là vấn đề học thuật mà là tiền đề để mở rộng phạm vi điều chỉnh cho chế định hợp đồng trong BLDS. Việc Dự thảo tiếp tục sử dụng thuật ngữ hợp đồng dân sự, vô hình trung, sẽ tạo ra tư duy phân biệt các loại hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động.

Các quy định liên quan đến việc giao kết hợp đồng

Thứ nhất: Dự thảo cần bổ sung quy định để dễ dàng nhận diện đề nghị giao kết hợp đồng và phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch (invitation to treat). Việc phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi khi bên đợc đề nghị chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sẽ dẫn tới hình thành quan hệ hợp đồng, còn khi bên được đề nghị chấp nhận đề nghị giao dịch chỉ dẫn tới việc hình thành đề nghị giao kết hợp đồng. Thực tế ký kết hợp đồng trong thời gian qua cho thấy, có nhiều trờng hợp nhầm lẫn giữa đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị giao dịch, ví dụ, các thông tin quảng cáo, tờ rơi, báo giá, thư mời thầu, trưng bày hàng hoá có niêm yết giá…

Thứ hai: Liên quan đến trách nhiệm của bên đề nghị giao kết hợp đồng đối với đề nghị giao kết hợp đồng, Khoản 3 Điều 372 Dự thảo quy định: “Trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời, bên đề nghị giao kết hợp đồng không được mời người thứ ba giao kết và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình”. Tại sao pháp luật lại không cho phép người đề nghị giao kết hợp đồng mời người thứ ba giao kết hợp đồng với mình trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời nếu họ muốn thiết lập quan hệ với nhiều ngời và hoàn toàn có khả năng thực hiện tất cả các hợp đồng với những người được đề nghị giao kết hợp đồng? Do đó, cần quy định lại Khoản 3 Điều 372 Dự thảo nh sau: “Trong thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình”.

Thứ ba: Bổ sung các điều luật quy định mang tính nguyên tắc về giao kết hợp đồng thông qua các thủ tục đặc biệt nh đấu thầu, đấu giá, mua bán tại các sàn giao dịch, mua bán những loại tài sản sẽ có trong tương lai, mua sắm của Chính phủ… Bổ sung những quy định riêng về giao kết và thực hiện hợp đồng với sự hỗ trợ của mạng Internet để đặt nền móng cho sự phát triển của thương mại điện tử. Đành rằng các vấn đề này phải đợc quy định trong từng văn bản pháp luật riêng, nhng BLDS (sửa đổi) cũng phải quy định những nguyên tắc chung về các hiện tợng nêu trên để đảm bảo tính thống nhất khi xây dựng các quy định riêng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.

Hình thức của hợp đồng

Điều 394 Dự thảo quy định: “Hợp đồng dân sự có thể đợc giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể hoặc thông điệp dữ liệu, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”. Như vậy, Điều 394 Dự thảo đã coi thông điệp dữ liệu là một hình thức của hợp đồng dân sự. Còn khoản 1 Điều 115 Dự thảo về hình thức của giao dịch dân sự lại quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Các giao dịch dân sự thông qua các hình thức điện báo, telex, fax, th điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là giao dịch bằng văn bản”.

Thực chất, Điều 394 Dự thảo là một bản sao không hoàn hảo của Điều 115 Dự thảo. Hợp đồng dân sự cũng là một dạng giao dịch dân sự, do đó quy định tại Điều 115 Dự thảo về hình thức giao dịch dân sự hoàn toàn có thể áp dụng cho hợp đồng dân sự. Bởi vậy, để tránh sự trùng lặp và mâu thuẫn giữa hai điều luật cùng quy định về một vấn đề thì Dự thảo cần loại bỏ Điều 394.

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể xuất hiện những sự kiện dẫn đến việc một bên đơn phơng chấm dứt thực hiện hợp đồng. Về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, Điều 407 Dự thảo quy định: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vihạm hợp đồng là điều kiện chấm dứt mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại”. Theo điều luật này thì để bên bị vi phạm thực hiện quyền đơn phơng chấm dứt thực hiện hợp đồng phải hội đủ hai điều kiện: (1) có sự vi phạm hợp đồng của bên kia và (2) hành vi vi phạm này đã đợc các bên tiên liệu và thoả thuận trớc với nhau trong hợp đồng hoặc đợc pháp luật quy định.

Trên thực tế khi ký hợp đồng, các bên không thể tiên liệu trước được tất cả các tình huống vi phạm hợp đồng dẫn tới quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bản thân BLDS hiện hành, Dự thảo BLDS (sửa đổi) và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác không quy định cụ thể về các hành vi vi phạm là căn cứ cho bên bị vi phạm thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bởi vậy, bên bị vi phạm rất khó thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, kể cả khi có sự vi phạm nghiêm trọng các cam kết trong hợp đồng.

