CÁCH XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

Đã có nhiều ý kiến chỉ ra sự bất cập của Luật Phá sản Doanh nghiệp hiện hành, coi các quy định không phù hợp của Luật này là một trong số các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quá ít các vụ việc phá sản được Toà án thụ lý và giải quyết. Bài viết này sẽ đưa ra đánh giá về sự thay đổi bổ sung của Dự thảo Luật Phá sản doanh nghiệp sửa đổi (sau đây gọi là Dự thảo) trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành trong việc xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, có đối chiếu với sự thay đổi bổ sung trong Dự thảo và so sánh với một số quy định khác của các nước.

Luật Phá sản Doanh nghiệp có hiệu lực từ 1/7/1994, song cho đến nay, Toà án mới thụ lý có 152 đơn giải quyết tuyên bố phá sản và sau đó chỉ quyết định cho 46 doanh nghiệp được phá sản[1]. Theo thống kê này, chắc chắn chúng ta đều có thể nhận thấy được đây là một thực tế không bình thường.

Bởi lẽ, chỉ tính từ đầu năm 2000 cho đến nay, trên địa bàn cả nước có đến gần 80.000 công ty đăng ký kinh doanh, nâng tổng số các doanh nghiệp lên trên 120.000[2]. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 80% đến 85% số doanh nghiệp là đang hoạt động trong tổng số các doanh nghiệp được thành lập trong bốn năm qua như đánh giá của Tổ công tác Thi hành Luật Doanh nghiệp[3]. Do đó có thể khẳng định rằng số lượng các doanh nghiệp lẽ ra phải được giải thể hay phá sản là khá lớn và số lượng các vụ tuyên bố phá sản như nói trên là không phản ánh đúng thực trạng của đời sống kinh doanh hiện nay.

Qua nghiên cứu, có tình trạng như trên là do các nguyên nhân chủ yếu bao gồm: do chính Luật Phá sản doanh nghiệp ra đời trong thời gian đầu thập kỷ 90, khi đó kinh nghiệm, hiểu biết về kinh tế thị trường của chúng ta chưa nhiều; Toà án lại chưa có kinh nghiệm trong việc giải quyết phá sản[4]. Bài viết này chỉ giới hạn trong phạm vi của nguyên nhân thứ nhất.

Về sự bất cập của Luật phá sản Doanh nghiệp hiện hành, có thể kể đến quy định tại Điều 2, trong đó quy định Doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là “doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”. Tương tự, tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 189[5] quy định dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản là” Doanh nghiệp bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp”.

Theo các quy định này, các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay những người có quyền nộp đơn đề nghị giải quyết phá sản doanh nghiệp là rất khó có thể đưa vụ việc đến Toà án. Dường như vào thời điểm Luật này được thông qua, việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp còn quá mới mẻ và có thể có nhiều ý kiến khác nhau về các hậu quả khác của việc cho phép doanh nghiệp phá sản, ví dụ hậu quả về mất việc làm cho người lao động hay ảnh hưởng tới sự ổn định xã hội mà không có sự chú ý thích đáng cho chính các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng không thể hoạt động, không thể trả nợ, không đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp và xã hội song vẫn phải tồn tại.

Các điều kiện mà các quy định nói trên nêu ra có thể đưa việc phá sản doanh nghiệp đến Tòa án, song, sẽ là quá muộn khi nhìn vào thời hạn “hai năm thua lỗ liên tiếp” của doanh nghiệp dẫn đến “không trả được nợ đến hạn” hay “ba tháng liên tiếp” không “trả đủ lương cho người lao động”. Bởi lẽ, đã đến tình trạng như vậy thì khả năng “phục hồi” của doanh nghiệp là rất khó và việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp để nhằm mục đích “trả nợ tập thể” cho các chủ nợ được xem là không khả thi do doanh nghiệp cũng không còn tài sản gì để có thể thanh toán. Hơn nữa, khi doanh nghiệp đã không còn tài sản hay không có khả năng về tài chính để trả nợ đến hạn hay lương cho người lao động, lại có quy định phải kiểm toán trước khi đưa vụ án ra Toà cũng có thề nhìn nhận như một cản trở cho việc đưa đơn. Bởi lẽ, doanh nghiệp lúc đó không có đủ khả năng để trả tiền cho việc thuê kiểm toán và vì thế, Toà án không nhận đơn để giải quyết việc phá sản[6].

Theo kinh nghiệm các nước, có thể nói, việc xác định thời điểm Toà án thụ lý đơn để xem xét việc phá sản là khá sớm khi so sánh với quy định hiện thời của Việt Nam. Ví dụ, Luật phá sản của Nhật Bản quy định, “Khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó được coi là không thể trả được nợ”; luật của Pháp quy định: “Mọi thương nhân và pháp nhân, kể cả các pháp nhân không có quy chế thương nhân, khi bị lâm vào tình trạng ngừng thanh toán thì đều phải khai báo trong thời hạn mười lăm ngày để mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thủ tục thanh lý doanh nghiệp”; còn Luật Phá sản của Trung Quốc quy định tại Điều 7: “Trong trường hợp người mắc nợ không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, thì các chủ nợ có thể làm đơn yêu cầu giải quyết phá sản đối với người mắc nợ “[7].

Theo Luật của Úc (Australia), một công ty sẽ lâm vào tình trạng phá sản và buộc phải giải quyết việc phá sản nếu công ty đó không trả được tất cả các khoản nợ đến hạn. Có một cách thức được sử dụng phổ biến để chứng minh một công ty ở vào tình trạng phải bắt buộc phá sản là sử dụng quy định về việc để công ty phải trả lời chính thức về việc trả nợ cho chủ nợ. Theo đó, chủ nợ sẽ gửi cho công ty một bản kê khoản nợ (hay các khoản nợ), có tổng trị giá tối thiểu là 2.000 Đô la Úc (hai ngàn Đô la) và thông báo việc công ty mắc nợ phải trả nợ trong hạn 21 ngày. Công ty đó sẽ bị coi là lâm vào tình trạng bắt buộc phá sản và đưa ra Toà nếu không trả được khoản tiền trong hạn nói trên[8].

Do đó, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) khi xác định thời điểm có thể đưa vụ việc đến Toà án, đó là khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được nợ đến hạn[9].

Với quy định này, có thể sẽ khắc phục được tình trạng quá muộn để phục hồi doanh nghiệp hay có điều kiện tốt hơn trong việc thanh toán cho các chủ nợ. Đó là vì vào thời điểm khi phát hiện ra việc doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, vụ việc có thể được đưa ngay đến Toà án, các hoạt động và tài sản của doanh nghiệp sẽ được đặt dưới sự kiểm soát của Toà án và các chủ nợ. Khi đó, hoặc phương án phục hồi sẽ được chấp nhận, hoặc việc phá sản sẽ được tiến hành nếu không thể phục hồi, song cơ hội để thực hiện cả hai việc này sẽ tốt hơn, bởi nếu có phương án phục hồi kịp thời, doanh nghiệp mới có thể tồn tại; nếu phải thanh toán nợ và đi đến phá sản, các chủ nợ còn có thể được trả nợ khi bán các tài sản còn lại của doanh nghiệp. Cách giải quyết như trên sẽ khác với trường hợp doanh nghiệp “không còn gì” khi ra Toà giải quyết phá sản theo luật hiện hành. Doanh nghiệp khi đó, nếu sau khi thụ lý vụ phá sản, trở lại kinh doanh được, vụ án sẽ được đình chỉ, nếu không sẽ đi đến việc tuyên bố phá sản[10].

Nói cách khác, quy định về thời điểm để có thể bắt đầu “mở thủ tục phá sản” như Dự thảo sẽ đảm bảo hơn quyền lợi của các chủ nợ tham gia vào việc quản lý, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản để có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi chủ nợ. Mặt khác, bằng việc quy định này cùng với các quy định mới tại chương IV của Dự thảo, một mặt đã hạn chế được việc doanh nghiệp mắc nợ có thể tẩu tán tài sản[11]; mặt khác, lại giúp họ có thể có được điều kiện tốt hơn và giảm bớt khó khăn trong việc kinh doanh[12].

Tuy nhiên, nên chăng có thể quy định cụ thể hơn cho điều luật này để các bên có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản có thể biết rõ hơn khi nào thì họ được đưa đơn đến Toà án. Nếu theo cách viết hiện nay của Dự thảo, cần có hai điều kiện để xác định thời điểm một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đó là:

– Doanh nghiệp bị thua lỗ;

– Đã quá thời hạn thanh toán mà không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.

Như vậy, nếu doanh nghiệp không bị thua lỗ và việc này có thể xác định được trên sổ sách của doanh nghiệp, song doanh nghiệp lại có các khoản nợ đến hạn và không chịu thanh toán thì chủ nợ (hoặc các chủ nợ) không thể yêu cầu Toà án bắt đầu thủ tục phá sản doanh nghiệp đó. Nói cách khác, chủ nợ sẽ phải đi kiện đòi nợ theo thủ tục bình thường và chờ khi nào giải quyết xong sẽ xin thi hành án. Do đó, có thể sẽ tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp chây ỳ không chịu trả nợ và các chủ nợ hay những người mà pháp luật cho phép đưa đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp phải chờ đợi cho đến khi trên sổ sách của doanh nghiệp mắc nợ đó phản ánh được sự thua lỗ của doanh nghiệp.

Theo chúng tôi, có lẽ chỉ cần quy định là doanh nghiệp không trả được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu là chủ nợ có thể nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đó. Chúng ta cũng có thể đưa ra một phương thức xác định trước tình trạng của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là họ không thể thanh toán hay không chịu thanh toán một khoản nợ đến hạn nhất định. Theo quy định của luật Úc như nêu trên, khoản nợ không trả được khi đã đến hạn dùng để xác định trong trường hợp buộc một công ty phải làm thủ tục phá sản không phải là lớn, chỉ tương đương với 20 triệu đồng Việt Nam. Cũng có thể nhìn nhận là bằng sự quy định như thế, các doanh nghiệp, công ty có thể sẽ có được ý thức chấp hành pháp luật tốt hơn, hạn chế sự chiếm dụng tiền vốn của chủ nợ một cách tuỳ tiện bởi nếu làm như thế, việc kinh doanh và ngay cả địa vị pháp lý của doanh nghiệp sẽ bị đặt trên bờ vực của sự phá sản.

Theo đó, có thể quy định tại Điều 3 như sau:

Điều 3 (Điều 2 sửa đổi, bổ sung) Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Doanh nghiệp bị coi lâm vào tình trạng phá sản nếu quá thời hạn thanh toán mà không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, theo quan điểm chỉ đạo của Dự thảo, Luật Phá sản sẽ không chỉ chú ý đến việc thanh toán nợ hay “trả nợ tập thể” cho các chủ nợ mà rất chú trọng đến việc giúp cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể ra khỏi khó khăn và phục hồi việc kinh doanh. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, luật không nên coi việc phục hồi hay tổ chức lại kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là bắt buộc mà nên thanh toán tài sản hay tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản để các chủ nợ có thể được trả nợ ngay[13].

