Quan điểm của Nhật Bản VỀ LUẬT DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN CƯƠNG  

LTS: Những quan niệm của Nhật Bản về luật dân sự được nêu ra trong bài viết này gợi mở một số những ý tưởng cho thực tiễn và lý luận về luật dân sự ở nước ta hiện nay

Nhật Bản là quốc gia Châu Á sớm biết áp dụng mô hình kinh tế thị trường làm mẫu hình cho việc tổ chức và vận hành của nền kinh tế nước mình. Khi áp dụng mô hình kinh tế dựa trên thị trường, tất yếu pháp luật cũng phải được xây dựng và hoàn thiện để cho nền kinh tế nh vậy vận hành an toàn. Như một quy luật chung đối với các nước áp dụng mô hình kinh tế thị trường, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, pháp luật đảm bảo sự trao đổi, phân bổ các nguồn lực của xã hội thông qua các thị trường (tức là thông qua quan hệ mua bán, trao đổi) trong đó điển hình là pháp luật dân sự (sở hữu, hợp đồng) luôn

được coi là bộ phận chiếm vị trí quan trọng vào bậc nhất. Sớm nhận thức được vấn đề này, ngay từ cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự của riêng mình. Kể từ thời điểm đầu tiên Bộ luật Dân sự Nhật Bản phát sinh hiệu lực (năm 1889), đã trải qua hơn 110 năm, luật dân sự của Nhật Bản đã được tôi luyện trong một nền kinh tế Nhật với bao thăng trầm, nhất là hàng loạt thay đổi có tính thần kỳ khiến cho nhiều chuẩn mực giá trị của luật dân sự đã được định hình và trở thành tài sản quý góp vào kho tàng pháp lý nhân loại. Đi kèm với quá trình đó là việc

Nhật Bản xây dựng được một nền tảng lý luận về pháp luật dân sự tơng đối hoàn thiện.Trong lý luận về luật dân sự, đáng chú ý phải kể đến hai nội dung có tính mấu chốt là (1) quan niệm về tính chất của luật dân sự và (2) về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật.

1. Về tính chất của luật dân sự

Do ảnh hởng của hai quốc gia có truyền thống luật dân sự thành văn tơng đối mạnh là Pháp và Đức, nguồn luật dân sự chủ yếu của Nhật Bản chính là các đạo luật thành văn, trong đó Bộ luật Dân sự là nền tảng. Trong giới lý luận và thực tiễn của Nhật Bản có quan điểm khá nhất quán coi luật dân sự là luật tư, tức là luật điều chỉnh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không bên nào được áp đặt bên nào, không bên nào được đối xử bất bình đẳng với bên nào. Với cách quan niệm nh thế, khi nói tới vai trò, chức năng của luật dân sự, giới lý luận và thực tiễn hầu nh không coi nó là công cụ thể hiện quyền lực nhà nước do Nhà nước ban hành để quản lý giao dịch, đảm bảo trật tự xã hội mà thay vào đó, luật dân sự trở thành phơng sách, là công cụ, là phơng tiện do Nhà nước cung cấp cho các bên khi các bên không có thoả thuận khác hoặc mặc dù các bên có thoả thuận cha đầy đủ, chưa chi tiết do thiếu thời gian, nguồn lực phục vụ cho việc thoả thuận. Nh vậy, luật dân sự là công cụ mà Nhà nước dùng để phục vụ người dân, giới doanh nghiệp, phục vụ sự vận hành của nền kinh tế, của xã hội. Chính vì lý do này, yếu tố tiện lợi, đảm bảo cho các bên có chỗ dựa để tin cậy, hiểu biết, tôn trọng nhau nhằm đi đến giao dịch quan hệ với nhau trở thành phơng châm chủ đạo khi xây dựng các quy phạm của luật dân sự. Cũng do nhất quán với quan điểm này, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự của Nhật Bản, các luật gia và các nhà lập pháp cố gắng loại bỏ hầu nh toàn bộ các quy phạm mang tính chất hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước, thủ tục hành chính, thủ túc kiểm soát của Nhà nước đối với giao dịch dân sự.

Trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hầu nh không thấy bóng dáng của cơ quan nhà nước đối với các giao dịch dân sự. Đây là điểm rất khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự Việt Nam.

2. Về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Tầm quan trọng của vấn đề

Theo giới lý luận của Nhật Bản, việc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật không đơn thuần là câu chuyện của các nhà lý luận, không đơn thuần là vấn đề hàn lâm. Bởi lẽ mấu chốt của vấn đề ở đây chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành (nhất là Đạo luật thương mại). Việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ này sẽ cung cấp một cơ sở khoa học cho việc thiết kế trật tự các quy phạm trong hệ thống pháp luật, tránh được sự trùng lặp trong việc điều chỉnh, đặc biệt là sự mâu thuẫn trong bản thân hệ thống pháp luật. Cũng cần lu ý là, khi tồn tại tình trạng một quan hệ pháp luật lại bị nhiều quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau điều chỉnh, nhất là khi chúng lại tồn tại trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau của cùng hệ thống pháp luật sẽ khiến cho người dân, doanh nhân hoặc các chủ thể khi tham gia quan hệ không biết phải chọn lựa và tuân theo quy định nào. Điều này sẽ khiến cho người dân, giới doanh nhân và các chủ thể khác không an tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự và nh thế sẽ

ảnh hởng tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế. Khi đó, luật dân sự sẽ không tạo ra được sự tiện lợi cho các bên khi tham gia giao dịch nh là mục đích cơ bản của nó cần hớng tới nữa mà luật dân sự đã tự phủ định ý nghĩa, vai trò của mình. Nh đã trình bày, đây là điều mà không một người dân và giới lý luận nào của Nhật Bản mong muốn.

Nguyên tắc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Bằng kinh nghiệm lập pháp của mình trong lĩnh vực dân sự hơn 100 năm, Nhật Bản đã xây dựng và chấp nhận 3 nguyên tắc cơ bản để xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự, hay cụ thể hơn là vị trí của các đạo luật về dân sự (nhất là Bộ luật Dân sự) trong hệ thống pháp luật.

Nguyên tắc tôn trọng tầm hiệu lực pháp lý của văn bản

Điều này có nghĩa là, khi xảy ra tình trạng cùng một quan hệ dân sự, nhng lại có quy phạm của hai văn bản pháp luật trở lên điều chỉnh với nội dung khác nhau, thì quy phạm của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được u tiên áp dụng. Có thể nói, việc áp dụng nguyên tắc này là điều dễ hiểu bởi lẽ nếu không, hệ thống pháp luật sẽ bị phá vỡ tính thống nhất của mình và thêm vào đó, sẽ phá vỡ tính thống nhất trong quyền lực nhà nước, phá vỡ sự tập trung quyền lực vào chính quyền

trung ơng, khuyến khích sự cát cứ, phân đoạn thị trường, lãnh thổ.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm theo thời điểm ban hành

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý ngang nhau thì ưu tiên áp dụng quy phạm được ban hành sau. Một nội dung quan trọng của nguyên tắc này chính là việc cấm áp dụng hiệu lực hồi tố. Chỉ trong những trường hợp rất hãn hữu, pháp luật Nhật Bản mới thừa nhận việc áp dụng hiệu lực hồi tố bởi lẽ việc áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ khiến cho con người phải gánh chịu cả những hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây nên khi mà người này không thể biết được, không thể lờng được khi cân nhắc, chọn lựa cách xử sự cho mình.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành

Nguyên tắc này rất quan trọng và được áp dụng khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy phạm của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành. Các quy phạm pháp luật dân sự được coi là các quy phạm của luật chung, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật chung, còn các quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật t) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù nh thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy phạm của luật chuyên ngành. Để làm được điều này, vấn đề xác định đâu là luật chuyên ngành, đâu là luật chung trở nên rất có ý nghĩa. Pháp luật Nhật Bản coi đối tợng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một đạo luật là đạo luật chuyên ngành hay là đạo luật chung. Song về mặt kỹ thuật lập pháp, trong một đạo luật được coi là đạo luật chuyên ngành phải có một điều khoản quy định rõ ràng rằng đạo luật chuyên ngành sẽ được u tiên áp dụng so với đạo luật chung. Do Bộ luật Dân sự có đối tợng điều chỉnh là hầu hết các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể bình đẳng nhau về địa vị pháp lý nên Bộ luật Dân sự được coi là một đạo luật chung. Các quy phạm trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy phạm pháp luật chung. Còn Đạo luật thương mại hoặc các đạo luật khác về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… chỉ điều chỉnh một bộ phận với nhiều điểm đặc thù trong hệ thống các quan hệ xã hội giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý nên các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Quy phạm pháp luật trong các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Trong trường hợp có sự khác nhau trong việc điều chỉnh cùng một quan hệ quy phạm của các đạo luật chuyên ngành kể trên sẽ được u tiên áp dụng so với quy phạm tồn tại trong Bộ luật Dân sự.

Thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các nguyên tắc

Khi công nhận cả ba nguyên tắc có nội dung rất khác nhau kể trên, tất yếu nảy sinh vấn đề khi có sự mâu thuẫn giữa ba nguyên tắc thì thứ tự u tiên áp dụng giữa các nguyên tắc được giải quyết như thế nào. Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cũng giống nh pháp luật của hầu hết các quốc gia khác, pháp luật Nhật Bản coi nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm pháp luật căn cứ vào tầm hiệu lực của văn bản chứa đựng quy phạm là nguyên tắc tối cao. Đây là điều hoàn toàn có thể hiểu được và không gây nhiều bàn cãi trong giới lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, đối với hai nguyên tắc còn lại, khi có sự mâu thuẫn giữa chúng thì nguyên tắc nào sẽ được u tiên áp dụng. Chẳng hạn, khi xảy ra tình trạng, quy phạm trong đạo luật chung ban hành về sau lại quy định khác đi so với quy phạm pháp luật chuyên ngành ban hành trước đó thì sự việc sẽ giải quyết nh thế nào. Với lập luận rằng, khi ban hành một đạo luật chuyên ngành, tính toán kỹ lưỡng để sản sinh ra những quy phạm phù hợp, trong khi đó, khi xây dựng các quy phạm của các đạo luật chung, công việc này sẽ ít được coi trọng hơn, vì vậy, pháp luật Nhật Bản đã chọn phơng án: mặc dù đạo luật chung được ban hành về sau có quy định khác với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó, thì đạo luật chung được ban hành về sau cũng không được u tiên áp dụng so với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó. Như vậy là nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm của đạo luật chung được xếp trên nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm tính theo thời điểm ban hành của nó. Như vậy, để giải quyết việc xác định vị trí của quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật (khi so sánh với quy phạm pháp luật của các đạo luật chuyên ngành pháp luật khác nh thương mại, chứng khoán, bảo hiểm…), pháp luật Nhật Bản đã áp dụng được nguyên tắc theo thứ tự u tiên như sau:

1. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao hơn

2. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong các đạo luật chuyên ngành so với các quy phạm tồn tại trong các đạo luật chung.

3. Ưu tiên áp dụng quy phạm ban hành sau so với quy phạm ban hành trước đó.

Trên đây là một số quan điểm về mặt lý luận và thực tiễn về luật dân sự của Nhật Bản. Có thể nói, những quan điểm kể trên gợi mở rất nhiều ý tởng cho các nhà lập pháp về dân sự của nước ta trước nhiệm vụ không ít khó khăn trước mắt đó là thực hiện việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, nâng công tác pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam lên một tầm cao mới.

