NGHỊ ĐỊNH SỐ 151/2007/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 10 NĂM 2007 VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TÁC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Nghị định này quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

Tổ hợp tác được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc sau:

1. Tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi;

2. Biểu quyết theo đa số;

3. Tự chủ tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ và các tổ viên.

Điều 3. Tên, biểu tượng của tổ hợp tác

Tổ hợp tác có quyền chọn tên và biểu tượng của mình phù hợp với quy định của pháp luật và không trùng lắp với tên, biểu tượng của tổ hợp tác khác trong phạm vi xã, phường, thị trấn.

Điều 4. Thành lập tổ hợp tác

1. Việc thành lập tổ hợp tác do các cá nhân có nhu cầu đứng ra tổ chức.

2. Khi thành lập, tổ hợp tác thảo luận và thống nhất các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Mục đích và kế hoạch hoạt động của tổ hợp tác;

b) Nội dung hợp đồng hợp tác;

c) Tên, biểu tượng (nếu có) của tổ hợp tác;

d) Danh sách tổ viên;

đ) Bầu tổ trưởng, bầu ban điều hành (nếu thấy cần thiết);

e) Các vấn đề liên quan khác.

Điều 5. Hợp đồng hợp tác

1. Hợp đồng hợp tác là thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ viên, có tên gọi là hợp đồng hợp tác hoặc tên gọi khác nhưng nội dung phải phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng hợp tác

a) Mục đích, thời hạn hợp đồng hợp tác;

b) Họ, tên, nơi cư trú, chữ ký của tổ trưởng và các tổ viên;

c) Tài sản đóng góp (nếu có); phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức giữa các tổ viên;

d) Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ viên, của tổ trưởng, ban điều hành (nếu có);

đ) Điều kiện kết nạp tổ viên mới và tổ viên ra khỏi tổ hợp tác;

e) Điều kiện chấm dứt tổ hợp tác;

g) Các thoả thuận khác.

3. Nội dung hợp đồng hợp tác có thể được sửa đổi, bổ sung khi được sự đồng ý của đa số tổ viên.

Điều 6. Chứng thực Hợp đồng hợp tác

1. Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực hoặc chứng thực lại (ký xác nhận, đóng dấu) vào hợp đồng hợp tác hoặc hợp đồng hợp tác sửa đổi, bổ sung và ghi vào sổ theo dõi trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hợp đồng hợp tác của tổ có nội dung phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị định này.

Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã không chứng thực hợp đồng hợp tác thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối.

2. Trường hợp tổ hợp tác tổ chức và hoạt động với quy mô liên xã thì tổ có quyền lựa chọn nơi chứng thực hợp đồng hợp tác thuận lợi cho tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác.

Chương II

TỔ VIÊN

Điều 7. Điều kiện, thủ tục kết nạp tổ viên tổ hợp tác

1. Điều kiện kết nạp tổ viên:

a) Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tự nguyện tham gia và tán thành các nội dung của hợp đồng hợp tác đều có thể trở thành tổ viên tổ hợp tác. Một cá nhân có thể là thành viên của nhiều tổ hợp tác;

b) Hợp đồng hợp tác có thể quy định thêm về các tiêu chuẩn khác đối với tổ viên tổ hợp tác.

2. Thủ tục kết nạp tổ viên mới:

a) Cá nhân có đơn gửi tổ trưởng, trong đó nêu rõ nguyện vọng tham gia và cam kết thực hiện hợp đồng hợp tác của tổ;

b) Hội nghị tổ viên xem xét, biểu quyết và công nhận tổ viên mới khi được đa số tổ viên đồng ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều 8. Quyền của tổ viên

Tổ viên có các quyền sau đây:

1. Tổ viên có quyền ngang nhau trong việc tham gia quyết định các công việc của tổ hợp tác, không phụ thuộc vào mức độ đóng góp tài sản của mỗi tổ viên;

2. Được hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ hoạt động của tổ hợp tác theo thoả thuận;

