CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN: MỘT SỐ SUY NGHĨ

LÊ VĂN TỨ

* Chuyên viên cao cấp Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Tài chính Đại học Kinh tế Quốc dân

Dù đã qua hai lần sửa đổi, Luật đất đai vẫn khó đi vào cuộc sống. Điều đó chứng tỏ chính sách đất đai hiện hành còn nhiều điều cha phù hợp với thực tế khách quan. Nguyên nhân sâu xa có lẽ là ở tư duy bao cấp về đất đai còn nặng, tuy đã có đổi mới. Muốn Luật đất đai sửa đổi đạt được yêu cầu mong muốn, rất cần nhận thức lại một số vấn đề liên quan tới chính sách đất đai trong điều kiện hiện nay.

Sở hữu đất toàn dân khác với với sở hữu đất nhân

Khái niệm sở hữu đất toàn dân hiểu theo khái niệm chung về sở hữu tài sản, trong đó quyền sở hữu là cơ bản. Từ quyền này phát sinh quyền sử dụng, theo nghĩa hẹp là sử dụng công năng (trồng trọt, xây dựng, v.v…), theo nghĩa rộng thì tương đương quyền định đoạt, cho thuê, thừa kế, thế chấp, chuyển nhợng. Quyền sở hữu nhìn bề ngoài là quan hệ giữa người với vật, nhng thực chất lại là quan hệ giữa người với người, vì chỉ người sở hữu mới có quyền sử dụng. Đó là khái niệm chung. Tuy nhiên giữa sở hữu đất toàn dân và sở hữu đất tư nhân lại có những điểm khác nhau cần phân biệt.

Khác về cách thức xác lập

Sở hữu đất tư nhân chỉ có thể xác lập bằng con đường đầu tư (khai hoang hay mua). Người bỏ vốn đầu tư trở thành người sở hữu và mặc nhiên có mọi quyền sử dụng phát sinh từ quyền sở hữu. Và một khi đã không còn quyền sở hữu thì các quyền sử dụng cũng mặc nhiên chuyển sang chủ sở hữu mới.

Sở hữu đất toàn dân ở nước ta xác lập không phải bằng con

đờng nh vậy, mà từ chính sách công hữu hóa nền kinh tế, thực chất là sự chuyển quyền sở hữu đất về danh nghĩa pháp lý cho phù hợp với quyền sử dụng đất đã được công hữu hóa trớc đó qua chính sách cải tạo nông nghiệp và công thơng nghiệp. Thật vậy, vào thời điểm Hiến pháp 1980 xác lập chế độ sở hữu đất toàn dân, hầu nh toàn bộ đất đai đều đã thuộc quyền sử dụng của các tổ chức kinh tế quốc doanh và hợp tác xã. Thực tế đó cho thấy việc công hữu hóa đất đai thực chất là biện pháp tổ chức quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung dựa trên cơ sở chế độ công hữu.

Khác về chủ thể sở hữu

Chủ sở hữu đất tư nhân là một thể nhân hay một pháp nhân có khả năng trực tiếp sử dụng đất của mình. Còn chủ sở hữu đất toàn dân lại là một khái niệm chỉ toàn thể cộng đồng, tuy là chủ sở hữu, nhng lại không có khả năng trực tiếp sử dụng đất. Ngay cả khi quan niệm Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì vấn đề cũng vẫn vậy, vì Nhà nước cũng chỉ là một thiết chế đại diện mà thôi. Chính do đặc điểm này mà

trong sở hữu đất toàn dân, người sở hữu (toàn dân) thì không sử dụng, người sử dụng (tổ chức, cá nhân) thì không sở hữu. Cho nên để tránh tình trạng đất có chủ trên danh nghĩa, nhưng không có chủ trong thực tế, quyền sử dụng đất phải được giao cho tổ chức, cá nhân và được ghi vào Hiến pháp như một quyền hiến định.

Sở hữu đất toàn dân thời thị trường khác với thời kế hoạch hóa tập trung

Ba nội dung mới hiến định:

Sở hữu đất toàn dân ở nước ta bắt đầu được xác lập từ Hiến pháp 1980, thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp 1992, thời kinh tế thị trường. Do cơ chế vận hành của nền kinh tế mỗi thời một khác, nên tuy vẫn là 4 chữ “sở hữu toàn dân”, nhng trong Hiến pháp 1992 đã có 3 nội dung mới:

a) Xác định rõ “Nhà nước giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”, trong khi Hiến pháp 1980 chỉ quy định cho “tổ chức và cá nhân được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình”.

b) Mở rộng quyền cho tổ chức, cá nhân tới mức có thể chuyển nhợng quyền sử dụng

đất, trong khi Hiến pháp 1980 chỉ quy định cho họ quyền tiếp tục sử dụng. Luật đất đai 1993 còn cụ thể hóa thêm thành 6 quyền (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn).

c) Luật đất đai 1993 bổ sung nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao đất là phải nộp tiền sử dụng đất, ngoài đền bù cho người có đất bị thu hồi.

Những nội dung mới nêu trên thể hiện tư duy kinh tế đổi mới, đặt nền móng pháp lý chuyển việc quản lý đất từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên vẫn còn có những vấn để đáng gợi ra để suy ngẫm.

Những điều chưa rõ

1. Theo Hiến pháp, quản lý của Nhà nước về đất được diễn đạt bằng các cụm từ “quản lý theo quy hoạch chung” hoặc “theo quy hoạch và pháp luật”. Vậy là Nhà nước chỉ quản lý vĩ mô với tư cách là Nhà nước, không phải quản lý vi mô với t cách chủ sở hữu. Chiều sâu t duy hình nh còn ít được suy ngẫm, tìm hiểu, để xác định đúng phơng hớng quản lý, tìm giải pháp khắc phục những vướng mắc trong thực tế.

2. Mục tiêu quản lý đất được xác định trong Hiến pháp là bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả. Chỉ với tầm nhìn quốc gia mới có thể đề ra được mục tiêu quản lý đất như vậy. Và để đạt mục tiêu này, chính sách và pháp luật đất đai phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành một cơ cấu sử dụng đất hợp lý, có khả năng cho hiệu quả cao, thông qua cơ chế thị trường quyền sử dụng đất. Trong lần sửa đổi Luật đất đai lần này, cần nhấn mạnh lại mục tiêu quản lý nêu trên, lấy

đó làm định hướng để xử lý các vấn đề cụ thể.

3. Như đã nêu, trong điều kiện sở hữu đất toàn dân, giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng là tất yếu và đã được hiến định. Điểm mới ở đây là áp dụng nguyên tắc thị trường: sử dụng đất phải trả tiền (tiền sử dụng đất). Tuy nhiên theo quy định hiện hành, lại có những điều chưa sáng tỏ:

a) Hiến pháp chỉ quy định giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, nhng Luật đất đai lại quy định thêm cả cho thuê đất. Luật vi Hiến? Không vi Hiến nếu coi cho thuê chỉ là biện pháp phụ bổ sung, chỉ thực hiện trong trường hợp đất không thể giao. Nhng là vi Hiến nếu coi giao và cho thuê ngang nhau, đất có thể giao nhng chỉ cho thuê, nh trờng hợp “đất kinh doanh khác” hiện nay. Cũng là vi Hiến nếu giao đất “sử dụng ổn định lâu dài” nhưng lại quy định thời hạn giao nh hiện hành, nhiều trờng hợp thời hạn giao thậm chí cũng bằng thời hạn cho thuê. Cần có sửa đổi để cho Hiến pháp và Luật phù hợp với nhau.

b) Muốn được giao đất, tổ chức, cá nhân phải nộp tiền sử dụng đất theo giá quy định, có tính tới giá thực tế ở địa phương (Thông tư liên bộ 94/TT/LB ngày 141194) và vẫn phải đền bù cho người có đất bị thu hồi. Vậy là người được giao đất thực tế đã phải trả tiền mua đất hai lần, một lần nộp tiền sử dụng

đất, một lần đền bù. Thế mà họ vẫn không được sở hữu quyền sử dụng đất, chỉ được sử dụng

đất có thời hạn. Vậy “sử dụng ổn định lâu dài” có nghĩa là “sử dụng có thời hạn vài chục năm”, tức không khác thuê!

4. Theo quan niệm thông thường, khi người được giao đất đã phải trả tiền sử dụng đất, quyền sử dụng đất phải trở thành tài sản của họ và họ có quyền chuyển nhợng. Và quyền chuyển nhượng này cũng đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992. Song vẫn có những mâu thuẫn:

a) Về mặt lôgích, pháp luật đã cho phép họ chuyển nhợng cái mà họ không được công nhận là sở hữu?

b) Dù đã giao đất có thu tiền, nhng Nhà nước vẫn giữ quyền thu hồi với giá đền bù áp đặt.

Quyền sử dụng ổn định lâu dài cũng như quyền chuyển nhợng, tuy là hiến định, nhưng vẫn dễ bị thơng tổn.

c) Giá đất sử dụng có xu thế tăng dần nhờ tăng trưởng kinh tế, nhờ liên tục được đầu tư. Song vì đất sử dụng có thời hạn, nên giá chuyển nhợng sẽ giảm dần do thời hạn được sử dụng ngắn dần.

d) Một câu hỏi còn bỏ ngỏ: khi thời hạn giao đất kết thúc, người sử dụng đất có được giao tiếp tục hay không ? Và nếu tiếp tục được giao thì có phải nộp tiền sử dụng đất lần nữa không?

Với những mâu thuẫn và những điều còn cha sáng tỏ như trên, chính sách đất đai cha gắn kết được quyền lợi với nghĩa vụ của người sử dụng đất, cha thật sự khuyến khích người sử dụng đất thực hiện tốt nghĩa vụ là “bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất”./.

*****************************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 10/2003

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

NGUYỄN VĂN CƯƠNG – CHU THỊ HOA – VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ – BỘ TƯ PHÁP

Pháp luật không khuyến khích các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Người có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì phải bị xử lý, trừng trị nhằm ngăn ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm này quy định trong Bộ luật dân sự về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bài viết đóng góp một số ý kiến vào việc sửa đổi, bổ sung một số điều về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

1. Một số lý luận về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chức năng của chế định

Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hai chức năng chính:

Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có quyền lợi bị xâm hại.

Thứ hai, nhằm răn đe, phòng ngừa đối với những người có hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là các quy tắc nhằm khôi phục thiệt hại, bởi khi thiệt hại đã xảy ra thì không còn cơ hội để khắc phục, bù đắp được nữa.

Thực chất, chế định bồi thường thiệt hại là quy tắc phân bổ lại thiệt hại trong xã hội giữa các chủ thể có liên quan (tức là người gây thiệt hại, người bị thiệt hại hay một bên thứ ba nào khác). Chế định này còn có chức năng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật (chức năng phòng ngừa). Chức năng này nhằm làm cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội ý thức được rằng, nếu họ gây thiệt hại cho chủ thể khác, không những họ sẽ không được khuyến khích mà còn phải gánh chịu hậu quả bất lợi, thì họ sẽ phải có ý thức kiềm chế hành vi gây thiệt hại.

Như vậy, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng góp phần nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi chủ thể.

sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Nguyên tắc pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta là người có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trên cơ sở này, các nhà làm luật xây dựng cơ sở trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) (gọi tắt là Dự thảo) dựa trên bốn yếu tố: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại ấy; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế xảy ra; (4) Người thực hiện hành vi gây thiệt hại có lỗi.

Quy định các yếu tố nêu trên không khác nhiều so với lý thuyết về cơ sở trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở nhiều nước trên thế giới (Xem hộp 1).

Hộp 1. Theo pháp luật của các nước theo hệ thống luật án lệ (Anh, Mỹ) quy định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là1: (1) Có sự tồn tại một nghĩa vụ (duty); (2) Có sự vi phạm nghĩa vụ (breach of duty); (3) Có mối mối quan hệ nhân quả (causation) giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nghĩa vụ; (4) Có thiệt hại thực tế xảy ra (injury).

Nếu đánh giá dựa trên từng cá nhân riêng rẽ, tự chủ được hành vi của mình, thì nguyên tắc này là đúng, chính xác. Nhng thực tế xã hội còn có: (1) sự tồn tại của những người không có đủ năng lực để thực hiện và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình (người cha thành niên, người đã thành niên nhng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi), (2) sự tồn tại của tổ chức (một tập thể người).

Vì vậy, xét từ khía cạnh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại thì cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nh nêu trên có phần cha hợp lý. Chẳng hạn, trường hợp người cha thành niên (hoặc người khác không có đủ năng lực chịu trách nhiệm dân sự) gây thiệt hại thì ai sẽ là người phải bồi thường? Theo nguyên lý chung, thì những người này sẽ phải bồi thường. Điều đó là không hợp lý, vì không những không bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại, mà còn làm cho những người giám hộ thờ ơ với trách nhiệm của mình.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại được thực hiện theo nguyên tắc: bồi thường “toàn bộ” “kịp thời”. Bồi thường “toàn bộ” thể hiện triết lý rằng, không ai được lợi từ việc bị thiệt hại và không ai phải bồi thường vợt quá phần thiệt hại mà mình đã gây ra. Nguyên tắc này đảm bảo cho các chủ thể cần có biện pháp phòng ngừa hợp lý, tránh tình trạng tạo dựng những tình huống gây ra thiệt hại để kiếm lời.

Tuy nhiên, pháp luật ở một số nước lại cho phép bồi thường gấp ba lần thiệt hại thực tế xảy ra, thậm chí, trong nhiều trường hợp, pháp luật còn buộc người có hành vi vi phạm phải bồi thường gấp rất nhiều lần đối với một số loại hành vi vi phạm nhất định (chẳng hạn vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng) với lý do “răn đe người có hành vi gây thiệt hại” “khuyến khích người bị thiệt hại khởi kiện”.

2. Kiến nghị

Điều 593 của Dự thảo quy định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có thiệt hại xảy ra; b) Có hành vi trái pháp luật; c) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; d) Người gây thiệt hại có lỗi cố ý hoặc vô ý.

2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong

trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Đây là một sự khẳng định về mặt pháp lý đối với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, theo chúng tôi, quy định nh khoản 2 là chưa đủ để luận giải vì sao cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con vị thành niên, vì sao pháp nhân phải bồi thường do người của tổ chức mình gây ra và nhiều trường hợp tương tự khác.

Chúng tôi cho rằng, việc quy định cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho con, pháp nhân phải chịu bồi thường thiệt hại cho người của pháp nhân gây ra không phải là dựa trên căn cứ quy định rằng các chủ thể này phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi. Thực chất, các chủ thể này phải bồi thường ngay cả khi không có hành vi gây thiệt hại do chính mình gây ra. Vì vậy, để đảm bảo tính khái quát, Điều 593 nên quy định như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây trừ trường hợp Bộ luật này hoặc pháp luật có liên quan quy định khác: a) Có thiệt hại xảy ra; b) Có hành vi trái pháp luật; c) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; d) Người gây thiệt hại có lỗi cố ý hoặc vô ý”.

Điều 594 của Dự thảo giữ lại nguyên tắc bồi thường thiệt hại được thừa nhận rộng rãi từ trớc tới nay là: thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, hay nói cách khác “thiệt hại đến đâu thì bồi thường đến đó và việc bồi thường được diễn ra càng nhanh càng tốt”. Điều Luật này cũng quy định mức bồi thường có thể được thoả thuận. Song, liệu pháp luật có cho phép các bên được thoả thuận mức bồi thường vợt quá mức “thiệt hại thực tế” hay không? Tuy Điều luật không quy định rõ, nhưng theo nguyên tắc suy đoán thì mức bồi thường do các bên thoả thuận có thể cao hơn mức thiệt hại thực tế xảy ra. Đối với Toà án thì không cho phép ấn định mức bồi thường “vượt quá” mức “thiệt hại thực tế”.