(Bài viết này có sử dụng một số tư liệu do Giáo s Morishima và Giáo s Nimi trình bày trong cuộc toạ đàm của nhóm Nghiên cứu chung Việt Nam- Nhật Bản chuẩn bị việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam ngày 4/5/2001 tại Bộ Tư pháp)./

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 06/2001

QUAN ĐIỂM CỦA NHẬT BẢN VỀ LUẬT DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN CƯƠNG  

LTS: Những quan niệm của Nhật Bản về luật dân sự được nêu ra trong bài viết này gợi mở một số những ý tởng cho thực tiễn và lý luận về luật dân sự ở nước ta hiện nay

Nhật Bản là quốc gia Châu Á sớm biết áp dụng mô hình kinh tế thị trường làm mẫu hình cho việc tổ chức và vận hành của nền kinh tế nước mình. Khi áp dụng mô hình kinh tế dựa trên thị trường, tất yếu pháp luật cũng phải được xây dựng và hoàn thiện để cho nền kinh tế nh vậy vận hành an toàn. Như một quy luật chung đối với các nước áp dụng mô hình kinh tế thị trường, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, pháp luật đảm bảo sự trao đổi, phân bổ các nguồn lực của xã hội thông qua các thị trường (tức là thông qua quan hệ mua bán, trao đổi) trong đó điển hình là pháp luật dân sự (sở hữu, hợp đồng) luôn

được coi là bộ phận chiếm vị trí quan trọng vào bậc nhất. Sớm nhận thức được vấn đề này, ngay từ cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự của riêng mình. Kể từ thời điểm đầu tiên Bộ luật Dân sự Nhật Bản phát sinh hiệu lực (năm 1889), đã trải qua hơn 110 năm, luật dân sự của Nhật Bản đã được tôi luyện trong một nền kinh tế Nhật với bao thăng trầm, nhất là hàng loạt thay đổi có tính thần kỳ khiến cho nhiều chuẩn mực giá trị của luật dân sự đã được định hình và trở thành tài sản quý góp vào kho tàng pháp lý nhân loại. Đi kèm với quá trình đó là việc

Nhật Bản xây dựng được một nền tảng lý luận về pháp luật dân sự tơng đối hoàn thiện.Trong lý luận về luật dân sự, đáng chú ý phải kể đến hai nội dung có tính mấu chốt là (1) quan niệm về tính chất của luật dân sự và (2) về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật.

1. Về tính chất của luật dân sự

Do ảnh hởng của hai quốc gia có truyền thống luật dân sự thành văn tơng đối mạnh là Pháp và Đức, nguồn luật dân sự chủ yếu của Nhật Bản chính là các đạo luật thành văn, trong đó Bộ luật Dân sự là nền tảng. Trong giới lý luận và thực tiễn của Nhật Bản có quan điểm khá nhất quán coi luật dân sự là luật tư, tức là luật điều chỉnh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không bên nào được áp đặt bên nào, không bên nào được đối xử bất bình đẳng với bên nào. Với cách quan niệm nh thế, khi nói tới vai trò, chức năng của luật dân sự, giới lý luận và thực tiễn hầu nh không coi nó là công cụ thể hiện quyền lực nhà nước do Nhà nước ban hành để quản lý giao dịch, đảm bảo trật tự xã hội mà thay vào đó, luật dân sự trở thành phơng sách, là công cụ, là phơng tiện do Nhà nước cung cấp cho các bên khi các bên không có thoả thuận khác hoặc mặc dù các bên có thoả thuận cha đầy đủ, chưa chi tiết do thiếu thời gian, nguồn lực phục vụ cho việc thoả thuận. Nh vậy, luật dân sự là công cụ mà Nhà nước dùng để phục vụ người dân, giới doanh nghiệp, phục vụ sự vận hành của nền kinh tế, của xã hội. Chính vì lý do này, yếu tố tiện lợi, đảm bảo cho các bên có chỗ dựa để tin cậy, hiểu biết, tôn trọng nhau nhằm đi đến giao dịch quan hệ với nhau trở thành phơng châm chủ đạo khi xây dựng các quy phạm của luật dân sự. Cũng do nhất quán với quan điểm này, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự của Nhật Bản, các luật gia và các nhà lập pháp cố gắng loại bỏ hầu nh toàn bộ các quy phạm mang tính chất hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước, thủ tục hành chính, thủ túc kiểm soát của Nhà nước đối với giao dịch dân sự.

Trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hầu nh không thấy bóng dáng của cơ quan nhà nước đối với các giao dịch dân sự. Đây là điểm rất khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự Việt Nam.

2. Về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Tầm quan trọng của vấn đề

Theo giới lý luận của Nhật Bản, việc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật không đơn thuần là câu chuyện của các nhà lý luận, không đơn thuần là vấn đề hàn lâm. Bởi lẽ mấu chốt của vấn đề ở đây chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành (nhất là Đạo luật thương mại). Việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ này sẽ cung cấp một cơ sở khoa học cho việc thiết kế trật tự các quy phạm trong hệ thống pháp luật, tránh được sự trùng lặp trong việc điều chỉnh, đặc biệt là sự mâu thuẫn trong bản thân hệ thống pháp luật. Cũng cần lu ý là, khi tồn tại tình trạng một quan hệ pháp luật lại bị nhiều quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau điều chỉnh, nhất là khi chúng lại tồn tại trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau của cùng hệ thống pháp luật sẽ khiến cho người dân, doanh nhân hoặc các chủ thể khi tham gia quan hệ không biết phải chọn lựa và tuân theo quy định nào. Điều này sẽ khiến cho người dân, giới doanh nhân và các chủ thể khác không an tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự và nh thế sẽ

ảnh hởng tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế. Khi đó, luật dân sự sẽ không tạo ra được sự tiện lợi cho các bên khi tham gia giao dịch nh là mục đích cơ bản của nó cần hớng tới nữa mà luật dân sự đã tự phủ định ý nghĩa, vai trò của mình. Nh đã trình bày, đây là điều mà không một người dân và giới lý luận nào của Nhật Bản mong muốn.

Nguyên tắc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Bằng kinh nghiệm lập pháp của mình trong lĩnh vực dân sự hơn 100 năm, Nhật Bản đã xây dựng và chấp nhận 3 nguyên tắc cơ bản để xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự, hay cụ thể hơn là vị trí của các đạo luật về dân sự (nhất là Bộ luật Dân sự) trong hệ thống pháp luật.

Nguyên tắc tôn trọng tầm hiệu lực pháp lý của văn bản

Điều này có nghĩa là, khi xảy ra tình trạng cùng một quan hệ dân sự, nhng lại có quy phạm của hai văn bản pháp luật trở lên điều chỉnh với nội dung khác nhau, thì quy phạm của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được u tiên áp dụng. Có thể nói, việc áp dụng nguyên tắc này là điều dễ hiểu bởi lẽ nếu không, hệ thống pháp luật sẽ bị phá vỡ tính thống nhất của mình và thêm vào đó, sẽ phá vỡ tính thống nhất trong quyền lực nhà nước, phá vỡ sự tập trung quyền lực vào chính quyền

trung ơng, khuyến khích sự cát cứ, phân đoạn thị trường, lãnh thổ.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm theo thời điểm ban hành

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý ngang nhau thì ưu tiên áp dụng quy phạm được ban hành sau. Một nội dung quan trọng của nguyên tắc này chính là việc cấm áp dụng hiệu lực hồi tố. Chỉ trong những trường hợp rất hãn hữu, pháp luật Nhật Bản mới thừa nhận việc áp dụng hiệu lực hồi tố bởi lẽ việc áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ khiến cho con người phải gánh chịu cả những hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây nên khi mà người này không thể biết được, không thể lờng được khi cân nhắc, chọn lựa cách xử sự cho mình.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành

Nguyên tắc này rất quan trọng và được áp dụng khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy phạm của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành. Các quy phạm pháp luật dân sự được coi là các quy phạm của luật chung, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật chung, còn các quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật t) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù nh thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy phạm của luật chuyên ngành. Để làm được điều này, vấn đề xác định đâu là luật chuyên ngành, đâu là luật chung trở nên rất có ý nghĩa. Pháp luật Nhật Bản coi đối tợng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một đạo luật là đạo luật chuyên ngành hay là đạo luật chung. Song về mặt kỹ thuật lập pháp, trong một đạo luật được coi là đạo luật chuyên ngành phải có một điều khoản quy định rõ ràng rằng đạo luật chuyên ngành sẽ được u tiên áp dụng so với đạo luật chung. Do Bộ luật Dân sự có đối tợng điều chỉnh là hầu hết các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể bình đẳng nhau về địa vị pháp lý nên Bộ luật Dân sự được coi là một đạo luật chung. Các quy phạm trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy phạm pháp luật chung. Còn Đạo luật thương mại hoặc các đạo luật khác về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… chỉ điều chỉnh một bộ phận với nhiều điểm đặc thù trong hệ thống các quan hệ xã hội giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý nên các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Quy phạm pháp luật trong các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Trong trường hợp có sự khác nhau trong việc điều chỉnh cùng một quan hệ quy phạm của các đạo luật chuyên ngành kể trên sẽ được u tiên áp dụng so với quy phạm tồn tại trong Bộ luật Dân sự.

Thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các nguyên tắc

Khi công nhận cả ba nguyên tắc có nội dung rất khác nhau kể trên, tất yếu nảy sinh vấn đề khi có sự mâu thuẫn giữa ba nguyên tắc thì thứ tự u tiên áp dụng giữa các nguyên tắc được giải quyết như thế nào. Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cũng giống nh pháp luật của hầu hết các quốc gia khác, pháp luật Nhật Bản coi nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm pháp luật căn cứ vào tầm hiệu lực của văn bản chứa đựng quy phạm là nguyên tắc tối cao. Đây là điều hoàn toàn có thể hiểu được và không gây nhiều bàn cãi trong giới lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, đối với hai nguyên tắc còn lại, khi có sự mâu thuẫn giữa chúng thì nguyên tắc nào sẽ được u tiên áp dụng. Chẳng hạn, khi xảy ra tình trạng, quy phạm trong đạo luật chung ban hành về sau lại quy định khác đi so với quy phạm pháp luật chuyên ngành ban hành trước đó thì sự việc sẽ giải quyết nh thế nào. Với lập luận rằng, khi ban hành một đạo luật chuyên ngành, tính toán kỹ lưỡng để sản sinh ra những quy phạm phù hợp, trong khi đó, khi xây dựng các quy phạm của các đạo luật chung, công việc này sẽ ít được coi trọng hơn, vì vậy, pháp luật Nhật Bản đã chọn phơng án: mặc dù đạo luật chung được ban hành về sau có quy định khác với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó, thì đạo luật chung được ban hành về sau cũng không được u tiên áp dụng so với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó. Như vậy là nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm của đạo luật chung được xếp trên nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm tính theo thời điểm ban hành của nó. Như vậy, để giải quyết việc xác định vị trí của quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật (khi so sánh với quy phạm pháp luật của các đạo luật chuyên ngành pháp luật khác nh thương mại, chứng khoán, bảo hiểm…), pháp luật Nhật Bản đã áp dụng được nguyên tắc theo thứ tự u tiên như sau:

1. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao hơn

2. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong các đạo luật chuyên ngành so với các quy phạm tồn tại trong các đạo luật chung.

3. Ưu tiên áp dụng quy phạm ban hành sau so với quy phạm ban hành trước đó.

Trên đây là một số quan điểm về mặt lý luận và thực tiễn về luật dân sự của Nhật Bản. Có thể nói, những quan điểm kể trên gợi mở rất nhiều ý tởng cho các nhà lập pháp về dân sự của nước ta trước nhiệm vụ không ít khó khăn trước mắt đó là thực hiện việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, nâng công tác pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam lên một tầm cao mới.