3. Thực hiện việc kiểm tra hoạt động của tổ hợp tác;

4. Ra khỏi tổ hợp tác theo các điều kiện đã thoả thuận;

5. Các quyền khác theo thoả thuận trong hợp đồng hợp tác không trái với quy định của pháp luật.

Điều 9. Nghĩa vụ của tổ viên

Tổ viên có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện hợp tác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, giúp đỡ lẫn nhau và bảo đảm lợi ích chung của tổ hợp tác;

2. Bồi thường thiệt hại cho tổ hợp tác do lỗi của mình gây ra;

3. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo thoả thuận trong hợp đồng hợp tác nhưng không trái với quy định của pháp luật.

Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của tổ viên khi ra khỏi tổ hợp tác

1. Tổ viên khi ra khỏi tổ hợp tác có quyền yêu cầu nhận lại tài sản mà mình đã đóng góp vào tổ hợp tác, được chia phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của tổ hợp tác, trừ tài sản không chia đã được thoả thuận của đa số tổ viên. Nếu việc phân chia tài sản bằng hiện vật làm ảnh hưởng đến việc tiếp tục hoạt động của tổ thì tài sản được trị giá bằng tiền để chia;

2. Khi ra khỏi tổ hợp tác, tổ viên phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với tổ hợp tác theo thỏa thuận.

Chương III

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TÁC

Điều 11. Họp tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác tự quyết định việc họp toàn thể tổ viên một năm một lần hay nhiều lần.

2. Tổ trưởng tổ hợp tác triệu tập họp tổ bất thường khi:

a) Có phát sinh vướng mắc cần thiết phải họp tổ để giải quyết;

b) Có yêu cầu của đa số tổ viên hoặc đa số thành viên ban điều hành (nếu có).

Điều 12. Quyền của tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác được lựa chọn ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, hoạt động không giới hạn theo phạm vi hành chính địa phương nơi tổ hợp tác chứng thực hợp đồng hợp tác. Tổ hợp tác hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề đòi hỏi phải có Giấy phép hành nghề hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì phải tuân thủ các quy định về giấy phép hành nghề hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để mở rộng sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

3. Được hưởng các chính sách hỗ trợ và tham gia xây dựng, thực hiện các kế hoạch, chương trình, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội, tạo việc làm và xoá đói, giảm nghèo ở địa phương.

4. Được mở tài khoản riêng tại ngân hàng theo quy định của pháp luật và theo cơ chế người đại diện được ghi trong hợp đồng hợp tác.

5. Được ký kết các hợp đồng dân sự.

6. Quyết định việc phân phối hoa lợi, lợi tức và xử lý các khoản lỗ của tổ hợp tác.

7. Các quyền khác được ghi trong hợp đồng hợp tác nhưng không trái với các quy định của pháp luật.

Điều 13. Trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh tổ hợp tác.

2. Tổ hợp tác chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của tổ; nếu tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của tổ thì tổ viên phải chịu trách nhiệm liên đới tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.

3. Thực hiện các thoả thuận đã cam kết với các tổ viên, tổ chức và cá nhân khác.

4. Thực hiện các trách nhiệm đối với người lao động do tổ hợp tác thuê theo quy định của pháp luật về lao động.

5. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Giải quyết tranh chấp

1. Tranh chấp giữa các tổ viên tổ hợp tác trong phạm vi của hợp đồng hợp tác được tiến hành hoà giải tại tổ hợp tác; trường hợp không hoà giải được thì tranh chấp đó được giải quyết thông qua cộng đồng thôn, bản, tổ hòa giải cấp xã hoặc khởi kiện ra toà án.

2. Tranh chấp giữa tổ hợp tác với các cá nhân, tổ chức khác thì tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 15. Chấm dứt tổ hợp tác

1. Tổ hợp tác chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác;

b) Mục đích của việc hợp tác đã đạt được;

c) Các tổ viên thoả thuận chấm dứt tổ hợp tác;

d) Tổ hợp tác chấm dứt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong những trường hợp do pháp luật quy định.

2. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hoạt động, tổ hợp tác phải thông báo bằng văn bản về chấm dứt hoạt động của mình cho Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã chứng thực hợp đồng hợp tác.

3. Khi chấm dứt hoạt động, tổ hợp tác phải thanh toán các khoản nợ chung của tổ; nếu tài sản chung của tổ không đủ trang trải các khoản nợ thì lấy tài sản riêng của các tổ viên để thanh toán theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định này. Trường hợp các khoản nợ đã được thanh toán xong mà tài sản chung của tổ vẫn còn thì tài sản còn lại được chia cho các tổ viên theo tỷ lệ tương ứng với giá trị tài sản góp vào tổ của mỗi tổ viên, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Chương IV

ĐIỀU HÀNH TỔ HỢP TÁC

Điều 16. Điều hành tổ hợp tác

1. Người điều hành công việc chung của tổ hợp tác là tổ trưởng tổ hợp tác. Các tổ viên tổ hợp tác thoả thuận về tiêu chuẩn, cách thức bầu tổ trưởng tổ hợp tác.

2. Trường hợp cần thiết, tổ hợp tác có thể bầu ban điều hành. Tổ trưởng là trưởng ban điều hành. Số lượng, tiêu chuẩn và cách thức bầu ban điều hành thực hiện theo thoả thuận của các tổ viên tổ hợp tác.

3. Việc thay đổi tổ trưởng phải được ghi nhận bằng biên bản họp tổ và phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã đã chứng thực hợp đồng hợp tác.

Điều 17. Trách nhiệm của tổ trưởng và ban điều hành tổ hợp tác

1. Tổ trưởng tổ hợp tác có trách nhiệm sau:

a) Là người đại diện cho tổ hợp tác xác lập các giao dịch dân sự vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác;

b) Tổ chức thực hiện và điều hành các hoạt động của tổ hợp tác.

2. Thành viên ban điều hành có trách nhiệm sau:

a) Giúp việc cho tổ trưởng điều hành các hoạt động của tổ hợp tác;

b) Thực hiện những công việc được tổ trưởng phân công.

Điều 18. Đại diện của tổ hợp tác

1. Đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng tổ hợp tác. Tổ trưởng tổ hợp tác có thể uỷ quyền cho thành viên ban điều hành hoặc tổ viên thực hiện một số công việc nhất định của tổ theo quy định của pháp luật về uỷ quyền.

2. Giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của tổ hợp tác.

3. Các giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện của tổ hợp tác xác lập thì hậu quả của giao dịch này thực hiện theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Dân sự.

4. Các giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì hậu quả của giao dịch này thực hiện theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Dân sự.

Chương V

TÀI SẢN, TÀI CHÍNH CỦA TỔ HỢP TÁC

Điều 19. Tài sản của tổ hợp tác

1. Tài sản của tổ hợp tác hình thành từ các nguồn:

a) Tài sản đóng góp của tổ viên tổ hợp tác bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản;

b) Phần được trích từ hoa lợi, lợi tức sau thuế để tăng vốn;

c) Các tài sản cùng tạo lập và được tặng, cho chung;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Tổ hợp tác cần ghi chép theo dõi riêng những tài sản bằng hiện vật không quy thành giá trị, trong đó phân rõ thành 2 loại: loại tài sản do từng tổ viên góp và sẽ trả lại khi tổ viên đó ra khỏi tổ hợp tác và loại tài sản không chia cho các tổ viên khi tổ viên ra khỏi tổ hợp tác.

2. Việc quản lý và sử dụng tài sản của tổ hợp tác được thực hiện theo phương thức thoả thuận. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý.

3. Tài sản của tổ hợp tác được kiểm kê, đánh giá định kỳ và ghi vào biên bản kiểm kê hoặc sổ sách ghi chép của tổ theo thỏa thuận.