Điều này sẽ gây ra sự bất lợi trong các trường hợp đòi bồi thường mang tính chất tập thể (ví dụ như thiệt hại về môi trường, thiệt hại đối với người tiêu dùng). Cụ thể là, Toà án không thể khuyến khích được những người bị thiệt hại khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho mình vì trong các trường hợp tính chất “tập thể”, thiệt hại của mỗi người ở mức khá nhỏ, vì thế mỗi người bị thiệt hại sẽ thiếu động lực tiến hành khởi kiện một cách riêng lẻ.

Vì vậy, Khoản 1, Điều 594 vẫn nên bổ sung quy định có tính ngoại lệ là: “thiệt hại được bồi thường toàn bộ và kịp thời trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Điều 595 Khoản 1 và Khoản 3 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân nhân sau:

“1 Người từ đủ mời tám tuổi trở lên gây thiệt hại, thì phải tự bồi thường.

3 Khi người cha thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có cá nhân, tổ chức giám hộ, thì cá nhân, tổ chức đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.

Về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định nêu trên cha thống nhất, vì khoản 1 đã khẳng định rằng “(mọi) người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”, trong khi đó, khoản 3 lại quy định trường hợp bồi thường đối với người mất năng lực hành vi dân sự (bất kể ở độ tuổi nào, tức là bao gồm cả độ tuổi thành niên). Do đó, khoản 1 Điều 595 cần bổ sung nh sau: “người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”.

Điều 598 Khoản 1 Điểm b, điểm d, quy định: “Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; d) Khoản tiền cấp dỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng,nếu có”.

Như chúng ta đã biết, một người khi thực hiện cấp dưỡng cho những người mình có nghĩa vụ cấp dưỡng thì mức cấp dưỡng không thể vượt quá khả năng thu nhập của họ. Vì vậy, điểm b khoản 1 đã xác định, khoản thiệt hại cần phải bồi thường là phần thu nhập bị mất của người bị thiệt hại, trong khi, điểm d lại quy định người gây thiệt hại phải cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dỡng. Có hai vấn đề cần xem xét:

Thứ nhất, cách xác định thiệt hại như trên đã vô tình buộc người gây thiệt hại phải bồi thường đến hai lần cho một thiệt hại xảy ra,đó là: thu nhập bị mất và khoản tiền mà người đó phải cấp dỡng cho người khác, trong khi, thu nhập mà người bị thiệt hại mất đi trên thực tế đã bao gồm cả nghĩa vụ cấp dỡng của người đó (nếu có). Quy định này rõ ràng là trái với nguyên tắc bồi thường toàn bộ tại Điều 595 của Dự thảo.

Thứ hai, quy định tại điểm b khoản 1 cũng chưa hợp lý, nhất là trong trường hợp thiệt hại xảy ra đối với những người mà tại thời điểm bị gây thiệt hại, họ cha có thu nhập thực tế nhng hoàn toàn có khả năng tạo thu nhập trong tơng lai nh: học sinh, sinh viên, người chờ việc…, cách xác định thiệt hại trên sẽ không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của họ. Điểm d chỉ quy định nghĩa vụ cấp dỡng của người gây thiệt hại đối với những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng chứ việc cấp dỡng cho chính bản thân người bị thiệt hại thì luật lại không quy định.

Điều 599 và điều 600 của Dự thảo.

Điều 599 của Dự thảo quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, theo đó người gây thiệt hại ngoài việc phải bồi thường thiệt hại về vật chất còn phải bồi thường một khoản tiền tối đa không quá sáu mươi (60) tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nạn nhân. Điều 600 của Dự thảo quy định về bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, theo đó người gây thiệt hại ngoài việc phải bồi thường thiệt hại về vật chất, bị buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai người bị thiệt hại, còn phải bồi thường một khoản tiền tối đa không quá mời (10) tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm. Nh vậy Dự thảo quy định theo hớng xác định mức trần khoản tiền bồi thường để bù đắp tổn thất về tinh thần.

Chúng tôi cho rằng, nên quy định để cho các bên đơng sự tự thỏa thuận mức bồi thường, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định trên cơ sở mức tối thiểu (mức sàn) do Bộ luật Dân sự quy định. Chúng tôi không đồng tình với quy định mức trần vì trên thực tế đương sự có thể thỏa thuận với nhau và chấp nhận bồi thường khoản tiền lớn hơn mức pháp luật quy định rất nhiều. Vì vậy, pháp luật chỉ nên quy định mức sàn làm cơ sở cho Tòa án áp dụng đối với từng vụ việc cụ thể.

Điều 602 và Điều 603 Dự thảo Điều 602 quy định: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

1 Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

2 Người gây thiệt hại do vợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Như vậy, Khoản 2, Điều 602 mới chỉ quy định trách nhiệm bồi thường chung mà cha xác định rõ mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp vợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là bồi thường toàn bộ hay được giảm một phần thích hợp. Chúng tôi cho rằng, việc quy định người vợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra từ hành vi đó không phải là cách quy định hợp lý, bởi quy định như vậy sẽ không khuyến khích được các chủ thể thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, nên quy định người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại do hành vi vượt quá của mình gây ra sau khi đã trừ đi phần thiệt hại mà trong trường hợp phòng vệ chính đáng gây ra.

Tương tự như vậy, để khuyến khích người ở trong tình thế cấp thiết có những hành động, lối ứng xử phù hợp, kịp thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể và các cá nhân khác, khoản 2, Điều 603 cần xác định rõ mức bồi thường trong trường hợp vợt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là bồi thường phần vượt quá chứ không phải là bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra.

Điều 610 của Dự thảo quy định: Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian ở trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý

1 Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra;

2 Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý, thì bệnh viện, các tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra;

3 Trong các trường hợp trên, nếu trường học, bệnh viện, các tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi, thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.

Chúng tôi cho rằng cách quy định tại Khoản 1 là chưa hợp lý. Đối với trường hợp này, cha mẹ và trường học cần phải chịu trách nhiệm liên đới vì trong thực tế, hầu hết các hành vi gây thiệt hại của các trẻ em trong thời gian học tập tại trường không đơn thuần là kết quả của quá trình giáo dục của riêng nhà trường, mà là sản phẩm của quá trình giáo dục của cả nhà trường và cha mẹ, trong đó, vai trò của cha mẹ rất quan trọng. Vì vậy, để tránh tình trạng phó thác việc giáo dục học sinh cho một bên, nên quy định nghĩa vụ liên đới của cha mẹ và nhà trường trừ các trường giáo dưỡng vì tính đặc thù về học viên trong loại hình trường

này. Trên cơ sở đó, khoản 1, Điều 610 nên quy định theo hướng: Người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì cha mẹ và trường học có trách nhiệm liên

đới bồi thường thiệt hại xảy ra, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Chúng tôi đồng ý với khoản 2 và khoản 3, Điều 610. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3, Điều 595, người giám hộ không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được mình không có lỗi, khoản 3, Điều 610 quy định trường học, bệnh viện, tổ chức khác cũng không phải bồi thường nếu chứng minh mình không có lỗi, vậy nếu cả hai bên đều chứng minh được mình không có lỗi trong việc người mất năng lực hành vi hoặc người dưới 15 tuổi gây thiệt hại, thì ai sẽ là người bồi thường cho người bị thiệt hại? Ban soạn thảo cần cần cân nhắc về vấn đề này để có quy định phù hợp./.

***************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG

TS. PHAN CHÍ HIẾU – HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Chế định hợp đồng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng khung pháp lý cho các giao lưu dân sự, kinh tế. So với Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, Dự thảo BLDS sửa đổi đã mang nhiều ý tưởng và nội dung mới. Tuy vậy, vẫn còn một số quy định về chế định hợp đồng chưa thực sự hợp lý, cần được trao đổi thêm .

Phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng

Xác định chính xác phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng không chỉ góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mà còn tạo tiền đề cho việc thiết kế cấu trúc và xây dựng các nội dung cụ thể của chế định này trong BLDS (sửa đổi). Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng trong thời gian qua nổi lên một số vấn đề.

Thứ nhất, các quy định liên quan đến hợp đồng tản mát trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, từ những văn bản quy định chung về hợp đồng như BLDS, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) đến những văn bản quy định riêng về từng loại hợp đồng trong mỗi lĩnh vực cụ thể như Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng; dẫn đến có nhiều quy định về hợp đồng mâu thuẫn, chồng chéo với nhau.

Thứ hai, các tiêu chí phân định hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự không rõ ràng, vì vậy, thường xuyên xuất hiện những quan hệ “giáp ranh” không biết thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp luật nào, BLDS hay PLHĐKT?

Thứ ba, cách thức áp dụng phối hợp các văn bản pháp luật để điều chỉnh một quan hệ hợp đồng cụ thể cũng không rõ ràng. Cho đến thời điểm hiện nay vẫn không rõ có thể áp dụng các quy định của BLDS để điều chỉnh quan hệ hợp đồng kinh tế được hay không; thứ tự ưu tiên áp dụng các quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành so với các quy định trong BLDS, PLHĐKT n hư thế nào? Vì vậy, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng khá tuỳ tiện, thiếu thống nhất, phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của những ngời có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Thực tế trên đặt ra nhu cầu phải thống nhất sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ hợp đồng. Muốn vậy, cần mở rộng phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng trong BLDS theo hướng: Mọi quan hệ hợp đồng, bất luận được ký kết giữa những ai, trong lĩnh vực gì, hướng tới mục đích nào đều chịu sự điều chỉnh chung của các quy định trong BLDS. Bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc chung về hợp đồng trong BLDS, nếu thấy cần thiết, Nhà nớc có thể ban hành các quy định riêng trong các đạo luật chuyên ngành để điều chỉnh hiệu quả hơn các quan hệ hợp đồng phát sinh trong từng lĩnh vực cụ thể như: sản xuất, mua bán, vận chuyển, bảo hiểm, tín dụng, xây dựng… Để đơn giản hoá việc áp dụng pháp luật trong thực tế, Dự thảo cần bổ sung điều khoản quy định về nguyên tắc áp dụng phối hợp BLDS với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan đến hợp đồng.

Ví dụ: “Điều…

1. Các quy định của Bộ luật này đợc áp dụng cho việc ký kết và thực hiện mọi loại hợp đồng mà không phân biệt lĩnh vực phát sinh quan hệ.

2. Trường hợp có sự khác nhau giữa quyđịnh của BLDS và luật chuyên ngành thì áp dụng quy định của luật chuyên ngành.

3. Trường hợp luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của BLDS”.

Dự thảo nên thay thế thuật ngữ hợp đồng dân sự đang sử dụng bằng thuật ngữ hợp

đồng. Đây không phải thuần tuý là vấn đề học thuật mà là tiền đề để mở rộng phạm vi điều chỉnh cho chế định hợp đồng trong BLDS. Việc Dự thảo tiếp tục sử dụng thuật ngữ hợp đồng dân sự, vô hình trung, sẽ tạo ra tư duy phân biệt các loại hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động.

Các quy định liên quan đến việc giao kết hợp đồng

Thứ nhất: Dự thảo cần bổ sung quy định để dễ dàng nhận diện đề nghị giao kết hợp đồng và phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch (invitation to treat). Việc phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi khi bên đợc đề nghị chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sẽ dẫn tới hình thành quan hệ hợp đồng, còn khi bên được đề nghị chấp nhận đề nghị giao dịch chỉ dẫn tới việc hình thành đề nghị giao kết hợp đồng. Thực tế ký kết hợp đồng trong thời gian qua cho thấy, có nhiều trờng hợp nhầm lẫn giữa đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị giao dịch, ví dụ, các thông tin quảng cáo, tờ rơi, báo giá, thư mời thầu, trưng bày hàng hoá có niêm yết giá…

Thứ hai: Liên quan đến trách nhiệm của bên đề nghị giao kết hợp đồng đối với đề nghị giao kết hợp đồng, Khoản 3 Điều 372 Dự thảo quy định: “Trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời, bên đề nghị giao kết hợp đồng không được mời người thứ ba giao kết và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình”. Tại sao pháp luật lại không cho phép người đề nghị giao kết hợp đồng mời người thứ ba giao kết hợp đồng với mình trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời nếu họ muốn thiết lập quan hệ với nhiều ngời và hoàn toàn có khả năng thực hiện tất cả các hợp đồng với những người được đề nghị giao kết hợp đồng? Do đó, cần quy định lại Khoản 3 Điều 372 Dự thảo nh sau: “Trong thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình”.

Thứ ba: Bổ sung các điều luật quy định mang tính nguyên tắc về giao kết hợp đồng thông qua các thủ tục đặc biệt nh đấu thầu, đấu giá, mua bán tại các sàn giao dịch, mua bán những loại tài sản sẽ có trong tương lai, mua sắm của Chính phủ… Bổ sung những quy định riêng về giao kết và thực hiện hợp đồng với sự hỗ trợ của mạng Internet để đặt nền móng cho sự phát triển của thương mại điện tử. Đành rằng các vấn đề này phải đợc quy định trong từng văn bản pháp luật riêng, nhng BLDS (sửa đổi) cũng phải quy định những nguyên tắc chung về các hiện tợng nêu trên để đảm bảo tính thống nhất khi xây dựng các quy định riêng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.

Hình thức của hợp đồng

Điều 394 Dự thảo quy định: “Hợp đồng dân sự có thể đợc giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể hoặc thông điệp dữ liệu, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”. Như vậy, Điều 394 Dự thảo đã coi thông điệp dữ liệu là một hình thức của hợp đồng dân sự. Còn khoản 1 Điều 115 Dự thảo về hình thức của giao dịch dân sự lại quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Các giao dịch dân sự thông qua các hình thức điện báo, telex, fax, th điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là giao dịch bằng văn bản”.

Thực chất, Điều 394 Dự thảo là một bản sao không hoàn hảo của Điều 115 Dự thảo. Hợp đồng dân sự cũng là một dạng giao dịch dân sự, do đó quy định tại Điều 115 Dự thảo về hình thức giao dịch dân sự hoàn toàn có thể áp dụng cho hợp đồng dân sự. Bởi vậy, để tránh sự trùng lặp và mâu thuẫn giữa hai điều luật cùng quy định về một vấn đề thì Dự thảo cần loại bỏ Điều 394.

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể xuất hiện những sự kiện dẫn đến việc một bên đơn phơng chấm dứt thực hiện hợp đồng. Về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, Điều 407 Dự thảo quy định: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vihạm hợp đồng là điều kiện chấm dứt mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại”. Theo điều luật này thì để bên bị vi phạm thực hiện quyền đơn phơng chấm dứt thực hiện hợp đồng phải hội đủ hai điều kiện: (1) có sự vi phạm hợp đồng của bên kia và (2) hành vi vi phạm này đã đợc các bên tiên liệu và thoả thuận trớc với nhau trong hợp đồng hoặc đợc pháp luật quy định.

Trên thực tế khi ký hợp đồng, các bên không thể tiên liệu trước được tất cả các tình huống vi phạm hợp đồng dẫn tới quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bản thân BLDS hiện hành, Dự thảo BLDS (sửa đổi) và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác không quy định cụ thể về các hành vi vi phạm là căn cứ cho bên bị vi phạm thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bởi vậy, bên bị vi phạm rất khó thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, kể cả khi có sự vi phạm nghiêm trọng các cam kết trong hợp đồng.

Để bên bị vi phạm có thể chủ động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, Dự thảo nên quy định: Nếu có vi phạm nghiêm trọng (vi phạm cơ bản) của một bên thì bên kia được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và giải thích thế nào là vi phạm nghiêm trọng. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới quan niệm vi phạm cơ bản là những vi phạm dẫn đến mục đích mà các bên đặt ra khi ký hợp đồng là không đạt được. Từ phân tích trên, Điều 407 Dự thảo nên được quy định lại như sau: “Một bên có quyền đơn phơng chấm dứt thực hiện hợpđồng trong các trường hợp sau:

1. Khi bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng làm bên bị vi phạm không đạt được mục đích đề ra khi ký hợp đồng;

2. Các trường hợp khác theo thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại”.

Thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự là thời hạn do pháp luật quy định để bên bị vi phạm hợp đồng thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng; nếu hết thời hạn này mà bên bị vi phạm không khởi kiện thì sẽ mất quyền khởi kiện. Điều 408 Dự thảo quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợpđồng dân sự là ba năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”.