Để bên bị vi phạm có thể chủ động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, Dự thảo nên quy định: Nếu có vi phạm nghiêm trọng (vi phạm cơ bản) của một bên thì bên kia được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và giải thích thế nào là vi phạm nghiêm trọng. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới quan niệm vi phạm cơ bản là những vi phạm dẫn đến mục đích mà các bên đặt ra khi ký hợp đồng là không đạt được. Từ phân tích trên, Điều 407 Dự thảo nên được quy định lại như sau: “Một bên có quyền đơn phơng chấm dứt thực hiện hợpđồng trong các trường hợp sau:

1. Khi bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng làm bên bị vi phạm không đạt được mục đích đề ra khi ký hợp đồng;

2. Các trường hợp khác theo thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại”.

Thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự là thời hạn do pháp luật quy định để bên bị vi phạm hợp đồng thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng; nếu hết thời hạn này mà bên bị vi phạm không khởi kiện thì sẽ mất quyền khởi kiện. Điều 408 Dự thảo quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợpđồng dân sự là ba năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”.

Việc quy định trên dẫn tới sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Hiện nay, rất nhiều văn bản pháp luật đã có quy định về thời hiệu khởi kiện và mốc xác định ngày bắt đầu thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng: Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp các bên bị xâm phạm; Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp; Luật Thơng mại quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày phát sinh quyền khiếu nại; Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định thời hiệu khởi kiện là ba năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.

Để tránh sự phức tạp trong thực tiễn áp dụng, nên bỏ quy định về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tại Điều 408 của Dự thảo. Nếu cần quy định về thời hiệu thì để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành, căn cứ vào tính chất của quan hệ hợp đồng trong từng lĩnh vực riêng mà quy định thời hiệu khởi kiện cho phù hợp.

Bổ sung một số loại hợp đồng thông dụng

Để tạo cơ sở cho việc xây dựng các quy định về một số loại hợp đồng cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, Dự thảo cần quy định bổ sung một số loại hợp đồng thông dụng nh hợp đồng cung ứng điện năng, nớc, điện thoại, hợp đồng xây dựng… Tuy nhiên, để tạo tính thống nhất trong pháp luật về hợp đồng, cần tiến hành rà soát để hoàn thiện các quy định liên quan đến hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc chung của BLDS. Các quy định liên quan đến hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành cần đợc hoàn thiện theo các hướng sau:

Thứ nhất, các quy định liên quan đến hợp đồng trong văn bản pháp luật chuyên ngành

không nhắc lại một cách thuần tuý các quy định vốn đã rõ ràng trong BLDS.

Thứ hai, các văn bản pháp luật chuyên ngành chỉ quy định những gì mang tính đặc thù của các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực cụ thể, hạn chế việc đa quá nhiều quy định riêng vào luật chuyên ngành.

Thứ ba, những quy định trong pháp luật chuyên ngành phải được xây dựng trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc chung của BLDS để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật về hợp đồng. Nói như vậy không có nghĩa là luật chuyên ngành không được quy định khác so với BLDS. Khi xây dựng các quy định về hợp đồng trong văn bản pháp luật chuyên ngành cần lưu ý tới những sự khác biệt cho phép và sự khác biệt không cho phép (mâu thuẫn).

Thứ tư, bản thân các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng cần quy định rõ nguyên tắc áp dụng phối hợp các quy định về hợp đồng trong BLDS và trong các văn bản pháp luật chuyên ngành để thống nhất trong nhận thức và thực tiễn vận dụng pháp luật.

Có như vậy thì các quy định của BLDS (khi được thông qua) mới thực sự trở thành “bà đỡ mát tay” cho các quan hệ hợp đồng ra đời, góp phần bảo đảm sự thông suốt của các quá trình giao lưu dân sự, kinh tế./.

**********************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

THS. LÊ MINH HÙNG – Khoa Luật Dân sự, ĐH Luật TPHCM

Bộ luật Dân sự (1995) là văn bản pháp lý đầu tiên thừa nhận địa vị pháp lý của hộ gia đình. Thực tế gần mời năm áp dụng cho thấy, nhiều quy định về hộ gia đình trong Bộ luật Dân sự bộc lộ những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung. Tác giả phân tích bất cập và đưa ra một số ý kiến đóng góp vào Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)

* Những bất cập

1) Điều 116 Bộ luật Dân sự (BLDS) và Điều 107 của Dự thảo quy định:

“Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể trong các quan hệ đó”.

Theo quy định này, hộ gia đình có thể được hình thành bằng một nhóm người nếu thỏa mãn hai tiêu chí: có tài sản chung và làm kinh tế chung trong các lĩnh vực được liệt kê. Nếu nh vậy, bất kỳ những ai có chung tài sản và làm kinh tế chung trong các lĩnh vực mà luật quy định cũng đều có thể được coi là hộ gia đình, cho dù giữa họ không có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng… Ví dụ, hai người bạn thân có chung một chiếc máy cày để làm đất trong nông nghiệp cũng có thể được coi là hộ gia đình, nhng thực tế pháp luật lại không thừa nhận đây là hộ gia đình mà chỉ coi đây là sở chung của các cá nhân.