(Bài viết này có sử dụng một số tư liệu do Giáo s Morishima và Giáo s Nimi trình bày trong cuộc toạ đàm của nhóm Nghiên cứu chung Việt Nam- Nhật Bản chuẩn bị việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam ngày 4/5/2001 tại Bộ Tư pháp)./

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 06/2001

BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI OAN SAI TRONG TỐ TỤNG

TS. DƯƠNG THỊ THANH MAI – CN. NGUYỄN HOÀNG HẠNH

1. Thực trạng chung

Báo Pháp luật ngày 3/6/2001 đưa tin tại trang 1: “Bắt oan sai, bồi thường 30 triệu đồng” với nội dung: Chánh văn phòng Huyện uỷ huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã chủ trì cuộc họp, thoả thuận bồi thường cho gia đình ông Võ Văn Chiêu 30 triệu đồng do cơ quan tố tụng của huyện đã bắt và giam giữ  oan sai 4 người con trai của ông Chiêu (có một người ở độ tuổi cha thành niên) trong thời gian 3 tháng.

Và không chỉ ở Việt Nam… Toà án nhân dân Thành phố Nam Ninh, Khu tự trị dân tộc Choang, Trung Quốc, dựa trên bản án phúc thẩm tuyên vô tội và căn cứ vào Luật Nhà nước bồi thường 1995, đã xác định toà án sơ thẩm quận kết án và giam oan sai 352 ngày đối với Giám đốc công ty thương mại X vì tội danh “Không chấp hành bản án dân sự”, do đó, phải bồi thường 3.706,3 NDT cho việc xâm phạm tự do cá nhân và 4.519,37 NDT về các chi phí thực tế khác mà nạn nhân đã phải gánh chịu trong quá trình tố tụng. Tại Thuỵ Điển, trong vụ ám sát cố Thủ tướng Ô Lếch Pam-mơ năm 1986, người bị tình nghi và bị giam oan 10 tháng đã được bồi thường 300.000 Crown (tương đương 45.000 USD).

Hơn thế nữa, đây cũng không chỉ còn là vấn đề nội bộ của từng quốc gia… Hội đồng giải quyết khiếu kiện hỗn hợp Hoa Kỳ- Mexico đã ra phán quyết Chính phủ Mexico phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho H. Robert- công dân Hoa Kỳ do bị các cơ quan tố tụng của Mexico giam giữ quá thời hạn luật định (19 tháng) mà không được đa ra xét xử.Từ những vụ việc cụ thể trên có thể thấy, hiện tợng oan sai trong hoạt động tố tụng không chỉ xảy ra ở Việt Nam hay cá biệt ở một nước nào mà tồn tại ở mọi nước trên thế giới với số lợng và mức độ nghiêm trọng khác nhau. Các quốc gia đều phải tìm cách tiếp cận và giải quyết vấn đề phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống pháp luật của nước mình thông qua việc xây dựng và hoàn thiện chế định pháp lý về bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị oan sai do cơ quan tố tụng gây ra, thể hiện ngày một đầy đủ hơn trách nhiệm của nhà nước trước công dân nước mình cũng như trước quốc gia và công dân nước khác về hoạt động của các cơ quan, công chức tư pháp.

2. Bồi thường thiệt hại ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan tư pháp đã góp phần tích cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp luật và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ tích cực cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước. Tuy nhiên, việc xử lý oan sai trong hoạt động điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử các vụ án hình sự hiện vẫn đang còn là vấn đề bức xúc, đáng lo ngại. Theo số liệu báo cáo chính thức của các cơ quan tư pháp, trong quý 4/1999 và quý 1/2000 qua xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, toà án nhân dân các cấp đã tuyên 73 bị cáo không có tội; năm 2000, toà án nhân dân (TAND) cấp tỉnh đã huỷ 334 bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại (chiếm 4,08%), các toà phúc thẩm của TAND tối cao huỷ 127 vụ (chiếm 1,1,%) cấp giám đốc thẩm huỷ 21 bản án để điều tra, xét xử lại và kết quả sau xét xử lại là giảm án đối với 8 vụ, tuyên vô tội đối với 8 vụ khác. Tình trạng người bị oan sai khiếu kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự đang có xu hớng gia tăng.Cùng với quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay, sự ưu tiên hàng đầu được dành cho vấn đề nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trước các công dân, trong đó có vấn đề bồi thường thiệt hại cho các công dân bị các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý oan sai. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã khẳng định yêu cầu: “Đối với việc bắt giữ, xét xử oan sai cần truy cứu trách nhiệm của những người ra lệnh và người thừa hành, đồng thời minh oan công khai, thoả đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử oan sai, đảm bảo quyền công dân đúng pháp luật”Trong khi đó, thực tế công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra còn nhiều bất cập, cha đáp ứng kịp thời những đòi hỏi chính đáng của người dân khi mà tài sản, uy tín, danh dự, các quyền và lợi ích hợp pháp khác, thậm chí cả tính mạng

của họ bị xâm phạm. Việc bồi thường trong các vụ oan sai đã được xử lý cho thấy vẫn cha có một cách thức thống nhất nào được áp dụng, mức bồi thường phần lớn phụ thuộc vào sự \”tự nguyện\” của các cơ quan tố tụng hoặc của chính quyền địa phơng. Ví dụ nh anh Bùi Minh Hải sau 13 tháng chấp hành hình phạt tù chung thân vì bị kết tội giết người, hiếp dâm và cớp tài sản của công dân đã được trả tự do vì không phạm tội và được các cơ quan tố tụng tỉnh Đồng Nai bồi thường thiệt hại vật chất 60 triệu đồng, bồi thường danh dự 5 triệu đồng. Trong khi đó nhớ lại, cách đây một năm, Báo Pháp luật Thành

phố Hồ Chí Minh (ngày 23/5/2000) nêu câu hỏi day dứt: \”Ai sẽ bồi thường 140 ngày tù oan?\” cho người phụ nữ được toà tuyên vô tội sau khi đã bị giam oan 4 tháng hai mơi ngày nhng sau hơn 5 năm khiếu kiện vẫn cha có cơ quan tố tụng nào của tỉnh Phú Yên đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường… Các báo cáo chính thức của các cơ quan nhà nước hữu quan mới chỉ đa ra các con số thống kê chưa đầy đủ về số lợng các vụ oan sai chứ cha có thống kê cụ thể nào về việc xử lý các trường hợp oan sai và giải quyết bồi thường thiệt hại. Một trong các căn nguyên chính của tình trạng trên là do những bất

cập trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam trong lĩnh vực này.

3. Những bất cập trong pháp luật về bồi thường thiệt hại

Pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra – những bất cập cần được giải quyết trong nghiên cứu lập pháp.

Điều 72 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Người bị bắt, bị giam giữ, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”. Nguyên tắc hiến định này được cụ thể hoá một bước thành chế độ trách nhiệm pháp lý của các cơ quan và cá nhân tiến hành tố tụng gây oan sai.

Điều 24 Bộ luật Tố tụng hình sựquy định: “Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà bị xử lí kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại,

Điều 624 Bộ luật Dân sự phân định rõ thêm: cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, sau đó có trách nhiệm yêu cầu người đó bồi hoàn khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Như vậy, có thể thấy rằng, Hiến pháp và các bộ luật đã xác lập một số nguyên tắc cơ bản: người bị oan sai phải được cơ quan tiến hành tố tụng có người gây oan sai bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần, danh dự; bản thân người có thẩm quyền đã gây oan sai phải chịu trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền bồi thường thiệt hại và tuỳ trường hợp, đồng thời phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự .

Để hướng dẫn thi hành các nguyên tắc trên, ngày 3/5/1997, Chính phủ đã có Nghị định 47/CP về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Trên cơ sở Nghị định đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 38/TT-BTC ngày 30/3/1998 hớng dẫn việc lập dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/1998 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 47/CP.

Thực tiễn áp dụng các văn bản trên cho thấy những bất cập chính sau:

– Chưa có một văn bản riêng, có hiệu lực pháp luật cao quy định toàn diện các vấn đề có tính đặc thù của việc bồi thường đối với trường hợp oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra.

– Cha có quy định cụ thể về các loại oan sai trong tố tụng hình sự; các căn cứ pháp lý để xác định một người bị oan sai; phạm vi oan sai được bồi thường thiệt hại; căn cứ xác định mức độ thiệt hại và mức bồi thường đối với từng loại oan sai, đặc biệt là mức và cách thức bồi thường những thiệt hại do bị xâm phạm quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm.

– Các quy định hiện hành về trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại và hoàn trả bồi thường cha giải quyết được các vấn đề đặc thù của trường hợp oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là những khó khăn, vớng mắc trong việc xác định trách nhiệm (độc lập và liên đới) của các cơ quan và cá nhân tiến hành các bớc, các giai đoạn tố tụng vốn có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Việc xác định trách nhiệm của người ra lệnh và người thừa hành theo tinh thần của Hội nghị Trung ơng 8 khoá VII cho đến nay vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ cha có trả lời cụ thể xác đáng. Ví dụ nh việc điều tra viên bắt người để tạm giam theo lệnh của thủ trưởng cơ quan điều tra có phê chuẩn của viện kiểm sát và việc tạm giam này sau đó được xác định là sai, bị can không phải là người phạm tội- trong trường hợp này những cơ quan, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm bồi thường cho nạn nhân?

– Các quy định về lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho các khoản tiền bồi thường thiệt hại tuy có ưu điểm là đơn giản, tập trung một đầu mối ở cơ quan tài chính địa phương nhưng trên thực tế lại không phù hợp với cơ chế quản lí kinh phí theo ngành dọc hiện nay của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Chính vì những bất cập trên của pháp luật trước thực tiễn đầy bức xúc nên đầu năm 2000 Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các cơ quan đảng, nhà nước phải khẩn trơng nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách và chuẩn bị ngay các văn bản để ban hành làm cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp bị oan sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên, với chủ trơng Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, việc nghiên cứu so sánh pháp luật của các nước về bồi thường thiệt hại do các cơ quan tố tụng gây ra là điều rất cần thiết nhằm giúp cho các nhà lập pháp nắm được những nét tơng đồng có tính phổ biến cũng nh những điểm khác biệt của từng nước, từ đó lựa chọn, rút ra những kinh nghiệm quý, kể cả kinh nghiệm thành công và cha thành công của việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này ở các nước, đặc biệt là ở những nước có truyền thống văn hoá và pháp luật cũng nh có các điều kiện phát triển về chính trị, kinh tế- xã hội gần gũi với Việt Nam. Cách tiếp cận đó sẽ góp phần làm hài hoà hệ thống pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước và pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại đồng thời vẫn giữ được bản sắc, đặc trng phù hợp với trình độ phát triển của đất nước.

4. Những quan điểm định hướng để xây dựng các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại

Các quan điểm của Đảng về cải cách hành chính và cải cách tư pháp cần được quán triệt thành những định hớng chỉ đạo việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp việc bồi thường thiệt hại cho các trường hợp oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra, cụ thể là:

– Khẳng định trách nhiệm trước tiên và trên hết thuộc về Nhà nước trong việc giải quyết, khắc phục các hậu quả, bồi thường thiệt hại cho công dân bị oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra đồng thời xác định rõ cơ sở phân định trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đã gây oan sai.

– Phạm vi oan sai mà người gánh chịu được quyền yêu cầu bồi thường, mức độ và cách thức bồi thường phải được quy định bằng Luật, đảm bảo tính công bằng nhng phải phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội ở từng giai đoạn, có tính khả thi.

– Thủ tục, trình tự giải quyết bồi thường thiệt hại phải đơn giản, rõ ràng, thuận tiện và nhanh chóng, dứt điểm phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và tư pháp nhằm vừa bảo vệ triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vừa giảm thiểu những tổn thất, đau khổ kéo dài mà người bị oan sai tiếp tục phải gánh chịu.