Việc quy định trên dẫn tới sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Hiện nay, rất nhiều văn bản pháp luật đã có quy định về thời hiệu khởi kiện và mốc xác định ngày bắt đầu thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng: Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp các bên bị xâm phạm; Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp; Luật Thơng mại quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày phát sinh quyền khiếu nại; Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định thời hiệu khởi kiện là ba năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.

Để tránh sự phức tạp trong thực tiễn áp dụng, nên bỏ quy định về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tại Điều 408 của Dự thảo. Nếu cần quy định về thời hiệu thì để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành, căn cứ vào tính chất của quan hệ hợp đồng trong từng lĩnh vực riêng mà quy định thời hiệu khởi kiện cho phù hợp.

Bổ sung một số loại hợp đồng thông dụng

Để tạo cơ sở cho việc xây dựng các quy định về một số loại hợp đồng cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, Dự thảo cần quy định bổ sung một số loại hợp đồng thông dụng nh hợp đồng cung ứng điện năng, nớc, điện thoại, hợp đồng xây dựng… Tuy nhiên, để tạo tính thống nhất trong pháp luật về hợp đồng, cần tiến hành rà soát để hoàn thiện các quy định liên quan đến hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc chung của BLDS. Các quy định liên quan đến hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành cần đợc hoàn thiện theo các hướng sau:

Thứ nhất, các quy định liên quan đến hợp đồng trong văn bản pháp luật chuyên ngành

không nhắc lại một cách thuần tuý các quy định vốn đã rõ ràng trong BLDS.

Thứ hai, các văn bản pháp luật chuyên ngành chỉ quy định những gì mang tính đặc thù của các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực cụ thể, hạn chế việc đa quá nhiều quy định riêng vào luật chuyên ngành.

Thứ ba, những quy định trong pháp luật chuyên ngành phải được xây dựng trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc chung của BLDS để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật về hợp đồng. Nói như vậy không có nghĩa là luật chuyên ngành không được quy định khác so với BLDS. Khi xây dựng các quy định về hợp đồng trong văn bản pháp luật chuyên ngành cần lưu ý tới những sự khác biệt cho phép và sự khác biệt không cho phép (mâu thuẫn).

Thứ tư, bản thân các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng cần quy định rõ nguyên tắc áp dụng phối hợp các quy định về hợp đồng trong BLDS và trong các văn bản pháp luật chuyên ngành để thống nhất trong nhận thức và thực tiễn vận dụng pháp luật.

Có như vậy thì các quy định của BLDS (khi được thông qua) mới thực sự trở thành “bà đỡ mát tay” cho các quan hệ hợp đồng ra đời, góp phần bảo đảm sự thông suốt của các quá trình giao lưu dân sự, kinh tế./.

**********************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

THS. LÊ MINH HÙNG – Khoa Luật Dân sự, ĐH Luật TPHCM

Bộ luật Dân sự (1995) là văn bản pháp lý đầu tiên thừa nhận địa vị pháp lý của hộ gia đình. Thực tế gần mời năm áp dụng cho thấy, nhiều quy định về hộ gia đình trong Bộ luật Dân sự bộc lộ những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung. Tác giả phân tích bất cập đưa ra một số ý kiến đóng góp vào Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)

* Những bất cập

1) Điều 116 Bộ luật Dân sự (BLDS) và Điều 107 của Dự thảo quy định:

Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể trong các quan hệ đó”.

Theo quy định này, hộ gia đình có thể được hình thành bằng một nhóm người nếu thỏa mãn hai tiêu chí: có tài sản chung và làm kinh tế chung trong các lĩnh vực được liệt kê. Nếu nh vậy, bất kỳ những ai có chung tài sản và làm kinh tế chung trong các lĩnh vực mà luật quy định cũng đều có thể được coi là hộ gia đình, cho dù giữa họ không có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng… Ví dụ, hai người bạn thân có chung một chiếc máy cày để làm đất trong nông nghiệp cũng có thể được coi là hộ gia đình, nhng thực tế pháp luật lại không thừa nhận đây là hộ gia đình mà chỉ coi đây là sở chung của các cá nhân.

2) Theo Điều luật vừa dẫn ở trên, hộ gia đình chỉ có thể tham gia vào quan hệ dân sự trong các lĩnh vực được liệt kê. Điều đó không những làm kém đi tính hấp dẫn của loại hình chủ thể này đối với các thành phần kinh tế khác trong xã hội, mà còn không phản ánh được đầy đủ hoạt động kinh tế của các hộ gia đình. Trên thực tế, một hộ gia đình không chỉ tham gia vào các quan hệ trong các lĩnh vực nông, lâm, ng nghiệp…, mà còn tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh, thơng mại, dịch vụ, thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, kể cả các quan hệ pháp luật phái sinh từ các hoạt động đó. Ví dụ: mua nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, thuê mớn mặt bằng, sử dụng các dịch vụ kinh tế xã hội, vay vốn ngân hàng để sản xuất, ký hợp đồng ủy thác xuất khẩu hàng hóa làm ra, thuê nhân công… Sự hạn chế năng lực làm cho tư cách pháp lý của hộ gia đình so với các chủ thể độc lập khác trở nên bất bình đẳng, họ không được quyền lựa chọn các quan hệ pháp luật dân sự để tham gia. Do đó, không khuyến khích được các cá nhân lập ra nhiều hộ gia đình hoặc tự thừa nhận mình là hộ gia đình, bởi nh vậy cũng có nghĩa là họ tự “trói chân” mình, tự đặt mình vào một quy chế chủ thể bất lợi.

3) Đối với cá nhân và pháp nhân, thời

điểm phát sinh, thời điểm chấm dứt t cách chủ thể được quy định rất minh bạch, rõ ràng, nhng suy từ các quy định nêu trên về hộ gia

đình thì thời điểm ra đời và chấm dứt t cách chủ thể hộ gia đình đơn giản phụ thuộc vào việc tham gia hoặc không tham gia vào một quan hệ dân sự. Nh vậy, hộ gia đình là một tổ chức tự phát, tự sinh rồi tự diệt; pháp luật cha có căn cứ quy định sự khai sinh hoặc chấm dứt t cách chủ thể của hộ gia đình. Bất cập này khiến cho các bên liên quan không thể trù tính được thời điểm chấm dứt tư cách chủ thể của hộ gia đình, bản thân các thành viên của hộ cũng không thể biết rõ thời điểm tồn tại và chấm dứt hộ gia đình. Ví dụ, khi những người trong hộ hùn vốn để đóng một chiếc thuyền đánh cá chung, họ là hộ gia đình. Đến khi họ dùng chiếc thuyền đó thế chấp để vay vốn ngân hàng, họ lại thành một hộ gia đình khác trong quan hệ vay vốn, lúc trả hết vốn thì chấm dứt t cách hộ gia đình. Nh vậy, t cách chủ thể của hộ sẽ luôn thay đổi và không ổn định. Do đó, việc quy định căn cứ phát sinh năng lực chủ thể của hộ gia đình là hết sức cần thiết.

Hộ gia đình chấm dứt trong các trường hợp như tài sản chung không còn, hoặc các thành viên trong hộ đều đã chết, hoặc ly hôn, tách hộ để ra sống riêng, hoặc các thành viên thỏa thuận chấm dứt hoạt động của hộ gia đình… Vì thế, cùng với việc quy định về các sự kiện pháp lý làm phát sinh năng lực chủ thể của hộ, Dự thảo cần bổ sung quy định về các sự kiện pháp lý làm chấm dứt t cách chủ thể của hộ gia đình.

4) BLDS và Dự thảo không quy định về các căn cứ làm phát sinh, chấm dứt tư cách của các thành viên trong hộ gia đình dẫn đến nhiều trường hợp, các thành viên không thể biết được mình có phải là thành viên của hộ gia đình hay không? Khi có sự tranh chấp trong hộ gia đình, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cũng khó có cơ sở pháp lý để buộc một người phải chịu trách nhiệm pháp lý với tư cách là thành viên của hộ về các nghĩa vụ tài sản của hộ gia đình.

5) Điều 117 BLDS và Điều 108 của Dự thảo cho phép suy đoán rằng, người cha thành niên cũng có thể được tham gia vào hoạt động kinh tế chung với hộ. Điều này dẫn đến hậu quả, những người cha thành niên sẽ không thể biểu lộ được ý chí trong việc tham gia hoặc rút ra khỏi hộ gia đình hay trong các trường hợp có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ. Đối với trường hợp quan hệ giữa những người trong hộ gia đình là quan hệ làm ăn kinh tế đơn thuần chứ không phải là quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng… thì ai sẽ đại diện cho người cha thành niên trong mối quan hệ với các thành viên khác của hộ, nếu có sự tranh chấp về vấn đề này thì căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để giải quyết?

Khác với việc giao dịch với một cá nhân hoặc với một nhóm các đồng sở hữu chủ tài sản chung, việc giao dịch với hộ gia đình không thể tiến hành cùng một lúc với tất cả các thành viên mà phải thông qua chủ hộ người đại diện hợp pháp của hộ. Chủ hộ gia đình là người có vai trò quan trọng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ, nhân danh cho tất cả các thành viên để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ… Do vậy, việc chỉ định chủ hộ phải được pháp luật xác định một cách rõ ràng và minh bạch. BLDS mới chỉ quy định chủ hộ gia đình là người thành niên, nhng cha chỉ rõ đích danh ai là chủ hộ và cũng không có quy định nào liên quan đến việc thay đổi, chấm dứt t cách của chủ hộ gia đình. Điều này dễ làm cho đối tác của hộ gia đình cũng nh những người trong hộ khó nhận biết được cụ thể thời gian một người có còn hay không còn tư cách chủ hộ.

6. Khoản 2, Điều 126 BLDS quy định, tổ hợp tác chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của tổ, nếu tài sản chung không đủ để trả nợ chung, tổ viên chịu trách nhiệm liên đới theo phần tơng ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình, thì khoản 2, Điều 119 BLDS quy định hộ gia đình chịu trách nhiệm liên đới vô hạn (không chia theo phần khi thực hiện nghĩa vụ) đối với món nợ chung của hộ. Quy định này đã dẫn đến hậu quả, bất kỳ ai trong hộ có khả năng kinh tế mà bị kiện đòi thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của hộ thì phải dùng tài sản riêng của mình để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật, nhng không thể kiện lại các thành viên khác hoàn trả phần tài sản mà họ đã được trả thay.

Đây là quy định không hợp lý, vì giữa những thành viên cũng có thể không có quan hệ thân thích với nhau, không thể buộc họ phải trả nợ thay cho cả hộ.

* Kiến nghị Không sửa đổi quy định về địa vị pháp lý của hộ gia đình

Hộ gia đình không phải là một pháp nhân và tuy hộ gia đình là một cộng đồng người có tài sản chung và làm kinh tế chung, nhng hoàn toàn khác với pháp nhân. Xét về phương diện quyền sở hữu tài sản thì chúng có sự khác biệt cơ bản: sở hữu của hộ gia đình là cộng đồng sở hữu, tức nhiều người cùng thực hiện quyền làm chủ của mình trên khối tài sản chung của hộ, trong khi, sở hữu của pháp nhân là loại sở hữu một chủ, tức pháp nhân là chủ sở hữu duy nhất đối với tài sản của pháp nhân (các thành viên không phải là đồng sở hữu chủ đối với tài sản của pháp nhân, mà chỉ là đồng sở hữu chủ đối với phần vốn góp vào pháp nhân tơng ứng với giá trị phần vốn góp của mỗi người). Hệ quả của việc thực hiện quyền sở hữu trên tài sản chung của hộ là, tài sản của hộ gia đình không có sự tách bạch với tài sản riêng của từng thành viên trong hộ; trong khi đó, tài sản của pháp nhân hoàn toàn tách bạch và

độc lập với phần tài sản riêng còn lại trong sản nghiệp của từng thành viên. Hộ gia đình và từng thành viên của hộ phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ tài sản của hộ gia đình, trong khi pháp nhân và thành viên của pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình. Vì vậy, theo chúng tôi, Dự thảo nên tiếp tục giữ lại các quy định về t cách chủ thể của hộ gia đình.

* Hộ gia đình có tư cách pháp lý độc lập, thường xuyên và không bị phân biệt đối xử

Chúng tôi cho rằng, không nên hạn chế quyền được tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật của hộ gia đình. Tuy luật quy định, hộ gia đình chỉ được tham gia vào lĩnh vực đã được xác định, nhng luật không thể ngăn được chủ thể hộ gia đình tham gia vào các lĩnh vực khác nhau của xã hội. Ví dụ, một hộ gia đình làm nông nghiệp, ngoài việc họ trực tiếp tham gia vào các quan hệ đã được giới hạn, hộ còn tham gia vào các quan hệ phái sinh như quan hệ chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ; hộ gia đình tham gia vào các quan hệ liên quan đến thuê mớn nhân công, làm đất, tiêu thụ sản phẩm, sử dụng các dịch vụ… phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ.

Như vậy, không nên hạn chế quyền tham gia quan hệ pháp luật dân sự của hộ gia đình, nếu thừa nhận tư cách đầy đủ của hộ gia đình sẽ tạo ra một sức bật mới để vực dậy kinh tế hộ, khuyến khích hộ gia đình phát triển, góp phần huy động các nguồn lực phát triển xã hội.

* Điều kiện cụ thể để công nhận một nhóm người làm kinh tế chung là hộ gia đình

Để nhận diện đúng đắn tư cách pháp lý của hộ gia đình, Dự thảo cần phải xác định một cách cụ thể và rõ ràng hơn về tiêu chí để một nhóm người có tài sản chung, cùng nhau làm kinh tế trong các lĩnh vực trên trở thành một hộ gia đình.

Theo chúng tôi, các tiêu chí đó bao gồm: số lượng thành viên (từ hai người trở lên, gồm

những người thành niên hoặc cha thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng tham gia lao động sản xuất, trừ thành viên của hộ gia đình được cấp đất nông nghiệp, đất ở, đất lâm nghiệp), có tài sản chung và thỏa thuận bằng văn bản về việc cùng nhau sử dụng tài sản chung đó để làm kinh tế chung trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của đời sống xã hội mà cha đủ điều kiện để được công nhận là một pháp nhân.

* Quy định về cơ chế thành viên

Dự thảo cần quy định rõ điều kiện để một cá nhân có thể trở thành thành viên của hộ gia đình, cơ chế tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ với tư cách là một thành viên; khi nào thì chấm dứt tư cách thành viên, việc rút khỏi hộ gia đình và quyền yêu cầu thanh toán phần tài sản đóng góp, việc thừa kế các quyền của thành viên khi một trong số các thành viên chết…

Theo chúng tôi, tham gia vào hộ gia đình phải là người thành niên hoặc người cha thành niên đủ 15 tuổi đến dới 18 tuổi và có hoạt động lao động sản xuất liên quan đến công việc của hộ; trong trường hợp không phải là hộ gia đình được thừa nhận bởi quy định của pháp luật (hộ trồng rừng, làm muối, hộ được cấp quyền sử dụng đất chung…) việc đóng góp tài sản cá nhân để tham gia vào hoạt động kinh tế chung trong một hộ gia đình phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó. Dự thảo cũng cần phải làm rõ các căn cứ chấm dứt t cách thành viên của hộ nh: chết, mất năng lực hành vi mà người đại diện không đồng ý tiếp tục tham gia (đối với người cha thành niên), ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng, kết hôn và xin tách hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…

* Cách thức cử người đại diện

Về cách thức cử người đại diện của hộ gia đình, chúng tôi nhất trí với phơng án hai trong Dự thảo, cho phép những thành viên trong hộ cử ra người đại diện cho hộ với những điều kiện rõ ràng về năng lực chủ thể (người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ), về hình thức, thủ tục (bằng văn bản, được sự đồng ý của tất cả các thành viên). Văn bản thỏa thuận cử đại diện cho hộ là một bằng chứng quan trọng để người người đại diện chứng thực t cách đại diện hợp pháp của mình, bằng chứng về nhiệm vụ và trách nhiệm của chủ hộ đối với hộ và bằng chứng để đối tác chấp nhận t cách đại diện của chủ hộ, cũng nh tạo cơ sở pháp lý cho đối tác trong việc yêu cầu hộ gia đình gánh chịu các trách nhiệm phát sinh từ hành vi của người đại diện khi người này xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh cho hộ.