2) Theo Điều luật vừa dẫn ở trên, hộ gia đình chỉ có thể tham gia vào quan hệ dân sự trong các lĩnh vực được liệt kê. Điều đó không những làm kém đi tính hấp dẫn của loại hình chủ thể này đối với các thành phần kinh tế khác trong xã hội, mà còn không phản ánh được đầy đủ hoạt động kinh tế của các hộ gia đình. Trên thực tế, một hộ gia đình không chỉ tham gia vào các quan hệ trong các lĩnh vực nông, lâm, ng nghiệp…, mà còn tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh, thơng mại, dịch vụ, thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, kể cả các quan hệ pháp luật phái sinh từ các hoạt động đó. Ví dụ: mua nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, thuê mớn mặt bằng, sử dụng các dịch vụ kinh tế xã hội, vay vốn ngân hàng để sản xuất, ký hợp đồng ủy thác xuất khẩu hàng hóa làm ra, thuê nhân công… Sự hạn chế năng lực làm cho tư cách pháp lý của hộ gia đình so với các chủ thể độc lập khác trở nên bất bình đẳng, họ không được quyền lựa chọn các quan hệ pháp luật dân sự để tham gia. Do đó, không khuyến khích được các cá nhân lập ra nhiều hộ gia đình hoặc tự thừa nhận mình là hộ gia đình, bởi nh vậy cũng có nghĩa là họ tự “trói chân” mình, tự đặt mình vào một quy chế chủ thể bất lợi.

3) Đối với cá nhân và pháp nhân, thời

điểm phát sinh, thời điểm chấm dứt t cách chủ thể được quy định rất minh bạch, rõ ràng, nhng suy từ các quy định nêu trên về hộ gia

đình thì thời điểm ra đời và chấm dứt t cách chủ thể hộ gia đình đơn giản phụ thuộc vào việc tham gia hoặc không tham gia vào một quan hệ dân sự. Nh vậy, hộ gia đình là một tổ chức tự phát, tự sinh rồi tự diệt; pháp luật cha có căn cứ quy định sự khai sinh hoặc chấm dứt t cách chủ thể của hộ gia đình. Bất cập này khiến cho các bên liên quan không thể trù tính được thời điểm chấm dứt tư cách chủ thể của hộ gia đình, bản thân các thành viên của hộ cũng không thể biết rõ thời điểm tồn tại và chấm dứt hộ gia đình. Ví dụ, khi những người trong hộ hùn vốn để đóng một chiếc thuyền đánh cá chung, họ là hộ gia đình. Đến khi họ dùng chiếc thuyền đó thế chấp để vay vốn ngân hàng, họ lại thành một hộ gia đình khác trong quan hệ vay vốn, lúc trả hết vốn thì chấm dứt t cách hộ gia đình. Nh vậy, t cách chủ thể của hộ sẽ luôn thay đổi và không ổn định. Do đó, việc quy định căn cứ phát sinh năng lực chủ thể của hộ gia đình là hết sức cần thiết.

Hộ gia đình chấm dứt trong các trường hợp như tài sản chung không còn, hoặc các thành viên trong hộ đều đã chết, hoặc ly hôn, tách hộ để ra sống riêng, hoặc các thành viên thỏa thuận chấm dứt hoạt động của hộ gia đình… Vì thế, cùng với việc quy định về các sự kiện pháp lý làm phát sinh năng lực chủ thể của hộ, Dự thảo cần bổ sung quy định về các sự kiện pháp lý làm chấm dứt t cách chủ thể của hộ gia đình.

4) BLDS và Dự thảo không quy định về các căn cứ làm phát sinh, chấm dứt tư cách của các thành viên trong hộ gia đình dẫn đến nhiều trường hợp, các thành viên không thể biết được mình có phải là thành viên của hộ gia đình hay không? Khi có sự tranh chấp trong hộ gia đình, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cũng khó có cơ sở pháp lý để buộc một người phải chịu trách nhiệm pháp lý với tư cách là thành viên của hộ về các nghĩa vụ tài sản của hộ gia đình.

5) Điều 117 BLDS và Điều 108 của Dự thảo cho phép suy đoán rằng, người cha thành niên cũng có thể được tham gia vào hoạt động kinh tế chung với hộ. Điều này dẫn đến hậu quả, những người cha thành niên sẽ không thể biểu lộ được ý chí trong việc tham gia hoặc rút ra khỏi hộ gia đình hay trong các trường hợp có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ. Đối với trường hợp quan hệ giữa những người trong hộ gia đình là quan hệ làm ăn kinh tế đơn thuần chứ không phải là quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng… thì ai sẽ đại diện cho người cha thành niên trong mối quan hệ với các thành viên khác của hộ, nếu có sự tranh chấp về vấn đề này thì căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để giải quyết?