– Tạo ra và đảm bảo thực thi các cơ chế hữu hiệu để tăng cờng sự giám sát, kiểm tra của công dân, của xã hội đối với các quá trình tố tụng cũng nh đối với việc Nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện việc bồi thường cho người bị oan sai theo quy định của pháp luật. Chính cơ chế giám sát và tự giám sát này sẽ góp phần quan trọng thực hiện chủ trơng đã được Đại hội Đảng IX một lần nữa khẳng định: “cải cách tổ chức, nâng cao chất lợng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan sai”.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 6/2001

TÌNH HÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT RÚT RA TỪ MỘT VỤ ÁN LỚN

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Ngày 23/3/2001, tại Hà Nội, Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp (Bộ Tư pháp) và Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội) cùng phối hợp tổ chức toạ đàm với chủ đề “Xây dựng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật tại các doanh nghiệp.” Sau đây Tạp chí xin giới thiệu một bài tham luận tại cuộc toạ đàm này.

Trong những năm qua, nhiều vụ án hình sự liên quan đến ngời, tài sản của ngân hàng đã được đa ra xét xử công khai, nh: vụ án Tamexco, EPCO- Minh Phụng, dệt Nam Định… Nhìn chung, các bản án, quyết định của Toà án trong các vụ án nói trên đều thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm đúng ngời, đúng tội. Bài viết này, xin trao đổi một số ý kiến

xung quanh việc áp dụng pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng được rút ra từ các vụ án Tamexco, EPCO- Minh Phụng…

Toà hình sự hay toà kinh tế có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng kinh tế vô hiệu?

Bản án số 141/HSST ngày 31 tháng 01 năm 1997 của Toà hình sự- Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã tuyên bố huỷ toàn bộ những hợp đồng thế chấp đất đai, hợp đồng liên doanh giữa công ty Tamexco với Vietcombank Trung ơng, giữa công ty Tamexco với chi nhánh Vietcombank TP. Hồ Chí Minh, giữa Công ty Tamexco với Firstvinabank, cụ thể:

– Giao lại cho Chính phủ giải quyết theo thẩm quyền những lô đất mà công ty Tamexco đã đa vào thế chấp ở Vietcombank, Firstvinabank.

– Giao lại cho Ban Tài chính quản trị Thành uỷ TP. Hồ chí Minh giải quyết theo thẩm quyền các tài sản như khu khách sạn Đồi Sao, trụ sở số 3 Hoàng Việt, 2 căn biệt thự. Trong khi đó, Khoản 3, Điều 8 của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế lại quy định rõ: “

Việc kết luận hợp đồng kinh tế là vô hiệu toàn bộ hoặc từng phần thuộc thẩm quyền của Trọng tài kinh tế”. Kể từ

1/7/1994, Toà Kinh tế trực thuộc Toà án nhân dân được thành lập và có thẩm quyền giải quyết những công việc thuộc thẩm quyền của Trọng tài kinh tế trớc đây, trong đó bao gồm cả việc tuyên huỷ hợp đồng kinh tế vô hiệu. Do đó, việc Toà hình sự- Toà án nhân dân TP.HCM tuyên huỷ các hợp đồng kinh tế không phù hợp với Điều 8 của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và các văn bản pháp luật có liên quan khác. Vì vậy, các ngân hàng liên quan trong vụ án Tamexco nói trên đã không có điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình theo đúng tinh thần trình tự, tố tụng của pháp luật kinh tế.

Thực hiện theo bản án nào khi cả hai bản án đều có hiệu lực ngang nhau?

Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà hình sự- Toà án nhân dân TP. HCM tuyên, các bên liên quan đã làm đơn kháng cáo một phần Bản án hình sự số 141/HSST nói trên. Toà Phúc thẩm, Toà án Nhân dân tối cao tại TP.HCM đã tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm số 379/HSPT vào ngày 31/3/1997, trong đó buộc Công ty Tamexco có trách nhiệm trả nợ, bồi thường cho Vietcombank Trung ương và Chi nhánh Vietcombank TP. Hồ Chí Minh. Ngay sau khi bản án hình sự phúc thẩm số 379/HSPT nói trên có hiệu lực, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã gửi đơn cho Phòng thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu tổ chức thi hành án. Trong khi Phòng thi hành án đang tổ chức thi hành Bản án hình sự phúc thẩm số 379/HSPT đã có hiệu lực pháp luật nói trên và Ngân hàng Ngoại thương Việt nam cha thu hồi được đủ số nợ theo Bản án hình sự phúc thẩm đó, thì Công ty Tamexco (bên phải thi hành án) đã nộp đơn lên Toà án kinh tế TP. Hồ Chí Minh xin yêu cầu mở thủ tục giải quyết việc tuyên bố phá sản đối với Công ty Tamexco. Toà Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã thụ lý hồ sơ để tiến hành mở thủ tục phá sản doanh nghiệp.

Việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản để thanh toán nợ cho các chủ nợ phải theo đúng phơng án ghi trong quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Toà án và theo đúng thứ tự u tiên sau:

a- Các khoản lệ phí, các chi phí theo quy định của pháp luật cho việc giải quyết phá sản doanh nghiệp.

b- Các khoản nợ lơng, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ớc lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.

c- Các khoản nợ thuế.

d- Các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ.

e- Nếu giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp sau khi đã thanh toán đủ số nợ cho chủ nợ mà vẫn còn thừa, thì phần thừa này sẽ được trả lại cho chủ sở hữu của doanh nghiệp phá sản.

Như vậy, theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp thì giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản sẽ được phân chia để thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ, trong đó có nợ của ngân hàng ở vị trí u tiên thứ t. Nhưng điều quan trọng đang được dư luận và nhiều ngân hàng quan tâm là: tại cùng một thời điểm có hai bản án của Toà án có hiệu lực pháp lý ngang nhau (một bản án hình sự và một bản án kinh tế), thì các bên liên quan biết thực hiện theo bản án nào? Nếu phải thi hành theo quy định của bản án hình sự, thì ngân hàng có khả năng thu hồi được vốn cho vay, ngợc lại, nếu thi hành bản án tuyên bố phá sản doanh nghiệp được tổ chức thi hành, thì ngân hàng hầu nh không thu hồi được nợ. Bởi vì giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp không lớn hoặc không đáng kể so với các khoản nợ và trong các khoản nợ, thì thứ tự u

tiên thanh toán cho ngân hàng lại đứng sau cả khoản nợ phí, lệ phí về phá sản doanh nghiệp, nợ tiền lơng, tiền công và bảo hiểm, nợ thuế… Vì những lý do trên, nhiều doanh nghiệp đã gửi đơn đến Toà án đề nghị nêu rõ phải thi hành bản án nào vì quyền và lợi ích của ngân hàng trong từng bản án là khác nhau.

3- Cơ sở để xác định tổn thất của ngân hàng trong các vụ án vẫn cha rõ ràng?

Theo quy định của pháp luật, thì đa số các doanh nghiệp phải thế chấp tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba khi xin vay vốn và bảo lãnh ngân hàng. Căn cứ vào giá trị tài sản thế chấp do các bên tự thoả thuận hoặc do cơ quan thứ ba có thẩm quyền định giá, ngân hàng xác định mức vốn cho vay hoặc bảo lãnh cụ thể. Trên cơ sở thoả thuận của các bên phù hợp với pháp luật, ngân hàng chỉ trả lại tài sản thế chấp (trờng hợp do bên nhận thế chấp giữ tài sản) và các giấy tờ gốc về sở hữu/ sử dụng tài sản thế chấp cho bên thế chấp khi bên vay và bên được bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và tiền phạt (nếu có) hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác. Trờng hợp bên vay hoặc bên được bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng thì ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi vốn.

Nếu tiền bán tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu bên vay và bên được bảo lãnh cung cấp tài sản bổ sung để bảo đảm cho số nợ còn thiếu.Thực tế trong thời gian qua, một số cá nhân đứng đầu các doanh nghiệp (Tamexco- EPCO, Minh Phụng…) và các tổ chức liên quan khác đã có nhiều hành vi cấu kết, thông đồng, lừa đảo chiếm đoạt vốn vay của ngân hàng thông qua việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá không có thật, nâng cao giá trị tài sản thế chấp lên nhiều lần so với giá trị thực tế, chứng nhận hợp đồng thế chấp không phù hợp với quy định của pháp luật… Những hành vi vi phạm pháp luật của những cá nhân này đã bị các cơ quan pháp luật khởi tố, truy tố và xét xử theo quy

định của pháp luật hình sự. Việc xử lý hình sự cán bộ của những đơn vị vay nói trên không thể không liên luỵ đến một

vài cán bộ ngân hàng, ngời đã tham gia ký hồ sơ thẩm định tài sản thế chấp, hồ sơ cho vay vốn và hồ sơ bảo lãnh. Những cán bộ ngân hàng có hành vi sai trái có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan, nhng trớc và sau khi có quyết định khởi tố vụ án, ngân hàng đã chủ động áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thu nợ, như: thu nợ quá hạn, thời gian phát mại những tài sản thế chấp và yêu cầu đơn vị bổ sung tài sản để trả nợ… Tuy nhiên, một phần do đơn vị không còn khả năng trả nợ, tài sản không còn nữa hoặc nếu có thì giá trị tài sản không lớn so với số nợ còn lại của đơn vị, một phần do cơ chế pháp luật còn bất cập, nên ngân hàng không thể thu hồi được đủ vốn vay ban đầu và lãi. Ngay sau khi vụ án phát sinh, cơ quan pháp luật yêu cầu ngân hàng giải trình về những hành vi liên quan của cán bộ ngân hàng và xác định công nợ của những đơn vị có cá nhân bị khởi tố. Tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, ngân hàng đã giải trình và xác định rõ toàn bộ số d nợ của đơn vị, đồng thời xác định mức độ tổn thất của ngân hàng mình. Tuy nhiên, ngân hàng khó có thể xác định được chính xác số vốn tổn thất. Cho đến nay, cha có một văn bản pháp luật nào hớng dẫn xác định tổn thất của ngân hàng trong các vụ án hình sự. Vì vậy, các ngân hàng thường thụ động và lúng túng khi xác định mức độ tổn thất của mình theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Về nguyên tắc thì tổn thất được xác định bằng công thức lấy tổng d nợ của đơn vị (cả gốc và lãi) trừ đi giá trị tài sản thế chấp. Nhng khi vụ án đã phát sinh, ngân hàng không được phát mãi những tài sản thế chấp có liên quan để thu hồi nợ mà chỉ có quyền sử dụng, khai thác (nếu được cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý). Mặt khác, giá trị tài sản thế chấp tại thời điểm nhận thế chấp khác với giá trị tài sản thế chấp trong thời gian điều tra, truy tố, xét xử. Cho nên cơ sở để xác định tổn thất giữa các ngân hàng trong cùng một vụ án sẽ không thống nhất với nhau. Điểm khác nhau căn bản ở đây là sự lựa chọn giá tài sản thế chấp tại thời điểm nào: có ngân hàng lấy giá trị tài sản thế chấp theo giá thoả thuận trong hợp đồng khi thế chấp, nhng có ngân hàng lại lấy giá trị tài sản thế chấp theo giá của hội đồng định giá do cơ quan tố tụng trưng cầu… Chính vì vậy, việc xác định tổn thất của ngân hàng hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau.

Vậy việc xác định tổn thất có một số vấn đề vớng mắc như:

– Giá trị tài sản thế chấp là giá nào khi xác định tổn thất?

– Tài sản thế chấp và bổ sung có được dùng làm để giải quyết công nợ?

– Tỷ giá quy đổi tại thời điểm nào?

– Cần trừ nợ như thế nào?

