“388” VÀ HÀNH TRÌNH GIẢI OAN CỦA CÁC DOANH NHÂN

Khi giới doanh nhân trở thành chủ thể của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế – là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, họ được cả xã hội tôn vinh. Nhưng con đường chinh phục “nghiệp làm giàu” không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng.

Trong những năm qua do sự cố tình hay vô ý của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự khiến cho không ít doanh nhân rơi vào vòng lao lý. Nghị quyết 388/NQ-UBTV QH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra được coi là một trong nững chính sách tích cực của Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, trên thực tế vẫn còn không ít bất cập.

Ba “án oan” điển hình


Ông Hoàng Minh Tiến từng phát biểu: “Nếu như tôi không bị bắt thì chắc chắn đã có thể xây dựng được một nhà máy thuộc da lớn nhất khu vực Đông Nam Á, tạo việc làm cho hàng trăm lao động vì trước đó chúng tôi đã ký thoả thuận hợp tác với một đối tác nước ngoài”. Nhưng ở cái tuổi gần 60, sức khoẻ yếu, vốn liếng không còn thì có lẽ ước mơ của ông giờ chỉ là… mơ ước. May mắn hơn, ông Lương Ngọc Phi cũng bắt đầu gây lại được sự nghiệp theo đúng con đường mà ông đã… phải vào nhà giam nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn do bị mất thị trường và mất cơ hội tốt nhất. Còn với ông Chiến – bản lĩnh của doanh nhân đã được khẳng định bởi trong thời gian chạy đôn chạy đáo minh oan ông cũng đã kịp gây dựng lên DN Bắc Hà, trả được 20 tỷ đồng cho ngân hàng để giải chấp tài sản. Tuy vậy, thời cơ tốt nhất đã qua.


1. Tháng 7/2004, ông Hoàng Minh Tiến là người bị oan đầu tiên được VKS Hà Nội xin lỗi theo tinh thần Nghị quyết 388. Sau đó “ông yêu cầu VKS bồi thường 2,2 tỷ đồng cho thời gian vướng vòng lao lý theo tinh thần Nghị quyết 388 nhưng chỉ được VKS chấp nhận “thanh toán” gần 28 triệu, đồng thời bác 12 khoản khác ông Tiến yêu cầu, trong đó có việc trả lại căn nhà 6/95 Bạch Mai. Sau 3 lần thương lượng không thành, ông Tiến kiện VKS Hà Nội ra Toà án. Ông cũng là trường hợp đầu tiên của thành phố Hà Nội làm đơn kiện VKS ra toà theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự của Nghị quyết 388. Vì vậy, đây là vụ việc được dư luận đặc biệt quan tâm.Tại phiên sơ thẩm ngày 16/6/2005, TAND Hai Bà Trưng đã bác 12 trong 13 khoản ông Tiến yêu cầu, chỉ chấp nhận khoản bồi thường gần 28 triệu đồng cho hơn 400 ngày bị tạm giữ và 900 ngày tại ngoại (bị quản thúc) của ông Tiến. Các thiệt hại về nhà cửa, xưởng sản xuất… xảy ra trong lúc nguyên đơn bị bắt toà không xem xét vì cho rằng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 388. Quan điểm này cũng giống như lập luận của VKS Hà Nội trong những lần thương lượng bồi thường với ông Hoàng Minh Tiến trước đó.

Trong đơn kháng cáo, ông Tiến tiếp tục đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, buộc VKS Hà Nội bồi thường 13 khoản thiệt hại ông đưa ra, tổng cộng 2,7 tỷ đồng. Đó là khoản thiệt hại về vật chất, tinh thần mà ông và gia đình phải gánh chịu trong suốt thời gian vướng vòng lao lý. Đồng thời nhận lại ngôi nhà 6/95 Bạch Mai. Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm ông Tiến cũng chỉ được tòa ra phán quyết yêu cầu Viện kiểm sát khoản tiền 44,4 triệu đồng, nhiều hơn phán quyết sơ thẩm trên 15 triệu đồng. Phán quyết được đưa ra chưa thực sự thuyết phục được người bị oan cũng như những ai quan tâm theo dõi vụ việc. Theo ông Tiến thì số tiền đó không đủ chi phí cho việc ông đi lại viết đơn gửi các cơ quan chức năng trong suốt thời gian bị oan.