Có thể nói rằng, cùng với sự hoàn thiện của Luật Doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp của thành phần kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh chóng, đóng góp ngày một nhiều vào tổng đầu tư của xã hội[14]. Có nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh cũng có nghĩa là sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp cần giải thể và giải quyết phá sản. Đây là điều không thể tránh khỏi trong một nền kinh tế cạnh tranh. Vấn đề ở đây là làm sao cho, bằng các quy định phù hợp của luật pháp, các doanh nghiệp sẽ thực sự có được một “sân chơi” hay một “hành lang pháp lý” phù hợp để họ có thể được kinh doanh và được chấm dứt việc kinh doanh một cách công bằng; đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bộ phận khác của xã hội liên quan đến các doanh nghiệp, bất kể họ là người cho doanh nghiệp vay tiền hay là người làm công ăn lương cho doanh nghiệp. Và điều quan trọng hơn là các quy định này phải đảm bảo một cách có hiệu quả nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan và của các doanh nghiệp khi doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản.

Trong khuôn khổ của bài viết, các đánh giá phân tích là những ý kiến trên cơ sở nghiên cứu của cá nhân người viết; các nguồn khác khi sử dụng đều có chú thích. Chúng tôi mong nhận được sự trao đổi và đóng góp của các đồng nghiệp và các bạn. Ducthanh7@yahoo.com

Dương Quốc Thành

(Nguồn: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật – Hà Nội, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, số 1/2004)

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN

 
 
 
Hiện nay quản lý hành chính đối với bất động sản của các nước và khu vực trên thế giới về đại thể có ba loại hình cơ bản sau đây:Loại hình 1: Thực hành quản lý thống nhất, đồng thời coi trọng việc Chính phủ kinh doanh và khống chế quy hoạch đối với bất động sản.Ở một số nước và khu vực, mặc dù toàn bộ chế độ kinh tế xã hội thực hành nền kinh tế thị trường trên cơ sở chế độ tư hữu, nhưng do tài nguyên đất đai là có hạn, phảt triển kinh tế lại tương đối nhanh chóng, để sử dụng đầy đủ, hữu hiệu đối với lại tài nguyên khan hiếm này, loại trừ trở ngại đối với việc sử dụng hợp lý đất đai do quyền chiếm hữu đất đai của tư nhân chuyển thành sử hữu Nhà nước hoặc sở hữu Chính phủ, để tiến hành thống nhất khai thác và sử dụng, do đó làm cho Chính phủ trở thành người sở hữu chủ yếu và người cung cấp quan trọng của đất đai nói riêng, bất động sản nói chung, trên mức độ lớn ảnh hưởng đến sự vận hành của thị trường bất động sản. Là người chủ sở hữu Chính phủ có thể kịp thời vận dụng quyền lực hành chính, dùng hình thức quy hoạch để quy định và quản lý kinh doanh bất động sản của tư nhân, làm cho toàn bộ việc khai thác và kinh doanh đất đai nghiêm khắc tuân theo mục tiêu xã hội là sử dụng hợp lý có hiệu quả đất đai và bảo vệ môi trường mà tiến hành một cách có trật tự. Xingapore là một điển hình của các nước và khu vực về việc áp dụng loại hình quản lý này đối với bất động sản.Loại hình 2: Thực hành quản lý phân tán, kết hợp khống chế pháp luật với điều tiết kinh tế đối với hoạt động kinh tế bất động sản.Một số nước ở Bắc Mỹ và Tây Âu, Chính phủ TW và chính quyền địa phương đều có bất động sản của mình, các ngành của chính quyền địa phương với tư cách là người sở hữu phân biệt tiến hành kiểm soát, kinh doanh và quản lý đối với bất động sản này. Ngành chủ quản hoặc ngành quản lý hữu quan của Chính phủ TW chỉ phụ trách điều hoà quan hệ giữa các cấp chính quyền và các ngành. Bất động sản của tư nhân chủ yếu do chính quyền địa phương quản lý. Sự quản lý hành chính của Chính phủ đối với bất động sản được tiến hành theo pháp luật, chủ yếu dựa vào pháp luật để tiến hành theo pháp luật, chủ yếu dựa vào pháp luật để tiến hành kiểm soát và sử dụng công cụ kinh tế điều tiết. Pháp luật có quan hệ với bất động sản bao gồm mọi phạm vi đụng chạm đến bất động sản, từ sử dụng đất đai, quy hoạch đất đai, đăng ký vào sổ đến giao dịch thị trường bất động sản, vay thế chấp bất động sản, môi giới bất động sản, đều trên mức độ rất lớn dựa vào lập pháp và tư pháp để tiến hành kiểm soát. Công cụ kinh tế có quan hệ với quản lý bất động sản bao gồm các chính sách tài chính, thuế, tiền tệ, thông qua việc điều chỉnh chính sách hữu quan để điều tiết sự vận hành của thị trường bất động sản.Loại hình 3: Thực hành quản lý tập trung, Chính phủ trực tiếp tổ chức và kiểm soát hoạt động kinh tế bất động sản.Liên Xô trước đây và một số nước Đông Âu thực hành kinh tế kế hoạch tập trung cao độ, Chính phủ chủ yếu thông qua cơ quan hành chính và công cụ hành chính, trực tiếp tổ chức và kiểm soát các loại hoạt động kinh tế, sự quản lý đối với bất động sản cũng không ngoại lệ. Toàn bộ quá trình khai thác, sử dụng bất động sản hầu như đều do bàn tay Chính phủ thực hiện, từ quy hoạch đến phân phối và sử dụng bất động sản đều thông qua quy định, chế độ của Chính phủ để điều tiết. Mấy năm gần đây, các nước đang nghiên cứu cải cách thể chế quản lý này, làm cho loại hình quản lý hành chính đối với bất động sản cũng phát sinh một số thay đổi.Sự phân chia loại hình quản lý hành chính đối với bất động sản nói trên không phải là tuyệt đối. Như trên đã trình bày, do giai đoạn phát triển kinh tế, chế độ xã hội, mục tiêu của Chính phủ và cơ sở văn hoá, lịch sử của các nước khác nhau, nên đặc trưng và hình thức biểu hiện của loại hình quản lý hành chính đối với bất động sản cũng muôn màu muôn vẻ, rất khó tìm thấy loại hình quản lý hành chính đối với bất động sản của hai nước khác nhau mà lại có nội dung giống nhau; hơn nữa loại hình quản lý hành chính đối với bất động sản cũng không phải là cố định bất biến, cùng với sự biến đổi của tình hình kinh tế xã hội của các nước và khu vực, nội dung và quá trình tổ chức, vận hành của quản lý hành chính đối với bất động sản cũng sẽ phát sinh thay đổi. Sau 15 năm đổi mới và hội nhập, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi một bước từ nền kinh tế kế hoạch tập trung cao độ sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Chính phủ quản lý các hoạt động kinh tế bằng các công cụ pháp luật, kế hoạch và chính sách, trong việc quản lý bất động sản, đặc biệt là quản lý đất đai, rất nhấn mạnh công tác quy hoạch.Cần phải chỉ ra rằng, bất kỳ từ góc độ nào để quy nạp loại hình quản lý hành chính đối với bất động sản, cũng đều là sự khái quát thô thiển. Trên thực tế Chính phủ của bất cứ nước nào, bất luận là lựa chọn phương pháp quản lý hay là xác định nội dung quản lý, đều cần phải xem xét một cách toàn diện. Không thể, sẽ rất khó khắc phục các loại vấn đề trong vận hành kinh tế bất động sản nhằm đạt được mục tiêu quản lý nhiều mặt.Nội dung quản lý hành chính đối với bất động sản.Nội dung của quản lý hành chính đối với hoạt động kinh tế bất động sản rất rộng, chủ yếu nhất là quản lý khai thác, xây dựng bất động sản; quản lý thị trường bất động sản; quản lý thu nhập bất động sản và quản lý quyền tài sản bất động sản. Dưới đây sẽ trình bày tóm tắt các mặt nội dung nêu trên:Thứ nhất: Quản lý khai thác, xây dựng bất động sản.Khai thác, xây dựng bất động sản thuộc lĩnh vực sản xuất. Quản lý lĩnh vực này là một trong các hoạt động quản lý bất động sản tối quan trọng; khai thác, xây dựng bất động sản giữ vai trò có tính quyết định đối với sự gia tăng hữu hiệu cung cấp bất động sản, thoả mãn nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của xã hội đối với bất động sản; ngành xây dựng chuyên môn thực hiện khai thác, xây dựng bất động sản là một ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, Chính phủ các nước đều rất coi trọng việc quản lý khai thác, xây dựng bất động sản, cũng là một nội dung chủ yếu của quản lý hành chính đối với bất động sản.Mục tiêu cơ bản của quản lý khai thác, xây dựng bất động sản là xúc tiến khai thác, xây dựng hợp lý, tiết kiệm đất đai và tăng gia hữu hiệu việc cung cấp bất động sản, tăng thêm cơ hội tạo việc làm, thoả mãn nhu cầu của phát triển kinh tế đối với bất động sản. Để thực hiện mục tiêu này Chính phủ hoặc trực tiếp tham gia các hạng mục khai thác, xây dựng bất động sản. Như vậy, làm cho nội dung cụ thể của khai thác, xây dựng bất động sản rất là rộng. Khái quát lại, chủ yếu có: quản lý hạng mục khai thác, xây dựng bất động sản; quản lý thu nhập khai thác. Trong đó quản lý quy hoạch khai thác, xây dựng bất động sản là chủ yếu nhất.Sự kiểm soát của Chính phủ đối với khai thác, xây dựng bất động sản chủ yếu thông qua quy hoạch đất đai và điều lệ xây dựng. Nhằm bảo đảm phúc lợi công cộng, kiểm soát và dẫn dắt việc khai thác, xây dựng bất động sản, giảm thiểu hoặc loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố ngoại vi đối với hoạt động khai thác, xây dựng bất động sản. Quy hoạch đất đai trước đây chủ yếu là phân chia khu vực đối với tính chất và công năng sử dụng đất đai, tiến hành quy hoạch đối với kết cấu hình thể và bố cục công trình xây dựng trên mặt đất. Quy hoạch đất đai hiện đại còn bao gồm các mặt nội dung về chất lượng môi trường tự nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, kiểm soát phân lô và khai thác đất đai. Điều lệ có liên quan đến quy hoạch đất đai ngày càng phức tạp, sự hạn chế được tăng cường, như đối với mỗi khu vực đất đai đều quy định công dụng cho phép cụ thể; đối với việc thiết kế và triển khai mỗi một mảnh đất và công trình xây dựng, đều đề ra những hạn chế nghiêm khăc về chiều cao và thể tích công trình xây dựng, tỷ lệ diện tích chiếm đất của công trình xây dựng, dân số và ô nhiễm môi trường, tiêu chuẩn cây xanh và bố trí thiết bị công cộng. Đối với điều lệ xây dựng thì có tiêu chuẩn chi tiết đối với thiết kế nội bộ và yêu cầu kết cấu.Để bảo đảm thực hiện quy định và yêu cầu của quy hoạch đất đai và điều lệ kiến trúc, tăng cường quản lý đối với hoạt động khai thác, xây dựng bất động sản, hiện nay Chính phủ nhiều nước thực hành chế độ cho phép khai thác, xây dựng bất động sản, trước khi bắt đầu thực hiện đều phải đệ đơn xin phép cho cơ quan Chính phủ chủ quản, sau khi được cơ quan Chính phủ chủ quản căn cứ vào quy hoạch đất đai và điều lệ, pháp lệnh xây dựng hữu quan để thẩm tra, phê chuẩn một cách nghiêm khắc mới được tiến hành.
PGS. TS. Phạm Ngọc Côn
(Nguồn: Tạp chí Thương mại, số 46/2003)

VỀ QUAN HỆ SỞ HỮU TRON NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

ĐOÀN QUANG THỌ – Tạp chí Triết học

Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu lý luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.

Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của xã hội tư bản. Từ đó, các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công hữu, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc, mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch sứ đó, các ông chưa chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu.

Khi vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào điều kiện cụ thể ở nước Nga, V.I.Lênin đá chỉ ra hai con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đối với các nước tư bản phát triển, sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, sẽ chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Đối với các nước lạc hậu, con đường đó phải trải qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ khác nhau. Ngay sau cách mạng tháng Mười, trong tác phẩm “Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư sản”, V.I.Lênin đã cực lực phê phán những tư tưởng nóng vội muốn xác lập ngay chế độ công hữu. Đặc biệt, trong chính sách kinh tế mới, ông đã đưa ra tư tưởng về nền kinh tế nhiều thành phần, về các hình thức kinh tế quá độ, đặc biệt là vấn đề sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là “sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội”, là “nấc thang lịch sử”, là “bước tiến lên” chủ nghĩa xã hội.

Sau khi V.I.Lênin mất, Liên Xô đã đi vào thực hiện công nghiệp hoá, đẩy mạnh quốc hữu hoá và tập thế hoá, thực hiện quản lý kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá tập trung. Mô hình đó đá phát huy tác dụng tích cực trong điều kiện Liên Xô bị các nước tư bản bao vây, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Từ đó dẫn đến quan điểm tuyệt đối hoá mô hình kế hoạch hoá tập trung, tuyệt đối hoá công hữu được hình thức: toàn dân và tập thể. Thậm chí, vào những năm 80 của thế kỷ XX, ở Liên Xô đã không ít người cho rằng, hình thức sớ hữu tập thể đang từng bước chuyển thành sở hưu toàn dân. Như vậy, vào giai đoạn lịch sử đó đã xuất hiện quan niệm cho rằng, chế độ công hữu phát triển đến đỉnh cao se trớ thành một hình thức sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân. Song, giờ đây, trên thực tế, mô hình đó đã sụp đổ còn chủ nghĩa tư bản thì vẫn tiếp tục phát triển. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại mô hình sở hữu xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, mới có thể đi đến một quan niệm nhất quán về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Muốn có câu trả lời đúng cho vấn đề này, trước hết phải có phương pháp tiếp cận đúng. Chúng ta không thể lấy ý muốn chủ quan thay thế các quy luật khách quan. Theo quy luật thì quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển cửa lực lượng sản xuất. Trong lịch sử, sự phát triển của lực lượng sản xuất là quá trình không ngừng đổi mới và hoàn thiện công cụ lao động, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ người lao động, là quá trình hình thành, phát triển phân công lao động xã hội, chuyểền từ lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân lên lực lượng sản xuất có tính chất xã hội. Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, khi khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò to lớn, lực lượng sản xuất đã mang tính quốc tế, quá trình chuyển biến đó ngày một rõ ràng hơn.

Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, các chế độ sở hữu cũng như các hình thức sở hữu cũng thay đổi. Trong lịch sử phát triền của nhân loại, các chế độ sở hữu đã lần lượt thay thế nhau: từ chế độ công hữu nguyên thuỷ đến chế độ chiếm hưu nô lệ, phong kiến, chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa. Lịch sử phát triển của nhân loại cũng cho thấy, không có một chế độ sở hữu nào là thuần nhất một hình thức sở hữu, mà nó là sự đan xen nhiều loại hình, nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Tuy nhiên, trong đó có một loại hình sở hữu đóng vai trò chi phối, quy định bản chất của chế độ sở hữu trong từng giai đoạn lịch sử. Xu hướng phát triển của nhân loại không phải đi đến chỗ đơn nhất hoá mà ngược lại, ngày càng đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Nếu như trong xã hội nguyên thuỷ chỉ mới có công hữu nguyên thuỷ thì ngày nay, trong các nước đều đan xen rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Xu hướng phát triển đó là tất yếu, phù hợp với quá trình xã hôi hoá của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất có tính xã hội đòi hỏi quan hệ sản xuất cung phải có tính xã hội. Tính xã hội ở đây thể hiện trong tính đa dạng của nó, chính tính đa dạng đó mới tạo ra sự kết hợp tối ưu các yếu tố của lực lượng sản xuất. Trước đây, nói đến chế độ công hữu là nói đến quá trình biến tư liệu sản xuất thành sở hữu toàn dân và tập thể, và cuối cùng, đi đến một hình thức sở hưu duy nhất là sở hưu toàn dân. Từ đó dẫn đến công hữu hoá ồ ạt, càng nhanh càng tốt. Song thực tiễn đã cho thấy, đó là quan điểm sai lầm. Chế độ công hưu xã hôi chủ nghĩa không hề gạtạt bỏ tính đa dạng các hình thức sở hữu mà ngược lại, chúng thống nhất với nhau. Trong tính đa dạng các hính thức sở hữu, công hữu phải giữ vai trò chi phối. Điều đó cho phép phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đồng thời giữ vững được bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi “phải trải qua một thòi kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ và trong thời kỳ quá độ ấy có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế”. Trong đường lối kinh tế, Đảng ta đề ra: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuân phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa hay quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất mới mẻ về lý luận và thực tiễn. Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là chúng ta chưa thể có ngay chủ nghĩa xã hội theo đúng nghĩa của nó, mà đó là một quá trình, là mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới. Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập chủ nghĩa xã hội, phải tạo ra những điều kiện, những tiền đề để phát triển theo đúng quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội, tránh nguy cơ chệch hướng. Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xã hội và mục tiêu bảo vệ môi trường nhằm thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Và “từ các hình thức sở hữu cơ bản: sớ hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp”. Để đạt được điều đó, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu đài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.

Theo đó, có thể nói, quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt: một mặt, phải đa dạng hoá các hình thức sớ hữu và coi đó là một trong những điều kiện tất yếu của kinh tế thị trường, mặt khác, phải không ngừng củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đó là yếu tố quyết định đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa về mặt kinh tế. Việc kết hợp hai mặt đó là nét đặc thù của quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Theo  Tạp chí Triết học

GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. TẬP 1:Gia đình

Tác giả:

TS. Nguyễn Ngọc Điện

Chuyên ngành: Khoa học xã hội / Luật

Nguồn phát hành:

 Trường ĐH Cần Thơ

Sơ lược:

Trong chừng mực nào đó, có thể định nghĩa luật hôn nhân và gia đình như là tập hợp các quy tắc chi phối sự thành lập và sự vận hành của gia đình. Có ba dữ kiện cơ bản liên quan đến gia đình mà từ việc phân tích ba dữ kiện ấy, người làm luật đề ra các quy tắc của mình: sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhằm xây dựng cuộc sống chung; sự sinh con và việc giáo dục con. Vai trò của luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được xác định tùy theo kết quả xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và gia đình, hay đúng hơn, tùy theo mức độ tự chủ của gia đình đối với Nhà nước, trong quá trình hình thành và phát triển của các dữ kiện ấy. 

  Với tầm quan trọng như vậy, luật hôn nhân và gia đình đã trở thành một phần cơ bản, không thể thiếu trong hệ thống luật của Việt Nam.Giáo trình được chia thành hai phần, phần đầu tiên là luật gia đình.

 ISBN: Chưa xác định

 Tài liệu tham khảo:
 –  Bénabent A., Droit civil – La famille (gia đình), Litec, 1998. 
 – Bùi Tường Chiểu, La polygamie en droit annamite (chế độ đa thê trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1933.
 – Comité consultatif de jurisprudence, Recueil des avis sur les coutumes des Annamites au Tonkin en matière de droit de famille, de successions et de biens cultuels (tập ý kiến về tục lệ của người Việt Nam tại Bắc Kỳ trong các lĩnh vực gia đình, thừa kế và tài sản thờ cúng), Hà Nội, 1930. 
 – Cornu G., Droit civil-La famille (gia đình), Montchrestien, 
 – Hồ Đắc Diệm, La puissance paternelle dans le droit annamite (phụ quyền trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1928.
 – Lê Văn Hổ, La mère de famille en droit annamite (người mẹ trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1932.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – La famille (gia đình), Cujas, 1995.
 – Nguyễn Phú Đức, La veuve en droit vietnamien (người vợ goá trong luật Việt Nam), luận án Hà Nội, 1952. 
 – Nguyễn Thế Giai, Luật hôn nhân và gia đình, trả lời 120 câu hỏi, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Nguyễn Văn Thông, Hỏi đáp về Luật hôn nhân và gia đình, nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001.
 – Phan Đăng Thanh. Trương Thị Hoà, Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, nxb Trẻ-TPHCM, 2000. 
 – Philastre P.-L.-F., Code annamite (Bộ luật Gia Long), Leroux, 1909. 
 – Sicé E., Le mariage en Pays d’Annam (hôn nhân ở Việt Nam), Dijon, 1906. 
 – Trần Quang Dung, Tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nxb Tổng Hợp Đồng Nai, 2000.
 – Trịnh Đình Tiêu, La femme mariée en droit vietnamien (người đàn bà có chồng trong luật Việt Nam), Toulouse, 1958. 
 – Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội, 1994.
 – Viện Sử học Việt Nam, Bộ Quốc triều hình luật, nxb Pháp lý, 1991.
 – Vũ Văn Hiền, Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam, Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1960, t. 1 và 2. 
 – Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất – Gia đình, Sài Gòn, 1962
 –  Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất, Sài Gòn, 1971.

*****************************

TẢI GIÁO TRÌNH TẠI ĐÂY: http://www.mediafire.com/?8mgh2zgnomk  (Đọc bằng phần mềm Adobe Reader)

GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. TẬP 2: CÁC QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ CHỒNG

 Tác giả:

 TS. Nguyễn Ngọc Điện

 Chuyên ngành: Khoa học xã hội / Luật

 Nguồn phát hành:

 Trường ĐH Cần Thơ

Sơ lược:
Đây là phần tiếp theo của giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Phần hai của giáo trình sẽ trình bày tập trung vào mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. 

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một loại quan hệ đặc biệt ràng buộc hai người, vốn đã gắn bó với nhau do hiệu lực của hôn nhân, nghĩa là có đăng ký kết hôn, liên quan đến tài sản, nói chung là đến các lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, sự tồn tại của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Quan hệ tài sản của vợ chồng không tồn tại giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn . Quan hệ tài sản giữa vợ chồng bị thủ tiêu, trong trường hợp hai người chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, nhưng sau đó hôn nhân bị hủy theo một bản án hoặc quyết định của Toà án. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng chấm dứt, trong trường hợp hai người chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, nhưng sau đó hôn nhân chấm dứt do ly hôn hoặc do có một người chết.   