Tuy nhiên, ngoài việc cử người đại diện theo thủ tục dân sự nêu trên, Dự thảo cần xem xét đến hai vấn đề khác:

Thứ nhất, nếu chủ hộ gia đình được xác định thông qua một quyết định hành chính, việc cử người đại diện cho hộ gia đình không cần phải đặt ra. Vì vậy, khoản 1, Điều 108 của Dự thảo cần bổ sung như sau:

“Đối với các hộ gia đình được cấp quyền sử dụng đất, thì chủ hộ được xác định trong giấy chứng nhận quyền dụng đất do cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền cấp cho hộ gia đình”.

Thứ hai, cần phải bổ sung các quy định liên quan đến việc thay đổi chủ hộ khi họ không thể thực hiện được quyền đại diện trong các trường hợp nh: mất năng lực hành vi, chết, bị phạt tù giam…, do đó, cần bổ sung khoản 4, Điều 108 của Dự thảo như sau:

“4. Khi chủ hộ chết hoặc không đủ điều kiện làm người đại diện cho hộ thì các thành viên thỏa thuận cử người khác đủ điều kiện làm người đại diện hợp pháp cho hộ theo thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp đại diện cho hộ gia đình có quyền sử dụng đất thì việc thay đổi chủ hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai”.

* Căn cứ phát sinh và chấm dứt t cách chủ thể của hộ gia đình

Để xác lập tư cách pháp lý của hộ gia đình, cần phải ghi nhận các sự kiện pháp lý làm phát sinh năng lực chủ thể của hộ gia đình. Theo chúng tôi, một hộ gia đình được coi là có năng lực chủ thể kể từ khi có một trong những căn cứ sau:

– Thỏa thuận cùng nhau góp vốn để làm kinh tế hộ gia đình.

– Những người có tài sản chung cùng nhất trí đa tài sản chung vào khai thác, sử dụng với mục đích làm kinh tế hộ gia đình.

– Được nhà nước giao đất, giao rừng, giao mặt nước… để làm kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp theo quy định của pháp luật (Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng…).

– Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Thời điểm phát sinh tư cách chủ thể của hộ gia đình là từ khi đã đăng ký hoạt động tại UBND cấp xã, phường; hoặc từ khi quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao đất, giao rừng… có hiệu lực pháp luật.

Mặt khác, để xác định thời hạn hoạt động, trách nhiệm của hộ gia đình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, Dự thảo cũng cần xác định các căn cứ làm chấm dứt tư cách của hộ gia đình, theo chúng tôi, hộ gia đình sẽ chấm dứt tư cách chủ thể khi có các căn cứ sau:

– Hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng góp vốn làm kinh tế hộ.

– Không còn thành viên (chết, ly hôn, kết hôn và tách hộ…) hoặc các thành viên không có đủ năng lực để tham gia vào việc làm kinh tế hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Luật Đất đai quy định về “Hộ gia đình độc thân”).

– Do các thành viên thỏa thuận.

– Tài sản chung của hộ không còn (do bị hủy hoại, phá sản, bị nhà nước thu hồi hay tịch thu…).

– Các trường hợp khác do pháp luật quy định (chuyển đổi và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ của hộ…).

* Xác định một cách hợp lý hơn các quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên

Để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên trong hộ gia đình, khoản 2, Điều 111 của Dự thảo nên sửa đổi, bổ sung như sau:

“Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ, thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.

Thành viên đã thực hiện thay phần nghĩa vụ tài sản cho các thành viên khác có quyền yêu cầu người được thực hiện nghĩa vụ thay hoàn lại phần đã được thực hiện thay theo quy định của pháp luật”.

Hộ gia đình là một chủ thể khá năng động, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nớc nhà, thiết nghĩ, chúng ta cần phải có các các quy định ưu đãi, có tính khuyến khích hay ít ra cũng quy định cho nó có địa vị pháp lý ngang bằng với các chủ thể khác của luật dân sự; đồng thời, cũng cần đảm bảo sự nhất quán trong cả hệ thống pháp luật, sao cho chỉ có một loại hình hộ gia đình chung nhất trong các quan hệ pháp luật, chứ không phải mỗi ngành luật có một loại gia đình riêng như hiện nay.

Thừa nhận tư cách chủ thể đầy đủ của hộ gia đình không chỉ là một sự thành công về mặt lập pháp, mà còn tạo ra sức bật mới cho kinh tế hộ gia đình phát triển. Thừa nhận tư cách pháp lý của hộ gia đình sẽ góp phần thực hiện đờng lối kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong việc khuyến khích phát huy mọi nguồn lực của xã hội để phát triển đất nước./.

****************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘ LUẬT DÂN SỰ với các luật chuyên ngành và giữa các luật chuyên ngành với nhau

PGS.TS. ĐOÀN NĂNG –  Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Khoa học và Công nghệ

Hiện nay, Bộ luật Dân sự (1995) và một số đạo luật chuyên ngành đang được sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới như Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ… Do đang tồn tại những quy định chồng chéo, nên các cơ quan soạn thảo luôn phải thảo luận lại về ranh giới điều chỉnh giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành và giữa các đạo luật chuyên ngành với nhau. Bàì viết dưới đây phân tích mối quan hệ giữa các đạo luật trên nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất và đồng bộ.

Quan hệ dân sự là các quan hệ phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh đến sinh hoạt hàng ngày của con người. Các quan hệ này dù phát sinh trong lĩnh vực nào cũng đều có những tính chất, đặc điểm chung và những tính chất, đặc điểm riêng. Chính vì vậy, có thể chia các quy phạm pháp luật dân sự thành hai nhóm lớn: Một là, nhóm các quy phạm quy định về những vấn đề, những nguyên tắc dân sự chung, bao quát các quan hệ dân sự thuộc tất cả các lĩnh vực, nhóm này được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự (BLDS). Hai là, nhóm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ dân sự cụ thể, bao gồm cả các nguyên tắc chuyên ngành cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội, nhóm này được ghi nhận trong các đạo luật cụ thể như: Luật Thương mại,Luật Hàng không dân dụng, Luật Giao thông đường bộ…

Tuy nhiên, trong BLDS hiện hành có nhiều điều luật quy định tương đối chi tiết về một số lĩnh vực cụ thể nh lĩnh vực thừa kế, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, nhà ở… Vì vậy, trên thực tế đang tồn tại sự trùng lặp, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các quy định của BLDS với các quy định của pháp luật chuyên ngành.

Sở dĩ có tình trạng trên là vì, khi tiến hành xây dựng BLDS, chúng ta cha nghiên cứu để xây dựng một mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự và không xử lý nhất quán mối quan hệ gữa cái chung với cái riêng, giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành. Trong một số lĩnh vực, chúng ta đã lấy các quy định của BLDS thay cho các đạo luật chuyên ngành, chẳng hạn như vấn đề chuyển quyền sử dụng đất đã được quy định khá chi tiết trong phần V của BLDS, trong khi Luật Đất đai lại cũng quy định về vấn đề này; hay những vấn đề mà BLDS quy định cha đầy đủ thì giao cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn, mặc dù những vấn đề này thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Khi xây dựng BLDS, chúng ta đã quá thiên về pháp điển hoá, dẫn đến xoá bỏ một loạt văn bản pháp luật chuyên ngành (Ví dụ nh Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam, Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh Nhà ở) để đa các quy định cụ thể của những chuyên ngành này vào BLDS, bởi tinh thần chủ yếu khi xây dựng BLDS là cái gì đã có, đã khẳng định được và có đến đâu thì đa vào đến đó. Nh vậy, vô tình chúng ta đã lấy cái chung thay cho cái cụ thể; đã trộn lẫn cái chung với cái riêng hay trộn cái riêng vào cái chung một cách thiếu khoa học.

Khi đề cập đến vấn đề này, có ý kiến cho rằng, khi xây dựng BLDS, có nhiều vấn đề cha rõ hoặc cha kịp nghiên cứu nên cha thể đa vào Bộ luật. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, những vấn đề quan trọng như đất đai, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là những vấn đề cực kỳ quan trọng nên phải có phần xứng đáng trong Bộ luật. Theo chúng tôi, đây là những quan điểm khó có thể chấp nhận, vì không thể nói vấn đề này quan trọng hơn vấn đề kia được. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng đây không phải là lý do chủ yếu dẫn đến cách xử lý mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngànhthiếu nhất quán và đúng đắn nêu trên.

Gần mời năm áp dụng BLDS cho thấy, các quy định của BLDS về những lĩnh vực có văn bản chuyên ngành bị bãi bỏ không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, do đó chúng ta đã phải ban hành các văn bản cấp Chính phủ, Thủ tớng Chính phủ về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội.

Để tạo điều kiện xây dựng hệ thống các quy định của pháp luật dân sự thống nhất,đồng bộ, không chồng chéo và mâu thuẫn, cần giải quyết đúng đắn và dứt điểm mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành. Phương hướng xử lý mối quan hệ này là phải xoá bỏ tình trạng lấy cái chung thay cho cái riêng, cái cụ thể, trộn lẫn cái chung với cái riêng hay trộn cái riêng vào cái chung như đã làm khi xây dựng BLDS; cần thiết kế ngay mô hình hệ thống các quy định, các văn bản pháp luật dân sự.

Trong điều kiện nước ta hiện nay, mô hình hệ thống pháp luật dân sự có tính khả thi nhất là vẫn giữ lại BLDS, nhưng chỉ với vai trò quy định về những vấn đề chung nhất như về các nguyên tắc cơ bản của BLDS, về cá nhân, pháp nhân, về tài sản và quyền sở hữu tài sản, về các giao dịch dân sự…, kết hợp với các quy định dân sự trong các luật, pháp lệnh chuyên ngành.

Theo mô hình được kiến nghị nêu trên, các vấn đề dân sự vừa được quy định trong BLDS, vừa được quy định tại các đạo luật chuyên ngành, nhng có sự phân công hợp lý theo hớng, BLDS chỉ quy định nội dung chung của tất cả các lĩnh vực, còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung đó như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Sở hữu trí tuệ…, nhưng không có chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Thực tiễn cho thấy rằng, sẽ thuận lợi hơn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật, nếu BLDS chỉ quy định các vấn đề chung cho tất cả các lĩnh vực dân sự, còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung của BLDS vào điều kiện cụ thể của mỗi chuyên ngành. Mặt khác, cũng cần lu ý rằng, BLDS là đạo luật chung nên đòi hỏi phải có sự ổn định cao, trong khi đó, các quan hệ dân sự chuyên ngành luôn biến đổi cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế, xã hội. Do đó, việc tập trung các quy định dân sự cụ thể vào văn bản chuyên ngành sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản này thay vì phải đồng thời sửa đổi, bổ sung cả Bộ luật và các đạo luật chuyên ngành liên quan.

Tuy nhiên, nếu cùng về một vấn đề mà có sự quy định khác nhau giữa BLDS và đạo luật chuyên ngành thì phải cho phép áp dụng quy định của đạo luật chuyên ngành, bởi vì, quy định của đạo luật chuyên ngành là sự cụ thể hoá các quy định chung.Trong trờng hợp nếu có vấn đề thuộc pháp luật chuyên ngành điều chỉnh nhưng đạo luật này cha quy định thì phải áp dụng các quy định chung của BLDS.

Như vậy, với sự lựa chọn mô hình nêu trên, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, các quy

định pháp luật dân sự sẽ là một hệ thống thống nhất trong đa dạng, tạo điều kiện để xoá tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn đã tồn tại trong suốt thời gian qua, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ dân sự hết sức phong phú, đa dạng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội.

Quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành

Bên cạnh việc xử lý mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành thì việc xử lý mối quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành có liên quan với nhau cũng là một vấn đề hết sức quan trọng. Sau đây, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể mối quan hệ giữa Luật Sở hữu trí tuệ với Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật Chuyển giao công nghệ đang được soạn thảo.

Quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ phát sinh trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề đặt ra là, khi xây dựng đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và luật chuyên ngành về công nghệ thông tin, về giao dịch điện tử hay về chuyển giao công nghệ, thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các lĩnh vực này sẽ được quy định ở văn bản pháp luật nào và mức độ quy định ra sao?

Để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, bất kỳ hệ thống quy phạm pháp luật chuyên ngành nào cũng phải bảo đảm tính thống nhất,đồng bộ. Vì vậy, để giải quyết mối quan hệ giữa Luật Sở hữu trí tuệ với các đạo luật chuyên ngành có liên quan trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chúng ta phải xây dựng một mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ đúng theo cách giải quyết mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành đã trình bày ở phần trên.

Trong mô hình của hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, phải xây dựng luật gốc giữ vai trò chủ đạo, còn các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực chuyên ngành khác liên quan có nội dung cụ thể và ở một mức độ nhất định trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ. Cụ thể là Luật Sở hữu trí tuệ là đạo luật gốc vì đối tuợng điều chỉnh của Luật này duy nhất là các quan hệ sở hữu trí tuệ, và với t cách là đạo luật gốc, Luật Sở hữu trí tuệ cần phải quy định tất cả những vấn đề, bao gồm những vấn đề có tính nguyên tắc và cả các quy định cụ thể về sở hữu trí tuệ áp dụng riêng cho từng lĩnh vực.

Song, thực tiễn thời gian qua cho thấy, thông thờng khi xây dựng đạo luật gốc của một chuyên ngành, chúng ta chỉ có thể xây dựng các quy định chung và một số các quy định cụ thể, còn một bộ phận các quy định quá cụ thể, quá đặc thù của các chuyên ngành có liên quan thì được giao lại cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn hoặc đưa vào các đạo luật chuyên ngành có liên quan. Vấn đề là phải bảo đảm không làm mất đi tính thống nhất, đồng bộ của mỗi hệ thống pháp luật chuyên ngành.

Cần nhấn mạnh rằng, khi xây dựng các đạo luật chuyên ngành có liên quan ít nhiều đến sở hữu trí tuệ, phải sử dụng tối đa kỹ thuật viện dẫn tới đạo luật gốc, trong đạo luật chuyên ngành chỉ nên để những quy định rất đặc thù mà trong đạo luật gốc về sở hữu trí tuệ chưa hoặc không có.

Trong thực tiễn cũng như lý luận, một vấn đề dân sự chuyên ngành cụ thể hoàn toàn có thể vừa được quy định trong đạo luật chuyên ngành gốc, vừa được quy định tại một hay thậm chí một số đạo luật chuyên ngành khác có liên quan, nhưng không được chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc.Tuy nhiên, nếu về cùng một vấn đề dân sự cụ thể mà có sự khác nhau (không phải mâu thuẫn hay chồng chéo) giữa đạo luật chuyên ngành gốc với đạo luật chuyên ngành khác có liên quan thì phải cho phép áp dụng các quy định dân sự cụ thể, đặc thù của các đạo luật chuyên ngành đó, bởi quy định cụ thể của các đạo luật chuyên ngành liên quan là sự cụ thể hoá các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc. Trong trờng hợp, vấn đề sở hữu trí tuệ của một chuyên ngành cụ thể mà cha được đạo luật của chuyên ngành đó điều chỉnh thì phải áp dụng các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc.