2. Một vụ án oan khác là việc ông Lương Ngọc Phi – Giám đốc Cty TNHH khai thác chế biến nông hải sản xuất khẩu Hoà Bình. Trong quá trình kinh doanh, Cty của ông Phi vay tiền của Ngân hàng Công thương tỉnh Thái Bình đầu tư cho nông dân địa phương trồng hơn 700 ha kê vàng để XK sang Nhật Bản. Đến hạn phải thanh toán, do chưa tới kỳ thu hoạch nên ông Phi khất nợ ngân hàng. Ngân hàng chưa kiện ông Phi nhưng ngày 1/5/1998, công an tỉnh Thái Bình đã bắt giam ông vì cho rằng đã có hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”. Ngày 28/9/1999, TAND tỉnh Thái Bình đã xét xử và tuyên phạt ông Phi 14 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và ba năm tù về tội trốn thuế.

Sau khi xem xét bản án, ngày 25/4/2000, TAND tối cao đã xử phúc thẩm, tuyên ông Phi không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Oan sai đã rõ, ngày 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bình thay mặt các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh tổ chức công khai xin lỗi ông Lương Ngọc Phi. Ngay sau đó ông Phi đã làm đơn đề nghị TAND tỉnh Thái Bình thương lượng bồi thường nhưng đến thời điểm hiện tại hai bên vẫn chưa ngồi được vào “bàn đàm phán” vì TAND tỉnh Thái Bình luôn lần lữa khất. Mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do ông Phi đưa ra ban đầu là 23.203.844.110 đồng (trên 23 tỷ đồng). Cũng cần phải nói thêm, để “xác định” được cơ quan… xin lỗi, VKSND và TAND Thái Bình đã đùn đẩy trách nhiệm cho nhau suốt cả năm trời…

3. Kỷ lục nhất có lẽ là trường hợp đòi bồi thường oan sai của ông Nguyễn Đình Chiến, người bị truy tố oan sai gần 10 năm (có 28 tháng bị tạm giam) trong “vụ án tranh cãi xuyên thế kỷ”. Ngày 2/8/2006, ông đã gửi đơn đến VKSND TP Cần Thơ yêu cầu bồi thường thiệt hại hơn 452 tỷ đồng. Trong đó, thiệt hại trực tiếp của ông là hơn 75 tỷ đồng, thiệt hại đối với 2 DN của ông là hơn 216 tỷ đồng, thiệt hại đối với các ngân hàng và DN liên quan là hơn 160 tỷ đồng. Nhiều khoản thiệt hại (của các ngân hàng, nợ của ông và các DN do ông làm chủ…) được lấy số liệu từ chính cáo trạng truy tố ông của VKSND TP Cần Thơ. Nguyên nhân vụ án oan sai đã được chỉ rõ tại các phiên tòa tuyên ông Chiến vô tội: Lẫn lộn vai trò DN với cá nhân trong hoạt động kinh doanh. Tính ra Nguyễn Đình Chiến đã tốn trên 500 triệu bay vào ra nhiều lần theo yêu cầu của các cơ quan tố tụng Cần Thơ, đó là chưa kể tiền thuê luật sư mỗi tháng 2 triệu đồng, trong gần 10 năm.

Thấy gì qua các vụ án oan

Qua một thời gian thực thi Nghị quyết 388 đã có hàng trăm vụ án oan được “giải oan” nhưng với cơ chế thương lượng như hiện nay và với số lượng án oan ngày một gia tăng thì chắc chắn trong thời gian tới toà án sẽ có thêm nhiều việc phải làm. Bởi theo trình tự của Nghị quyết 388 thì hầu hết các vụ oan sai đòi bồi thường sẽ phải dẫn nhau ra toà giải quyết, ngoại trừ những trường hợp có mức bồi thường thấp. Cơ chế giải quyết bồi thường oan sai theo Nghị quyết 388 vẫn hạn chế ở… thương lượng bởi một bên nhân danh nhà nước khó đảm bảo khách quan. Trong trường hợp người bị oan không thoả thuận được mức bồi thường sẽ kiện ra toà dân sự nhưng trong nhiều vụ việc toà sẽ phải tự xử hoặc toà cấp dưới xử toà cấp trên.

Có ý kiến cho rằng nên thành lập cơ quan độc lập đứng ra giải quyết bồi thường oan sai. Vì theo trình tự hiện nay và với những vụ bồi thường oan sai đã diễn ra, hầu hết đều chưa thoả mãn yêu cầu của người bị oan và thường vụ việc bị kéo dài hàng năm trời. Nếu không giải quyết dứt điểm, người bị oan lại phải vác đơn ra toà, tốn kém thời gian và tiền của. Thường thì mức bồi thường thấp hơn thực tế khá nhiều. Dẫu biết rằng cho dù có bồi thường như thế nào cũng không thể bù đắp được những gì mà người bị oan đã phải gánh chịu bởi những thiệt hại về tinh thần khó có thể lượng hoá thành tiền.