4. Doanh nghiệp có được thế chấp tài sản xây dựng trên đất thuê của Nhà nước?

Trước khi thế chấp tài sản của mình vay vốn ngân hàng, bên thế chấp là một bên trong quan hệ thuê đất và thuê tài sản của Nhà nước. Quan hệ thuê tài sản này được lập bằng văn bản phù hợp với quy định của pháp luật. Do tài sản thuê của Nhà nước đã xuống cấp quá nhiều, không phù hợp với hoạt động kinh doanh tại điểm đó, nên trong thời hạn còn hiệu lực ca hợp đồng thuê đất, bên thuê đã xin phép các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phơng để đầu tư xây dựng công trình mới. Khi đã được bên cho thuê tài sản đồng ý và đã hoàn thành các thủ tục xin phép (bản thiết kế đã duyệt, có giấy phép xây dựng…) thì bên thuê mới tiến hành xây dựng công trình bằng một phần vốn tự có của mình và một phần bằng vốn ngân hàng. Khi công trình sắp hoàn thiện và đi vào hoạt động, chủ công trình (bên thế chấp) đã tự nguyện thế chấp

cho ngân hàng để vay vốn hoạt động kinh doanh. Việc thế chấp tài sản được lập bằng văn bản có chứng thực của ỷ ban nhân dân cấp quận, huyện và bên thế chấp đã giao bản gốc các giấy tờ liên quan cho ngân hàng giữ (hợp đồng thuê tài sản, bản thiết kế được duyệt, giấy phép xây dựng…).

Cho đến nay, pháp luật của nước ta cha quy định khi đã có giấy phép xây dựng thì chủ công trình phải xin giấy phép phá dỡ công trình cũ. Điều đó phải được hiểu là khi xem xét cấp giấy phép xây dựng căn cứ vào quy hoạch tổng thể của địa phơng, các cơ quan chức năng của nhà nước đã xét đến yếu tố phá dỡ công trình cũ để xây dựng công trình mới theo bản thiết kế được duyệt. Nếu cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã cho phép xây dựng công trình mới mà không cho chủ công trình được quyền phá dỡ công trình cũ thì đó là điều bất hợp lý. Hiểu theo lôgic của vấn đề thì việc cấp giấy phép xây dựng đã bao hàm cả việc cho phép phá dỡ công trình cũ, nên chủ công trình mới có thể xây dựng công trình hợp với bản thiết kế được duyệt và giấy phép xây dựng được cấp. Do vậy, việc chủ công trình phá dỡ công trình đang thuê của Nhà nước để xây dựng công trình mới mà không phải xin giấy phép phá dỡ là không trái với quy định của pháp luật. Sau khi công trình mới được xây dựng, thì công trình cũ thuộc sở hữu của Nhà nước không còn nữa, thay vào đó là công trình xây dựng mới thuộc sở hữu của bên thế chấp. Cho nên, chủ công trình có quyền dùng tài sản của mình để thế chấp vay vốn ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật. Theo Điều 9 của Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất ngày 14/10/1994 thì “Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất có quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc sở hữu của mình đã xây dựng trên đất đó tại Việt Nam để vay vốn sản xuất kinh doanh trong thời hạn thuê đất theo quy định của pháp luật”.

Trong trường hợp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê, thì bên nhận tài sản được tiếp tục thuê đất theo quy định của pháp luật (khoản 3-Điều 13 của Nghị định số 85/CP ngày 17/12/1996 của Chính phủ). Theo quy định của Quyết định số 217/QĐ-NH1 ngày 17/8/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trước đây và Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ hiện nay, thì tài sản dùng để thế chấp vay vốn các tổ chức tín dụng là các bất động sản có khả năng chuyển nhợng, mua bán được dễ dàng, bao gồm: nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng… Như vậy, pháp luật không chỉ cho phép tổ chức kinh tế trong nước được Nhà nước cho thuê đất có thẩm quyền thế chấp công trình xây dựng gắn liền với đất mà còn được thế chấp cả giá trị quyền sử dụng đất trong thời hạn thuê gắn liền với bất động sản thuộc sở hữu của mình trên

đất đó tại ngân hàng Việt Nam. Trong các vụ án Minh Phụng – EPCO nói trên, đơn vị vay chỉ thế chấp cho ngân hàng tài sản của mình được xây dựng trên đất thuê, nên giá trị tài sản thế chấp thấp hơn nhiều so với thế chấp kèm giá trị quyền sử dụng đất. Khi xét duyệt cho vay, ngân hàng cũng chỉ định giá và cho vay trên cơ sở trị giá tài sản của đơn vị vay chứ không thẩm định bất kỳ tài sản nào thuộc sở hữu Nhà nước. Thực tiễn ở Việt Nam, thời gian để xin được giấy chứng nhận quyền sở hữu không thể thực hiện trong một thời gian ngắn mà phải trải qua một quá trình lâu dài, có khi đến hàng năm.

Thật không may cho cả hai bên, khi các bên đang làm các thủ tục thì một số cá nhân đứng đầu đơn vị vay và các tổ chức liên quan bị khởi tố, nên công việc dang dở phải ngừng lại tại thời điểm đó. Ngoài phần vốn do ngân sách Nhà nước cấp thì nguồn vốn của ngân hàng được huy động từ tiền gửi của các tổ chức và dân c trên cơ sở có hoàn trả gốc và lãi. Bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế của Đảng và Chính phủ giao, hoạt động kinh doanh của ngân hàng còn liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Cho nên, trong các vụ án hình sự, các cơ quan pháp luật không những phải căn cứ vào các quy định của pháp luật mà cân nhắc, xem xét thận trọng sự việc một cách toàn diện, khách quan để bảo vệ quyền lợi, ích chính đáng của các ngân hàng trớc khi có phán quyết, quyết định chính thức, để uy tín hoạt động của ngân

hàng không bị ảnh hởng và các khoản tiền gửi của các tổ chức, cá nhân được bảo đảm thanh toán đúng hạn. Về trách nhiệm dân sự trong các vụ án hình sự, đề nghị các cơ quan pháp luật buộc các cơ quan chủ quản hoặc cơ quan trực tiếp quản lý đơn vị vay phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho ngân hàng. Đối với những tài sản cha hoàn thiện thủ tục thế chấp, cho phép các bên liên quan được làm các thủ tục còn lại và giao cho ngân hàng quản lý, khai thác, phát mại theo

luật định. Trờng hợp tài sản thế chấp được xây dựng trên đất thuê của Nhà nước mà thời hạn thuê đất đã hết thì cho phép ngân hàng hoặc tổ chức, cá nhân mua tài sản được tiếp tục thuê đất  như pháp luật đã quy định.

5. Xử lý tài sản thế chấp trùng theo hướng nào?

Tài sản thế chấp “trùng” ở đây được hiểu là hai tài sản gắn liền với nhau và không thể tách rời nhau, được thế chấp ở hai ngân hàng khác nhau để vay vốn chứ không phải một tài sản thế chấp cho hai ngân hàng. Chẳng hạn: quyền sử dụng đất được thế chấp cho ngân hàng A, còn nhà cửa, công trình được xây dựng trên diện tích đất đó được đem thế chấp cho ngân hàng B… Theo trình tự, tố tụng hình sự và khi được phát biểu quan điểm của mình tại phiên toà, với tư cách là nguyên đơn dân sự, mỗi ngân hàng có quyền đa ra đề nghị riêng của mình về việc xử lý tài sản thế chấp “trùng”, nhng tiếc thay các đề nghị đó của ngân hàng lại mâu thuẫn nhau, xung đột về quyền và lợi ích. Thậm chí, có ngân hàng liên quan trong vụ án còn mạnh dạn đề nghị hội đồng xét xử giao toàn bộ tài sản thế chấp “trùng” cho mình (bao gồm cả tài sản đã thế chấp cho ngân hàng khác) để quản lý, khai thác, sử dụng và phát mại thu hồi nợ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có hệ thống pháp luật hiện hành về xử lý tài sản thế chấp cha hoàn thiện. Cho đến nay, ở nước ta cha có văn bản pháp luật nào quy định về việc phân chia tài sản thế chấp “trùng” khi phát sinh vụ án hình sự hoặc khi phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ đến hạn. Cho nên, các đề nghị nói trên của ngân hàng cha nhất quán và cơ quan xét xử còn thiếu cơ sở pháp lý để xem xét trớc khi tuyên bản án, quyết định việc phân chia tài sản thế chấp cho các ngân hàng.Theo quy định về thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng, thì tài sản dùng để thế chấp vay vốn các tổ chức tín dụng là các bất động sản có khả năng chuyển nhợng, mua bán được dễ dàng, bao gồm nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, và quyền sử dụng đất. Khoản 3, Điều 3 Luật đất đai quy định:

Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền thế chấp quyền sử dụng đất.

Tài sản gắn liền trên đất, như: nhà ở, rừng trồng, vườn cây, công trình xây dựng khác thuộc tài sản thế chấp hay không là do hai bên thoả thuận ghi trong hợp đồng thế chấp. Tổ chức kinh tế trong nước được Nhà nước cho thuê đất và giao đất đều có quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc sở hữu của mình đã xây dựng trên đất đó tại ngân hàng Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật (Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất ngày 14/10/1994). Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Nhà nước cho thuê đất cũng có quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc sở hữu đã xây dựng trên đất đó tại ngân hàng Việt Nam. Riêng đối với ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thì pháp luật hiện hành cha cho phép nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Do đó, các ngân hàng này chỉ được nhận thế chấp các bất động sản trên đất hoặc cho vay đồng tài trợ với các ngân hàng Việt Nam để nhận thế chấp quyền sử dụng đất nhng vẫn không được giữ giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất. Căn cứ vào những quy định trên đây, chúng tôi thấy rằng pháp luật cho phép bên thế chấp có thể được thế chấp quyền sử dụng đất tách rời với việc thế chấp bất động sản trên đất. Tất nhiên, bên thế chấp phải hội đủ các điều kiện theo luật định, nh: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu bất động sản trên đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, (giấy chứng nhận sở hữu nhà)… và việc thế chấp tài sản phải tuân theo các quy định của Luật đất đai, Bộ luật Dân sự và các văn bản hớng dẫn của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước. Do vậy, việc hai ngân hàng độc lập nhận thế chấp tài sản “trùng” (ngân hàng này nhận thế chấp quyền sử dụng đất, còn ngân hàng kia nhận thế chấp bất động sản trên đất) là phù hợp với quy định của pháp luật. Khi quan hệ thế chấp tài sản “trùng” đã hợp pháp thì quyền – lợi ích của từng ngân hàng trong quan hệ thế chấp đó phải được pháp luật bảo vệ và các cơ quan tiến hành

tố tụng công nhận. Theo quy luật tự nhiên, bất kỳ bất động sản nào gắn liền với đất cũng không thể tồn tại được nếu bị tách rời khỏi đất. Điều này cũng được Bộ luật Dân sự khẳng định: bất động sản là không di dời được gắn liền với đất. Thực tế cho thấy, tài sản thế chấp “trùng” để vay vốn ngân hàng chủ yếu là quyền sử dụng đất và nhà ở, công trình được xây dựng trên đất. Cho nên, phần diện tích mặt bằng xây dựng nhà ở, công trình xây dựng được thế chấp cho một ngân hàng này (phần tiếp xúc mặt đất) đã mặc nhiên chiếm một phần diện tích quyền sử dụng đất được thế chấp cho một ngân hàng khác. Vì vậy, ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất không có quyền phá dỡ đi bất động sản xây dựng trên đất đã được thế chấp cho ngân hàng khác. Ngược lại, ngân hàng nhận thế chấp bất động sản xây dựng trên đất cũng khó thực hiện được quyền sử dụng, khai thác công dụng và hởng hoa lợi từ tài sản thế chấp nh pháp luật đã quy định và các bên đã thoả thuận. Thực tế, tài sản thế chấp là bất động sản xây dựng trên đất rất phong phú và đa dạng, nên chỉ xin đơn cử một ví dụ phổ biến hiện nay: Trong một khuôn viên đất, ngân hàng nhận thế chấp muốn sử dụng, khai thác… bất động sản trên đất đã thế chấp cho mình thì trước hết cần có lối ra vào tài sản thế chấp đó. Trong khi lối ra vào lại nằm trên diện tích quyền sử dụng đất đã thế chấp cho ngân hàng khác. Vậy, ngân hàng nhận thế chấp bất động sản xây dựng trên đất