Để xác định phạm vi, nội dung cụ thể của BLDS và của các đạo luật chuyên ngành trong việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự, cần nghiên cứu và xử lý một cách chính xác, khoa học mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành và giữa các đạo luật chuyên ngành với nhau; mặt khác, cần xác định cụ thể và khoa học mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự. Việc sửa đổi, bổ sung BLDS cũng nh việc soạn thảo một loạt các đạo luật mới hiện nay là dịp tốt để chúng ta xử lý dứt điểm vấn đề này, bảo đảm cho hệ thống pháp luật dân sự thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế./.

*******************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘ LUẬT DÂN SỰ VỚI CÁC LUẬT CHUYÊN NGÀNH VÀ GIỮA CÁC LUẬT CHUYÊN NGÀNH VỚI NHAU

PGS.TS. ĐOÀN NĂNG –  Vụ trưởng Vụ PC, Bộ KH&CN

Hiện nay, Bộ luật Dân sự (1995) và một số đạo luật chuyên ngành đang được sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới như Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ… Do đang tồn tại những quy định chồng chéo, nên các cơ quan soạn thảo luôn phải thảo luận lại về ranh giới điều chỉnh giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành và giữa các đạo luật chuyên ngành với nhau. Bàì viết dưới đây phân tích mối quan hệ giữa các đạo luật trên nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất và đồng bộ.

Quan hệ dân sự là các quan hệ phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh đến sinh hoạt hàng ngày của con người. Các quan hệ này dù phát sinh trong lĩnh vực nào cũng đều có những tính chất, đặc điểm chung và những tính chất, đặc điểm riêng. Chính vì vậy, có thể chia các quy phạm pháp luật dân sự thành hai nhóm lớn: Một là, nhóm các quy phạm quy định về những vấn đề, những nguyên tắc dân sự chung, bao quát các quan hệ dân sự thuộc tất cả các lĩnh vực, nhóm này được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự (BLDS). Hai là, nhóm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ dân sự cụ thể, bao gồm cả các nguyên tắc chuyên ngành cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội, nhóm này được ghi nhận trong các đạo luật cụ thể như: Luật Thương mại,Luật Hàng không dân dụng, Luật Giao thông đường bộ…

Tuy nhiên, trong BLDS hiện hành có nhiều điều luật quy định tương đối chi tiết về một số lĩnh vực cụ thể nh lĩnh vực thừa kế, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, nhà ở… Vì vậy, trên thực tế đang tồn tại sự trùng lặp, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các quy định của BLDS với các quy định của pháp luật chuyên ngành.

Sở dĩ có tình trạng trên là vì, khi tiến hành xây dựng BLDS, chúng ta cha nghiên cứu để xây dựng một mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự và không xử lý nhất quán mối quan hệ gữa cái chung với cái riêng, giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành. Trong một số lĩnh vực, chúng ta đã lấy các quy định của BLDS thay cho các đạo luật chuyên ngành, chẳng hạn như vấn đề chuyển quyền sử dụng đất đã được quy định khá chi tiết trong phần V của BLDS, trong khi Luật Đất đai lại cũng quy định về vấn đề này; hay những vấn đề mà BLDS quy định cha đầy đủ thì giao cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn, mặc dù những vấn đề này thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Khi xây dựng BLDS, chúng ta đã quá thiên về pháp điển hoá, dẫn đến xoá bỏ một loạt văn bản pháp luật chuyên ngành (Ví dụ nh Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam, Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh Nhà ở) để đa các quy định cụ thể của những chuyên ngành này vào BLDS, bởi tinh thần chủ yếu khi xây dựng BLDS là cái gì đã có, đã khẳng định được và có đến đâu thì đa vào đến đó. Nh vậy, vô tình chúng ta đã lấy cái chung thay cho cái cụ thể; đã trộn lẫn cái chung với cái riêng hay trộn cái riêng vào cái chung một cách thiếu khoa học.

Khi đề cập đến vấn đề này, có ý kiến cho rằng, khi xây dựng BLDS, có nhiều vấn đề cha rõ hoặc cha kịp nghiên cứu nên cha thể đa vào Bộ luật. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, những vấn đề quan trọng như đất đai, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là những vấn đề cực kỳ quan trọng nên phải có phần xứng đáng trong Bộ luật. Theo chúng tôi, đây là những quan điểm khó có thể chấp nhận, vì không thể nói vấn đề này quan trọng hơn vấn đề kia được. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng đây không phải là lý do chủ yếu dẫn đến cách xử lý mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngànhthiếu nhất quán và đúng đắn nêu trên.

Gần mời năm áp dụng BLDS cho thấy, các quy định của BLDS về những lĩnh vực có văn bản chuyên ngành bị bãi bỏ không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, do đó chúng ta đã phải ban hành các văn bản cấp Chính phủ, Thủ tớng Chính phủ về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội.

Để tạo điều kiện xây dựng hệ thống các quy định của pháp luật dân sự thống nhất,đồng bộ, không chồng chéo và mâu thuẫn, cần giải quyết đúng đắn và dứt điểm mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành. Phương hướng xử lý mối quan hệ này là phải xoá bỏ tình trạng lấy cái chung thay cho cái riêng, cái cụ thể, trộn lẫn cái chung với cái riêng hay trộn cái riêng vào cái chung như đã làm khi xây dựng BLDS; cần thiết kế ngay mô hình hệ thống các quy định, các văn bản pháp luật dân sự.

Trong điều kiện nước ta hiện nay, mô hình hệ thống pháp luật dân sự có tính khả thi nhất là vẫn giữ lại BLDS, nhưng chỉ với vai trò quy định về những vấn đề chung nhất như về các nguyên tắc cơ bản của BLDS, về cá nhân, pháp nhân, về tài sản và quyền sở hữu tài sản, về các giao dịch dân sự…, kết hợp với các quy định dân sự trong các luật, pháp lệnh chuyên ngành.

Theo mô hình được kiến nghị nêu trên, các vấn đề dân sự vừa được quy định trong BLDS, vừa được quy định tại các đạo luật chuyên ngành, nhng có sự phân công hợp lý theo hớng, BLDS chỉ quy định nội dung chung của tất cả các lĩnh vực, còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung đó như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Sở hữu trí tuệ…, nhưng không có chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Thực tiễn cho thấy rằng, sẽ thuận lợi hơn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật, nếu BLDS chỉ quy định các vấn đề chung cho tất cả các lĩnh vực dân sự, còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung của BLDS vào điều kiện cụ thể của mỗi chuyên ngành. Mặt khác, cũng cần lu ý rằng, BLDS là đạo luật chung nên đòi hỏi phải có sự ổn định cao, trong khi đó, các quan hệ dân sự chuyên ngành luôn biến đổi cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế, xã hội. Do đó, việc tập trung các quy định dân sự cụ thể vào văn bản chuyên ngành sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản này thay vì phải đồng thời sửa đổi, bổ sung cả Bộ luật và các đạo luật chuyên ngành liên quan.

Tuy nhiên, nếu cùng về một vấn đề mà có sự quy định khác nhau giữa BLDS và đạo luật chuyên ngành thì phải cho phép áp dụng quy định của đạo luật chuyên ngành, bởi vì, quy định của đạo luật chuyên ngành là sự cụ thể hoá các quy định chung.Trong trờng hợp nếu có vấn đề thuộc pháp luật chuyên ngành điều chỉnh nhưng đạo luật này cha quy định thì phải áp dụng các quy định chung của BLDS.

Như vậy, với sự lựa chọn mô hình nêu trên, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, các quy

định pháp luật dân sự sẽ là một hệ thống thống nhất trong đa dạng, tạo điều kiện để xoá tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn đã tồn tại trong suốt thời gian qua, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ dân sự hết sức phong phú, đa dạng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội.

Quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành

Bên cạnh việc xử lý mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành thì việc xử lý mối quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành có liên quan với nhau cũng là một vấn đề hết sức quan trọng. Sau đây, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể mối quan hệ giữa Luật Sở hữu trí tuệ với Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật Chuyển giao công nghệ đang được soạn thảo.

Quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ phát sinh trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề đặt ra là, khi xây dựng đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và luật chuyên ngành về công nghệ thông tin, về giao dịch điện tử hay về chuyển giao công nghệ, thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các lĩnh vực này sẽ được quy định ở văn bản pháp luật nào và mức độ quy định ra sao?

Để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, bất kỳ hệ thống quy phạm pháp luật chuyên ngành nào cũng phải bảo đảm tính thống nhất,đồng bộ. Vì vậy, để giải quyết mối quan hệ giữa Luật Sở hữu trí tuệ với các đạo luật chuyên ngành có liên quan trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chúng ta phải xây dựng một mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ đúng theo cách giải quyết mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành đã trình bày ở phần trên.

Trong mô hình của hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, phải xây dựng luật gốc giữ vai trò chủ đạo, còn các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực chuyên ngành khác liên quan có nội dung cụ thể và ở một mức độ nhất định trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ. Cụ thể là Luật Sở hữu trí tuệ là đạo luật gốc vì đối tuợng điều chỉnh của Luật này duy nhất là các quan hệ sở hữu trí tuệ, và với t cách là đạo luật gốc, Luật Sở hữu trí tuệ cần phải quy định tất cả những vấn đề, bao gồm những vấn đề có tính nguyên tắc và cả các quy định cụ thể về sở hữu trí tuệ áp dụng riêng cho từng lĩnh vực.

Song, thực tiễn thời gian qua cho thấy, thông thờng khi xây dựng đạo luật gốc của một chuyên ngành, chúng ta chỉ có thể xây dựng các quy định chung và một số các quy định cụ thể, còn một bộ phận các quy định quá cụ thể, quá đặc thù của các chuyên ngành có liên quan thì được giao lại cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn hoặc đưa vào các đạo luật chuyên ngành có liên quan. Vấn đề là phải bảo đảm không làm mất đi tính thống nhất, đồng bộ của mỗi hệ thống pháp luật chuyên ngành.

Cần nhấn mạnh rằng, khi xây dựng các đạo luật chuyên ngành có liên quan ít nhiều đến sở hữu trí tuệ, phải sử dụng tối đa kỹ thuật viện dẫn tới đạo luật gốc, trong đạo luật chuyên ngành chỉ nên để những quy định rất đặc thù mà trong đạo luật gốc về sở hữu trí tuệ chưa hoặc không có.

Trong thực tiễn cũng như lý luận, một vấn đề dân sự chuyên ngành cụ thể hoàn toàn có thể vừa được quy định trong đạo luật chuyên ngành gốc, vừa được quy định tại một hay thậm chí một số đạo luật chuyên ngành khác có liên quan, nhưng không được chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc.Tuy nhiên, nếu về cùng một vấn đề dân sự cụ thể mà có sự khác nhau (không phải mâu thuẫn hay chồng chéo) giữa đạo luật chuyên ngành gốc với đạo luật chuyên ngành khác có liên quan thì phải cho phép áp dụng các quy định dân sự cụ thể, đặc thù của các đạo luật chuyên ngành đó, bởi quy định cụ thể của các đạo luật chuyên ngành liên quan là sự cụ thể hoá các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc. Trong trờng hợp, vấn đề sở hữu trí tuệ của một chuyên ngành cụ thể mà cha được đạo luật của chuyên ngành đó điều chỉnh thì phải áp dụng các quy định của đạo luật chuyên ngành gốc.

Để xác định phạm vi, nội dung cụ thể của BLDS và của các đạo luật chuyên ngành trong việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự, cần nghiên cứu và xử lý một cách chính xác, khoa học mối quan hệ giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành và giữa các đạo luật chuyên ngành với nhau; mặt khác, cần xác định cụ thể và khoa học mô hình hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự. Việc sửa đổi, bổ sung BLDS cũng nh việc soạn thảo một loạt các đạo luật mới hiện nay là dịp tốt để chúng ta xử lý dứt điểm vấn đề này, bảo đảm cho hệ thống pháp luật dân sự thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế./.

*******************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

QUYỀN CHỦ THỂ, ĐẶC QUYỀN VÀ QUYỀN ƯU TIÊN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Quyền chủ thể khái niệm sinh ra từ quan hệ hội được nâng lên thành luật. Đặc quyền, quyền ưu tiên chỉ có nghĩa cần thiết đối với việc bảo vệ một lợi ích chính đáng lớn hơn trong điều kiện giữa các lợi ích chính đáng có sự xung đột. Từ nhận thức đó, tác giả phê phán sự lạm dụng đặc quyền, quyền ưu tiên khi liên hệ đến nước ta và đa ra kiến nghị xây dựng một hệ thống quy tắc pháp lý đặc trng bằng vai trò chủ động của cơ quan lập pháp, thiết lập các tiêu chí xác định đặc quyền, quyền u tiên hợp pháp. Trên cơ sở đó, quyền chủ thể mới thật sự được tôn trọng và phát triển một cách tự giác, bằng ý thức xã hội

Quyền chủ thể – sự bất bình đẳng chính đáng

Khái niệm quyền chủ thể được xây dựng trong Luật La Mã và được coi nh một trong những khái niệm chủ yếu của luật cơ bản. Một cách tổng quát, quyền chủ thể được hiểu là sự thừa nhận của pháp luật về việc một chủ thể của luật (gọi nôm na là một người) được thụ hưởng một lợi ích nào đó và tất cả người khác phải tôn trọng sự thụ hưởng đó. Ví dụ, chủ sở hữu đối với một tài sản là người có các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản và tất cả mọi người phải tôn trọng các quyền đó.

Thực ra, trước khi ổn định vị trí trong hệ thống các giá trị nhân văn ở phơng Tây, nh một phạm trù pháp lý, quyền chủ thể được nhận biết lúc ban đầu như một phạm trù xã hội và được sử dụng như một công cụ để xây dựng cơ sở của các mối quan hệ giao tiếp xã hội trong cuộc sống hàng ngày, liên quan đến việc chiếm hữu và thụ hưởng các lợi ích vật chất và phi vật chất. Có thể nhận thấy ngay rằng, khi một lợi ích thuộc về một người, thì nó không thể thuộc về một người khác. Việc một người “có” trong khi người khác “không có” tạo ra một tình trạng mà, thoạt trông, có vẻ bất bình đẳng; tuy nhiên, chính tình trạng bất bình đẳng ấy lại là biểu hiện bề ngoài của sự bình đẳng bên trong hiểu theo nghĩa rộng nhất. Một người có quyền vượt ngã tư khi đèn xanh, bởi khi đèn bật màu đỏ, chính người này phải dừng lại để nhường quyền vợt ngã tư cho người khác. Do vậy, quyền chủ thể còn được coi như biểu hiện của sự bất bình đẳng chính đáng. Có nguồn gốc từ các quan hệ xã hội, quyền chủ thể có khả năng tồn tại ngay cả trong trường hợp không được nâng lên thành luật, chừng nào sự tồn tại đó là cần thiết cho việc duy trì trật tự xã hội và bảo đảm sự công bằng. Chẳng hạn, luật pháp thường không quy định rằng, nếu cùng một lúc nhiều người có ý định mua bánh mì ở cùng một cửa hàng bán bánh mì, thì người đến trước được quyền mua trước; thế nhng, một cách tự giác, mọi người đến sau đều tôn trọng quyền của người đến trước và những người đến sau tự động xếp hàng để chờ đến lượt mình. Ta nói rằng, có những quyền chủ thể hình thành và được duy trì chỉ nhờ vào ý thức xã hội mà không cần sự can thiệp của luật.

Xâm phạm quyền chủ thể – sự bất bình đẳng không chính đáng

Quyền chủ thể dựa vào sự bất bình đẳng chính đáng, việc xâm phạm quyền chủ thể dẫn

đến tình trạng bất bình đẳng không chính đáng, tình trạng này đáng bị lên án (Xem hộp 1).