ISBN: Chưa xác định

Tài liệu tham khảo:
 – Bénabent A., Droit civil – La famille (gia đình), Litec, 1998. 
 – Bùi Tường Chiểu, La polygamie en droit annamite (chế độ đa thê trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1933.
 –  Colomer A., Droit civil – Régimes matrimoniaux ( Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Litec, 1998. 
 –  Comité consultatif de jurisprudence, Recueil des avis sur les coutumes des Annamites au Tonkin en matière de droit de famille, de successions et de biens cultuels (tập ý kiến về tục lệ của người Việt Nam tại Bắc Kỳ trong các lĩnh vực gia đình, thừa kế và tài sản thờ cúng), Hà Nội, 1930. 
 – Cornu G., Droit civil-La famille (gia đình), Montchrestien, 1993.
 – Cornu G., Droit civil – Les régimes matrimoniaux (Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Presse Universitaire de France-Thémis, 1997.
 – Hồ Đắc Diệm, La puissance paternelle dans le droit annamite (phụ quyền trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1928.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – La famille (Gia đình), Cujas, 1995.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – Les Régimes matrimoniaux (Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Cujas, 1999. 
 – Nguyễn Huy Lai, Les régimes matrimoniaux dans le droit annamite (Các chế độ tài sản của vợ và chồng trong luật Việt Nam), luận án Paris 1934.
 – Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập I – Gia đình, nxb Trẻ-TP Hồ Chí Minh, 2002. 
 – Phú Đức, La veuve en droit vietnamien (người vợ goá trong luật Việt Nam), luận án Hà Nội, 1952. 
 – Nguyễn Thế Giai, Luật hôn nhân và gia đình, trả lời 120 câu hỏi, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Nguyễn Văn Thông, Hỏi đáp về Luật hôn nhân và gia đình, nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001.
 – Philastre P.-L.-F., Code annamite (Bộ luật Gia Long), Leroux, 1909. 
 – Sicé E., Le mariage en Pays d’Annam (hôn nhân ở Việt Nam), Dijon, 1906. 
 – Trần Quang Dung, Tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nxb Tổng Hợp Đồng Nai, 2000.
 – Trịnh Đình Tiêu, La femme mariée en droit vietnamien (người đàn bà có chồng trong luật Việt Nam), Toulouse, 1958. 
 – Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội, 1994.
 – Viện Sử học Việt Nam, Bộ Quốc triều hình luật, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Vũ Văn Hiền, Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam, Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1960, t. 1 và 2. 
 – Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất – Gia đình, Sài Gòn, 1962
 – Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất, Sài Gòn, 1971.

***************************

TẢI GIÁO TRÌNH TẠI ĐÂY: http://www.mediafire.com/?ctdw0tmp4ue (Đọc bằng phần mềm Adobe Reader)

LUẬN ÁN “PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM” CỦA NGHIÊN CỨU SINH NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG

Chuyên ngành: Luật kinh tế; Mã số: 62 38 50 01
Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Kim Phụng
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Phạm Công Trứ; 2. PGS.TS. Đào Thị Hằng
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội
(Hội đồng chấm luận án theo QĐ số 5229/QĐ-BGDĐT ngày 20/9/2006)

Luận án đã phân tích và chỉ ra những nội dung còn bất cập trong Luật lao động Việt Nam cũng như thực tiễn thực hiện: một số quy định còn quá chi tiết, chưa hợp lý, bảo vệ người lao động chưa linh hoạt; biện pháp bảo vệ chưa hiệu quả nên họ còn bị vi phạm quyền lợi. Vì vậy, pháp luật về bảo vệ người lao động cần hoàn thiện với những nội dung cụ thể sau:

– Linh hoạt hóa các quy định về bảo vệ việc làm, thừa nhận quyền điều chuyển lao động trong các công việc tương đương, việc ưu tiên lao động nữ, lao động tàn tật phải đồng bộ với ưu đãi doanh nghiệp, bỏ sự phân biệt đối xử với người lao động theo thời hạn hợp đồng;

– Bổ sung quy định về lương tối thiểu theo vùng, theo ngày, giờ và thống nhất việc điều chỉnh tiền lương trong các thành phần kinh tế; quy định về quỹ quốc gia để điều trị, bồi thường tai nạn nghề nghiệp cho người lao động; quy định người sử dụng lao động phải bồi thường vật chất nếu vi phạm quyền nhân thân của người lao động, quy định đóng và hưởng bảo hiểm xã hội trên lương thực tế của người lao động;

– Cần chuyên trách hóa cán bộ công đoàn, hướng dẫn việc triển khai ký kết thỏa ước ngành, đơn giản hóa thủ tục đình công và bỏ giới hạn về người lãnh đạo đình công, thừa nhận án lệ trong xét xử, nâng cao mức xử phạt vi phạm căn cứ vào mức được lợi do vi phạm và sự tái phạm… Đồng thời, quy định thành lập Hội đồng ba bên quốc gia và thay đổi Điều 12, Bộ Luật lao động thành quy định chung về cơ chế ba bên để có cơ sở bảo vệ người lao động ngay từ khâu hoạch định chính sách…

Kết quả nghiên cứu luận án có khả năng ứng dụng cho việc soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động (2006), có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy và trong công tác bảo vệ người lao động.

====================================

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án tiến sĩ của NCS Lê Thu Hà về đề tài “Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

Mã số: 62.38..30.01
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Họ và tên cán bộ hướng dẫn:
1. TS Định Trung Tụng
2. TS Đặng Quang Phương
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội

Tóm tắt những kết luận mới của luận án:

1. Việc phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế:

– Chưa tạo ra được mô hình tổ chức xét xử thực sự có hiệu quả;

– Án dân sự bị xét xử lòng vòng qua nhiều cấp, kéo dài nhiều năm;

– Chất lượng án xử chưa cao.

2. Cần đổi mới việc phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án với những giải pháp cụ thể sau:

– Tổ chức Toà án theo khu vực thay đổi vì tổ chức theo đơn vị hành chính như hiện nay. Hệ thống Toà án sẽ thực hiện ba cấp xét xử thay vì hai cấp xét xử. Mỗi một cấp Toà án chỉ đảm nhận một cấp xét xử. Trong mỗi cấp Toà án có các Toà chuyên sâu trong lĩnh vực dân sự và lĩnh vực hình sự, thay vì có tới năm toà chuyên trách, gồm Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính như hiện nay.

– Bổ sung vào Bộ luật tố tụng dân sự các quy định về thủ tục rút gọn; quyền sửa án của Hội đồng xét xử phúc thẩm, quyền sửa án của Hội đồng giám đốc thẩm; quyền kháng cáo của giám đốc thẩm của đương sự; nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự.

– Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo Thẩm phán, đổi mới tiêu chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán, đổi mới tư duy và phương pháp làm việc của người Thẩm phán phù hợp với yêu cầu mới của việc phát triển đất nước nói chung cũng như ngành tư pháp nói riêng, tăng cường trách nhiệm cá nhân.

3. Những kết luận trong luận án có khả năng ứng dụng hiệu quả đối với việc xây dựng và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp năm 2006-2020 với trọng tâm là cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan Toà án. Cụ thể, các nghiên cứu và kết luận của luận án có thể là cơ sở để xây dựng và triển khai:

– Đề án kiện toàn tổ chức Toà án theo khu vực;

– Đề án kiện toàn tổ chức các toà chuyên trách trong hệ thống Toà án.

– Đề án năng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán;

– Đề án đổi mới chương trình đào tạo cử nhân luật.

– Đề án đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp.

– Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự.

==================================TÌM ĐỌC TRÊN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thanh Tâm về đề tài “Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

Mã số : 62 38 50 01;
Chuyên ngành : Luật kinh tế;
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Hồng Hạnh;
Cơ sở đào tạo: Đại học Luật Hà Nội;

Những kết luận mới của luận án:

 1. Sau khi nghiên cứu, NCS nhận thấy pháp luật hiện hành về quyền sở hữu công nghiệp( QSHCN) dưới góc độ thương mại ở Việt có những điểm bất cập mà chưa có công trình nào được công bố đề cập.  ·Các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp(SHCN) chủ yếu tiếp cận QSHCN ở góc độ dân sự. Chính điều này đã hạn chế không nhỏ đến việc bảo hộ, sử dụng, chuyển giao QSHCN ở nước ta trong hoạt động thương mại.  ·Các đối tượng SHCN là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, song các quy định pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong lĩnh vực này mới chỉ mang tính nguyên tắc, chưa đồng bộ, thiêú tínhliên thông, đã ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích thương mại của các chủ thể QSHCN.        2. Pháp luật về SHCN dưới góc độ thương mại cần được hoàn thiện với nội dung mới, cụ thể như sau:   ·Pháp luật quy định cụ thể về: góp vốn bằng QSHCN trong các dự án đầu tư, điều chỉnh có sự phân biệt rõ ràng giữa hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng và hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng SHCN; điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hợp đồng chuyển giao QSHCN trong trường hợp bên giao bị phá sản.  ·Ban hành các quy điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể liên quan đến việc sử dụng trái phép các đối tượng SHCN để duy trì lợi thế cạnh tranh, tiến hành cạnh tranh không lành mạnh; quy định về nhập khẩu song song, về giải quyết tranh chấp tên miền trên Internet.         3. Những kết luận mới trong luận án của NCS như: thuộc tính thương mại của các đối tượng SHCN, góp vốn bằng giá trị QSHCN, chế độ pháp lý của các loại hợp đồng chuyển giao công nghệ, có khả năng ứng dụng hiệu quả cho việc xây dựng Luật sở hữư trí tuệ, Luật Doanh nghiệp dự kiến sữ được Quốc hội thông qua cuối năm 2005 và Luật chuyển giao công nghệ sẽ được thông qua năm 2006.         4.Những vấn đề cấn tiếp tục nghiên cứu: Xây dựng luật về thị trường khoa học và công nghệ; Xây dựng và hoàn thiện các quy định về SHCN với tự do hóa thương mại.