Các vụ án oan không chỉ làm mất niềm tin của người dân vào cơ quan hành pháp, tổn hại đến nền kinh tế, lãng phí tiền của nhà nước (trong trường hợp phải bồi thường với số tiền lớn). Điều đáng nói là trong rất nhiều vụ án oan, trách nhiệm thuộc về những người “cầm cân nảy mực”. Tuy nhiên, trong hầu hết các vụ án oan đã được công khai xin lỗi ít thấy đề cập đến trách nhiệm cá nhân của những “công bộc” ấy. Điển hình như trong vụ án của ông Lương Ngọc Phi – kiểm sát viên Đặng Đình Liêm là người được VKSND tỉnh Thái Bình giao nhiệm vụ kiểm sát vụ án đã cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án bằng cách rút khỏi hồ sơ tờ hoá đơn nộp thuế của ông Phi, làm cho ông mang tội trốn thuế. Mặc dù năm 2000 ông Phi đã được minh oan nhưng người trực tiếp đẩy ông vào con đường lao lý liên tục trong các năm 2001, 2002 và 2003 vẫn được công nhận là lao động giỏi.

Và cho đến giờ, người ta vẫn chờ một… chế tài đối với những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng.

Trong phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội mới đây, Chánh án TAND TC Nguyễn Văn Hiện đã thừa nhận: Trong vòng 4 – 5 năm qua ngành toà án đã phải cố gắng “vơ vét” tận dụng những lực lượng đã có để bổ nhiệm cho đủ. Ông Hiện cũng đưa ra những con số rất ảm đạm cho thấy ngành công an, kiểm sát còn thiếu điều tra viên, kiểm sát viên trầm trọng. Toà án thiếu tới 1.116 thẩm phán, công an thiếu trên 1.000 điều tra viên, VKSNDTC thiếu gần 1.000 kiểm sát viên, thẩm phán thiếu gần 900 người. Năm 2006, tòa án đã giải quyết gần 200.000 vụ, trong đó 5% (khoảng 9.000) bị hủy và sửa. nếu tính 5% thì có hàng nghìn bản án bị hủy, sửa. Trong số bản án bị sai, sửa, nguyên nhân chủ quan chiếm 30%. Với những bản án bị hủy sửa, tất cả những thẩm phán đều phải có tờ trình lý do vì sao bị sửa. Theo đó, tùy theo do mức độ, năng lực hay thiếu trách nhiệm, tiêu cực thì sẽ xử lý theo mức độ đó.

Nhưng án sửa và hủy bao nhiêu phần trăm là do năng lực của thẩm phán, bao nhiêu do có sự can thiệp của bàn tay vô hình làm cán cân công lý bị nghiêng thì chưa có con số thống kê chính thức.

Phan Nam (Theo Diễn đàn Doanh nghiệp ngày 01/01/2007)

SOURCE: www.vcci.com.vn

“388” VÀ HÀNH TRÌNH GIẢI OAN CỦA CÁC DOANH NHÂN

Khi giới doanh nhân trở thành chủ thể của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế – là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, họ được cả xã hội tôn vinh. Nhưng con đường chinh phục “nghiệp làm giàu” không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng.

Trong những năm qua do sự cố tình hay vô ý của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự khiến cho không ít doanh nhân rơi vào vòng lao lý. Nghị quyết 388/NQ-UBTV QH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra được coi là một trong nững chính sách tích cực của Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, trên thực tế vẫn còn không ít bất cập.

Ba “án oan” điển hình


Ông Hoàng Minh Tiến từng phát biểu: “Nếu như tôi không bị bắt thì chắc chắn đã có thể xây dựng được một nhà máy thuộc da lớn nhất khu vực Đông Nam Á, tạo việc làm cho hàng trăm lao động vì trước đó chúng tôi đã ký thoả thuận hợp tác với một đối tác nước ngoài”. Nhưng ở cái tuổi gần 60, sức khoẻ yếu, vốn liếng không còn thì có lẽ ước mơ của ông giờ chỉ là… mơ ước. May mắn hơn, ông Lương Ngọc Phi cũng bắt đầu gây lại được sự nghiệp theo đúng con đường mà ông đã… phải vào nhà giam nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn do bị mất thị trường và mất cơ hội tốt nhất. Còn với ông Chiến – bản lĩnh của doanh nhân đã được khẳng định bởi trong thời gian chạy đôn chạy đáo minh oan ông cũng đã kịp gây dựng lên DN Bắc Hà, trả được 20 tỷ đồng cho ngân hàng để giải chấp tài sản. Tuy vậy, thời cơ tốt nhất đã qua.