Hộp 1. Người vượt ngã khi đèn đỏ phải bị coi như đã có hành vi chiếm đoạt quyền sử dụng đèn xanh của người khác và hành vi này được phân tích, ở một góc độ nào đó, thành một vụ ăn cắp, thậm chí thành một vụ ăn cớp trong trường hợp hành vi mang tính chất công khai giành đờng và được thực hiện với thái độ đe doạ, sừng sộ chống lại những ai phản đối. Tơng tự, trong khi mọi người xếp hàng chờ mua bánh mì, việc một người không xếp hàng nhưng lại muốn ưu tiên thụ hưởng dịch vụ bằng cách chen vào để mua trước là việc ăn cắp hoặc ăn cướp lượt ưu tiên của người khác

Đặc quyền, quyền u tiên

Quyền chủ thể được pháp luật thừa nhận cho mọi công dân, không phân biệt địa vị, giai cấp, sang hèn, trình độ học vấn; theo cách đó, quyền chủ thể, về bản chất, đối lập với đặc quyền, quyền u tiên. Các quyền này cho phép một người thụ hưởng lợi ích trước người khác, dù xét theo các tiêu chí thông thường, thì việc hưởng trước đó là không có căn cứ. Việc thừa nhận các

đặc quyền, quyền u tiên được lý giải bằng sự cần thiết của việc bảo vệ một lợi ích chính đáng lớn hơn trong điều kiện giữa các lợi ích chính đáng có sự xung đột. Ví dụ, trong trường hợp cần chữa cháy khẩn cấp, xe cứu hoả có thể vợt ngã t khi đèn đỏ. Trong một xã hội có tổ chức, quyền chủ thể là giải pháp nguyên tắc, còn đặc quyền, quyền u tiên là các ngoại lệ. Để ngăn ngừa sự lạm dụng các đặc quyền, quyền u tiên có thể dẫn đến việc phá vỡ tính nguyên tắc của quyền chủ thể, Nhà nước thường xây dựng các quy tắc chặt chẽ về việc xác lập và thực hiện các đặc quyền, quyền u tiên. Các quy tắc ấy phải do cơ quan lập pháp ban hành và phải vạch ra một lộ trình cho việc xác lập các quyền, dựa vào các kết quả xác định lợi ích được u tiên bảo vệ trên cơ sở sự đánh giá minh bạch và công khai. Các quy tắc ấy cũng cho phép việc giám sát của các cơ quan đại diện dân cử, đối với việc thừa nhận đặc quyền, quyền u tiên cho một người hoặc một nhóm người nào đó và đối với cách thực hiện các quyền ấy.

Liên hệ với nước ta

Khái niệm quyền chủ thể cũng hình thành và phát triển dới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Song, có vẻ nh quá trình nhận thức về quyền chủ thể ở Việt Nam lại đi theo con đường ngược so với nhiều nước khác. Quyền chủ thể bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam dới hình thức một khái niệm pháp lý chứ không phải một hiện tợng xã hội. Được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp dới tên gọi các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền chủ thể được cụ thể hoá trong các văn bản luật thành các quyền trong các lĩnh vực, chủ yếu là trong lĩnh vực dân sự. Khái niệm pháp lý về quyền chủ thể sau đó được giới thiệu cho nhân dân thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nhờ vào hiệu quả của các hoạt động này, quyền chủ thể dần dần được người dân biết đến.

Vấn đề là do được tiếp nhận nh một giá trị ngoại lai đối với hệ thống các quan hệ xã hội, quyền chủ thể ở Việt Nam, ít nhất cho đến bây giờ, hầu như không có khả năng tồn tại như một quan hệ xã hội thuần tuý mà không cần sự can thiệp của pháp luật.

Người ta có thể dừng lại trước đèn đỏ, bởi pháp luật cấm quyền chủ thể vượt ngã tư khi đèn đỏ; nhưng trong trường hợp cùng một lúc có nhiều người muốn mua vé xem hát, thì hầu như tất cả mọi người sẽ tìm cách vượt lên để được mua vé trước. Nói cách khác, ở Việt Nam chưa có các quyền chủ thể sống được chỉ nhờ ý thức xã hội; đúng hơn, ý thức xã hội chưa đủ mạnh để đặt cơ sở cho việc nuôi dỡng một quyền chủ thể nào đó ngoài khuôn khổ luật pháp.

Cũng vì ý thức xã hội về quyền chủ thể còn rất nhạt nhoà mà việc xâm phạm quyền chủ thể thường không bị lơng tâm phán xét dựa trên nhận thức về tình trạng bất bình đẳng chính đáng. Trong đa số các trường hợp, người vợt đèn đỏ ở Việt Nam không ở trong tâm trạng của một kẻ ăn cắp, mà của một người đang vội vàng với những ý định của riêng mình và cảm thấy việc phải dừng lại trước đèn đỏ là điều gò bó, bất tiện. Tơng tự, người không xếp hàng trước quầy bán vé thường tin tởng một cách giản đơn rằng trong điều kiện quầy bán vé rộng mở, người bán vé luôn sẵn sàng đáp ứng yêu cầu mua vé của bất kỳ ai tiếp cận được với mình. Thậm chí có những công dân hoàn toàn không có ý niệm gì trong Pháp luật nước ta cũng thừa nhận tính nguyên tắc của quyền chủ thể và tính ngoại lệ của các đặc quyền, quyền ưu tiên. Thế nhng, việc thừa nhận các đặc quyền và quyền ưu tiên, dùđược thực hiện trong rất nhiều trường hợp, cho đến nay vẫn cha được đặt trong một cơ chế phân phối minh bạch và công bằng. Sự lỏng lẻo của cơ chế đã dẫn đến sự tràn lan của hiện tượng lạm dụng trong việc xác lập các đặc quyền, quyền u tiên (Xem hộp 2).

Hộp 2. Không ít quan chức, thông qua cơ chế mập mờ, thiết lập cho mình quyền qua phà, qua cầu mà không cần xếp hàng; quyền băng qua các giao lộ mà không cần quan tâm đến hoạt động của hệ thống tín hiệu giao thông, quyền nhận quyền sử dụng các lô đất “đẹp” với giá rẻ mà không phải qua đấu giá. Điều đáng ngại nữa là hiện rất phổ biến suy nghĩ theo đó, quyền chủ thể (được hiểu là các quyền thông thường) là những thứ tầm thường và dành cho người dân thường; còn người có trọng trách, có địa vị thì phải được “trang bị” các quyền thể hiện u thế của mình trong quan hệ với mọi người.

Chắc chắn xã hội không thể phát triển lành mạnh chừng nào thường, cũng như chừng nào con người vẫn còn duy trì quan niệm coi đặc quyền, quyền u tiên là dấu hiệu của sự cao sang, sự vợt trội. Có thể thấy rằng để quyền chủ thể được tôn trọng một cách tự giác, cần phải coi trọng việc xây dựng ý thức xã hội về nó: phải làm thế nàođể người dân hiểu rằng quyền chủ thể không phải là các quy tắc pháp lý được đa từ bên ngoài vào cuộc sống (kiểu như “luật đi vào cuộc sống”), mà là các quy tắc được hình thành từ chính cuộc sống, là các giá trị được nâng lên từ cuộc sống tích cực và cuối cùng, được pháp luật thừa nhận. Mặt khác, cần phải bảo đảm tính nguyên tắc của quyền chủ thể thông qua việc ngăn chặn, hạn chế sự lạm dụng trong việc xác lập các đặc quyền, quyền u tiên. Cụ thể, cần xây dựng một hệ thống quy tắc pháp lý đặc trng bằng vai trò chủ động của cơ quan lập pháp trong quyền thiết lập các tiêu chí xác định một đặc quyền, quyền u tiên nào đó là hợp pháp, cũng nh trong việc thừa nhận từng loại đặc quyền, quyền u tiên trong từng trường hợp cụ thể và trong việc sử dụng các đặc quyền, quyền u tiên trong đời sống hàng ngày./.

**********************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚCTRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

BÙI ĐỨC KHÁNG – HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Bàn về vai trò quản kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, nhiều học thuyết. Những học thuyết này luôn luôn giao động xung quanh điểm cân bằng về một tiêu chuẩn nhà nước quản lý hiệu quả, là người cộng tác, và là đối tác với các lực lợng của thị trường. Bài viết trao đổi về những học thuyết này, liên hệ với Việt Nam trong chiến lược phát triển đến năm 2010

có hai trường phái chủ yếu quan niệm về vị trí, vai trò của nhà nước của phái chính thống của chủ nghĩa tự do mới. Người ta nói đến khái niệm “nhà nước” đối với nền kinh tế; một là, Chính phủ “thịnh trị”, nhà nước quản lý hiệu quả, thay vì chính phủ tốt nhất là Chính phủ quản lý ít nhất1, sự phát triển phải do thị trường tự do tự quyết định; hai là, sự khủng hoảng nền kinh tế t bản tự do cạnh tranh buộc nhà nước t bản phải can thiệp vào nền kinh tế thị trường, ngăn ngừa khủng hoảng tài chính và nạn thất nghiệp bằng cách điều chỉnh nhu cầu thông qua việc kiểm soát của Chính phủ về tín dụng và tiền tệ2.

1. Vai trò của nhà nước ở các hệ thống thị trường phát triển

Mạnh nhưng không lấn át chức năng thị trường

Quan sát hoạt động của nhà nước trong các nước có hệ thống thị trường tự do phát triển, có thể thấy rằng, nhà nước đóng vai trò ngày càng lớn, nhưng không lấn át các chức năng cơ bản của thị trường. Đó là quan điểmbàn cãi nên có ít hay nhiều “nhà nước” trong nền kinh tế thị trường.

Khuyến nghị về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế hiện đại, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) gợi ý, cần tăng cường vai trò nhà nước, nhất là trong lĩnh vực phát triển nền dân chủ, hoàn thiện cơ sở hạ tầng xã hội, vật chất và thiết chế bảo đảm sự phát triển ổn định và cạnh tranh lành mạnh của thị trường, chỉnh đốn tác động lệch lạc của thị trường tự do, xây dựng môi trường xã hội, truyền thống và giá trị xã hội tốt đẹp.

Năm 1997, trong bản báo cáo kinh tế đọc trước Quốc hội khoá 105, Tổng thống Hoa kỳ B. Clinton nhấn mạnh, cần tăng cường sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế;trước hết, tăng cường vai trò tạo ra khuôn khổ pháp lý bảo đảm các quyền sở hữu, hợp

đồng, giao dịch thơng mại và kinh doanh. Bản báo cáo cũng giải thích: thị trường tự do đồng nghĩa với vô chính phủ. Báo cáo này cũng dẫn ra những ví dụ về sự cần thiết tăng cường vai trò chính phủ trong các hoạt động khác nh: làm trọng tài đối với các giao dịch tư (tuy không phải là chức năng duy nhất của nhà nước), yểm trợ cho sự cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát giá cả sát với chi phí sản xuất, bảo đảm thông tin kinh tế xác thực và hỗ trợ những nhân tố kích thích đầu t, chống độc quyền, phá giá và bảo hộ sản xuất, tiêu dùng nội điạ song song với ủng hộ chủ thuyết tự do thơng mại.

Một số lý do can thiệp

Bảo vệ lợi ích công cộng là một lý do quan trọng của sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Ví dụ, dễ chấp nhận nhất là bảo vệ môi trường, vừa là lợi ích nội điạ lại đồng thời là lợi ích toàn cầu, đòi hỏi nhà nước phải dành cho mình đặc quyền can thiệp.

Một nguyên nhân nữa lý giải cho sự cần thiết can thiệp của nhà nước vào thị trường đó là bảo đảm việc cung cấp một số hàng hoá và dịch vụ quan trọng cho cộng đồng. Báo cáo của B. Clinton nói trên đã nêu một số ví dụ : chi phí quốc gia cho dịch vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, đầu t công vào cơ sở hạ tầng vận tải và viễn thông, can thiệp để phát triển năng lực y tế v.v.. Hiệu quả của sự can thiệp này không thể tính ngắn hạn, mà được bù đắp lâu dài bằng năng suất và sức sản xuất mới. Những dịch vụ công trên đây là cần thiết vì thị trường tự do có thể không đáp ứng nổi hoặc gây hiệu ứng lệch.

Tạo và thúc đẩy môi trường cạnh tranh và duy trì cạnh tranh lành mạnh cũng là một lĩnh vực mà nhà nước đảm nhiệm để tác động vào thị trường một cách tích cực, kể cả thúc đẩy

cạnh tranh lành mạnh trong các lĩnh vực

cung cấp đầu vào của nền kinh tế nh vận tải, khí đốt, nguyên liệu, nhiên liệu, viễn thông, liên lạc. Cách thức mà nhà nước can thiệp vào thị trường chủ yếu thông qua công cụ pháp luật và chính sách đòn bẩy thị trường chứ ít khi là mệnh lệnh hành chính.

Can thiệp vào nền kinh tế để giữ mặt bằng công bằng xã hội cũng là một chức năng kinh tế quan trọng của nhà nước. Thị trường vốn lạnh lùng tuân theo lợi nhuận, dẫn đến những sự khác biệt, bất bình đẳng giữa các nhóm người trong xã hội; nhóm này có nhiều cơ hội thì nhóm kia lại yếu thế, nơi này tập trung sự giàu có thì lại thiếu ở nơi khác. Để xoá bỏ sự bất bình đẳng, nhà nước sử dụng những công cụ chính sách kinh tế, thuế thu nhập, phúc lợi xã hội v.v…

Đánh giá hiệu quả quản nhà nước

Những cuộc tranh luận kéo dài về vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường thường bị sa lầy không có lối thoát, vì cách tiếp cận đặt nhà nước đối lập với thị trường. Đây là cách tiếp cận cực đoan, thường giảm nhẹ những thiếu sót của bên này và thổi phồng những khả năng của bên kia. Khách quan mà nói, cần cân nhắc cẩn thận cả những phí tổn lẫn những lợi ích của hai nhân tố nhà nước và thị trường trong mối quan hệ tơng tác, từ đó thấy rằng thị trường và nhà nước không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau, việc thu hẹp phạm vi của nhà nước cũng nh việc t nhân hoá đều có những giới hạn khách quan.Đánh giá hiệu quả vai trò của nhà nước đối với thị trường, do đó, cần theo tiêu chuẩn đánh giá tác động của chính sách đối với thị trường và thông qua đánh giá các công cụ can thiệp của nhà nước đối với thị trường có theo các quy luật và phương pháp thị trường hay không, thêm vào đó là tiêu chuẩn hiệu năng của sự can thiệp, tức là những can thiệp đó có tốn kém xã hội hay không, so với chi phí bỏ ra, có làm tăng thêm gánh nặng thuế khoá hay không.

Xuất phát từ động cơ lợi nhuận là động cơ chính của thị trường và từ đó, dẫn đến những tệ nạn xã hội, những hậu quả tiêu cực của mánh lới kinh doanh, sự thơng mại hoá làm suy đồi một số giá trị luân lý đạo đức và những phúc lợi xã hội cơ bản, người ta nhìn nhận sự can thiệp của nhà nước vào thị trường ngoài ý nghĩa kinh tế còn có giá trị xã hội. Trong vai trò này, nhà nước là nhân tố định hướng có ý thức làm giảm thiểu tác động tiêu cực của nhân tố tự phát là thị trường,

hướng tới đạt chất lợng tăng trưởng; trong khi thị trường tự phát nhiều khi chỉ đem đến tăng trưởng về số lợng, hoặc cho một số ít người. Đó là mục đích tối cao của sự can thiệp của nhà nước, giúp giải quyết nhiều vấn

đề bức thiết cả ở cấp độ quốc gia và ở cấp độ quốc tế. Nhưng, để tiến bước theo hướng đó, không hề có những chỉ dẫn có sẵn, không hề có mô hình làm sẵn cho mọi quốc gia.