============================================

TÌM ĐỌC TRÊN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

 

 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN VĂN LUẬN VỀ ĐỀ TÀI “BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: l. TS. Đinh Ngọc Hiện; 2. PGS-TS. Đoàn Năng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN
Là công trình khoa học đầu tiên đi chuyên sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống từ chế định pháp luật, cơ chế thực thi và thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam, trong nội dung của luận án đã có được một số đóng góp mới, cụ thể như:
l Nêu rõ mọi khía cạnh của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và từ việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam, chỉ rõ hiệu quả và những nguyên nhân, hạn chế trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam.
2. So sánh, đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá với quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong một số điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước khác trên thế giới, từ đó chỉ rõ ”tính đầy đủ” và ”tính hiệu quả” của pháp luật Việt Nam và mục tiêu cụ thể cần đạt tới.
3. Xây dựng được một số khái mềm khoa học có hên quan đến ranh vực nghiên cứu như:
– Nhãn hiệu hàng hoá-đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;
– Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá;
– Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá;
– Hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá;
– Hành vi sản xuất hàng giả và hàng giả. . .
4. Nêu ra các khuyến nghị và giải pháp đồng bộ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật, tăng cường hiệu quả các hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá theo các tiêu chí ”đầy đủ” và ”hiệu quả” để các cơ quan có thẩm quyền tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ và kiện toàn hệ thống các cơ quan thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá. Các khuyến nghị và giải pháp bao gồm:
– Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá, trong đó trọng tâm là sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự năm 1995 đại Phần thứ sáu quy định về nhãn hiệu hàng hoá và ban hành Luật Sở hữu trí tuệ. Đây và phương hướng tổng quát, có tính chiến lược nhằm xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ, toàn diện, thống nhất đồng bộ và hiệu quả theo đòi hỏi của Hiệp định TRIPS/WTO.
– Kiện toàn và tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu hàng hoá nói riêng. Cần chú trọng đến việc chuyên môn hoá đội ngũ Thẩm phán Toà án và tổ chức Toà chuyên trách về sở hữu công nghiệp trong quá trình cải cách tư pháp đến năm 2010.

============ ************ ==============

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

LUẬN ÁN CỦA NCS HÀ CÔNG TUẤN “QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY”

Chuyên ngành:Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật; Mã số: 62.38.01.01; Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh, TS. Trịnh Đức Thảo; Cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

1.      Luận án đã xây dựng khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng là quá trình các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng công cụ pháp luật tác động vào các đối tượng quản lý để định hướng và điều chỉnh các hành vi xã hội nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên rừng .

2.      Luận án đã chỉ rõ bốn đặc trư­ng quản lý nhà n­ước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng gồm: sự kết hợp giữa pháp luật với luật tục, hư­ơng ­ước của các cộng đồng dân cư­ trong quản lý bảo vệ rừng; ư­u thế nổi trội của các biện pháp pháp lý trong phòng ngừa hành vi xâm hại rừng; sự kết hợp giữa biện pháp kinh tế – xã hội với biện pháp pháp lý trong quản lý bảo vệ rừng; tính đặc thù của các biện pháp kỹ thuật trong quản lý bảo vệ rừng.

3.    Từ các mô hình quản lý bảo vệ rừng của một số n­ước và tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế, luận án đã rút ra một số bài học có thể áp dụng cho Việt Nam như: tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý bảo vệ rừng (Kiểm lâm) thống nhất từ Trung ương đến địa phương; phân chia lâm phận quốc gia thành ba loại rừng (trong khi các nước chia thành hai loại rừng) gắn với việc quy định chế độ quản lý tương ứng; xã hội hóa công tác bảo vệ rừng; kinh nghiệm về việc xử lý vi phạm trật tự quản lý bảo vệ rừng.

4.    Luận án đã đề xuất và luận giải lộ trình thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm quản lý nhà n­ước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng đến năm 2020. Trong đó, đề xuất bốn giải pháp mới là:

– Cần hệ thống hoá luật tục truyền thống, hướng dẫn, hỗ trợ pháp lý cho cộng đồng dân cư xây dưng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng; kết hợp sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật với luật tục, h­ương ư­ớc của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng;

– Đề xuất các quy định về trách nhiệm quản lý rừng đối với chính quyền các cấp như: quản lý quy hoạch rừng bền vững, tổ chức các hoạt động chống chặt phá rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn.

– Xác định chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm với Công an, Quân đội trong các hoạt động chống chặt phá rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng;

– Đề xuất chế độ phụ cấp ưu đãi nghề cho lực lượng Kiểm lâm (20% cho công chức công tác ở Chi cục Kiểm lâm đến 50% cho công chức kiểm lâm địa bàn cấp xã); áp dụng chính sách thương binh liệt sĩ cho công chức kiểm lâm bị thương, bị hy sinh trong khi thi hành công vụ; đồng thời quy định chế độ trách nhiệm đối với công chức kiểm lâm khi để xảy ra tình trạng rừng bị xâm hại trên địa bàn quản lý.

======== ****** ==========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI, THƯ VIỆN QUỐC GIA, HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN “CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI NỀN KINH TẾ” CỦA NCS ĐINH THỊ KIM CHI

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị; Mã số chuyên ngành: 5.02.01; Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Sơn Hùng, TS Trương Thị Hiền; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế của cả nước. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, thị trường SLĐ trên địa bàn Thành phố đã xuất hiện sớm nhất so với các tỉnh thành khác trong cả nước. Bởi vậy, đồng thời với việc nghiên cứu các điều kiện kinh tế khách quan cần thiết phải nghiên cứu các chính sách tác động tới sự hình thành và phát triển thị trường SLĐ trên địa bàn Thành phố. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc góp phần thúc đẩy sự hình thành, phát triển thị trường SLĐ ở nước ta.

Để thị trường SLĐ ở Thành phố tiếp tục hoàn thiện và phát triển, hệ thống chính sách tác động tới thị trường này cần được bổ sung và hoàn thiện một số chính sách cơ bản sau:

1.       Vấn đề chính sách tiền lương: đây là khâu đột phá kéo toàn bộ thị trường SLĐ ra khỏi sự rơi rớt, níu kéo của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và thúc đẩy thị trường này phát triển nhanh hơn nữa. Luận án kiến nghị chính sách tiền lương gắn với hiệu quả công việc, theo đó cơ cấu tiền lương chỉ gồm 2 phần:

–          Tiền lương tối thiểu: thực hiện theo quy định của pháp luật

–          Tiền lương gắn liền với hiệu quả công việc: phần tiền lương này được xác định trên cơ sở mức giá khoán cho mỗi công việc, vì hiệu quả công việc phản ánh chính xác nhất giá trị hàng hoá SLĐ.

Chính sách tiền lương này một mặt đáp ứng đầy đủ những yêu cầu, tác dụng của quy luật kinh tế thị trường, mặt khác vẫn đảm bảo sự quản lý điều tiết của Nhà nước, góp phần giảm thiểu những bất cập, hạn chế của chính sách tiền lương hiện nay.

2.       Vấn đề chính sách đào tạo:

–          Để đáơ ứng đòi hỏi của thị trường SLĐ trên địa bàn thành phố trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố đến năm 2020, chính sách đào tạo, dạy nghề phải hướng tới phát triển các ngành cơ bản như cơ khi, điện tử, tin học, ngoại ngữ, ngân hàng, tài chính, ngoại thương, marketing, du lịch, luật sư, bưu chính viễn thông, y tế, sư phạm, quản lý hành chính, phim ảnh, sân khấu nghệ thuật …

–          Cần phân biệt học phí theo ngành đào tạo, bởi mỗi ngành đòi hỏi những chi phí đào tạo khác nhau.

–          Cần đổi mới quy trình thực hiện chính sách miễn giảm học phí theo hướng vừa đảm bảo công bằng trong hoạch toán kinh tế vừa đảm bảo công bằng xã hội, theo đó, sinh viên trong diện ưu tiên vẫn phải đóng học phí toàn phần cho cơ sở đào tạo, nhưng họ được nhận phần miễn giảm từ ngân sách Nhà nước thông qua Uỷ bản nhân dân phường, xã.

3.       Về chính sách quản lý thị trường SLĐ

–          Uỷ ban nhân dân phường xã phải là nơi cấp phát sổ lao động cho người lao động, vì đây là cấp chính quyền cơ sở có khả năng quản lý chặt chẽ nhất vấn đề nhân lực lao động và biến động dân số.

–          Cần có cơ chế phối hợp giữa ngành thống kê, lao động thương binh xã hội và cơ quan hành chính địa phương, đặc biệt là cấp phường, xã trong công tác quản lý thị trường SLĐ.

4.       Về chính sách bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp

–          Trên cơ sở khái niệm thất nghiệp phù hợp với điều kiện Việt nam, cần quy định đối tượng được hưởng trợ cấp thất nghiệp và xây dựng trợ cấp thất nghiệp.

–          Cần tổ chức tuyên truyền rộng rãi, thường xuyên về nghĩa vụ và lợi ích của người lao động trong việc khai báo thất nghiệp

–          Để đảm bảo tính chính xác, thuận lợi, tránh chồng chéo, cần quy định thống nhất cấp phường, xã là nơi thực hiện công tác thống kê ban đầu tình hình thất nghiệp.

========= ****** ===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án Tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Lan về đề tài: “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Văn Thanh và TS. Đinh Trung Tụng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những kết luận mới của luận án:

1. Luận án đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm con nuôi, nuôi con nuôi, chế định pháp lý về nuôi con nuôi, các hình thức nuôi con nuôi, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức nuôi con nuôi này. Trước đây, các vấn đề này chưa hề được đề cập đến.

2. Luận án đã làm rõ cơ sở xã hội – lịch sử của việc nuôi con nuôi và chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc nuôi con nuôi trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Luận án phân biệt việc nuôi con nuôi với các hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em khác và làm rõ ý nghĩa của việc nuôi con nuôi.

3. Luận án đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật nuôi con nuôi hiện hành, như còn thiếu vắng quy định về các hình thức nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi chưa được quy định đầy đủ và chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, các điều kiện nuôi con nuôi chưa chặt chẽ, chưa phản ánh và phù hợp với bản chất của quan hệ nuôi con nuôi, chưa có quy định về huỷ việc nuôi con nuôi v.v…

4. Luận án đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật:

– Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có một số nội dung cơ bản sau: Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để quy định hình thức nuôi con nuôi đầy đủ bên cạnh hình thức nuôi con nuôi đơn giản. Luận án khẳng định, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi phải gắn với mỗi hình thức nuôi con nuôi tương ứng và cần được quy định cụ thể. Cần bổ sung, sửa đổi các điều kiện của việc nuôi con nuôi, như cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi, quy định điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi; cần quy định việc nuôi con nuôi giữa những người họ hàng. Cần sửa đổi, bổ sung các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo hướng cụ thể, trực tiếp. Cần quy định về huỷ việc nuôi con nuôi. Cần quy định cụ thể các biện pháp chế tài khi có hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Luận án kiến nghị phải xây dựng Luật nuôi con nuôi, nhằm đáp ứng yêu cầu gia nhập Công ước La Hay.

– Nhóm giải pháp về hoàn thiện các thiết chế giải quyết việc nuôi con nuôi: luận án kiến nghị mở rộng và tăng thẩm quyền cho Cục con nuôi quốc tế là cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của Việt Nam theo Công ước La Hay. Cơ quan này có thẩm quyền quyết định việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài.

– Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: cần cho phép thành lập một số tổ chức con nuôi được uỷ quyền, các tổ chức này sẽ thực hiện một số chức năng do Cơ quan Trung ương giao cho. Cần mạnh dạn thực hiện xã hội hoá một số khâu trong lĩnh vực nuôi con nuôi để thúc đẩy việc nuôi con nuôi có hiệu quả, đặc biệt là việc nhận nuôi con nuôi trong nước. Việc tuyên truyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi cần thận trọng, tránh thông tin một chiều và khuynh hướng “thương mại hóa”.