tiếp cận với tài sản thế chấp bằng cách nào? Chính vì thế, khi vụ án hình sự phát sinh và được đem ra xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng đã tỏ ra lúng túng khi quyết định phần trách nhiệm dân sự liên quan đến việc phân chia tài sản thế chấp “trùng” trong bản án. Nếu trong bản án được tuyên, Toà án quyết định giao toàn bộ diện tích đất cho ngân hàng đã nhận thế chấp để quản lý, khai thác, sử dụng và phát mại thu hồi nợ thì điều đó là phi thực tế, vì diện tích quyền sử dụng đất đã bị ngôi nhà chiếm một phần… Hơn nữa, ngân hàng nhận thế chấp nhà ở, công trình xây dựng trên đất không thể thực hiện được quyền sử dụng, khai thác… của mình đối với tài sản thế chấp do không có lối ra vào .v.v. Trái lại, nếu Toà án quyết định cắt phần diện tích đất bị chiếm chỗ bởi ngôi nhà, công trình xây dựng cùng với lối ra vào để giao cho ngân hàng đã nhận thế chấp tài sản đó sử dụng, khai thác hoặc phát mại thu hồi nợ thì quyền lợi của ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất sẽ bị ảnh hởng. Trờng hợp cơ quan pháp luật không đa ra quyết định dứt khoát về việc phân chia tài sản thế chấp “trùng” thì có thể dẫn đến tình trạng hai ngân hàng tranh chấp nhau về tài sản thế chấp “trùng” mà bất kỳ ngân hàng nào cũng muốn dành cho mình phần có lợi hơn. Vì pháp luật hiện hành cha quy định về việc xử lý tài sản thế chấp “trùng” nói trên, nên ở những địa phơng khác nhau, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng có ý kiến, quyết định khác

nhau về việc phân chia tài sản thế chấp “trùng” trong bản án. Thực tế, có một vụ án hình sự xảy ra ở tỉnh H, hai ngân hàng liên quan đến tài sản thế chấp “trùng” đã tự thoả thuận chuyển nhợng tài sản thế chấp cho nhau. Trên cơ sở đó, Toà án đã ra bản án, quyết định phân chia tài sản thế chấp “trùng” theo hớng công nhận sự thoả thuận của các bên. Tuy nhiên, đây chỉ là trường hợp cá biệt, chứ không phải là hướng xử lý. Qua các luận giải ở trên, chúng tôi cho rằng những người làm công tác xây dựng pháp luật cần nghiên cứu cả những khía cạnh thực tế của các vấn đề pháp lý để bổ sung, sửa đổi hoặc giải thích pháp luật.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP số 3/2001

SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU MỨC ĐỘ VÀ CÁCH THỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CƠ QUAN TỐ TỤNG GÂY RA

THS. CAO XUÂN PHONG – THS. ĐỖ THỊ NGỌC

Tóm tắt:

Sau khi giới thiệu kinh nghiệm một số nước, các tác giả cho rằng mọi thiệt hại dù vật chất hay tinh thần đều phải được bồi thường. Tuy cách tính mức đền bù có khác nhau nhưng tựu trung lại, theo họ cách tính của Trung Quốc là chi tiết và rõ ràng hơn cả và có lẽ khả thi với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay. Kinh nghiệm cũng cho thấy bồi thường thiệt hại ở Việt Nam, nhất là bồi thường thiệt hại về tinh thần còn nhiều vớng mắc, khó thực hiện.

Phạm vi bồi thường thiệt hại, tiêu chí xác định mức độ và cách thức bồi thường thiệt hại do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là một trong những nội dung đang gây nhiều tranh cãi trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vấn đề này hiện nay ở Việt Nam được quy định về mặt nguyên tắc trong Hiến pháp và được cụ thể hoá trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tuy nhiên tất cả những quy định này còn chung chung, cha thể hiện cụ thể được những nội dung quan trọng như: phạm vi oan sai phải được bồi thường, căn cứ xác định mức độ thiệt hại cũng nh mức bồi thường đối với từng loại oan sai. Các quy định về bồi thường thiệt hại trong những văn bản khác nhau còn có nhiều mâu thuẫn, không đồng bộ. Bài viết này nghiên cứu, so sánh pháp luật của một số nước về phạm vi, tiêu chí xác định mức độ và cách thức bồi thường thiệt hại do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra và đối chiếu với các quy định của pháp luật Việt Nam để phát hiện những thiếu sót, bất cập; qua đó kiến nghị những biện pháp hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về vấn đề này.

1. Phạm vi bồi thường thiệt hại

1.1. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

là nước có quy định chi tiết và hoàn hảo nhất về phạm vi bồi thường thiệt hại đối với trường hợp bị oan sai do những người tiến hành tố tụng gây ra.Trước hết, Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại Trung Hoa (được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 8 thông qua ngày 12/5/1994) quy định các trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có hành vi gây thiệt hại nhưng Nhà nước không phải bồi thường. Đó là các trường hợp dưới đây:

– Công dân cố ý khai sai sự thật hoặc tạo chứng cứ giả để bị coi là có tội, để bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc công dân nhận tội do bị cán bộ t pháp bức cung, tra tấn lại không thuộc trường hợp Nhà nước được miễn trách nhiệm bồi thường;

– Những người bị bắt giam nhưng sau đó được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn chấp hành hình phạt;

– Cán bộ tư pháp gây tổn hại do phòng vệ chính đáng trong khi thực thi nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm. Hành vi xâm phạm t pháp gây thiệt hại nhưng đã xảy ra trớc khi Luật Nhà nước bồi thường có hiệu lực thi hành, nghĩa là trớc ngày 1/1/1995. Theo giải thích của Toà án nhân dân tối cao thì các trường hợp này được xử lý căn cứ vào những quy định pháp luật có hiệu lực tại từng thời điểm tính từ ngày 31/12/1994 trở về trước.  Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại quy định rất rõ phạm vi bồi thường thiệt hại và những trường hợp dù có thiệt hại nhưng nhà nước vẫn không bồi thường. Theo quy định tại Luật này và những văn bản hướng dẫn dẫn thi hành cũng nh thực tế hoạt động t pháp, bồi thường hình sự được phân biệt rõ thành các trường hợp bồi thường xâm phạm quyền nhân thân và bồi thường thiệt hại về tài sản.

a. Bồi thường hình sự xâm phạm quyền nhân thân

Phạm vi bồi thường hình sự về xâm phạm quyền nhân thân được quy định ở Điều 15 của Luật chỉ hạn

chế ở bồi thường bằng tiền đối với xâm phạm quyền tự do cá nhân và xâm phạm đến tính mạng sức khỏe. Đối với việc xâm phạm nhân phẩm thì không bồi thường bằng tiền. Bồi thường hình sự xâm phạm quyền tự do cá nhân áp dụng cho các trường hợp sau:

Thứ nhất,

Đối với trường hợp không phạm tội trên thực tế mà bị bắt giam. Sau khi áp dụng trình tự tố tụng, người bị bắt giam được chứng minh là vô tội thì trách nhiệm bồi thường hình sự do bắt giam sai đã được cấu thành. Đây là kết quả của việc quy trách nhiệm theo nguyên tắc trách nhiệm pháp lý vô điều kiện.

Thứ hai, đối với trường hợp những người bị tình nghi phạm tội, nhưng trên thực tế không phạm tội hoặc không có chứng cứ để chứng tỏ là phạm tội nghiêm trọng mà bị giam giữ sai. Người bị tình nghi phạm tội và người không bị tình nghi phạm tội bị bắt giam sai đều được hởng quyền lợi nh nhau. Trong trường hợp bắt giữ sai và giam giữ sai đều áp dụng nguyên tắc quy trách nhiệm nh nhau.

Thứ ba, đối với những trường hợp đã chấp hành hình phạt nhưng Bản án xét xử lại theo trình tự kiểm tra, giám sát, xét xử tuyên bị cáo vô tội. Bồi thường hình sự cho trường hợp này được căn cứ vào những tổn hại thực tế.

Thứ tư,trường hợp những người đã mãn hạn tù nhưng cơ quan quản lý trại giam không trả tự do mà không có lý do chính đáng.

b. Bồi thường hình sự xâm phạm quyền tài sản

Điều 16 Luật Nhà nước bồi thường quy định các trường hợp người bị hại có quyền được bồi thường là:

– áp dụng trái pháp luật các biện pháp tố tụng như: niêm phong, tịch thu, phong toả, thu giữ tài sản…;

– Xét xử lại theo trình tự kiểm tra, giám sát, xét xử là vô tội nhưng đã chấp hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản…

Để bảo đảm tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan t pháp hình sự được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với tài sản. Tuy nhiên nếu áp dụng trái pháp luật các biện pháp cưỡng chế tài sản dẫn đến tài sản của công dân, pháp nhân và các tổ chức khác bị tổn hại thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường, cụ thể là các trường hợp sau:

– Niêm phong, tịch thu, phong toả tài sản ngoài vụ án, gồm tài sản của những người ngoài vụ án và tài

sản không có liên quan đến vụ án;

– Tiếp tục niêm phong, tịch thu, phong toả, thu giữ tài sản của người bị tình nghi phạm tội nhưng đã được toà án tuyên vô tội.

– Tự ý sử dụng, tiêu huỷ hoặc không tuân thủ các quy định của Luật Tố tụng hình sự về bảo quản đối với tài sản đã niêm phong, tịch thu, phong toả. Trong trường hợp này, bị cáo sau khi được toà án tuyên vô tội sẽ có quyền đòi nhà nước bồi thường thiệt hại về tài sản.

c. Vấn đề bồi thường thiệt hại về tinh thần

Về lý luận, các nhà nghiên cứu pháp luật của Trung Quốc cho rằng đồng thời với việc bồi thường tự do cá nhân của người bị hại còn phải bồi thường cả thiệt hại tinh thần do tổn hại đến danh dự bằng một khoản \”tiền an ủi động viên\”. Hướng dẫn giải quyết này có lý nhưng vẫn cha được các nhà lập pháp áp dụng. Tuy nhiên, nếu thiệt hại là thuần tuý về tinh thần thì hình thức bồi thường phổ biến là xin lỗi công khai. Ngoài ra, nguyên tắc chung của pháp luật Trung Quốc là những trường hợp nào cha được pháp luật quy định thì chắc chắn không được bồi thường.

1.2. Nhật Bản

cũng xem xét bồi thường cả những trường hợp thiệt hại về tinh thần. Điều 3 Luật Bồi thường thiệt hại của Nhật Bản quy định về những trường hợp không được bồi thường thiệt hại là:

– Người có hành vi khai báo không đúng sự thật hoặc đa ra các chứng cứ giả mạo nhằm mục đích gây khó khăn, đánh lạc hướng dẫn việc điều tra, xét xử dẫn đến bị khởi tố, bị giam giữ, bị tuyên án;

– Người được toà án tuyên \”vô tội\” đối với một hoặc một số trong những hành vi phạm tội vào cùng một thời điểm nhưng vẫn bị tuyên phạt vì các hành vi phạm tội khác.

Khoản 4, Điều 4 Luật Bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự quy định: \”Khi quyết định mức bồi thường thiệt hại, toà án xem xét tính chất và thời gian người được bồi thường thiệt hại bị giam giữ; những thiệt hại về tài sản, về lợi ích kinh tế; những tổn thương về thể chất và tinh thần…\”. Điều này có nghĩa là Nhật Bản chấp nhận cả bồi thường thiệt hại về nhân thân, thiệt hại về tài sản và thiệt hại về tinh thần.

1.3. Hoa Kỳ

không có văn bản pháp luật quy định về vấn đề nhà nước bồi thường. Tuy nhiên thông qua việc nghiên cứu các án lệ có thể nhận biết phạm vi bồi thường thiệt hại mà các toà án có thể tuyên. Ví dụ, vụ án Dumond kiện Conlee là bằng chứng về việc pháp luật Hoa Kỳ công nhận và bồi thường cả những thiệt hại về tinh thần gây ra cho các nạn nhân bởi hành vi của những người tiến hành tố tụng. Trong vụ kiện đó, một cảnh sát trởng đã phải bồi thường thiệt hại cho một bị cáo số tiền 150.000 USD chỉ vì hành vi gây thiệt hại thuần tuý về tinh thần cho người này.