1. Tháng 7/2004, ông Hoàng Minh Tiến là người bị oan đầu tiên được VKS Hà Nội xin lỗi theo tinh thần Nghị quyết 388. Sau đó “ông yêu cầu VKS bồi thường 2,2 tỷ đồng cho thời gian vướng vòng lao lý theo tinh thần Nghị quyết 388 nhưng chỉ được VKS chấp nhận “thanh toán” gần 28 triệu, đồng thời bác 12 khoản khác ông Tiến yêu cầu, trong đó có việc trả lại căn nhà 6/95 Bạch Mai. Sau 3 lần thương lượng không thành, ông Tiến kiện VKS Hà Nội ra Toà án. Ông cũng là trường hợp đầu tiên của thành phố Hà Nội làm đơn kiện VKS ra toà theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự của Nghị quyết 388. Vì vậy, đây là vụ việc được dư luận đặc biệt quan tâm.Tại phiên sơ thẩm ngày 16/6/2005, TAND Hai Bà Trưng đã bác 12 trong 13 khoản ông Tiến yêu cầu, chỉ chấp nhận khoản bồi thường gần 28 triệu đồng cho hơn 400 ngày bị tạm giữ và 900 ngày tại ngoại (bị quản thúc) của ông Tiến. Các thiệt hại về nhà cửa, xưởng sản xuất… xảy ra trong lúc nguyên đơn bị bắt toà không xem xét vì cho rằng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 388. Quan điểm này cũng giống như lập luận của VKS Hà Nội trong những lần thương lượng bồi thường với ông Hoàng Minh Tiến trước đó.

Trong đơn kháng cáo, ông Tiến tiếp tục đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, buộc VKS Hà Nội bồi thường 13 khoản thiệt hại ông đưa ra, tổng cộng 2,7 tỷ đồng. Đó là khoản thiệt hại về vật chất, tinh thần mà ông và gia đình phải gánh chịu trong suốt thời gian vướng vòng lao lý. Đồng thời nhận lại ngôi nhà 6/95 Bạch Mai. Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm ông Tiến cũng chỉ được tòa ra phán quyết yêu cầu Viện kiểm sát khoản tiền 44,4 triệu đồng, nhiều hơn phán quyết sơ thẩm trên 15 triệu đồng. Phán quyết được đưa ra chưa thực sự thuyết phục được người bị oan cũng như những ai quan tâm theo dõi vụ việc. Theo ông Tiến thì số tiền đó không đủ chi phí cho việc ông đi lại viết đơn gửi các cơ quan chức năng trong suốt thời gian bị oan.

2. Một vụ án oan khác là việc ông Lương Ngọc Phi – Giám đốc Cty TNHH khai thác chế biến nông hải sản xuất khẩu Hoà Bình. Trong quá trình kinh doanh, Cty của ông Phi vay tiền của Ngân hàng Công thương tỉnh Thái Bình đầu tư cho nông dân địa phương trồng hơn 700 ha kê vàng để XK sang Nhật Bản. Đến hạn phải thanh toán, do chưa tới kỳ thu hoạch nên ông Phi khất nợ ngân hàng. Ngân hàng chưa kiện ông Phi nhưng ngày 1/5/1998, công an tỉnh Thái Bình đã bắt giam ông vì cho rằng đã có hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”. Ngày 28/9/1999, TAND tỉnh Thái Bình đã xét xử và tuyên phạt ông Phi 14 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và ba năm tù về tội trốn thuế.