Điều 20. Công tác tài chính, kế toán của tổ hợp tác

Công tác tài chính của tổ hợp tác phải bảo đảm tính công khai, minh bạch để tổ viên biết, theo dõi và kiểm tra; hình thức và nội dung báo cáo tài chính do các tổ viên bàn bạc, quyết định. Những tổ hợp tác có tài sản chung, có hoạt động tài chính chung cần có sổ sách kế toán ghi chép về tài sản, vốn và hoạt động kinh doanh của tổ hợp tác theo hướng dẫn của cơ quan tài chính.

Điều 21. Phân phối hoa lợi, lợi tức và xử lý lỗ

1. Hoa lợi, lợi tức của tổ hợp tác được phân chia cho tổ viên và để tạo tích lũy chung của tổ theo thoả thuận.

Hợp đồng hợp tác quy định cụ thể việc phân phối hoa lợi, lợi tức từ các hoạt động của tổ sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước (nếu có).

2. Trong trường hợp bị lỗ, các tổ viên thoả thuận đóng góp để bù lỗ nếu tích lũy chung của tổ các năm trước đó không đủ bù đắp.

Hợp đồng hợp tác quy định cụ thể việc xử lý các trường hợp bị lỗ và rủi ro.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 22. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 23. Trách nhiệm thi hành

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn thi hành Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