1.4. Cộng hoà Pháp

quy định bất kỳ thiệt hại nào, dù là vật chất hay tinh thần, cũng đều phải được bồi thường. Như vậy có thể thấy đại đa số các nước đều quy định về trách nhiệm nhà nước bồi thường thiệt hại cả về vật chất và về tinh thần do những người tiến hành tố tụng gây ra. Về điểm này, pháp luật Việt Namcó những quy định cụ thể nh sau:

Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định: \”người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự\”. Điều 24 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: \”… Cơ quan đã làm oan phải khôi phục lại danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại…\”.

Điều 310 Bộ luật Dân sự quy định: \”Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần. Bồi thường về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại\”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn được quy định cụ thể trong các điều từ 609 đến 633 của Bộ luật Dân sự.Theo các quy định pháp luật cụ thể đã dẫn trên đây thì ở Việt Nam, cũng nh tại đa số các nước nghiên cứu so sánh khác, thiệt hại về vật chất và tinh thần đều được bồi thường.

2. Tiêu chí xác định mức độ thiệt hại, mức bồi thường và cách thức bồi thường thiệt hại

Qua nghiên cứu có thể thấy thông thường tiêu chí để xác định mức bồi thường là thiệt hại thực tế; mức bồi thường ở các nước được tính khác nhau; cách thức bồi thường thiệt hại vật chất chủ yếu được tính bằng tiền, tài sản; thiệt hại về tinh thần được bồi thường bằng biện pháp khôi phục danh dự và có thể được lượng hóa thành tiền.

2.1. Tại Trung Quốc

Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại đã dành riêng Chơng 4 để quy định về cách tính bồi thường và tiêu chuẩn tính bồi thường. Chơng này quy định một hệ tiêu chuẩn để xác định mức bồi thường cho từng loại thiệt hại từ sức khoẻ, tính mạng đến tài sản mà người bị hại đã phải gánh chịu. Điều 25 Luật này quy định: \”Nhà nước bồi thường chủ yếu bằng tiền\”. Tuy vậy, trong thực tiễn việc bồi thường bằng tài sản cũng là một cách thức được áp dụng. Các trường hợp bồi thường cụ thể được pháp luật Trung Quốc phân chia thành bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và bồi thường thiệt hại về quyền tự do cá nhân. Đối với mỗi loại trường hợp bồi thường lại có những quy định rất cụ thể.

a. Bồi thường do xâm phạm đến tính mạng và sức khoẻ

được chia thành bồi thường do bị tổn hại về thân thể, bồi thường do mất một phần hoặc toàn bộ khả năng lao động và bồi thường do tử vong.

– Bồi thường do những tổn hại đến thân thể:

Điều 27, Khoản 1, Luật bồi thường quy định: \”gây tổn thương đến thân thể, phải chi trả tiền chữa bệnh và bồi thường phần thu nhập bị mất, giảm do phải nghỉ việc. Tiền bồi thường cho mỗi ngày giảm thu nhập được tính theo lương bình quân ngày của cán bộ nhà nước của năm trớc đó, mức bồi thường cao nhất không được quá 5 lần bình quân lương ngày của cán bộ nhà nước của năm trớc đó\”. Mỗi khoản trên đều được quy định cụ thể trong các văn bản dẫn chiếu

khác hoặc văn bản hướng dẫn dẫn thi hành.

– Bồi thường do mất một phần hoặc toàn bộ khả năng lao động:

“Nếu gây mất một phần hoặc toàn bộ khả năng lao động thì phải trả tiền chữa bệnh và tiền bồi thường tàn tật. Tiền bồi thường tàn tật được xác định theo mức độ mất khả năng lao động: tiền bồi thường do mất một phần khả năng lao động tối đa không quá 10 lần lương bình quân của cán bộ nhà nước của năm trớc đó; tiền bồi thường do mất toàn bộ khả năng lao động tối đa không quá 20 lần lương bình quân cán bộ nhà nước của năm trớc đó. Đối với trường hợp mất toàn bộ khả năng lao động phải bồi thường sinh hoạt phí cho người không có khả năng lao động mà người bị hại phải nuôi dỡng\”. (Điều 27, Khoản 2).

Cụ thể như sau:

Bồi thường tiền chữa bệnh:

Về nguyên tắc, khoản bồi thường này được tính theo phạm vi bồi thường tổn thương thông thường. Bồi thường tiền chữa bệnh được quy định tại Điều 27 Luật bồi thường phải được lý giải theo nghĩa rộng mới có thể bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Sẽ là không công bằng nếu chỉ bồi thường tiền chữa bệnh mà không bồi thường các khoản tổn thất khác do bị thương, ví dụ nh không bồi thường tổn thất do phải nghỉ việc.

Tiền bồi thường tàn tật:

Điều 27 Luật bồi thường áp dụng mức bồi thường tàn tật tối đa bằng 20 lần lương bình quân nhà nước trả cho cán bộ nhân viên vào năm trước đó.

Bồi thường sinh hoạt phí cho người bị hại gián tiếp:

Người bị hại gián tiếp là những người phải đáp ứng hai điều kiện: thứ nhất, người đó phải không có khả năng lao động; thứ hai, đó phải là người trước đó đã được người bị hại đã chết hoặc đã mất hoàn toàn khả năng lao động trực tiếp nuôi dỡng.

Điều 27 Luật bồi thường còn quy định: “Tiền sinh hoạt phí được tính căn cứ theo quy định liên quan

về trợ giúp sinh hoạt của cơ quan dân chính ở địa phơng đó. Nếu người được nuôi dỡng là vị thành niên thì được nhận sinh hoạt phí đến năm 18 tuổi, những người không có khả năng lao động khác được

nhận sinh hoạt phí cho đến lúc chết\”. Hiện nay trong thực tiễn hoạt động tư pháp, việc chi trả tiền sinh hoạt phí cho người bị hại gián tiếp thường được thực hiện theo hai cách thức là: trả nhiều lần và trả toàn bộ một lần.

– Bồi thường do việc gây chết người:

Khoản này bao gồm tiền bồi thường do gây chết người, tiền tang lễ (tính gộp với nhau) và tiền bồi thường sinh hoạt phí cho người bị hại gián tiếp. Điều 27, Khoản 3 quy định: \”Nếu gây chết người thì phải bồi thường tiền gây chết người, tiền tang lễ, tổng số tiền bằng 20 lần lương bình quân nhà nước trả cho cán bộ nhân viên vào năm trớc đó. Nếu người chết khi còn sống phải có nghĩa vụ nuôi dỡng người không có khả năng lao động thì phải bồi thường sinh hoạt phí cho người không có khả năng lao động đó\”. Tuy nhiên, Luật lại cha quy định cụ thể về người được lĩnh tiền bồi thường của người đã chết. Thực tế, người được lĩnh khoản bồi thường này chỉ giới hạn trong số những người được hởng thừa kế của người chết (thường là người thừa kế hàng thứ nhất, khi không có người thừa kế hàng thứ nhất mới đến người thừa kế hàng thứ hai).

+ Bồi thường do xâm phạm quyền tự do cá nhân

“Xâm phạm đến quyền tự do cá nhân thì mức tiền bồi thường hàng ngày sẽ tính theo lương bình quân ngày của cán bộ nhà nước năm trớc đó\” (Điều 26 Luật bồi thường). Theo quy định này, tiêu chuẩn bồi thường xâm hại tự do cá nhân do hành vi xâm phạm quyền t pháp được tính theo số ngày bị mất tự do. Mức bồi thường mỗi ngày bằng lương bình quân ngày của cán bộ nhà nước năm trớc đó. Ví dụ lương bình quân ngày của năm 1996 là 24,45 NDT, nếu bị bắt giam một năm thì tính là 365 ngày và được bồi thường là 8.924,25 NDT.

+ Giải quyết việc xâm hại tự do cá nhân đồng thời gây tổn hại đến danh dự của người bị hại:

Các cơ quan tư pháp và cán bộ của các cơ quan này trong quá trình tiến hành hoạt động tố tụng có các hành vi nh bắt người, giam người trái pháp luật, bắt giam sai, giam giữ sai, xử phạt hình sự sai… một mặt xâm phạm đến tự do cá nhân của người bị hại mặt khác xâm hại đến danh dự của người bị hại. Về vấn đề này một số học giả cho rằng đồng thời với việc bồi thường xâm phạm tự do cá nhân của người bị hại còn phải bồi thường cả thiệt hại tinh thần do tổn hại đến danh dự, tức là bồi thường \”tiền an ủi động viên\”. Hướng dẫn giải quyết này có lý nhưng vẫn cha được các nhà lập pháp áp dụng. Luật Nhà nước bồi thường quy định, khi xảy ra tình trạng này, sau khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, không phải bồi thường \”tiền an ủi\”, mà phải khôi phục lại danh dự, phải xin lỗi người bị hại bằng các hình thức phù hợp.Dựa trên những quy định này mà toà án Trung Quốc đã có một cơ sở vững chắc trong việc xem xét giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại cụ thể của công dân.

2.2.Tương tự ở Trung Quốc, pháp luật của Pháp cũng quy định các tiêu chí để xác định thiệt hại là thiệt hại thực tế và lấy đó làm căn cứ để tính bồi thường. Khoản bồi thường này tơng ứng với những thiệt hại vật chất mà việc kết tội sai đã gây ra. Cách thức bồi thường về tinh thần danh dự cho người bị hại được quy định tại Điều 6, Khoản 8 Luật về xét lại các bản án hình sự oan sai của Pháp. Nếu người đệ đơn yêu cầu thì quyết định của Toà Phá án về việc xét lại bản án công nhận sự vô tội của người này sẽ được niêm yết tại thành phố nơi quyết định kết án đã được công bố, tại địa phơng nơi xảy ra vụ án và tại nơi thường trú của những người đệ đơn, tại nơi sinh và nơi ở cuối cùng của người đã bị kết án sai nếu nh người ấy đã chết; đồng thời quyết định cũng được công bố toàn văn trong Công báo và trong 5 tờ báo khác do toà chọn. Mọi chi phí trên do nhà nước chịu. Trong trường hợp những người không thuộc các đối tợng trên cũng có quyền lợi bị xâm hại đứng ra yêu cầu bồi thường thì khoản bồi thường được xét chỉ bao gồm những thiệt hại vật chất mà bản án sai đã gây ra cho chính người đó.

2.3. Tại Nhật Bản, Luật Bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự cũng quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại tại Điều 4. Tuy nhiên Luật này lại ấn định mức bồi thường tối đa cho từng loại oan sai cụ thể là từ 1000 đến 9400 yên/ngày đối với việc bồi thường do bị bắt hoặc giam giữ oan sai, 25 triệu yên cho trường hợp tử hình sai (tài sản của người đã bị tử hình sẽ được bồi thường theo quy định chung). Khi quyết định mức bồi thường, toà án sẽ xem xét tính chất và thời gian người được bồi thường bị giam giữ, những thiệt hại về tài sản, những tổn thương về thể chất và tinh thần cũng nh những nguyên nhân để

xảy ra thiệt hại.Đối với những trường hợp đã áp dụng các biện pháp phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, người bị hại sẽ được

bồi thường tơng đương với khoản tiền đã bị phạt hoặc tơng đương với thời giá của số tài sản đã bị tịch thu và thanh lý cộng thêm 5% cho mỗi năm kể từ thời gian áp dụng hình phạt tới thời gian thực hiện bồi thường.