Sau khi xem xét bản án, ngày 25/4/2000, TAND tối cao đã xử phúc thẩm, tuyên ông Phi không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Oan sai đã rõ, ngày 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bình thay mặt các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh tổ chức công khai xin lỗi ông Lương Ngọc Phi. Ngay sau đó ông Phi đã làm đơn đề nghị TAND tỉnh Thái Bình thương lượng bồi thường nhưng đến thời điểm hiện tại hai bên vẫn chưa ngồi được vào “bàn đàm phán” vì TAND tỉnh Thái Bình luôn lần lữa khất. Mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do ông Phi đưa ra ban đầu là 23.203.844.110 đồng (trên 23 tỷ đồng). Cũng cần phải nói thêm, để “xác định” được cơ quan… xin lỗi, VKSND và TAND Thái Bình đã đùn đẩy trách nhiệm cho nhau suốt cả năm trời…

3. Kỷ lục nhất có lẽ là trường hợp đòi bồi thường oan sai của ông Nguyễn Đình Chiến, người bị truy tố oan sai gần 10 năm (có 28 tháng bị tạm giam) trong “vụ án tranh cãi xuyên thế kỷ”. Ngày 2/8/2006, ông đã gửi đơn đến VKSND TP Cần Thơ yêu cầu bồi thường thiệt hại hơn 452 tỷ đồng. Trong đó, thiệt hại trực tiếp của ông là hơn 75 tỷ đồng, thiệt hại đối với 2 DN của ông là hơn 216 tỷ đồng, thiệt hại đối với các ngân hàng và DN liên quan là hơn 160 tỷ đồng. Nhiều khoản thiệt hại (của các ngân hàng, nợ của ông và các DN do ông làm chủ…) được lấy số liệu từ chính cáo trạng truy tố ông của VKSND TP Cần Thơ. Nguyên nhân vụ án oan sai đã được chỉ rõ tại các phiên tòa tuyên ông Chiến vô tội: Lẫn lộn vai trò DN với cá nhân trong hoạt động kinh doanh. Tính ra Nguyễn Đình Chiến đã tốn trên 500 triệu bay vào ra nhiều lần theo yêu cầu của các cơ quan tố tụng Cần Thơ, đó là chưa kể tiền thuê luật sư mỗi tháng 2 triệu đồng, trong gần 10 năm.

Thấy gì qua các vụ án oan

Qua một thời gian thực thi Nghị quyết 388 đã có hàng trăm vụ án oan được “giải oan” nhưng với cơ chế thương lượng như hiện nay và với số lượng án oan ngày một gia tăng thì chắc chắn trong thời gian tới toà án sẽ có thêm nhiều việc phải làm. Bởi theo trình tự của Nghị quyết 388 thì hầu hết các vụ oan sai đòi bồi thường sẽ phải dẫn nhau ra toà giải quyết, ngoại trừ những trường hợp có mức bồi thường thấp. Cơ chế giải quyết bồi thường oan sai theo Nghị quyết 388 vẫn hạn chế ở… thương lượng bởi một bên nhân danh nhà nước khó đảm bảo khách quan. Trong trường hợp người bị oan không thoả thuận được mức bồi thường sẽ kiện ra toà dân sự nhưng trong nhiều vụ việc toà sẽ phải tự xử hoặc toà cấp dưới xử toà cấp trên.

Có ý kiến cho rằng nên thành lập cơ quan độc lập đứng ra giải quyết bồi thường oan sai. Vì theo trình tự hiện nay và với những vụ bồi thường oan sai đã diễn ra, hầu hết đều chưa thoả mãn yêu cầu của người bị oan và thường vụ việc bị kéo dài hàng năm trời. Nếu không giải quyết dứt điểm, người bị oan lại phải vác đơn ra toà, tốn kém thời gian và tiền của. Thường thì mức bồi thường thấp hơn thực tế khá nhiều. Dẫu biết rằng cho dù có bồi thường như thế nào cũng không thể bù đắp được những gì mà người bị oan đã phải gánh chịu bởi những thiệt hại về tinh thần khó có thể lượng hoá thành tiền.

Các vụ án oan không chỉ làm mất niềm tin của người dân vào cơ quan hành pháp, tổn hại đến nền kinh tế, lãng phí tiền của nhà nước (trong trường hợp phải bồi thường với số tiền lớn). Điều đáng nói là trong rất nhiều vụ án oan, trách nhiệm thuộc về những người “cầm cân nảy mực”. Tuy nhiên, trong hầu hết các vụ án oan đã được công khai xin lỗi ít thấy đề cập đến trách nhiệm cá nhân của những “công bộc” ấy. Điển hình như trong vụ án của ông Lương Ngọc Phi – kiểm sát viên Đặng Đình Liêm là người được VKSND tỉnh Thái Bình giao nhiệm vụ kiểm sát vụ án đã cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án bằng cách rút khỏi hồ sơ tờ hoá đơn nộp thuế của ông Phi, làm cho ông mang tội trốn thuế. Mặc dù năm 2000 ông Phi đã được minh oan nhưng người trực tiếp đẩy ông vào con đường lao lý liên tục trong các năm 2001, 2002 và 2003 vẫn được công nhận là lao động giỏi.