MỘT SỐ Ý KIẾN XUNG QUANH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Những hành vi gây thiệt hại cho công dân trong hoạt động của công chức thuộc cơ quan hành chính đều phải bồi thường thiệt hại. Cần mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật, xử sai án dân sự cũng phải bồi thường.
Án dân sự cũng có”oan sai”
Các quy định về bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra đã được ban hành từ khi Bộ luật Dân sự 1995 ra đời. Tuy nhiên, các quy định này gần như không thể thực hiện được do thiếu các quy định cụ thể về một cơ chế xác định trách nhiệm bồi thường, cũng như các thủ tục để người dân khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra chỉ được hiện thực hóa một phần khi có Nghị quyết 388 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ban hành năm 2004. Tuy nhiên, Nghị quyết 388 chỉ giới hạn việc bồi thường trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử oan sai của các cơ quan tiến hành tố tụnh hình sự. Vì thế, đến nay vẫn chưa có một cơ chế để tất cả các công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân đối với thiệt hại họ đã gây ra trong quá trình thực thi công vụ.
Theo Dự thảo Luật Bồi thường nhà nước đang được xây dựng thì tới đây, tất cả các hoạt động của công chức trong lĩnh vực quản lý hành chính và tư pháp mà gây ra thiệt hại cho công dân đều phải bồi thường. Trong quá trình thực thi công vụ, công chức có vi phạm pháp luât hoặc thực hiện không đúng bổn phận, chức trách được giao mà gây thiệt hại đến quyền và tài sản của công dân sẽ phải bồi thường. Dự thảo luật cũng đã đưa vào các quy định về bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự đã được quy định trong Nghị định 47 năm 1997 và Nghị quyết 388 năm 2003. Tuy nhiên, Dự thảo luật đã bỏ qua vấn đề bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp án xử sai trong lĩnh vực tố tụng hành chính và dân sự, kinh tế, thương mại. Theo ý kiến của một số thành viên Ban soạn thảo Dự thảo luật thì lĩnh vực dân sự đã có các cấp tòa án giải quyết theo trình tự phúc thẩm và giám đốc thẩm, không có oan sai nên việc đặt ra vấn đề bồi thường oan sai trong lĩnh vực tố tụng dân sự là không cần thiết. Vì thế nội dung này đã không được đưa vào trong Dự thảo luật.
Việc không đưa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng dân sự vào điều chỉnh trong Dự thảo luật đã gây thất vọng cho nhiều người hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, liên quan đến các vụ án dân sự, đặc biệt là giới luật sư. Theo luật sư Trần Hoàng Anh, rất nhiều người dân chờ đợi các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng dân sự của các Tòa án để họ được thực hiện quyền đòi bồi thường của mình, bởi đang có rất nhiều vụ án kinh tế, dân sự bị xử sai, hoạt động tố tụng không đúng pháp luật, gây thiệt hại lớn cho công dân. Thế nhưng, Dự thảo luật lại không xây dựng cơ chế để người dân bảo vệ quyền lợi của mình. Đến nay, tình trạng tòa xử sai nhưng chưa ai “xử tòa” vẫn tồn tại trong tố tụng dân sự và cũng chưa có cơ chế nào để buộc tòa phải chịu trách nhiệm cho việc xử sai của thẩm phán. Theo luật sư Nguyễn Minh Anh, các công dân thường xuyên phải đối diện với những việc làm không tròn bổn phận của đội ngũ cán bộ Tòa án. Rất nhiều bản án dân sự đã được thi hành những phải hủy bỏ do xử sai, hậu quả là thiệt hại đối với người dân đang là thực tế. Không có căn cứ nào để khẳng định rằng Tòa án sẽ không sai trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự và hành chính. Vì vậy, việc nêu ra quan điểm rằng không có “oan sai” trong tố tụng dân sự để không đặt ra cơ chế trách nhiệm của công chức, vô tình đã tạo ra một lỗ hổng pháp luật để tình trạng “án dân sự muốn xử kiểu gì cũng được” tồn tại.
Chưa có cơ chế xác định thiệt hại