========*********===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN PHƯƠNG LAN VỀ ĐỀ TÀI: “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Văn Thanh và TS. Đinh Trung Tụng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những kết luận mới của luận án:

1. Luận án đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm con nuôi, nuôi con nuôi, chế định pháp lý về nuôi con nuôi, các hình thức nuôi con nuôi, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức nuôi con nuôi này. Trước đây, các vấn đề này chưa hề được đề cập đến.

2. Luận án đã làm rõ cơ sở xã hội – lịch sử của việc nuôi con nuôi và chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc nuôi con nuôi trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Luận án phân biệt việc nuôi con nuôi với các hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em khác và làm rõ ý nghĩa của việc nuôi con nuôi.

3. Luận án đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật nuôi con nuôi hiện hành, như còn thiếu vắng quy định về các hình thức nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi chưa được quy định đầy đủ và chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, các điều kiện nuôi con nuôi chưa chặt chẽ, chưa phản ánh và phù hợp với bản chất của quan hệ nuôi con nuôi, chưa có quy định về huỷ việc nuôi con nuôi v.v…

4. Luận án đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật:

– Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có một số nội dung cơ bản sau: Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để quy định hình thức nuôi con nuôi đầy đủ bên cạnh hình thức nuôi con nuôi đơn giản. Luận án khẳng định, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi phải gắn với mỗi hình thức nuôi con nuôi tương ứng và cần được quy định cụ thể. Cần bổ sung, sửa đổi các điều kiện của việc nuôi con nuôi, như cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi, quy định điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi; cần quy định việc nuôi con nuôi giữa những người họ hàng. Cần sửa đổi, bổ sung các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo hướng cụ thể, trực tiếp. Cần quy định về huỷ việc nuôi con nuôi. Cần quy định cụ thể các biện pháp chế tài khi có hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Luận án kiến nghị phải xây dựng Luật nuôi con nuôi, nhằm đáp ứng yêu cầu gia nhập Công ước La Hay.

– Nhóm giải pháp về hoàn thiện các thiết chế giải quyết việc nuôi con nuôi: luận án kiến nghị mở rộng và tăng thẩm quyền cho Cục con nuôi quốc tế là cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của Việt Nam theo Công ước La Hay. Cơ quan này có thẩm quyền quyết định việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài.

– Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: cần cho phép thành lập một số tổ chức con nuôi được uỷ quyền, các tổ chức này sẽ thực hiện một số chức năng do Cơ quan Trung ương giao cho. Cần mạnh dạn thực hiện xã hội hoá một số khâu trong lĩnh vực nuôi con nuôi để thúc đẩy việc nuôi con nuôi có hiệu quả, đặc biệt là việc nhận nuôi con nuôi trong nước. Việc tuyên truyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi cần thận trọng, tránh thông tin một chiều và khuynh hướng “thương mại hóa”.

========*********===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN MINH TUẤN VỀ ĐỀ TÀI “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ”.

Chuyên ngành: Luật dân sự; Mã số62.38.30.01; Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những đóng góp mới của luận án:

– Theo khái niệm truyền thống, tài sản là vật đã có và quyền tài sản trị giá được bằng tiền. Luận án phát triển khái niệm tài sản không những là vật đã có mà còn là vật đang hình thành(nhà ở đang xây dựng, hoa lợi chuẩn bị thu hoạch…), quyền tài sản là quyền trị giá bằng tiền và quyền yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản(quyền đối với bất động sản liền kề, quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng…).

– “Di sản là tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết”. Đây là khái niệm chưa khoa học, chưa thể hiện được sự phát triển khách quan của sự vật. Luận án mở rộng khái niệm di sản là tất cả tài sản của người chết và các tài sản khác phát sinh khi người để lại thừa kế chết(như hoa lợi, lợi tức, tiền bảo hiểm tính mạng sức khoẻ, quyền và các lợi ích khác phát sinh từ di sản…).

– Quyền của người thừa kế là quyền hưởng di sản. Luận án phát triển khái niệm quyền của người thừa kế là quyền hưởng di sản và các quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền hưởng di sản.

– Luận án xây dựng các khái niệm mới :

+ Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và các chủ thể khác tham gia quan hệ thừa kế.

+ Thời điểm phát sịnh quyền sở hữu của người thừa kế đối với di sản, là thời điểm người thừa kế thể hiện ý chí nhận di sản mà không phụ thuộc vào việc chia di sản.

+ Di tặng là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, nhằm tặng cho người khác tài sản sau khi chết. Di tặng là hợp đồng tặng cho có điều kiện làm phát sinh hiệu lực, vì vậy người hưởng di tặng có quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng tặng cho mà không có nghĩa vụ của người thừa kế.

– Luận án làm rõ mối liên hệ giữa quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế. Quyền sở hữu tư nhân là tiền đề làm phát sinh quyền thừa kế, mặt khác quyền thừa kế là một trong những căn cứ quan trọng làm phát sinh quyền sở hữu tư nhân.

– Hiện nay, thời hiệu của thừa kế là 10 năm. Hết thời hiệu, người thừa kế mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên, thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản là 30 năm. Hai loại thời hiệu này không đồng nhất, vì vậy không xử lý được di sản đã hết thời hiệu thừa kế. Luận án làm rõ sự tương thích giữa hai loại thời hiệu này là 30 năm.

– Luận án đã đưa ra phương án sửa đổi, bổ sung   các Điều: 632, 634, 635, 636, 637, 642, 643, 644, 645 BLDS.

======= *********** ========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án Tiến sĩ của NCS Đồng Ngọc Ba về đề tài ‘Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam’

Chuyên ngành:Luật kinh tế, Mã số: 62.38.50.01; Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 1. PGS.TS Nguyễn Như Phát; 2. TS Nguyễn Am Hiểu, Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội

Những kết luận mới của luận án:

1. Pháp luật hiện hành về doanh nghiệp ở Việt Nam có nhiều nội dung bất cập, lạc hậu trước đòi hỏi của đời sống kinh doanh:

– Quy định các hình thức pháp lý doanh nghiệp khác nhau dựa trên tiêu chí chủ yếu là tính chất sở hữu và thành phần kinh tế; từ đó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư thuộc các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế khác nhau khi họ thực hiện quyền tự do kinh doanh.

– Nhiều hình thức doanh nghiệp có cùng bản chất, nhưng được tổ chức theo những quy chế pháp lý khác nhau một cách bất hợp lý và bất bình đẳng.

– Các quy định về gia nhập thị trường và quản trị doanh nghiệp có nhiều nội dung chưa thống nhất, thiếu minh bạch, thiếu liên thông, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu qủa tổ chức vận hành doanh nghiệp của các nhà đầu tư.

2. Pháp luật về doanh nghiệp cần được hoàn thiện với những nội dung cụ thể sau:

– Quy định hình thức pháp lý doanh nghiệp dựa trên tiêu chí phương thức đầu tư vốn và tính chất liên kết của các nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, pháp luật về doanh nghiệp được cấu trúc với nội dung là pháp luật về doanh nghiệp cá nhân và pháp luật về các loại hình công ty.

– Thống nhất cơ chế điều chỉnh pháp luật về tổ chức và hoạt động giữa doanh nghiệp nhà nước và các loại hình công ty có cùng bản chất; các công ty do nhà nước đầu tư 100 % vốn điều được tổ chức và hoạt động theo các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

– Ghi nhận mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân đầu tư vốn và làm chủ sở hữu.

– Sửa đổi quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của tổng công ty nhà nước theo mô hình tập đoàn kinh doanh.

– Xoá bỏ phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp và tổ chức hoạt động kinh doanh.

3. Những kết luận trong Luận án có khả năng ứng dụng hiệu qủa cho việc xây dựng Luật Doanh nghiệp chung, dự kiến sẽ được Quốc hội xem xét thông qua vào cuối năm 2005.

4. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:

– Xây dựng và hoàn thiện quy chế pháp lý về đầu tư vốn nhà nước.

– Xây dựng quy chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc đối với nhà đầu tưtrong kinh doanh ở những ngành nghề có nguy cơ gây rủi ro cao.

==================

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI, THƯ VIỆN QUỐC GIA

 

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 36http://www.smenet.com.vn/Shared/TrangChu/new.gif

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. L?i v�ng vo b?n quy?n ?nh v� tranh…2. B?n quy?n ph?n m?m VN: “C?n ho�n thi?n h�nh lang ph�p l�. 3. V? tranh ch?p b?n quy?n t�c ph?m “N? h�n c?a gi�”: T�c gi? Nguy?n Trung Ki�n th?a nh?n vi ph?m

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 35

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. T�n mi?n Vi?t Nam: tranh ch?p ?� x?y ra. 2. T�n mi?n v� gi?c m? tri?u ph� USD. 3. T�n mi?n xung ??t v?i ??i t??ng s? h?u tr� tu?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 34

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. H�ng gi? len l?i v�o t?ng ng� ng�ch ? Ph�p. 2. H�n Qu?c ?i�n ??u v� h�ng gi?. 3. H�ng hi?u r?m ??t kh�ch ? Trung Qu?c

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 33

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Hi?u bi?t v? s? h?u tr� tu? c�n h?n ch?. 2. L?i chuy?n tranh ch?p quy?n s? h?u nh�n hi?u. 3. VietNamNet c�ng DN b?o v? nh�n hi?u h�ng ho�!

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 32

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 31

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 30

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 29

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 28

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 27

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 26

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. X�y d?ng th??ng hi?u c� ph� Bu�n Ma Thu?t  2. Th??ng hi?u ch?ng th?m ??c ?�o 3. T�n nh�n hi?u trong ??nh v? s?n ph?m

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 25

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. VNNIC ng?ng c?p t�n mi?n 000.com.vn v� c� n?i dung sex 2. C?p ph�t t�n mi?n – tranh c�i ch?a c� h?i k?t! 3. ?� c� 6 nh� ph�n ph?i t�n mi?n .VN

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 24

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. B? nh�i nh�n hi?u: tr??ng h?p c?a Shell Flintkote 2. �i, h�ng gi?! 3. DN ”??n th??ng ??c m�” trong cu?c chi?n ch?ng h�ng gi?? 4. H�ng nh�i, h�ng gi?: Ki?u n�o c?ng c�!

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 23

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Nh??ng quy?n trong l?nh v?c k? to�n, thu?: Qu?c t? ho� ch?t l??ng d?ch v? 2. Nh??ng quy?n kinh doanh 3. Nh??ng quy?n th??ng m?i trong ng�nh c�ng nghi?p b�n l? s? ph�t tri?n

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 22

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Microsoft b? ki?n v� ?i ki?n v? v?n ?? b?n quy?n 2. T�c quy?n: Quy?n… ???c l�m b? v?? 3. Mua b?n quy?n ca kh�c n??c ngo�i – ???ng c�n xa 4. Ai ???c h??ng quy?n t�c gi??