Và cho đến giờ, người ta vẫn chờ một… chế tài đối với những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng.

Trong phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội mới đây, Chánh án TAND TC Nguyễn Văn Hiện đã thừa nhận: Trong vòng 4 – 5 năm qua ngành toà án đã phải cố gắng “vơ vét” tận dụng những lực lượng đã có để bổ nhiệm cho đủ. Ông Hiện cũng đưa ra những con số rất ảm đạm cho thấy ngành công an, kiểm sát còn thiếu điều tra viên, kiểm sát viên trầm trọng. Toà án thiếu tới 1.116 thẩm phán, công an thiếu trên 1.000 điều tra viên, VKSNDTC thiếu gần 1.000 kiểm sát viên, thẩm phán thiếu gần 900 người. Năm 2006, tòa án đã giải quyết gần 200.000 vụ, trong đó 5% (khoảng 9.000) bị hủy và sửa. nếu tính 5% thì có hàng nghìn bản án bị hủy, sửa. Trong số bản án bị sai, sửa, nguyên nhân chủ quan chiếm 30%. Với những bản án bị hủy sửa, tất cả những thẩm phán đều phải có tờ trình lý do vì sao bị sửa. Theo đó, tùy theo do mức độ, năng lực hay thiếu trách nhiệm, tiêu cực thì sẽ xử lý theo mức độ đó.

Nhưng án sửa và hủy bao nhiêu phần trăm là do năng lực của thẩm phán, bao nhiêu do có sự can thiệp của bàn tay vô hình làm cán cân công lý bị nghiêng thì chưa có con số thống kê chính thức.

Phan Nam (Theo Diễn đàn Doanh nghiệp ngày 01/01/2007)

SOURCE: www.vcci.com.vn

XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI CỦA DOANH NGHIỆPTRONG TRƯỜNG HỢP GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ OAN SAI

(Trích tham luận của ông lương Ngọc Phi Giám đốc công ty TNHH thương mại Thanh Phong tại một Hội thảo về bồi thường Nhà nước. SOURCE: WWW.VCCI.COM.VN)