Khác với việc giao dịch với một cá nhân hoặc với một nhóm các đồng sở hữu chủ tài sản chung, việc giao dịch với hộ gia đình không thể tiến hành cùng một lúc với tất cả các thành viên mà phải thông qua chủ hộ người đại diện hợp pháp của hộ. Chủ hộ gia đình là người có vai trò quan trọng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ, nhân danh cho tất cả các thành viên để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ… Do vậy, việc chỉ định chủ hộ phải được pháp luật xác định một cách rõ ràng và minh bạch. BLDS mới chỉ quy định chủ hộ gia đình là người thành niên, nhng cha chỉ rõ đích danh ai là chủ hộ và cũng không có quy định nào liên quan đến việc thay đổi, chấm dứt t cách của chủ hộ gia đình. Điều này dễ làm cho đối tác của hộ gia đình cũng nh những người trong hộ khó nhận biết được cụ thể thời gian một người có còn hay không còn tư cách chủ hộ.

6. Khoản 2, Điều 126 BLDS quy định, tổ hợp tác chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của tổ, nếu tài sản chung không đủ để trả nợ chung, tổ viên chịu trách nhiệm liên đới theo phần tơng ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình, thì khoản 2, Điều 119 BLDS quy định hộ gia đình chịu trách nhiệm liên đới vô hạn (không chia theo phần khi thực hiện nghĩa vụ) đối với món nợ chung của hộ. Quy định này đã dẫn đến hậu quả, bất kỳ ai trong hộ có khả năng kinh tế mà bị kiện đòi thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của hộ thì phải dùng tài sản riêng của mình để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật, nhng không thể kiện lại các thành viên khác hoàn trả phần tài sản mà họ đã được trả thay.

Đây là quy định không hợp lý, vì giữa những thành viên cũng có thể không có quan hệ thân thích với nhau, không thể buộc họ phải trả nợ thay cho cả hộ.

* Kiến nghị Không sửa đổi quy định về địa vị pháp lý của hộ gia đình

Hộ gia đình không phải là một pháp nhân và tuy hộ gia đình là một cộng đồng người có tài sản chung và làm kinh tế chung, nhng hoàn toàn khác với pháp nhân. Xét về phương diện quyền sở hữu tài sản thì chúng có sự khác biệt cơ bản: sở hữu của hộ gia đình là cộng đồng sở hữu, tức nhiều người cùng thực hiện quyền làm chủ của mình trên khối tài sản chung của hộ, trong khi, sở hữu của pháp nhân là loại sở hữu một chủ, tức pháp nhân là chủ sở hữu duy nhất đối với tài sản của pháp nhân (các thành viên không phải là đồng sở hữu chủ đối với tài sản của pháp nhân, mà chỉ là đồng sở hữu chủ đối với phần vốn góp vào pháp nhân tơng ứng với giá trị phần vốn góp của mỗi người). Hệ quả của việc thực hiện quyền sở hữu trên tài sản chung của hộ là, tài sản của hộ gia đình không có sự tách bạch với tài sản riêng của từng thành viên trong hộ; trong khi đó, tài sản của pháp nhân hoàn toàn tách bạch và

độc lập với phần tài sản riêng còn lại trong sản nghiệp của từng thành viên. Hộ gia đình và từng thành viên của hộ phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ tài sản của hộ gia đình, trong khi pháp nhân và thành viên của pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình. Vì vậy, theo chúng tôi, Dự thảo nên tiếp tục giữ lại các quy định về t cách chủ thể của hộ gia đình.

* Hộ gia đình có tư cách pháp lý độc lập, thường xuyên và không bị phân biệt đối xử

Chúng tôi cho rằng, không nên hạn chế quyền được tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật của hộ gia đình. Tuy luật quy định, hộ gia đình chỉ được tham gia vào lĩnh vực đã được xác định, nhng luật không thể ngăn được chủ thể hộ gia đình tham gia vào các lĩnh vực khác nhau của xã hội. Ví dụ, một hộ gia đình làm nông nghiệp, ngoài việc họ trực tiếp tham gia vào các quan hệ đã được giới hạn, hộ còn tham gia vào các quan hệ phái sinh như quan hệ chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ; hộ gia đình tham gia vào các quan hệ liên quan đến thuê mớn nhân công, làm đất, tiêu thụ sản phẩm, sử dụng các dịch vụ… phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ.

Như vậy, không nên hạn chế quyền tham gia quan hệ pháp luật dân sự của hộ gia đình, nếu thừa nhận tư cách đầy đủ của hộ gia đình sẽ tạo ra một sức bật mới để vực dậy kinh tế hộ, khuyến khích hộ gia đình phát triển, góp phần huy động các nguồn lực phát triển xã hội.