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 21

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Nh?p nh?ng nh�n hi?u 2. C�ch l�m nh�n hi?u c?a ng??i H�n 3. B?o h? nh�n hi?u: Doanh nghi?p v?n th? ? 4. Xung quanh chuy?n c�i t�n!

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 20

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Quy?t kh�ng ??ng k� s? h?u tr� tu?2. Ti?p v? x? l� vi ph?m ki?u d�ng Honda t?i V?nh Long: T&T v?n ch? l� ?nghi ph?m?? 3. Ki?u d�ng C�ng nghi?p: V?n ?? c?a th?i ??i

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 19

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Gi?i quy?t tranh ch?p t�n mi?n .vn: C?n ch�nh s�ch qu?c gia  2. Tranh ch?p t�n mi?n Internet: Doanh nghi?p ??ng “ch?t v� thi?u hi?u bi?t”!  3. Ba ?r�o c?n? t�c ??ng x?u ??n s? ph�t tri?n Internet? .

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 18

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Ng�nh s?n xu?t ch?t gi?t r?a  2. VNPT c?ng c? th??ng hi?u 3. WAL- MART, T�nh hai m?t c?a ?g� kh?ng l??  4. Nokia N-Gage – “C�i ch?t c?a con thi�n nga”

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 17

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Trung Nguy�n: L?i c?nh b�o t? m?t th??ng hi?u n?i ti?ng  2. Khai m?c H?i ch? qu?c t? th??ng hi?u n?i ti?ng t?i Vi?t Nam 2005 3. ”Th??ng hi?u” c?a ng??i n?i ti?ng ch?a ???c b?o v? 4. B?o h? ch? d?n ??a l� gi�p ph�t tri?n th??ng hi?u

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 16

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Qu�n ??nh gi� th??ng hi?u khi CPH, d? n?y sinh tranh ch?p 2. ?B�ng nh�ng? s? h?u tr� tu? 3. Microsoft ??t tho? thu?n gi?i quy?t tranh ch?p th??ng m?i 4. S�ng t?i b?c tranh qu?ng c�o.

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 15

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. S?n ph?m m?i ra th? tr??ng … th�nh c�ng nh? lix?ng  2. Ch�u � – mi?n ??t h?a c?a ?i?n tho?i web v� tuy?n  3. Pierre Cardin – Ng??i c� c�i t�n ??t gi� nh?t th? gi?i

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 14

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Treo gi?i cho ng??i ph�t hi?n h�ng gi? 2. Ch? 10% DN bi?t t? b?o v? m�nh ch?ng n?n h�ng gi? 3. ??? hi?u si�u gi?? ? ?thi�n ???ng mua s?m? 4. Ch?a ??y 5 n?m, g?n 400 v? h�ng gi? 5. H�ng nh�i, h�ng gi?: Ki?u n�o c?ng c�! 6. S?ng chung v?i h�ng gi?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 13

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Ch?n” t�n mi?n 2. VNNIC thu h?i t�n mi?n tide.com.vn. 3. Gi? v� b?o v? th??ng hi?u tr�n Internet. 4. Qu?n l� t�n mi?n Vi?t Nam: c?n nhi?u c?i ti?n

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 12

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. B�ng nh�ng? s? h?u tr� tu?  2. Ng�nh c�ng nghi?p xe m�y VN ch?a c� b?n s?c 3. Th? c�ng m? ngh? VN y?u v? thi?t k? ki?u d�ng…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 11

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. C�i �o kh�ng l�m n�n th??ng hi?u! 2. �t ti?n v?n x�y d?ng ???c th??ng hi?u. 3. Nhi?u DN Vi?t ?� kh?i m�o cho “cu?c chi?n n?i- ngo?i ” …

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 10

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? B?n quy?n trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Ng?ng thu ti?n b?n quy?n t�c gi? ? qu�n karaoke. 2. Th?c thi quy?n t�c gi? ? ch�u � …

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 9

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? Nh??ng quy?n Th??ng m?i trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Nh??ng quy?n th??ng m?i: C? ng??i, m?i ta. 2. Nh??ng quy?n th??ng m?i – v?a l�m v?a lo. 3. Nh??ng quy?n th??ng m?i, c? h?i v� r?i ro…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 8

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?:1. ?? ngh? EU c�ng nh?n t�n g?i xu?t x? c?a n??c m?m Ph� Qu?c. 2. B?o v? th??ng hi?u n??c m?m Ph� Qu?c. 3. C� n�n b?t bu?c ?�ng chai n??c m?m t?i Ph� Qu?c? 4. N??c m?m Ph� Qu?c: bao gi? th�i… “made in Thailand”?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 7

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?:1. Ch? s?ch v� xanh trong th??ng hi?u. 2. H?p t�c ?nh�n ?�i th??ng hi?u?. 3. Ng�nh ch� t�m tem ??m b?o. 4. L?i h?a th??ng hi?u. 5. Th??ng hi?u Vi?t cho m?t h�ng m?i. 6. Th??ng hi?u “m?” c?a ng�nh d?t may. 7. ?�i quy?n s? h?u ? n??c ng??i. 8. B?o v? th??ng hi?u b?ng ch?t l??ng.

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 6

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?: 1. Slogan ‘nh�i’ – m?t ki?u h�ng gi? m?i. 2. Nh?ng sai l?m c?n tr�nh khi ??t t�n cho doanh nghi?p. 3. ‘Nh�n hi?u’ song h�nh c�ng th??ng hi?u. 4. Coca-Cola v?n l� nh�n hi?u n?i ti?ng nh?t th? gi?i. 5. Doanh nghi?p n�n ch? ??ng b?o v? m�nh. 6. V?a ?n c?p, v?a la l�ng

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 5

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?: 1. Ng�y 9/8/2005, c�c ??i bi?u Qu?c h?i chuy�n tr�ch s? xem x�t D? th?o Lu?t S? h?u tr� tu?. 2. Lu?t S? h?u tr� tu? ph?i b?o ??m l?i �ch c?a c�ng ch�ng. 3. H?i th?o v? c�ng ??c GENEVA b?o h? nh� s?n xu?t b?n ghi �m. 4. Ai s? h?u b?n quy?n ph?n m?m Excel?…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 4

V?i m?c ?�ch cung c?p th�m th�ng tin cho c�c ??c gi? quan t�m, ch�ng t�i xin ???c gi?i thi?u th�m m?t s? v?n ?? v? B?n quy?n t�c gi? (Copyright) v� Nh�n hi?u h�ng h�a (Trademark). B?n tin n�y ch�ng t�i l??c d?ch t? b�i vi?t c?a t�c gi? Lloyd J. Jassin ? lu?t s? h?at ??ng trong l?nh v?c xu?t b?n v� c�ng nghi?p gi?i tr� ? New York ? Hoa K?.

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 3

1. Th??ng hi?u hay Nh�n hi?u h�ng ho� ? V?i m?c ?�ch cung c?p c�c th�ng tin, kh�i ni?m c? b?n v� ch? ra s? kh�c nhau gi?a 2 thu?t ng? n�y gi�p b?n ??c d? d�ng ti?p c?n v?i c�c b�i b�o vi?t v? v?n ?? li�n quan – 2. S?c m?nh c?a th??ng hi?u: V?n ?? th??ng hi?u th?t ra l� trung t�m c?a chi?n l??c marketing…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 2

1.Ng�y 28/6/2005 t?i Th�nh ph? H? Ch� Minh ?� di?n ra H?i th?o qu?c t? v?i ch? ?? ?Th�ch th?c nh?ng Th??ng hi?u l?n? do C�ng ty PACE v� Hi?p h?i Marketing th? gi?i t? ch?c – 2.Trong hai ng�y 30/6 v� 01/7/2005, C?c S? h?u tr� tu? (SHTT) ?� ph?i h?p v?i T? ch?c S? h?u tr� tu? th? gi?i (WIPO) v� C? quan SHTT H�n Qu?c (KIPO) t? ch?c H?i th?o “Hi?p ??c h?p t�c v? s�ng ch?” …..

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 01

D? th?o Lu?t S? h?u tr� tu? ?ang ???c Qu?c h?i th?o lu?n s�i n?i t?i k? h?p th? 7, Qu?c h?i kho� XI. Theo d? ki?n, th�ng 10/2005 Qu?c H?i s? xem x�t th�ng qua d? lu?t n�y. Qu� tr�nh chu?n b?, x�y d?ng c?ng nh? th?o lu?n xung quanh d? th?o Lu?t s? h?u tr� tu? ???c d? lu?n trong v� ngo�i n??c ?�nh gi� cao v� s? n? l?c c?a Vi?t Nam trong vi?c x�y d?ng m?t ??o lu?t th?ng nh?t c� gi� tr? ph�p l� cao.

GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

 

Sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của công nghệ thông tin để làm biến đổi sâu sắc nhiều hoạt động của thế giới. Những thay đổi diễn ra trong các giao dịch là dễ thấy nhất vì nó động chạm đến từng cá nhân. Giao dịch điện tử, giao dịch trên mạng để và đang mang lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Tuy nhiên, do tốc độ phát triển “tên lửa” của công nghệ thông tin và tính kỹ thuật cao của nó nên các rủi ro cho đối tượng tham gia giao dịch là một khả năng thường trực.

 

 

Trong giao dịch truyền thống, hình thức văn bản được ghi (viết) trên giấy là hình thức chủ yếu và được sử dụng rộng rãi từ lâu, trở thành phổ biến đến mức đương nhiên. Các văn bản này, ngoài nội dung còn có chữ ký xác nhận (hoặc điểm chỉ) của người cam kết chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản. Ngoài ra, các công đoạn tiếp sau: bao gói, chuyển phát, đối chiếu khi cần thiết đều dễ hiểu, dễ kiểm soát đối với người lập văn bản. Về mặt quản lý, kỹ thuật xác định chữ ký của người lập văn bản cũng để phát triển đến mức không khó khăn khi xác nhận chữ ký thật so với chữ ký giả mạo. Để giao dịch điện tử được chấp nhận rộng rãi và phát triển sâu rộng, cần có hình thức đáp ứng các đặc trưng của chữ ký tay và bảo toàn được thông tin khi truyền đi trên các phương tiện điện tử. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải có kỹ thuật, công nghệ đảm bảo không chỉ xác nhận tác giả mà còn phải xác minh được tính toàn vẹn của thông tin chứa trong văn bản giao dịch được truyền đi bởi các phương tiện điện tử.

Trên thế giới để có nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi nhằm nhận dạng và chứng thực cá nhân trong giao dịch điện tử. Giải pháp phổ biến, được công nhận và áp dụng rộng rãi là chữ ký kỹ thuật số (Digital Signatures) hay còn gọi là chữ ký điện tử.