Tác động hiệu quả của nhà nước còn được đánh giá trên cơ sở khả năng điều hoà lợi ích để mỗi nhóm c dân đều có quyền dự phần vào phát triển. Mỗi nền văn hoá, mỗi cộng đồng dân cư, thậm chí trong một quốc gia, mỗi nhóm lợi ích khác nhau lại bị tác động bởi cùng một chính sách theo những hướng khác nhau, dẫn đến lợi ích và cơ hội lại không giống nhau, đôi khi trái ngược nhau, có những nơi, những nhóm tiếp nhận những cơ hội và thách thức của thời đại theo cách khác nhau. Đây là bài toán chung cho mọi nhà nước trong nền kinh tế thị trường, không phụ thuộc vào trình độ phát triển.

Khái quát về nhiệm vụ của nhà nước

Như trình bày trên đây, khó có thể nhìn từ một quốc gia, một mô hình mà khái quát về chức năng phổ quát của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường . Dới đây, chỉ xin nêu một số nhiệm vụ chủ yếu mang tính phổ biến chung của nhà nước:

Hoạt động lập pháp và hoạt động bảo hộ bằng pháp luật nhằm bảo vệ tự do thị trường, nh: quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu t nhân, kỷ luật hợp đồng;

Tạo dịch vụ công và phúc lợi xã hội, tức là những phúc lợi không thể chia ra cho mọi người sử dụng đồng đều (quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đờng giao thông, hệ thống cấp, thoát nước và các công trình khác cần thiết cho sinh hoạt bình thường của xã hội);

Phát triển giáo dục, y tế, khoa học và văn hoá, tức là những lĩnh vực đáp ứng lợi ích nằm ngoài mối quan tâm của các chủ thể trên thị trường nhưng lại có tầm quan trọng lâu dài đối với nguồn nhân lực, chất lợng cuộc sống và môi trường xã hội;

Bảo vệ xã hội trước những tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế, nh sự hủy hoại môi trường; sự huỷ hoại đạo đức;

Bảo đảm mọi điều kiện cho sự cạnh tranh không ngừng, cạnh tranh lành mạnh,

điều chỉnh và thay đổi các độc quyền tự nhiên trong việc sản xuất và phân phối các dịch vụ có tính chất đầu vào của nền kinh tế nh năng lợng, vận tải và thông tin liên lạc;

Giảm bớt bất công xã hội do thị trường sinh ra;

Điều chỉnh chống lạm phát và chống khủng hoảng…

Những thách thức

Nhà nước can thiệp để tránh những tác động tự phát có hại của thị trường, tuy nhiên, những chính sách thiện ý này được ban hành ở thời điểm nhất định vẫn có nguy cơ đi ngược lại sự phát triển của xã hội hoặc lỗi thời, hoặc mâu thuẫn với những chính sách mới ban hành. Sự đúng đắn và thích hợp của chính sách can thiệp của nhà nước phải được đo đếm bằng tác động tích cực hay tiêu cực mà nó đa lại trên thực tế, sau khi được ban hành, và những chính sách này có được thường xuyên cập nhật để thích hợp với hoàn cảnh thay đổi của thị trường, của xã hội hay không. Thách thức này đòi hỏi phải có giám sát thi hành chính sách và tách bạch được sự can thiệp mang tính chất nhất thời và sự can thiệp mang tính nguyên tắc, không can thiệp vào những vấn đề, lĩnh vực đòi hỏi thị trường tự điều chỉnh bằng những quy luật riêng. Phân tách được chính sách ngắn hạn khỏi dài hạn sẽ giúp tránh mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định. Những chính sách ngắn hạn phải có giới hạn hiệu lực theo thời gian, sau đó phải có sự điều chỉnh. Trong kỹ thuật lập pháp còn gọi giới hạn này là “quy tắc mặt trời lặn”3. Nhiều khi, một chính sách can thiệp về lâu dài có thể rất đúng đắn, nhưng lại bị lỗi thời, không có tác dụng do công nghệ mới, làm cho cách thức can thiệp bằng hành chính trở thành lực cản về thủ tục đối với sự phát triển của thị trường. Ví dụ rõ nhất có thể nêu là độc quyền nhà nước trong viễn thông và giao thông công cộng. Mục đích cao cả của sự can thiệp này là tạo hạ tầng cơ sở công cộng thuận lợi, giảm đầu vào của chi phí sản xuất và cung cấp dịch vụ công cộng cơ bản cho xã hội, tránh những cú sốc vì ở thời điểm ban hành chính sách độc quyền này, ngoài nhà nước không thể có nhà đầu t khác do chi phí cao, lợi nhuận thấp. Đến một thời điểm phát triển, công nghệ viễn thông cho phép những nhà đầu t t nhân hoàn toàn có thể đảm nhận lĩnh vực với chi phí thấp hơn. Nếu không kịp điều chỉnh, chính sách mang thiện ý hỗ trợ sự phát triển này lại trở thành lực cản. Điện lực và đờng sắt cũng là những ví dụ tơng tự về cách thức, công cụ và giới hạn thời gian can thiệp trực tiếp của Nhà nước. Tóm lại, muốn tạo sự phát triển đồng bộ, là tác nhân cho phát triển thị trường, Nhà nước phải cộng tác với thị trường, chứ không thay thế thị trường4.

Công bằng xã hội, an ninh, trật tự, an toàn công cộng và phúc lợi chung thường là những lý do chính đáng cho sự can thiệp thường xuyên hoặc bất thường của nhà nước. Đó là những chính sách điều tiết kinh tế giảm tăng trưởng nóng, khuyến khích đầu tư cho xoá đói, giảm nghèo, can thiệp bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững, những chính sách giáo dục cơ bản và chăm sóc sức khoẻ v.v… Tuy nhiên, phải nhận thấy ngay cả trong những hoàn cảnh “hợp lý” này, sự can thiệp của nhà nước không phải là công cụ duy nhất, mà nhà nước phải biết động viên cơ chế thị trường tham gia đạt được những mục đích này. Đó là sự khôn ngoan của chính sách can thiệp trên cơ sở hợp tác với thị trường. Tóm lại, sử dụng quyền lực công hoặc công cụ cưỡng chế là độc quyền nhà nước, và độc quyền là con dao hai lưỡi, luôn tiềm ẩn những nguy cơ độc đoán, can thiệp trái với quy luật thị trường. Đó là yếu kém của nhà nước. Yếu kém này cần nhận biết liên tục và điều chỉnh thích hợp5.

2 Vai trò của nhà nước Việt Nam

Định vị vai trò mới

Trong nền kinh tế chỉ huy, các cơ quan kế hoạch của chính phủ thiết lập các mức sản xuất các mặt hàng và chỉ định các nhà máy được quyền sản xuất các mặt hàng, giá các mặt hàng, lơng của công nhân. Nền kinh tế thị trường lại được tổ chức dựa theo những nguyên tắc khác; đó là quyền tự do của khách hàng trong việc lựa chọn các hàng hoá và dịch vụ cạnh tranh; quyền tự do của các nhà sản xuất trong quyết định kinh doanh, phân chia rủi ro và lợi nhuận; quyền tự do của người lao động trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tham gia nghiệp đoàn lao động hoặc thay đổi chủ.

Trong việc xây dựng Chiến lược kinh tế xã hội cho 10 năm tới, hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thì vấn đề quan trọng là định vị được vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Trong các nền kinh tế chuyển đổi, vai trò nhà nước đặc biệt được nhắc đến nh mấu chốt của sự thành, bại. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Bốn vấn đề lớn chính liên quan đến vai trò mới của Nhà nước ở Việt Nam cần được bàn đến là: i) Sở hữu nhà nước, ii) Cung cấp kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, iii) sự can thiệp thích hợp của chính phủ vào thị trường và iv) “vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước”.

Doanh nghiệp nhà nước

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, khi nhà nước sở hữu hoặc kiểm

soát doanh nghiệp, Nhà nước thường có xu hướng nhằm vào những lợi ích khác hơn là khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp. Do đã sở hữu nhà nước thường khác với mục tiêu về tính hiệu quả của thị trường. Nh vậy, hiểu đúng về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề cốt lõi. Hiện nay, việc duy trì số lợng lớn các doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, nhất là trong khu vực công nghiệp đã dẫn đến phải bù lỗ từ ngân sách hoặc bằng các khoản vay từ hệ thống ngân hàng. Điều đó dẫn đến thâm hụt ngân sách dài dài, đe doạ sự ổn định kinh tế vĩ mô và đẩy những đối tợng đi vay đáng tin cậy hơn ra khỏi thị trường tín dụng.

Cung cấp dịch vụ công

Nghĩa vụ cơ bản nhất của nhà nước là cung cấp hàng hoá và dịch vụ công, chủ yếu là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội của nền kinh tế. Việt Nam bị tụt hậu so với mức trung bình của các nước có thu nhập thấp về kết cấu hạ tầng năng lợng, giao thông vận tải, viễn thông và thông tin. Cần thực hiện những biện pháp chiến lược để bắt kịp các nước khác, bao gồm đa dạng hoá các nguồn tài chính, nâng cao hiệu quả đầu t và cải thiện sự tiếp cận với kết cấu hạ tầng ở vùng nông thôn, vùng sâu và vùng xa.

Cung cấp các dịch vụ xã hội là một trách nhiệm cao cả của Chính phủ. Chính phủ luôn

đứng trước sức ép tăng chi cho giáo dục, y tế, các dịch vụ xã hội khác và bảo đảm các cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, phải nhận thấy rằng nguồn chi không chỉ hạn chế trong ngân sách công; phải động viên tiềm năng của khu vực tư nhân để bổ sung cho khu vực nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ này. Động viên gián tiếp qua thuế cũng là một công cụ; đổi lại, nhà nước phải có chính sách phát triển khu vực t nhân lớn hơn, năng động hơn và có khả năng đóng thuế cao hơn mới đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các dịch vụ kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội.

Xây dựng thể chế, chính sách

Ban hành chính sách thích hợp và đúng đắn là một nghĩa vụ cơ bản, quan trọng của chính phủ; đó là cung cấp khuôn khổ thể chế để điều hành nền kinh tế. Có 4 lĩnh vực đặc biệt quan trọng là: Xác định một nền pháp trị mang tính hỗ trợ đối với các thể chế thị trường và đảm bảo quyền sở hữu; đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định tài chính; tạo ra môi trường thuận lợi cho kinh doanh và thúc đẩy cạnh tranh để khuyến khích đổi mới và phân bổ nguồn lực có hiệu quả; thúc đẩy công nghệ mới.

Để đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế hiện đại hơn và theo định hướng thị trường, phải tăng cường năng lực của chính phủ. Thị trường cần được phục vụ tốt bởi một hệ thống hành chính công được tổ chức tốt với đội ngũ cán bộ công nhân viên chức làm việc có hiệu qủa hơn và được trả lương thoả đáng. Cũng cần tăng cường tính minh bạch và tính chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định của chính phủ và trong quản lý nguồn lực công cộng. Ngoài ra, cần khuyến khích sự tham gia của người dân, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật.

Nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh rằng, kinh tế nhà nước cần tiếp tục có “vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế. Dù giải thích theo cách nào đi nữa thì không ai phủ nhận rằng, vai trò của chính phủ vẫn luôn là trọng yếu đối với sự thành bại về kinh tế xã hội; trong đó, quan trọng nhất là phương sách mà Chính phủ thực thi vai trò của mình. Vai trò này giờ đây phải thay đổi từ chỗ tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất sang cung cấp các thể chế, kết cấu hạ tầng vật chất, xã hội và môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh. Nhà nước đóng vai trò trọng yếu, tích cực nh chất xúc tác cho tăng trưởng dài hạn bền vững và như một đối tác của khu vực tư nhân6.

Xác định trọng tâm

Chính phủ Việt Nam có quá nhiều việc cần phải làm trong chiến lược phát triển của mình. Để khoanh vùng lĩnh vực u tiên và trọng tâm cho vai trò của chính phủ, xác định phạm vi của “nhà nước hiệu quả” đối với Việt Nam, Báo cáo của Dự án về Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 – 2010) của Chính phủ Việt Nam do UNPD tài trợ đã tổng kết khá rõ nét về định hướng đối với vai trò nhà nước (xem hộp 1).

Cuối cùng, phải nhận thấy rằng nhà nước ta trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới đã làm được nhiều điều cơ bản để thiết kế nền tảng cần thiết cho nền kinh tế thị trường phát triển và đi đúng hướng bền vững. Điều rõ nhất nhìn thấy là ta đã tạo ra bước khởi phát cho nền kinh tế bằng những chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn và giữ được môi trường chính trị ổn định. Tuy nhiên, ở bước phát triển tiếp, những nỗ lực càng đòi hỏi vai trò của Nhà nước.

Hộp 1. “Thành công hay thất bại về kinh tế”

hội chủ yếu được xác định định bởi phương cách mà Chính phủ thực thi vai trò thiết yếu của mình trong nền kinh tế. Vai trò này giờ đây phải thay đổi. Sức lực của Chính phủ cần được chuyển từ chỗ tham gia trực tiếp vào các hoạt động sang lĩnh vực dịch vụ công… Việt Nam có một Chính phủ vừa quá nhiều vừa quá ít quá nhiều về mặt kiểm soát sản xuất và đầu t và quá ít về nền pháp quyền và cung cấp hàng hoá và dịch vụ công. Chiến lược mới cần phải nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển sức lực của Chính phủ từ chỗ tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất sang hai lĩnh vực cụ thể. Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ giáo dục, y tế, nghiên cứu nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng có chất lợng cao và hỗ trợ những nhóm dễ tổn thơng trong xã hội. Thứ hai, cung cấp các thể chế minh bạch và có sự tham gia của cộng đồng có khả năng thúc đẩy nền pháp quyền bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tài chính và tạo ra môi trường tốt hơn cho doanh nghiệp. Một chơng trình nhằm có được một Nhà nước hữu hiệu và hiệu quả hơn cần bao gồm những thành phần trọng yếu sau đây:

Xây dựng và thực hiện một cách cấp bách một chiến lược mới và các chính sách mới về vai trò của nhà nước trong xã hội và trong nền kinh tế ở thế kỷ XXI.

Đặt chiến lược trên sở những yêu cầu, u tiên nghĩa vụ mới của nhà nước…

Tăng cường năng lực và khả năng của Chính phủ trong việc đáp ứng nhu cầu của một xã hội hiện đại hơn và một nền kinh tế thị trường. Tổ chức lại bộ máy hành chính công. Trả lương ở phải cao hơn. Một trong những nhiệm vụ cấp bách để thực hiện tốt chức năng kinh tế của nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo là phải tạo một môi trường lành mạnh, hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Xin kết luận bằng một đoạn sau đây của Báo cáo nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam (2001- 2010):

“ … một môi trường chính trị ổn định và các chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn không phải đã là những điều kiện đủ để bảo đảm cho một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh và tăng trưởng. Một yếu tố không kém phần quan trọng hoặc thậm chí còn quan trọng hơn là các chính sách, thể chế và điều kiện cơ sở hạ tầng tạo nên môi trường để các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau. Một vài trong số những thách thức lớn đối với Việt Nam trong thập kỷ tới sẽ là làm thế nào để tạo ra một môi trường trong đó các nhà đầu t sẵn sàng chịu rủi ro và tiến hành đầu t, làm thế nào để nâng cao tỷ lệ tiết kiệm trong nước và ngoài nước và làm thế nào để khai thác tri thức và thu nhận công nghệ để nâng cao hiệu quả đầu tư”8.

Khi nhà nước ban hành bất cứ một quyết định nào nhằm điều chỉnh hoặc can thiệp vào hoạt động của thị trường (cung và cầu), thì những quyết định này đều phải được cân nhắc kỹ giữa lợi ích mà các can thiệp đó đem lại và tác động có hại có thể kèm theo.

====================

1 Người đại diện là Adam Smith (1723 1790) nhà kinh tế học, triết gia của Scotland với tác phẩm The Wealth of

Nations 1776, đề xớng ra học thuyết Bàn tay vô hình.