* Điều kiện cụ thể để công nhận một nhóm người làm kinh tế chung là hộ gia đình

Để nhận diện đúng đắn tư cách pháp lý của hộ gia đình, Dự thảo cần phải xác định một cách cụ thể và rõ ràng hơn về tiêu chí để một nhóm người có tài sản chung, cùng nhau làm kinh tế trong các lĩnh vực trên trở thành một hộ gia đình.

Theo chúng tôi, các tiêu chí đó bao gồm: số lượng thành viên (từ hai người trở lên, gồm

những người thành niên hoặc cha thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng tham gia lao động sản xuất, trừ thành viên của hộ gia đình được cấp đất nông nghiệp, đất ở, đất lâm nghiệp), có tài sản chung và thỏa thuận bằng văn bản về việc cùng nhau sử dụng tài sản chung đó để làm kinh tế chung trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của đời sống xã hội mà cha đủ điều kiện để được công nhận là một pháp nhân.

* Quy định về cơ chế thành viên

Dự thảo cần quy định rõ điều kiện để một cá nhân có thể trở thành thành viên của hộ gia đình, cơ chế tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ với tư cách là một thành viên; khi nào thì chấm dứt tư cách thành viên, việc rút khỏi hộ gia đình và quyền yêu cầu thanh toán phần tài sản đóng góp, việc thừa kế các quyền của thành viên khi một trong số các thành viên chết…

Theo chúng tôi, tham gia vào hộ gia đình phải là người thành niên hoặc người cha thành niên đủ 15 tuổi đến dới 18 tuổi và có hoạt động lao động sản xuất liên quan đến công việc của hộ; trong trường hợp không phải là hộ gia đình được thừa nhận bởi quy định của pháp luật (hộ trồng rừng, làm muối, hộ được cấp quyền sử dụng đất chung…) việc đóng góp tài sản cá nhân để tham gia vào hoạt động kinh tế chung trong một hộ gia đình phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó. Dự thảo cũng cần phải làm rõ các căn cứ chấm dứt t cách thành viên của hộ nh: chết, mất năng lực hành vi mà người đại diện không đồng ý tiếp tục tham gia (đối với người cha thành niên), ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng, kết hôn và xin tách hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…

* Cách thức cử người đại diện

Về cách thức cử người đại diện của hộ gia đình, chúng tôi nhất trí với phơng án hai trong Dự thảo, cho phép những thành viên trong hộ cử ra người đại diện cho hộ với những điều kiện rõ ràng về năng lực chủ thể (người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ), về hình thức, thủ tục (bằng văn bản, được sự đồng ý của tất cả các thành viên). Văn bản thỏa thuận cử đại diện cho hộ là một bằng chứng quan trọng để người người đại diện chứng thực t cách đại diện hợp pháp của mình, bằng chứng về nhiệm vụ và trách nhiệm của chủ hộ đối với hộ và bằng chứng để đối tác chấp nhận t cách đại diện của chủ hộ, cũng nh tạo cơ sở pháp lý cho đối tác trong việc yêu cầu hộ gia đình gánh chịu các trách nhiệm phát sinh từ hành vi của người đại diện khi người này xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh cho hộ.

Tuy nhiên, ngoài việc cử người đại diện theo thủ tục dân sự nêu trên, Dự thảo cần xem xét đến hai vấn đề khác:

Thứ nhất, nếu chủ hộ gia đình được xác định thông qua một quyết định hành chính, việc cử người đại diện cho hộ gia đình không cần phải đặt ra. Vì vậy, khoản 1, Điều 108 của Dự thảo cần bổ sung như sau:

“Đối với các hộ gia đình được cấp quyền sử dụng đất, thì chủ hộ được xác định trong giấy chứng nhận quyền dụng đất do cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền cấp cho hộ gia đình”.

Thứ hai, cần phải bổ sung các quy định liên quan đến việc thay đổi chủ hộ khi họ không thể thực hiện được quyền đại diện trong các trường hợp nh: mất năng lực hành vi, chết, bị phạt tù giam…, do đó, cần bổ sung khoản 4, Điều 108 của Dự thảo như sau:

“4. Khi chủ hộ chết hoặc không đủ điều kiện làm người đại diện cho hộ thì các thành viên thỏa thuận cử người khác đủ điều kiện làm người đại diện hợp pháp cho hộ theo thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp đại diện cho hộ gia đình có quyền sử dụng đất thì việc thay đổi chủ hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai”.

* Căn cứ phát sinh và chấm dứt t cách chủ thể của hộ gia đình

Để xác lập tư cách pháp lý của hộ gia đình, cần phải ghi nhận các sự kiện pháp lý làm phát sinh năng lực chủ thể của hộ gia đình. Theo chúng tôi, một hộ gia đình được coi là có năng lực chủ thể kể từ khi có một trong những căn cứ sau:

– Thỏa thuận cùng nhau góp vốn để làm kinh tế hộ gia đình.