Kính thưa hội nghị !
Tên tôi là : Lương Ngọc Phi 58 tuổi
Địa chỉ : Số nhà 28, tổ 16, phường Quang Trung – Thành phố Thái Bình.
Chức vụ : Giám đốc công ty TNHH Thương mại Thanh Phong.
Kính thưa hội nghị !
– Ngày 1/5/1998 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình khởi tố vụ án, khởi tố bị can bắt giam khẩn cấp đối với tôi về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” theo điều 135 Bộ luật hình sự năm 1985.
– Quá trình bắt giam tôi điều tra về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình tiếp tục khởi tố bổ sung đối với tôi về tội “trốn thuế” theo điều 169 Bộ luật hình sự năm 1985.
– Ngày 27/4/1999 VKSND Tỉnh Thái Bình đã ra cáo trạng truy tố tôi 2 tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và tội “trốn thuế”.
– Ngày 29/9/1999 Toà sơ thẩm Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình đưa vụ án ra xét xử quy kết tôi phạm 2 tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và tội “trốn thuế” tuyên phạt 17 năm tù giam.
– Sau khi xét xử sơ thẩm, tôi đã làm đơn kháng cáo kêu oan cả 2 tội tới Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
– Ngày 25, 26/4/2000 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao đã xét xử lại vụ án và tuyên tôi không phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” huỷ phần bản án sơ thẩm về tội “trốn thuế” để điều tra lại.
– Ngày 16/10/2006, sau thời gian dài điều tra lại tội “trốn thuế” Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với tôi về tội “trốn thuế” theo khoản 2 điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Như vậy tôi hoàn toàn bị oan, do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Với khoảng thời gian rất dài từ khi khởi tố bị can bắt giam tôi 1/5/1998 đến 16/10/2006 là 8 năm 6 tháng = 3096 ngày, trong đó có 35 tháng giam oan và hơn 68 tháng tại ngoại bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Kính thưa hội nghị !
– Là người bị hàm oan, bị bắt giam suốt thời gian dài tôi biết rất rõ những thiệt hại về uy tín, danh dự, kinh tế, sức khoẻ, tinh thần của bản thân mình và gia đình mình. Những thiệt hại đó ảnh hưởng của nó còn rất lâu dài, nó đeo đẳng theo suốt cuộc đời của tôi chưa có hồi kết thúc. Tại hiến pháp năm 1992 ghi nhận tại các điều 72 và 74 “người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”.
– Ngày 17/3/2003 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 11 đã ra nghị quyết số 388 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Tuy nhiên đó mới chỉ là trách nhiệm của nhà nước bồi thường đối với người bị oan mà thôi, còn trách nhiệm bị thiệt hại toàn diện khi giám đốc – người đại diện theo pháp luật bị bắt oan thì nhà nước bồi thường cho doanh nghiệp như thế nào ? mà những thiệt hại đó vô cùng to lớn.
Kính thưa hội nghị !
– Năm 1992 chúng tôi gồm có 13 thành viên góp 1 tỷ năm trăm bốn mươi triệu đồng để cùng nhau kinh doanh sản xuất, được UBND Tỉnh Thái Bình ra quyết định thành lập Công ty TNHH Hoà Bình với ngành nghề kinh doanh sản xuất nông sản xuất khẩu cơ cấu tổ chức công ty TNHH Hoà Bình với 13 hành viên sáng lập, có hội đồng quản trị, tôi là người được các thành viên bầu làm giám đốc công ty – người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
– Từ năm 1992 đến năm 1998 doanh nghiệp do tôi làm giám đốc kinh doanh rất hiệu quả, được UBND Tỉnh Thái Bình giao cho dự án sản xuất nông sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tạo điều kiện công ăn việc làm cho hàng vạn người dân làm nông nghiệp trong việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn làm ra hàng hoá nông sản, xuất khẩu cho nước ngoài đồng thời nâng cao giá trị thu nhập trên đầu diện tích.
– Việc làm ăn của công ty đang trên đà phát triển, tạo dựng được kế hoạch sản xuất hàng nghìn ha nông sản, tìm kiếm ổn định được đối tác nước ngoài cho việc xuất khẩu. Có uy tín trên thương trường, được ngân hàng tín nhiệm cho vay vốn, được bạn bè khách hàng gần xa tin tưởng, được UBND Tỉnh Thái Bình đánh giá là doanh nghiệp kinh doanh đúng hướng, đạt hiệu quả, ấy vậy mà chỉ một thời gian ngắn ngủi, các cơ quan tố tụng hình sự tỉnh Thái Bình đã hình sự hoá dân sự vụ án quy kết bắt giam giám đốc công ty, niêm phong nhà cửa kho tàng, kê biên toàn bộ tài sản, tịch thu con dấu của doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, phao tin thất thiệt tuyên truyền báo chí nói xấu doanh nghiệp, tổ chức phát mại tài sản với giá rẻ mạt, đưa doanh nghiệp nhanh chóng tới phá sản hoàn toàn.
Kính thưa hội nghị !
+ Tại thời điểm khi tôi là giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự oan thì thiệt hại thực tế xảy ra đối với doanh nghiệp vô cùng to lớn.