Một số vấn đề cũng được nhiều người quan tâm là trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công dân thuộc về cơ quan nào? Cơ chế bồi thường thực hiện ra sao? Theo quy định của Dự thảo luật thì Bộ Tư pháp là cơ quan nhà nước ở Trung ương đứng ra thực hiện việc giải quyết bồi thường cho công dân đối với những việc bồi thường do cơ quan nhà nước ở Trung ương gây ra. Đối với các địa phương thì Sở Tư pháp sẽ là cơ quan đứng ra giải quyết bồi thường cho công dân. Cơ quan quản lý công chức và bản thân công chức đã có hành vi gây thiệt hại cho công dân có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan giải quyết bồi thường để giải quyết vụ việc. Vấn đề này hiện tại vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, dù chưa lấy được ý kiến rộng rãi trong nhân dân. Theo PGS, TS, LS Phạm Hồng Hải, việc bồi thường thiệt hại nên để chính cơ quan nhà nước có công chức gây thiệt hại đứng ra bồi thường cho công dân. Việc làm này sẽ nhằm nâng cao trách nhiệm của các công chức, cũng như các cơ quan quản lý. Bởi, khi phải đứng ra trả tiền cho những sai phạm của mình, người ta mới ý thức được rõ ràng hơn trách nhiệm với công dân. Hơn nữa, bản thân công dân cũng muốn những người làm sai phải trực tiếp bồi thường, như thế mới công bằng.
Vấn đề khó khăn nhất trong việc bồi thường thiệt hại cho công dân, mà hiện nay các cơ quan có thẩm quyền đang giải quyết là việc xác định mức độ thiệt hại cũng như cơ chế giải quyết bồi thường cho công dân. Hầu hết các vụ yêu cầu bồi thường đã và đang giải quyết đều có mâu thuẫn giữa cơ quan phải bồi thường và người yêu cầu bồi thường trong việc xác định mức độ thiệt hại. Vì thế, gần như tất cả các vụ yêu cầu bồi thường thiệt hại đều phải đưa ra tòa để giải quyết. Không ít trường hợp, bản án dân sự về bồi thường thiệt hại cũng bị coi là xử sai, gây thiệt hại cho công dân. Hệ quả là, tình trạng đòi bồi thường trở thành cái vòng luẩn quẩn mà người bị thua thiệt sau cùng là công dân. Song, trong Dự thảo luật này chưa quy định cơ chế xác định thiệt hại và những thiệt hại nào mà cơ quan nhà nước có nghĩa vụ bồi thường. Vì thế, các ý kiến cho rằng Dự luật phải có quy định cụ thể về vấn đề này cần được cơ quan soạn thảo xem xét kỹ lưỡng.
Là những người có thể bị thiệt hại do công chức gây ra, các công dân và tổ chức quan tâm đến 3 vấn đề chính của Dự thảo này là: Những hành vi nào của công chức gây thiệt hại thì phải bồi thường; những thiệt hại nào được bồi thường và cơ quan đứng ra bồi thường. Tuy nhiên, đã qua bản Dự thảo lần 3, nhưng Dự thảo Luật Bồi thường nhà nước vẫn chưa làm các công dân – người được Dự luật này bảo vệ – thỏa mãn. Bởi, Dự thảo luật vẫn chưa xác định đầy đủ hành vi của công chức có thể gây thiệt hại cho công dân, dẫn đến việc còn nhiều lĩnh vực mà người dân không được bảo vệ trước việc làm không đúng pháp luật và bổn phận của đội ngũ công chức. Quy định về thiệt hại được bồi thường chưa rõ ràng sẽ dẫn đến tình trạng giữa người được bồi thường và người phải bồi thường lại phải kéo nhau ra tòa để giải quyết. Những vấn đề này cần được xem xét kỹ hơn để đạo luật đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. 
PGS.TS.LS Phạm Hồng Hải –  Chủ nhiệm ĐLS Hà Nội
Việc cho rằng trong tố tụng dân sự không có án sai và đã có các cấp xét xử phúc thẩm, cũng như thủ tục giám đốc thẩm để không đưa các hành vi của công chức trong tố tụng dân sự vào điều chỉnh trong Luật này là không thuyết phục. Tố tụng dân sự và tố tụng hình sự nước ta giống nhau về cấp xét xử. Hiện nay, đang có rất nhiều vụ án dân sự xử sai mà người dân bị thiệt hại thực tế về tài sản nhưng họ lại không được bồi thường là bất hợp lý. Mọi hoạt động của công chức đều tiềm ẩn những nguy cơ sai phạm một cách cố ý hay vô ý, ngoài việc không tuân thủ pháp luật còn có việc lơ là thiếu trách nhiệm, kể cả trong tố tụng dân sự. Vì thế, quyền lợi và tài sản của công dân luôn bị đe dọa bị gây thiệt hại. Do đó, tôi cho rằng cần phải đưa các hoạt động trong tố tụng dân sự vào điều chỉnh trong Luật này. Đây là điều mà các chuyên gia nước ngoài và nhiều đại diện của công dân, doanh nghiệp rất đồng tình ủng hộ.