– Những người có tài sản chung cùng nhất trí đa tài sản chung vào khai thác, sử dụng với mục đích làm kinh tế hộ gia đình.

– Được nhà nước giao đất, giao rừng, giao mặt nước… để làm kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp theo quy định của pháp luật (Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng…).

– Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Thời điểm phát sinh tư cách chủ thể của hộ gia đình là từ khi đã đăng ký hoạt động tại UBND cấp xã, phường; hoặc từ khi quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao đất, giao rừng… có hiệu lực pháp luật.

Mặt khác, để xác định thời hạn hoạt động, trách nhiệm của hộ gia đình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, Dự thảo cũng cần xác định các căn cứ làm chấm dứt tư cách của hộ gia đình, theo chúng tôi, hộ gia đình sẽ chấm dứt tư cách chủ thể khi có các căn cứ sau:

– Hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng góp vốn làm kinh tế hộ.

– Không còn thành viên (chết, ly hôn, kết hôn và tách hộ…) hoặc các thành viên không có đủ năng lực để tham gia vào việc làm kinh tế hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Luật Đất đai quy định về “Hộ gia đình độc thân”).

– Do các thành viên thỏa thuận.

– Tài sản chung của hộ không còn (do bị hủy hoại, phá sản, bị nhà nước thu hồi hay tịch thu…).

– Các trường hợp khác do pháp luật quy định (chuyển đổi và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ của hộ…).

* Xác định một cách hợp lý hơn các quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên

Để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên trong hộ gia đình, khoản 2, Điều 111 của Dự thảo nên sửa đổi, bổ sung như sau:

“Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ, thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.

Thành viên đã thực hiện thay phần nghĩa vụ tài sản cho các thành viên khác có quyền yêu cầu người được thực hiện nghĩa vụ thay hoàn lại phần đã được thực hiện thay theo quy định của pháp luật”.

Hộ gia đình là một chủ thể khá năng động, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nớc nhà, thiết nghĩ, chúng ta cần phải có các các quy định ưu đãi, có tính khuyến khích hay ít ra cũng quy định cho nó có địa vị pháp lý ngang bằng với các chủ thể khác của luật dân sự; đồng thời, cũng cần đảm bảo sự nhất quán trong cả hệ thống pháp luật, sao cho chỉ có một loại hình hộ gia đình chung nhất trong các quan hệ pháp luật, chứ không phải mỗi ngành luật có một loại gia đình riêng như hiện nay.

Thừa nhận tư cách chủ thể đầy đủ của hộ gia đình không chỉ là một sự thành công về mặt lập pháp, mà còn tạo ra sức bật mới cho kinh tế hộ gia đình phát triển. Thừa nhận tư cách pháp lý của hộ gia đình sẽ góp phần thực hiện đờng lối kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong việc khuyến khích phát huy mọi nguồn lực của xã hội để phát triển đất nước./.

****************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘ LUẬT DÂN SỰ với các luật chuyên ngành và giữa các luật chuyên ngành với nhau

PGS.TS. ĐOÀN NĂNG –  Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Khoa học và Công nghệ

Hiện nay, Bộ luật Dân sự (1995) và một số đạo luật chuyên ngành đang được sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới như Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ… Do đang tồn tại những quy định chồng chéo, nên các cơ quan soạn thảo luôn phải thảo luận lại về ranh giới điều chỉnh giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành và giữa các đạo luật chuyên ngành với nhau. Bàì viết dưới đây phân tích mối quan hệ giữa các đạo luật trên nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất và đồng bộ.

Quan hệ dân sự là các quan hệ phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh đến sinh hoạt hàng ngày của con người. Các quan hệ này dù phát sinh trong lĩnh vực nào cũng đều có những tính chất, đặc điểm chung và những tính chất, đặc điểm riêng. Chính vì vậy, có thể chia các quy phạm pháp luật dân sự thành hai nhóm lớn: Một là, nhóm các quy phạm quy định về những vấn đề, những nguyên tắc dân sự chung, bao quát các quan hệ dân sự thuộc tất cả các lĩnh vực, nhóm này được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự (BLDS). Hai là, nhóm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ dân sự cụ thể, bao gồm cả các nguyên tắc chuyên ngành cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội, nhóm này được ghi nhận trong các đạo luật cụ thể như: Luật Thương mại,Luật Hàng không dân dụng, Luật Giao thông đường bộ…

Tuy nhiên, trong BLDS hiện hành có nhiều điều luật quy định tương đối chi tiết về một số lĩnh vực cụ thể nh lĩnh vực thừa kế, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, nhà ở… Vì vậy, trên thực tế đang tồn tại sự trùng lặp, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các quy định của BLDS với các quy định của pháp luật chuyên ngành.