2.4. Nếu luật pháp các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp lấy thiệt hại thực tế của người bị hại làm căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại thì số tiền bồi thường thiệt hại ở Hoa Kỳ thường cao hơn nhiều so với thiệt hại thực tế. Chẳng hạn một người bị mất 20% sức lao động thì số tiền có thể xét được bồi thường sẽ được tính nh sau: toàn bộ chi phí cho việc chữa bệnh (thường tính theo giá của các công ty bảo hiểm), 20% thu nhập bình thường của người đó từ thời điểm bị mất sức lao động cho tới tuổi về hưu, có tính đến các thời điểm được nâng lương đối với một người lao động bình thường, tính cả đến trợt giá, lạm phát, v.v, các mất mát về tinh thần có liên quan; và toàn bộ số chi phí thực tế đó có thể được nhân lên nhiều lần để \”cảnh cáo\” cơ quan/người vi phạm. Tuy nhiên cách tính trên mới chỉ mang tính định tính, về mặt định lượng, Hoa Kỳ không có quy định cụ thể nào. Điều này làm cho số tiền bồi thường trong mỗi vụ án gần nh hoàn toàn không giống nhau, nhất là các vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần.

2.5.Theo quy định pháp luật của Australia, khi tính toán khoản bồi thường thì Dự thẩm viên sẽ căn cứ vào sự thiệt hại về vật chất và tinh thần. Về vật chất thì phải tính xem số tiền cụ thể nạn nhân có quyền được hởng là bao nhiêu nh thiệt hại về tài sản theo trách nhiệm trong vụ án dân sự, thu nhập bị mất trong thời gian phải gánh chịu những hậu quả nh bị thương phải vào viện, viện phí v.v… và cả những tổn hại về mặt tinh thần, danh dự. Tổng mức thiệt hại được bồi thường không quá 50.000 AUD. Mức tối đa này áp dụng cho cả 3 loại: người bị tổn hại về thể xác, tinh thần; người có tài sản bị thu giữ, tiêu huỷ; người bị chết.

2.6. Tại Thụy Điển, cơ sở để tính bồi thường là thu nhập hàng ngày, tiền lương tháng, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và các khoản chi phí khác nh chi phí cho việc trông nom nuôi dạy con cái, các khoản viện phí… Việc bồi thường danh dự không đặt ra một cách độc lập mà kết hợp với việc tính toán thiệt hại vật chất với mức cao hơn mức thông thường. Mức bồi thường trung bình ít nhất không dưới 15.000 Crown/1 tháng (tiền Thụy Điển). Thực tế trong vụ ám sát Cố Thủ tớng Ô-lốp Pan-mơ năm 1986, người bị nghi và bị giam oan 10 tháng đã được bồi thường 300.000 Crown (tương đương với 45.000 USD). Trong một vụ khác, một người bị xét xử oan về tội hiếp dâm đã ở tù 2 năm 4 tháng và sau đó được bồi thường 450.000 Crown (tơng đương với 70.000 USD). Năm 1995 tính tới thời điểm tháng 11 thì Nhà nước đã chi ra 12 triệu Crown để giải quyết 800 trường hợp đề nghị bồi thường.

Việt Nam, nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời được quy định tại Điều 610 của Bộ luật Dân sự, theo đó các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phơng thức bồi thường… Tuy nhiên trên thực tiễn việc thi hành và áp dụng các quy định này thì lại gặp rất nhiều vướng mắc và mâu thuẫn nhau. Nguyên nhân của vấn đề này là do chúng ta cha có quy định cụ thể về các loại oan sai trong tố tụng hình sự cũng nh cha có căn cứ để xác định khi một người bị oan sai. Bộ luật Dân sự quy định các khoản thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm nhưng vẫn cha đầy đủ nh pháp luật của Trung Quốc. Vì thế thực tiễn giải quyết việc bồi thường thiệt hại của các tòa án gặp rất nhiều khó khăn khi xác định mức thiệt hại và đối tợng được bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, quy định về vấn đề mức bồi thường thiệt hại tinh thần cũng rất khó thực hiện. Tại các Điều 612- 616 của Bộ luật Dân sự có quy định là tòa án tùy từng trường hợp cụ thể có thể quyết định bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Quy định mang tính chất tùy nghi này mặc dù đã được áp dụng trên thực tế nhưng cha có chuẩn mực thống nhất. Điều này dẫn đến một thực tế là các vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần phải xem xét giải quyết ngày một nhiều nhưng tòa án địa phơng rất lúng túng trong việc giải quyết vấn đề này. Ngoài ra, nh đã đề cập ở trên, pháp luật của nước ta còn cha có quy định cụ thể về căn cứ xác định mức độ thiệt hại và mức bồi thường đối với từng loại oan sai. Theo quy định của Điều 5, Nghị định 47/CP ngày 03/5/1997 về việc giải quyết bồi th-

ờng thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra thì nguyên tắc xác định thiệt hại, mức bồi thường và mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Thiệt hại ở đây được tính trên cơ sở thiệt hại thực tế. Tuy nhiên bồi thường thiệt hại trong những trường hợp bị oan sai có những đặc thù so với bồi thường thiệt hại dân sự bình thường. Hơn nữa các quy định về bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Dân sự vẫn cha có hướng dẫn dẫn áp dụng cụ thể. Điểm 3 của Thông t số 54/1998-TT-TCCP ngày 4/6/1998 hướng dẫn dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định 47/CP quy định: Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại xem

xét đánh giá mức độ thiệt hại, xác định trách nhiệm dân sự của các bên để kiến nghị Thủ trởng cơ quan quyết định mức và phơng thức bồi thường thiệt hại. Nh vậy các quy định này vẫn cha đa ra được mức hay tiêu chí cụ thể, thống nhất cho các trường hợp bồi thường thiệt hại do oan sai. Vì thế thực tế công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho các trường hợp oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra còn cha có cách thức thống nhất, gây nhiều tranh cãi. Mức bồi thường chủ yếu phụ thuộc vào sự tự nguyện của các cơ quan có thẩm quyền. Báo Pháp luật số 92 ra ngày 27/5/2001 đa tin về một số vụ

kiện đòi bồi thường thiệt hại danh dự dới tiêu đề: định giá danh dự nh thế nào . Theo nội dung của bài báo này thì vấn đề bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm mỗi nơi mỗi khác. Yêu cầu bồi thường có vụ lên tới hàng trăm triệu đồng. Cùng là một hành vi nhưng có tòa quyết định mức bồi thường 1 triệu đồng, có tòa lại quyết định mức bồi thường 5 triệu. Mức bồi thường thiệt hại tinh thần có khi lên tới 5.000 USD. Hiện nay, theo tinh thần của Công văn số 16 của Tòa án nhân dân tối cao ra ngày 9/2/1999 thì \”đây là một vấn đề khó do mỗi vụ việc có đặc thù riêng. Vì thế tùy từng vụ việc cụ thể, tòa án quyết định mức bồi thường sao cho phù hợp, thỏa đáng. Trớc mắt, khi gặp các yêu cầu này, tòa án cần giải thích tạo điều kiện cho các bên đương sự thương lượng với nhau để họ có thể tự thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại về tinh thần và theo dõi thái độ của các bên trong quá trình thương lượng để khi họ không tự thỏa thuận được với nhau thì căn cứ từng trường hợp cụ thể xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh kinh tế cụ thể của bên phải bồi thường đồng thời xem xét yêu cầu của người bị thiệt hại hay của thân nhân người bị thiệt hại mà quyết định\”. Tuy nhiên quy định này có lẽ cũng cha khắc phục được hết những điều bất cập nh đã nói trên đây.

Vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải nghiêm túc tham khảo kinh nghiệm của các nước và hoàn thiện các chính sách pháp luật về vấn đề bồi thường thiệt hại nói chung cũng nh thiệt hại do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.

3. Một số đề xuất

Có thể thấy rõ rằng nguyên tắc chung được nhiều nước áp dụng là mọi thiệt hại dù là vật chất hay tinh thần đều được bồi thường. Tuy cách tính mức đền bù có khác nhau nhưng tựu trung lại, cách tính theo thiệt hại thực tế và theo lương ngày công của Trung Quốc là chi tiết và rõ ràng hơn cả. Cách tính thiệt hại và đền bù nh vậy có lẽ cũng khả thi đối với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam hiện nay.Theo chúng tôi, cần mở rộng phạm vi bồi thường: pháp luật không chỉ quy định vấn đề phục hồi danh dự mà còn phải quy định cụ thể vấn đề

bồi thường thiệt hại về tinh thần, bao gồm cả những tổn hại, mất mát, đổ vỡ đau đớn trong tình cảm, trong quan hệ gia đình, quan hệ xã hội mà người bị oan sai phải gánh chịu không chỉ trong thời gian bị giam giữ, bị tù mà nhiều khi còn để lại hậu quả rất lâu dài, không có bản án minh oan nào có thể khắc phục được. Việc áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại tinh thần nh đã nói trên đây vào trường hợp bồi thường thiệt hại do bị oan sai là hoàn toàn phù hợp, cần thiết, làm cho pháp luật Việt Nam hài hoà hơn với pháp luật của cộng đồng quốc tế. Kinh nghiệm của Pháp về trách nhiệm và cách thức của nhà nước khôi phục danh dự, uy tín cho người bị oan sai nh đăng tải công khai bằng nhiều phơng tiện thông tin về sự oan sai, việc bồi thường thiệt hại vì oan sai và phục hồi các quyền lợi về chính trị đối với người đó là các quy định có khả năng khả thi ở Việt Nam. Việc lượng hoá thành tiền \”khoản bù đắp tổn hại về tinh thần\” theo

Bộ luật Dân sự cần được khẳng định nh một biện pháp bắt buộc phải tính đến đối với người bị oan sai trong tố tụng hình sự. Cách thức xác định \”khoản bù đắp tổn hại về tinh thần\” này cần thống nhất về nguyên tắc với hướng dẫn dẫn chung thực hiện Bộ luật Dân sự nhưng có tính đến đặc thù, tính chất nghiêm trọng của những tổn hại tinh thần do bị bắt giữ, tạm giam, tù oan sai theo tinh thần nh Hồ Chủ tịch đã từng nhắc lại trong Nhật ký trong tù: \”Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại\”.

Về tiêu chí xác định thiệt hại

: Bồi thường thiệt hại do bị oan sai là một trường hợp cụ thể của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi, về cơ bản, các tiêu chí xác định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm tại các điều từ 612 đến 616 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng và cụ thể hoá trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại do oan sai.

Về mức và cách thức bồi thường thiệt hại

: Nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời quy định tại Điều 610 Bộ luật Dân sự hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bồi thường thiệt hại thực tế mà hầu hết các nước đều áp dụng (trừ Hoa Kỳ trong một số trường hợp bồi thường ở mức cao hơn thiệt hại thực tế nhằm mục đích cảnh cáo người gây thiệt hại).Về mức bồi thường đối với các loại thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, cho đối tợng bị thiệt hại trực tiếp và gián tiếp thì kinh nghiệm của Trung Quốc khá phù hợp với Việt Nam. Trong điều kiện giá cả,

sinh hoạt phí không ổn định, Nhà nước lại cha có biện pháp hữu hiệu để xác định chính xác thu nhập thực tế của người dân thì việc quy định mức bồi thường bằng những giá trị cụ thể (nh cách làm của các nước phát triển Hoa Kỳ, Thuỵ Điển, Nhật Bản, Australia) là cha phù hợp đối với Việt Nam. Tuy nhiên, ngay cả cách quy định về mức lương bình quân/tháng của năm trớc nh Trung Quốc đang thực hiện cũng đã khó áp dụng một cách toàn diện đối với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chẳng hạn trong trường hợp người bị thiệt hại không phải là người hởng lương nhà nước hoặc người có thu nhập ổn định. Theo chúng tôi, trong những trường hợp đó, cần xác định mức bồi thường là mức thu nhập bình quân của người dân tại địa phơng đó tính theo thống kê kinh tế- xã hội của năm trớc đó. Muốn làm được điều này đòi hỏi phải có một hệ thống thống kê công khai với các tiêu chí và biện pháp thống kê khoa học mà Việt Nam còn cần phải phấn đấu./.

SOURCE: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9/2001