2 Học thuyết của Keynes John Maynard, nhà kinh tế học người Anh, với tác phẩm The General Theory of

Employment, Interest, and Money, 1936.

3 Sunset Rule: dụ, cho phép hạn chế nhập khẩu một mặt hàng theo mùa vụ trong năm, hết mùa vụ này, quy định

không còn tác dụng, hoặc quy định ngắn hạn cho phép áp dụng một chính sách hỗ trợ trong một thời gian, quy

định này tự hết hiệu lực vào thời điểm nhất định; trong khi cả văn bản không hết hiệu lực (NCLP).

4 Xem, Ngân hàng thế giới: Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi. NXB Chính trị Quốc gia, năm 1997, tr. 40.

5 Xem, Ngân hàng thế giới: Sđd tr. 40

6 Xem, UNDPI và MPI/ DSI: Việt Nam hướng tới 2010, Tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược phát

triển kinh tế hội của các chuyên gia quốc tế Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Nội 2001. tr.111

113.

7 Xem UNDP and MPI/DSI: sđd, tr.133134.

8 UNDP and MPI/ DSI, đã dẫn, tr. 53.

************************************************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

Ý KIẾN CHUYÊN GIA VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI (NAY LÀ BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 ĐÃ CÓ HIỆU LỰC)

Đào Xuân Tiến

* ThS Luật học, Tạp chí NCLP, Văn phòng Quốc hội

Thực hiện kế hoạch của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp đối với dự án Bộ luật Dân sự, trong các ngày 14, 15 tháng 3 năm 2005 tại Quảng Ninh, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội đã tổ chức toạ đàm “Một số vấn đề của Dự thảo Bộ luật Dân sự” với các chuyên gia pháp luật là các giảng viên, cán bộ nghiên cứu của một số trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhằm tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Bộ luật, chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 7sắp tới

Bộ luật Dân sự là luật chung

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự mở rộng giao lu hợp tác quốc tế, khái niệm dân sự ngày càng được mở rộng đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật. Có thể nói, tất cả các quan hệ tài sản, quyền tài sản, quan hệ nhân thân và các quyền khác của chủ thể dân sự đều là các đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự (BLDS). Tuy nhiên, mức độ phạm vi của BLDS quy định nh thế nào để điều chỉnh các đối tượng đó một cách phù hợp nhất là vấn đề đang được các chuyên gia pháp lý tranh luận.

Ông Nguyễn Đình Quyền (Vụ pháp luật, Văn phòng Quốc hội ) cho biết, hiện nay có hai quan điểm:

1 BLDS cần quy định toàn diện, đầy đủ các vấn đề liên quan đến dân sự.

2 Không nên xây dựng BLDS quá đồ sộ mà cần tách một số lĩnh vực quan hệ dân sự thành các đạo luật độc lập.

Vấn đề đặt ra là, BLDS phải quy định các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, các luật chuyên ngành vừa không trái với các nguyên tắc cơ bản đó, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển và hoàn thiện pháp luật dân sự phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, mở rộng hợp tác đầu tư, giao lu quốc tế và tạo điều kiện cần thiết cho việc nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO.

Ông Trần Hữu Huỳnh (Ban pháp chế, Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam) đề nghị: không nên gọi BLDS là luật gốc, luật cơ bản với lý do chỉ có Hiến pháp mới được gọi là đạo luật cơ bản, luật gốc. Đối với BLDS cần thống nhất gọi là luật chung, theo nghĩa chung nhất; còn các luật chuyên ngành gọi là luật riêng, theo nghĩa riêng tận cùng. Vấn đề cơ bản trong quá trình xây dựng BLDS là phải xử lý tốt giữa cái chung và cái riêng, các điều luật phải khả thi và tạo điều kiện cho Toà án áp dụng theo nguyên tắc áp dụng luật riêng trước, luật chung sau. Nhưng việc xây dựng luật thì phải thông qua luật chung (BLDS) trước, sau đó mới thông qua các luật chuyên ngành (luật riêng). Cần rà soát các luật chuyên ngành để loại bỏ các quy định trùng lắp và đa vào BLDS những quy định chung nhất.

Ông Ngô Huy Cương (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) nêu xu thế các nước hiện nay trong việc nhập BLDS và Luật Thương mại làm một. Ông CƯơng đề nghị đa các quy định về quyền con người vào BLDS.

Chế định hợp đồng trong BLDS

Hà Thị Mai Hiên (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật) phân tích những bất cập trong các quy định về những khái niệm, cấu trúc, trình tự ký kết, thực hiện hợp đồng dân sự … từ đó đưa ra kiến nghị sửa đổi BLDS cần phải dựa trên một số quan điểm tổng quát, thống nhất hệ thống luật t nói chung, pháp luật về tài sản và nghĩa vụ, hợp đồng nói riêng. Cần thay thuật ngữ “Nghĩa vụ” bằng “Trái vụ”; nghiên cứu để thay đổi cơ cấu của BLDS theo hướng: Tập trung vào một phần các quy định về chế định giao dịch, nghĩa vụ và hợp đồng; xác định chính xác hơn các thời điểm giao kết, hiệu lực, chuyển dịch (phát sinh) quyền sở hữu của hợp đồng. Không nên nhầm lẫn giữa hiệu lực của hợp đồng, phát sinh quyền và nghĩa vụ với vấn đề đăng ký chủ quyền với tài sản và sở hữu tài sản. Giao dịch hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cần được quy định nh một số giao dịch hợp đồng cụ thể có một số đặc thù tơng tự (như hợp đồng mua bán nhà…)

Phạm Kim Anh (Đại học Luật – TP Hồ Chí Minh) đề nghị bỏ chữ “dân sự” sau chữ “hợpđồng” và phân chia “Hợp đồng thông dụng” (Chương XVIII Dự thảo BLDS) thành hai nhóm: 1 Các hợp đồng liên quan đến nghĩa vụ giao tài sản. 2 Các hợp đồng liên quan đến thực hiện công việc. Theo bà Kim Anh, cần bổ sung vào BLDS quy định về rủi ro trong hợp đồng. Hiện nay, thông thường những trường hợp có thiệt hại xẩy ra nhưng không xác định được do lỗi của ai thì theo nguyên tắc chung, người chủ sở hữu tài sản sẽ phải chịu rủi ro đó. Trường hợp tài sản đang thuộc chiếm hữu hoặc sử dụng ở người khác thì họ phải gánhchịu thiệt hại, trừ khi chứng minh lỗi do bất khả kháng. Bà Kim Anh góp ý sửa một số quy định cụ thể về hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng bảo hiểm. (Xem hộp 1)

Ông Ngô Huy Cương (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng trong BLDS nên có quy định về hợp đồng lập hội làm cơ sở pháp lý cho việc thành lập các hội công, hội tư. Các quy định về nghĩa vụ thành một chơng riêng, không nên đa chung vào phần các quy định về hợp đồng.

Tài sản và quyền sở hữu

Việc chia tách tài sản và quyền sở hữu trong phần thứ hai của Dự thảo BLDS làm mất đi mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa hai khái niệm này. Khái niệm về tài sản (Điều 154: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá khác và các quyền tài sản”) chỉ đề cập đến tài sản hữu hình mà cha bao quát được loại tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ) và cha thể hiện được nội dung tài sản với mối quan hệ chủ thể. Vì vậy, không thể nói quyền tài sản một cách độc lập mà thực chất đó là quyền của chủ thể có thể chuyển giao cho người khác

Hộp 1. Đề nghị sửa Điều 409 trong Dự thảo BLDS: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”. Nên bỏ quy định tại khoản 3 và khoản 1, Điều 412 “…Trong trường hợp các bên thoả thuận thanh toán theo giá thị trường thì giá được xác định tại địa điểm và thời điểm thanh toán”. Khoản 1, Điều 413 “Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thoả thuận. Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thoả thuận, bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu bên mua đồng ý ”. Điều 455 “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc hiện vật để làm sở hữu; còn bên vay có nghĩa vụ phải trả lại cho người vay số tiền đã vay hoặc số lượng hiện vật cùng loại và cùng phẩm chất ngang với số lượng hiện vật đã vay. Đồng thời trả thêm số lãi đã quy định nếu là vay lấy lãi trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” . Bổ sung thêm khoản 4 vào Điều 463: “Các quy định về hợp đồng vay được áp dụng tương ứng cho các giao dịch về hụi, họ, biêu, phường”. Đề nghị bỏ các quy định liên quan đến việc buộc các bên chỉ được thoả thuận về giá trong phạm vi khung giá nếu nhà nước có quy định (các Điều 465, 477). Nếu giữ nguyên thì cần bổ sung “…trừ trường hợp tài sản thuê, mợn của tư nhân”. Đề nghị quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng vận chuyển hành khách. Sửa tiêu đề của Điều 554. Chậm thực hiện nghĩa vụ gửi giữ. Bỏ đoạn 1 trong điều này “Nếu bên giữ chậm trả tài sản khi hết hạn hợp đồng thì không được yêu cầu bên gửi trả tiền công và thanh toán các chi phí về bảo quản, kể từ thời điểm chậm trả và phải chịu rủi ro đối với tài sản trong thời gian chậm giao tài sản”. Nên quy định những vấn đề chung của hai loại hình kinh doanh bảo hiểm (tự nguyện và bắt buộc). Các quy định cụ thể đã có trong Luật Kinh doanh bảo hiểm. (nhằm phân biệt với quyền nhân thân). Điều 155 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” thực chất là các quyền năng của các chủ thể khác nhau chứ cha phải khái niệm về quyền sở hữu.

Ông Phạm Công Lạc (Đại học Luật Hà Nội) có ý kiến cần xếp khái niệm tài sản gắn liền với phân loại tài sản. Trong khái niệm về tài sản tại Điều 154 trên quy định nhiều loại tài sản nhưng việc phân loại tài sản mới tập trung đối với tài sản là vật, cần bổ sung các loại tài sản là giấy tờ có giá nh cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, công trái, séc… Ông Phạm Công Lạc tán thành với bốn loại hình thức sở hữu: Sở hữu nhà nước, sở hữu pháp nhân, sở hữu tư nhân, sở hữu chung.

Ông Phạm Quý Tỵ Uỷ viên chuyên trách UBPL của Quốc hội đồng ý với phơng án hai của Dự thảo BLDS (sở hữu tập thể thay cho sở hữu pháp nhân, các hình thức sở hữu khác như ý kiến của ông Phạm Công Lạc nêu trên).

Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

Có một số ý kiến đề nghị quy định những vấn đề chung nhất, những nguyên tắc cơ bản mang tính dân sự của quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong BLDS (Phần VI). Những quy định cụ thể và quy định mang tính hành chính đa vào Luật chuyên ngành (Luật về quyền sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ). Một số ý kiến khác đề nghị quy định cụ thể tất cả các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong BLDS. Loại ý kiến thứ ba đề nghị bỏ hoàn toàn các quy định tại phần VI để xây dựng riêng 2 đạo luật (Luật về quyền sở hữu trí tuệ và Luật về chuyển giao công nghệ).

Ông Đoàn Năng (Bộ Khoa học và Công nghệ) có ý kiến, BLDS chỉ nên giữ lại các quy định dân sự có tính chung nhất khẳng định việc thức nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, không nên để các quy định này tập trung thành phần VI mà cần phân tán vào từ phần I đến phần V dự thảo BLDS. Điều này tránh được việc tạo ra thêm một tầng nấc văn bản (ngoài các quy định trong các luật chuyên ngành), gây phức tạp khi vận dụng. Ví dụ chỉ cần đa nguyên tắc “quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được Nhà nước công nhận và bảo hộ theo pháp luật” vào quy định tại phần II – Tài sản và quyền sở hữu, chứ không nên tách ra thành phần riêng biệt.

Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ

Pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ góp phần vào việc tạo an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, một số quy định về các biện pháp bảo đảm trong BLDS không còn phù hợp, các chế định hỗ trợ cho việc thực hiện các biện pháp này thiếu đồng bộ, nên cha phát huy được hiệu quả của các quy định này.

Nguyễn Thuý Hiền (Cục giao dịch bảo đảm, Bộ T pháp) đa ra quan điểm trong việc sửa đổi BLDS cần tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, tự do cam kết, thoả thuận của các bên, đề cao nguyên tắc tự chịu trách nhiệm của các bên về quyết định của mình. Bà Hiền đóng góp ý kiến cho một số điều cụ thể (Xem hộp 2).

Hộp 2. Cần bổ sung khái niệm giao dịch bảo đảm vào Điều 299 (Đăng ký giao dịch bảo đảm). Việc tổ chức đăng ký giao dịch bảo đảm cần được quản lý tập trung, thống nhất, đảm bảo “một cửa” tạo thuận lợi cho người dân. Đối với Điều 301 (Quy định về việc một tài sản dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ dân sự), không cần quy định về giá trị của tài sản bảo đảm mà để cho các bên thoả thuận. Về quy định cầm cố tài sản là vật nhưng có trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất, do đó cần quy định trong trường hợp cầm cố bất động sản thì được hiểu bao gồm cả quyền sử dụng đất (Điều 302. Cầm cố tài sản). Bỏ hạn chế về thời hạn cho thê, cho mợn mà thời hạn là do các bên thoả thuận (Điều 323). Nên quy định người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên bảo lãnh, khi bảo lãnh bằng tài sản thì chuyển thành cầm cố, thế chấp, do đó phải bỏ khoản 2 Điều 335, bỏ điều 343. Các bên có thể thoả thuận về người bảo lãnh bán tài sản để thanh toán nợ hoặc bên bảo lãnh yêu cầu Toà án giải quyết và cỡng chế thi hành, nếu bên bảo lãnh không tự nguyện. Nên để Điều 346 (Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức chính trị xã hội) vào phần hợp đồng vay hoặc là một mục riêng sau.

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Trong bài viết của ông Hoàng Phước Hiệp (Bộ T pháp) tán thành với nội dung Điều 770 quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài “Trong Bộ luật này, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.” Quy định này bảo đảm thống nhất với quy định tại Điều 405, khoản 2 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Văn Hoè (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) không đồng ý với việc dùng chữ “định c” trong điều luật này, vì người định cư ở nước ngoài được hiểu là có quốc tịch nước ngoài, số người này định cư ở nước ngoài trong các thời kỳ từ khi thành lập nước ta đến nay với rất nhiều thành phần phức tạp, nếu không có sự giải thích sẽ tạo điều kiện cho một số thành phần lợi dụng để gây mất ổn định chính trị.

Có ý kiến bổ sung thêm, nếu chỉ có “cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài” với cách hiểu người định cư ở nước ngoài được hiểu là có quốc tịch nước ngoài, thì đối với những người Việt Nam sang lao động, làm ăn, sinh sống ở nước ngoài mà cha nhập quốc tịch hoặc chỉ là người c trú tạm thời ở nước ngoài thì các giao dịch dân sự với người trong nước có được coi là có yếu tố nước ngoài không? Do đó, cần có sự giải thích rõ ràng để quy trường hợp pháp luật hoặc điều ước dẫn chiếu đến pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật như các nước liên bang (Nga, Hoa Kỳ, Canađa…); các quy định chung về áp dụng luật đối với các vật quyền; vấn đề quyền miễn trừ tư pháp đối với tài sản của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam ở nước ngoài. Pháp luật áp dụng đối với các hợp đồng cụ thể nhưng không có điều khoản về lựa chọn pháp luật áp dụng; pháp luật áp dụng đối với việc trả lợi tức cổ phần, cổ phiếu quốc tế; pháp luật áp dụng đối với trách nhiệm gây hậu quả do thiếu sót trong hoạt động thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, lao động quốc tế…1./.

1 “Về quan hệ dân sự yếu tố nước ngoài” Bài viết tham luận cho toạ đàm của ông Hoàng Phớc Hiệp, Vụ Pháp

luật quốc tế, Bộ T pháp.

===========================

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005