Sở dĩ có tình trạng trên là vì, khi tiến hành xây dựng BLDS, chúng ta cha nghiên cứu để xây dựng một mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự và không xử lý nhất quán mối quan hệ gữa cái chung với cái riêng, giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành. Trong một số lĩnh vực, chúng ta đã lấy các quy định của BLDS thay cho các đạo luật chuyên ngành, chẳng hạn như vấn đề chuyển quyền sử dụng đất đã được quy định khá chi tiết trong phần V của BLDS, trong khi Luật Đất đai lại cũng quy định về vấn đề này; hay những vấn đề mà BLDS quy định cha đầy đủ thì giao cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn, mặc dù những vấn đề này thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Khi xây dựng BLDS, chúng ta đã quá thiên về pháp điển hoá, dẫn đến xoá bỏ một loạt văn bản pháp luật chuyên ngành (Ví dụ nh Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam, Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh Nhà ở) để đa các quy định cụ thể của những chuyên ngành này vào BLDS, bởi tinh thần chủ yếu khi xây dựng BLDS là cái gì đã có, đã khẳng định được và có đến đâu thì đa vào đến đó. Nh vậy, vô tình chúng ta đã lấy cái chung thay cho cái cụ thể; đã trộn lẫn cái chung với cái riêng hay trộn cái riêng vào cái chung một cách thiếu khoa học.

Khi đề cập đến vấn đề này, có ý kiến cho rằng, khi xây dựng BLDS, có nhiều vấn đề cha rõ hoặc cha kịp nghiên cứu nên cha thể đa vào Bộ luật. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, những vấn đề quan trọng như đất đai, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là những vấn đề cực kỳ quan trọng nên phải có phần xứng đáng trong Bộ luật. Theo chúng tôi, đây là những quan điểm khó có thể chấp nhận, vì không thể nói vấn đề này quan trọng hơn vấn đề kia được. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng đây không phải là lý do chủ yếu dẫn đến cách xử lý mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngànhthiếu nhất quán và đúng đắn nêu trên.

Gần mời năm áp dụng BLDS cho thấy, các quy định của BLDS về những lĩnh vực có văn bản chuyên ngành bị bãi bỏ không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, do đó chúng ta đã phải ban hành các văn bản cấp Chính phủ, Thủ tớng Chính phủ về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội.

Để tạo điều kiện xây dựng hệ thống các quy định của pháp luật dân sự thống nhất,đồng bộ, không chồng chéo và mâu thuẫn, cần giải quyết đúng đắn và dứt điểm mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành. Phương hướng xử lý mối quan hệ này là phải xoá bỏ tình trạng lấy cái chung thay cho cái riêng, cái cụ thể, trộn lẫn cái chung với cái riêng hay trộn cái riêng vào cái chung như đã làm khi xây dựng BLDS; cần thiết kế ngay mô hình hệ thống các quy định, các văn bản pháp luật dân sự.

Trong điều kiện nước ta hiện nay, mô hình hệ thống pháp luật dân sự có tính khả thi nhất là vẫn giữ lại BLDS, nhưng chỉ với vai trò quy định về những vấn đề chung nhất như về các nguyên tắc cơ bản của BLDS, về cá nhân, pháp nhân, về tài sản và quyền sở hữu tài sản, về các giao dịch dân sự…, kết hợp với các quy định dân sự trong các luật, pháp lệnh chuyên ngành.

Theo mô hình được kiến nghị nêu trên, các vấn đề dân sự vừa được quy định trong BLDS, vừa được quy định tại các đạo luật chuyên ngành, nhng có sự phân công hợp lý theo hớng, BLDS chỉ quy định nội dung chung của tất cả các lĩnh vực, còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung đó như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Sở hữu trí tuệ…, nhưng không có chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Thực tiễn cho thấy rằng, sẽ thuận lợi hơn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật, nếu BLDS chỉ quy định các vấn đề chung cho tất cả các lĩnh vực dân sự, còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung của BLDS vào điều kiện cụ thể của mỗi chuyên ngành. Mặt khác, cũng cần lu ý rằng, BLDS là đạo luật chung nên đòi hỏi phải có sự ổn định cao, trong khi đó, các quan hệ dân sự chuyên ngành luôn biến đổi cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế, xã hội. Do đó, việc tập trung các quy định dân sự cụ thể vào văn bản chuyên ngành sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản này thay vì phải đồng thời sửa đổi, bổ sung cả Bộ luật và các đạo luật chuyên ngành liên quan.

Tuy nhiên, nếu cùng về một vấn đề mà có sự quy định khác nhau giữa BLDS và đạo luật chuyên ngành thì phải cho phép áp dụng quy định của đạo luật chuyên ngành, bởi vì, quy định của đạo luật chuyên ngành là sự cụ thể hoá các quy định chung.Trong trờng hợp nếu có vấn đề thuộc pháp luật chuyên ngành điều chỉnh nhưng đạo luật này cha quy định thì phải áp dụng các quy định chung của BLDS.