Xuân Bính – Theo Pháp luật VN ngày 26/9/2007

=============================================================

Bồi thường và đền bù: khác nhau về bản chất!

Trong khuôn khổ hoạt động hỗ trợ xây dựng pháp luật của dự án JICA, ngày 18/7/2007, các chuyên gia Nhật Bản đã có buổi làm việc với các thành viên Tổ biên tập dự án Luật bồi thường Nhà nước (BTNN). Tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia về đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng, cơ chế bồi thường nhà nước trên cơ sở yếu tố lỗi, mô hình cơ quan giải quyết bồi thường…. Thường trực Tổ biên tập đã hoàn thiện nội dung Dự thảo 2 Luật BTNN. Đặc biệt, Dự thảo 2 dành hằn một chương quy định đền bù thiệt hại đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự (Chương VII).

          Phân biệt rõ trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm đền bù Nhà nước.

Theo các chuyên gia Nhật bản, bồi thường được hiểu là phục hồi nguyên trạng, có căn cứ là hành vi trái pháp luật. trong khi đó, đền bù được hiểu là Nhà nước bù đắp cho người dân những thiệt hại gây ra bởi hoạt động hoàn toàn hợp pháp của nhà nước. hay nói cách khác, một số người phải hy sinh một số lợi ích của mình vị lợi ích chung của cả xã hội nên họ được đền bù. Tuy nhiên, đền bù thì không phục hồi nguyên trạng như bồi thường. các chuyên gia đề nghị, để có sự phân biệt rõ ràng 2 loại trách nhiệm này, Việt Nam có thể xây dựng các đạo luật riêng biệt điều chỉnh riêng từng loại trách nhiệm (như kinh nghiệm của Nhật Bản), hoặc nếu quy định 2 loại trách nhiệm này trong cùng một đạo luật thì phải hoàn toàn tách bạch với nhau.
ThS. Nguyễn Thanh Tịnh – phó Vụ trưởng vụ Pháp luật – Dân sự Kinh tế bộ Tư pháp – cũng nhất trí Luật BTNN cần tách biệt trách nhiệm đền bù. Ông Tịnh cho rằng BTNN là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được cấu thành do lỗi. Còn đền bù nhà nước không mang bản chất trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không căn cứ vào yếu tố lỗi mà phụ thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia.
Có thể nói trách nhiệm đền bù thiệt hại đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự là nội dung hoàn toàn mới của Dự thảo 2 so với Dự thảo 1. Trong Dự thảo 1, việc bồi thường cho những thiệt hại của cá nhân trong hoạt động tố tụng hình sự được điều chỉnh bằng các quy định về BTNN (lỗi vẫn là một trong những điều kiện bắt buộc). Dự thảo 2 lại quy định việc bù đắp những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cá nhân bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự được hiểu là: Thứ nhất, lỗi không được quy định là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm đền bù. Thứ hai, việc gây thiệt hại của công chức có thẩm quyền trong tố tụng hình sự được mặc nhiên hiểu là việc gây thiệt hại hoàn toàn đúng pháp luật và nằm ngoài ý muốn của họ. Có nghĩa, các công chức có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự dù đã thực hiện các nhiệm vụ theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, nhưng kết quả cuối cùng vẫn cho thấy người bị áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù, thi hành hình phạt tử hình là người không phạm lỗi. Thứ ba,  mức đền bù cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự là mức cố định không thay đổi. Như vậy, mức đền bù này có thể tương xứng với những thiệt hại của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Sở dĩ mức đền bù được quy định ở các mức cố định cụ thể là dựa trên cơ sở suy đoán tính không có lỗi và đúng pháp luật của việc gây thiệt hại nên mức đền bù chỉ nhằm bù đắp một phần tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu.
Hoán đổi cơ chế từ đền bù sang bồi thường.

Phát biểu tại buổi làm việc TS. Dương Đăng Huệ – vụ trưởng vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế bộ Tu pháp – khẳng định, điểm cơ bản của Chương VII  là sự hoán đổi từ cơ chế đền bù sang cơ chế bồi thường. Tại Điều 39 Dự thảo 2 đã quy dịnh về quyền khởi kiện theo cá quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Quy định này là nhằm tạo điều kiện cho người bị thiệt hại có thể được bảo đảm tối đa các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chẳng hạn, trong trường hợp người bị thiệt hại là do công chức có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã có lỗi khi gây ra thiệt hại cho mình hay mức đền bù là không thoả đáng, thì họ có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường theo các quy định về BTNN để có thể nhận mức bồi thường cao hơn, nhưng họ phải chứng minh yếu tối lỗi.
Nội dung của Chương VII cũng hoàn toàn khác so với phần còn lại của Dự thảo 2. Cụ thể là, không đề cập đến yếu tố lỗi. Trong mọi trường hợp, khi một cá nhân bị thiệt hại trong tố tụng hình sự sẽ được nhà nước chủ động bồi thường thiệt hại mà họ không cần phải khởi kiện yêu cầu bồi thường. Việc bồi thường của nhà nước được hiểu là sự bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại dù conog chức nhà nước đã thực hiện công việc của mình hoàn toàn đúng pháp luật. Bên cạnh đó, về mặt thuật ngữ, việc bù đắp tổn thất của nhà nước cho người bị thiệt hại được thể hiện thông qua thuật ngữ “đền bù thiệt hại” để là nổi bật tính chất của trách nhiệm nhà nước trong trường hợp này – trách nhiệm của nhà nước trong trường hợp này không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ là trách nhiệm bù đắp một phần tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu vì công chức nhà nước đã không làm trái pháp luật khi thực hiện công việc của mình.
Theo Pháp luật Việt Nam