Chữ ký điện tử là gì?Thông thường, để chuyển thông điệp từ người gửi đến người nhận được bí mật, không bị sửa chữa trên đường đến tay người nhận, phải mã hoá chúng theo một nguyên tắc nào đó trước khi gửi đi, nguyên tắc này gọi là khoá mã (tiếng Anh là Key). Người nhận muốn hiểu được thông điệp phải sử dụng khoá mã đó để giải mã. Việc mã hoá và giải mã thông điệp dùng một chìa khoá rất dễ dẫn đến tình trạng chìa khoá đó bị người thứ ba chiếm đoạt. Người có chìa khoá mã có thể xem và sửa đổi nội dung thông điệp, như vậy sẽ làm mất tính nguyên trạng và bảo mật của thông tin. Vấn đề đặt ra là làm sao đảm bảo thông điệp truyền đi bằng các phương tiện điện tử giữ được bí mật, nội dung không bị thay đổi trên đường truyền, người nhận thông điệp nhận đúng được người gửi và người gửi không chối bỏ được trách nhiệm để “ký” và gửi thông điệp của mình. Giải quyết vấn đề nêu trên, trong truyền nhận các thông điệp điện tử, người ta sử dụng một chương trình phần mềm mã hoá các thông điệp có 2 khoá mã: Khoá mã công cộng (Public Key) và mã khoá riêng của người gửi thông điệp (Private Key hay còn gọi là Secret Key). Trong đó, mã khoá công cộng có thể được công khai cho những ai cần chia sẻ thông tin. Còn mã khoá riêng là bí mật của người “ký” gửi thông điệp đi. Hai khóa mã này có liên quan mật thiết đến nhau: Khi người gửi thông điệp dùng mã khoá riêng để mã hoá thông điệp thì trong thông điệp sẽ có một “chữ ký”. Người nhận dùng mã khoá công cộng cùng cặp để nhận dạng “chữ ký”, qua đó xác minh: người gửi thông điệp là ai; nội dung thông điệp có được bảo toàn nguyên trạng trong quá trình truyền trên mạng hay không. Về nguyên tắc, không thể dùng mã khoá công cộng để tìm ra mã khoá riêng. Có thể hiểu “chữ ký điện tử” là sự kết hợp giữa khoá mã riêng và dữ liệu cần mã hoá bằng công nghệ số. Ở đây, cũng cần lưu ý bạn đọc là độ dài (đo bằng đơn vị thông tin) của khoá mã càng lớn thì khả năng bảo mật của thông tin để được mã hoá càng cao nhưng cũng vì thế mà nó cũng tỷ lệ thuận với thời gian cần phải bỏ ra để mã hoá và giải mã. Hiện nay, độ dài của mã khoá điện tử thường được thiết kế có độ dài từ 95 – 265 byte. Như trên để trình bày, mỗi người tham gia giao dịch điện tử cần phải có đồng thời một cặp khoá mã (Public Key và Secret Key). Một câu hỏi được đặt ra: Ai là người cung cấp cặp khoá mã ấy? Và dịch vụ chứng thực điện tử để xuất hiện. Chứng thực điện tử là gì?“Chứng thực điện tử” hay “chứng thực số” (Digital Certificate) là dịch vụ do những nhà cung cấp chứng chỉ số (Certification Authorities – CA) thực hiện, cung cấp cho khách hàng công cụ và kiến thức cần thiết (tên truy cập, mật khẩu, địa chỉ kết nối, khoá mã…) nhằm bảo mật thông tin, chứng thực nguồn gốc và nội dung thông tin trong giao dịch qua mạng. Chứng thực điện tử dựa trên cơ sở hạ tầng khoá công khai (Public Key Infrastructure) với nền tảng là mật mã khoá công khai và chữ ký số. Nhà cung cấp dịch vụ chứng thực đảm bảo: Chứng thực danh tính của những người tham gia giao dịch: Chỉ có chủ sở hữu của chứng chỉ số mới có thể ký chữ ký điện tử và gửi thông điệp đi. Và người nhận thông điệp tin tưởng thông điệp đúng là của người chủ hợp pháp gửi đến. Bảo mật được thông tin: Thông điệp được mã hoá trước khi chuyển đi. Đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu khi đến người nhận: Thông tin để được mã hoá sẽ không bị sửa đổi trên đường truyền.Dịch vụ chứng thực điện tử để và đang phát triển thành dịch vụ toàn cầu. Một số nhà cung cấp nổi tiếng trên thế giới như Verysign, WSIeKey, eTrust… Để có một số Công ty và tổ chức của Việt Nam thử nghiệm và cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử như Công ty phần mềm và truyền thông (VASC), Công ty điện toán và truyền số liệu (VDC), Trung tâm tin học – Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban Cơ yếu Chính phủ. Giao dịch điện tử có an toàn không?Tuy rằng trên ý thuyết, việc tấn công vào hệ thống truyền nhận tin để được mã hoá trên mạng là không thể, nhưng thực ra mọi hệ thống điện tử chỉ có độ an toàn tương đối. Thiệt hại do các vụ tấn công gây ra là không đáng kể so với lợi ích do giao dịch điện tử mang lại. Hơn nữa, phần lớn các cuộc tấn công đều do sự mất cảnh giác, không cẩn thận của người sử dụng hệ thống. Ví dụ như việc để lộ Password hoặc đặt Password không đủ khó khiến cho khoá mã bí mật bị phá; hoặc để máy tính cá nhân bị dính virus, Trojan (thuật ngữ chỉ Chương trình máy tính xuất hiện để thực hiện một chức năng có ích, nhưng đồng thời có chứa các mã hoặc các lệnh ẩn, gây hỏng đối với hệ máy đang chạy nó. Thuật ngữ này được đặt theo điển tích Hy lạp về Con ngựa thành Troa (Trojan Horse): Theo thần thoại Hy Lạp, quân Hy Lạp muốn chiếm thành Troa để dùng mưu chứa quân vào bụng một con ngựa gỗ để đưa vào thành. Đêm đến quân trong bụng ngựa chui ra mở cửa thành, đốt lửa làm ám hiệu cho đại quân tấn công hạ được thành. Trojan máy tính đầu tiên xuất hiện năm 1989, ngụy trang dưới những thông tin về bệnh AIDS), Keylogger (chương trình lấy cắp khoá mã, mật khẩu…). Vì vậy, để có an toàn tuyệt đối về mặt kỹ thuật trong giao dịch điện tử, ngoài trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ chứng thực, người tham gia giao dịch phải luôn luôn có ý thức thực hiện nghiêm túc các chính sách, nội quy về bảo mật, về an toàn cho hệ thống. Khía cạnh pháp lý của giao dịch điện tửVấn đề an toàn cho giao dịch thông qua mạng được khẳng định về mặt kỹ thuật nếu được tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, quy định về bảo mật. Tuy nhiên, trong giao dịch luôn luôn phát sinh các tranh chấp, để giải quyết các tranh chấp đó cần phải có các quy định pháp luật điều chỉnh. Chỉ khi có khung pháp lý chặt chẽ, đảm bảo phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan thì giao dịch điện tử mới có thể phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Trước hết, phải xác định giá trị pháp lý của văn bản điện tử. Một văn bản điện tử đảm bảo các thành tố: khẳng định người ký, đảm bảo toàn vẹn của nội dung thông tin phải được coi như có giá trị như văn bản trên giấy truyền thống. Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm của các đối tượng tham gia giao dịch điện tử (kể cả nhà cung cấp chứng thực số) trong việc cung cấp, nhận, xử lý thông tin, bảo đảm an toàn hệ thống… Thứ ba, phải thay đổi quy trình của từng giao dịch cụ thể theo mức độ phổ biến, và hành lang pháp lý của giao dịch điện tử trong xã hội. Ví dụ: Trong một số giao dịch, theo cách truyền thống, ngoài khai báo, bên có yêu cầu phải nộp bản photocopy và xuất trình văn bản gốc cho người xử lý. Khi giao dịch điện tử chưa phát triển như ở nước ta hiện nay thì việc khai thác các cơ sở dữ liệu điện tử có liên quan để đối chiếu, xác minh ngay là chưa thực hiện được vì chưa có hoặc không được phổ biến trên mạng (ví dụ như giấy phép xuất nhập khẩu, vận đơn…). Do đó, phải có quy định về giới hạn giao dịch và trách nhiệm lưu giữ bản gốc. Thứ tư, phải có chế tài xử lý nghiêm khắc các vi phạm. Giao dịch điện tử trên thế giới và ở Việt NamTrên thế giới, nhiều nước để ban hành các đạo luật công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, tạo hành lang pháp lý cho giao dịch điện tử phát triển. Điểm qua một số nước trong khu vực và trên thế giới: Năm 1997 Malaysia ban hành Luật Chữ ký số; Năm 1998 Singapore ban hành Luật Giao dịch điện tử; Năm 1999 Hàn Quốc ban hành Luật Chữ ký điện tử, Luật này được sửa đổi năm 2001; Năm 2000 hàng loạt các nước và vùng lãnh thổ ban hành Luật về giao dịch điện tử như: Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Thái Lan, Brunei, Ấn Độ, Hồng Kông; Năm 2001 Liên minh Châu Âu chính thức chấp nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử; Năm 2004 Trung Quốc thông qua Luật Chữ ký điện tử. Các cơ quan chức năng của Việt Nam đang tích cực soạn thảo các văn bản pháp quy điều chỉnh các mối quan hệ trong giao dịch điện tử như: Luật Giao dịch điện tử, Pháp lệnh Thương mại điện tử, Nghị định về chữ ký số và chứng thực điện tử. Tuy nhiên, do chưa có kinh nghiệm nên các dự án Luật nêu trên cần nhiều thời gian nghiên cứu. Để sớm sử dụng những tiện ích mà giao dịch điện tử mang lại, không chờ đến khi xây dựng được hệ thống pháp luật về giao dịch điện tử, ngày 21/3/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg về việc sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Điều 2 của Quyết định này quy định: “Chứng từ điện tử là chứng từ kế toán mà các yếu tố của nó được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử để được mã hoá mà không có sự thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang thông tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. Chứng từ điện tử phải có đủ các yếu tố quy định cho chứng từ kế toán, đảm bảo tính pháp lý của chứng từ kế toán và phải được mã hoá bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý truyền tin và lưu trữ; riêng yếu tố chữ ký phải được mã hoá bằng khoá mật mã – được gọi là chữ ký điện tử. Chữ ký điện tử được xác lập riêng cho từng cá nhân để xác định quyền hạn và trách nhiệm của người lập và những người liên quan chịu trách nhiệm về tính an toàn và chính xác của chứng từ điện tử. Chữ ký trên chứng từ điện tử có giá trị như chữ ký tay trên chứng từ giấy”. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý cao nhất quy định về chữ ký điện tử đang được áp dụng tại Việt Nam. Căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để ban hành quy định về xây dựng, cấp phát, quản lý và sử dụng chữ ký điện tử trong hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.

Nhiều ngành khác của nước ta đang nỗ lực nghiên cứu, làm thí điểm, từng bước thay các giao dịch truyền thống bằng giao dịch điện tử trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình trước khi có một bộ luật bao quát cho mọi đối tượng tham gia giao dịch điện tử. Ngành Hải quan cũng đang cố gắng để có thể thực hiện thông quan điện tử cho hàng hoá xuất nhập khẩu của một số doanh nghiệp được chọn lọc làm thủ tục tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng.

 

Y Vân_Viện NCHQ

http://www.customs.gov.vn

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ 

 

Y Vân_Viện NCHQ

http://www.customs.gov.vn