Như vậy, với sự lựa chọn mô hình nêu trên, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, các quy

định pháp luật dân sự sẽ là một hệ thống thống nhất trong đa dạng, tạo điều kiện để xoá tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn đã tồn tại trong suốt thời gian qua, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ dân sự hết sức phong phú, đa dạng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội.

Quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành

Bên cạnh việc xử lý mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành thì việc xử lý mối quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành có liên quan với nhau cũng là một vấn đề hết sức quan trọng. Sau đây, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể mối quan hệ giữa Luật Sở hữu trí tuệ với Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật Chuyển giao công nghệ đang được soạn thảo.

Quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ phát sinh trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề đặt ra là, khi xây dựng đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và luật chuyên ngành về công nghệ thông tin, về giao dịch điện tử hay về chuyển giao công nghệ, thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các lĩnh vực này sẽ được quy định ở văn bản pháp luật nào và mức độ quy định ra sao?

Để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, bất kỳ hệ thống quy phạm pháp luật chuyên ngành nào cũng phải bảo đảm tính thống nhất,đồng bộ. Vì vậy, để giải quyết mối quan hệ giữa Luật Sở hữu trí tuệ với các đạo luật chuyên ngành có liên quan trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chúng ta phải xây dựng một mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ đúng theo cách giải quyết mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành đã trình bày ở phần trên.

Trong mô hình của hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, phải xây dựng luật gốc giữ vai trò chủ đạo, còn các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực chuyên ngành khác liên quan có nội dung cụ thể và ở một mức độ nhất định trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ. Cụ thể là Luật Sở hữu trí tuệ là đạo luật gốc vì đối tuợng điều chỉnh của Luật này duy nhất là các quan hệ sở hữu trí tuệ, và với t cách là đạo luật gốc, Luật Sở hữu trí tuệ cần phải quy định tất cả những vấn đề, bao gồm những vấn đề có tính nguyên tắc và cả các quy định cụ thể về sở hữu trí tuệ áp dụng riêng cho từng lĩnh vực.

Song, thực tiễn thời gian qua cho thấy, thông thờng khi xây dựng đạo luật gốc của một chuyên ngành, chúng ta chỉ có thể xây dựng các quy định chung và một số các quy định cụ thể, còn một bộ phận các quy định quá cụ thể, quá đặc thù của các chuyên ngành có liên quan thì được giao lại cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn hoặc đưa vào các đạo luật chuyên ngành có liên quan. Vấn đề là phải bảo đảm không làm mất đi tính thống nhất, đồng bộ của mỗi hệ thống pháp luật chuyên ngành.

Cần nhấn mạnh rằng, khi xây dựng các đạo luật chuyên ngành có liên quan ít nhiều đến sở hữu trí tuệ, phải sử dụng tối đa kỹ thuật viện dẫn tới đạo luật gốc, trong đạo luật chuyên ngành chỉ nên để những quy định rất đặc thù mà trong đạo luật gốc về sở hữu trí tuệ chưa hoặc không có.

Trong thực tiễn cũng như lý luận, một vấn đề dân sự chuyên ngành cụ thể hoàn toàn có thể vừa được quy định trong đạo luật chuyên ngành gốc, vừa được quy định tại một hay thậm chí một số đạo luật chuyên ngành khác có liên quan, nhưng không được chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc.Tuy nhiên, nếu về cùng một vấn đề dân sự cụ thể mà có sự khác nhau (không phải mâu thuẫn hay chồng chéo) giữa đạo luật chuyên ngành gốc với đạo luật chuyên ngành khác có liên quan thì phải cho phép áp dụng các quy định dân sự cụ thể, đặc thù của các đạo luật chuyên ngành đó, bởi quy định cụ thể của các đạo luật chuyên ngành liên quan là sự cụ thể hoá các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc. Trong trờng hợp, vấn đề sở hữu trí tuệ của một chuyên ngành cụ thể mà cha được đạo luật của chuyên ngành đó điều chỉnh thì phải áp dụng các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc.

Để xác định phạm vi, nội dung cụ thể của BLDS và của các đạo luật chuyên ngành trong việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự, cần nghiên cứu và xử lý một cách chính xác, khoa học mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành và giữa các đạo luật chuyên ngành với nhau; mặt khác, cần xác định cụ thể và khoa học mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự. Việc sửa đổi, bổ sung BLDS cũng nh việc soạn thảo một loạt các đạo luật mới hiện nay là dịp tốt để chúng ta xử lý dứt điểm vấn đề này, bảo đảm cho hệ thống pháp luật dân sự thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế./.

*******************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005