1. Thiệt hại về tinh thần.
– Đặc thù của loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH với cơ cấu tổ chức các thành viên trong doanh nghiệp là anh em ruột thịt, cha, con, vợ, chồng, bạn bè thân thiết cùng góp vốn làm ăn, cho nên khi giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự thì các thành viên doanh nghiệp bị hoang mang, chán nản, giao động bị tai tiếng, bị xa lánh, bị các cơ quan tố tụng điều tra, xét hỏi, doạ dẫm, lợi dụng vợ con ốm đau bệnh tật, không ai còn thiết tha làm ăn gì nữa.
2. Thiệt hại về uy tín doanh nghiệp.
– Để xây dựng doanh nghiệp có uy tín trong làm ăn như doanh nghiệp tôi thì cũng phải mất thời gian khá dài, doanh nghiệp tôi đã mua bán hàng hoá với nhiều bạn hàng, nhiều tổng công ty trong nước, nhiều khách hàng nước ngoài rất có uy tín. Trong việc thanh toán tiền hàng, ứng vốn đầu tư đảm bảo chất lượng hàng hoá, quan hệ tín dụng với ngân hàng rất uy tín. Từ khi thành lập đến khi tôi bị bắt, riêng về mặt hàng nông sản, các bạn hàng lớn trong nước đều biết tên tuổi công ty tôi, họ rất tin tưởng khi doanh nghiệp tôi mua hàng hoặc bán hàng cho họ. Nhưng khi giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự đến nay thì tên tuổi doanh nghiệp tôi bị lu mờ, mọi giao dịch đều khó khăn ai ai cũng cho là doanh nghiệp bị phá sản.
3. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất.
– Khi bắt giam giám đốc, các cơ quan tố tụng đã tịch thu con dấu tròn của doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho các thành viên và người lao động trong doanh nghiệp mất công ăn việc làm suốt 3 năm làm thiệt hại thu nhập thực tế bị mất từ tiền lương của 13 hành viên hơn 700.000.000đ (chưa kể thu nhập của người lao động thời vụ bị mất việc).
Cộng : 700.000.000 đồng.
4. Thiệt hại về tài sản.
a. Thiệt hại do không thực hiện được hợp đồng với đối tác nước ngoài.
Đầu năm 1998 doanh nghiệp tôi ký hợp đồng, sản xuất kê vàng ở 27 HTX trong tỉnh Thái Bình và 4 HTX ở tỉnh Hà Nam với diện tích gần 700ha, sản lượng thu hoạch khoảng 2000 tấn kê hạt với giá doanh nghiệp mua vào 3.000.000đ/tấn. Trước đó doanh nghiệp đã ký hợp đồng bán cho khách hàng Nhật Bản và Hàn Quốc 450USD/tấn tương đương = 5.400.000đ/tấn, do không thực hiện được hợp đồng cho nên đã gây thiệt hại cho doanh nghiệp 5.000.000.000đ lợi nhuận .
Cộng = 5.000.000.0000 đồng
b. Thiệt hại do không thực hiện được hợp đồng mua hàng hoá của HTX
– Sau khi ký hợp đồng bán hàng cho khách nước ngoài xong thì doanh nghiệp triển khai sản xuất, ứng vốn, giống, phân bón đầu tư trước cho cho các HTX với giá trị hàng trăm triệu đồng. Nhưng sau khi giám đốc bị bắt, hợp đồng không thực hiện được, doanh nghiệp không mua sản phẩm cho HTX, vì vậy HTX không thanh toán giá trị vật tư đã ứng làm cho doanh nghiệp bị thiệt hại 235.000.000 đồng.
Cộng = 235.000.000 đồng
– Sản phẩm các HTX không tiêu thụ được bị ứ đọng nhiều năm, bán tiêu thụ nội địa từ 1.500.000đ/tấn đến 2.000.000đ/tấn, hàng vạn hộ lao động bị thiệt hại, cơ cấu kinh tế ở các vùng nguyên liệu đảo lộn phải chuyển đổi sang sản xuất cây trồng kém hiệu quả, không tập trung, mất lòng tin vào chính sách của nhà nước. Các HTX bị thiệt hại hàng tỷ đồng.
c. Thiệt hại thực tế từ tài sản bị thu giữ, bị tịch thu, bị kê biên bán phát mại.
– Sau khi tôi bị bắt, các cơ quan tố tụng tỉnh Thái Bình đã tịch thu của doanh nghiệp tôi tiền
mặt = 504.000.000đ
– Kê biên bán phát mại 281.000kg hạt ý rĩ với giá trị mua vào tại thời điểm
= 1.800.000.000đ
– Kê biên bán phát mại 31.000kg hạt kê giống Nhật Bản giá trị mua vào tại thời điểm = 1.550.000.000đ.
– Kê biên bán phát mại 1 xe du lịch 4 chỗ ngồi còn mới giá trị mua vào tại thời điểm = 450.000.000đ.
Tổng cộng : 4.304.000.000 đ
Ấy thế mà toàn bộ tài sản trên bán với giá rẻ mạt chỉ thu về được với số tiền
941.000.000đ.
Các cơ quan tố tụng đã làm thiệt hại cho doanh nghiệp = 3.363.000.000đ
5. Thiệt hại do các cơ quan tố tụng bắt giam oan các bạn hàng làm ăn với doanh nghiệp.
– Khi Giám đốc doanh nghiệp bị xử lý hình sự oan, các cơ quan tố tụng lại bắt giam luân tất cả, các bạn hàng đang làm ăn với doanh nghiệp còn nợ nần tiền hàng của doanh nghiệp làm cho họ bị phá sản không có khả năng thanh toán nợ cho doanh nghiệp được nữa, làm thiệt hại cho doanh nghiệp : 2.077.000.000đồng.
Cộng : 2.077.000.000 đồng.
6. Thiệt hại do không được sử dụng khai thác tài sản.
a. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay bạn hàng 3% tháng khoản tiền cơ quan tố tụng tịch thu 504.000.000đ kể từ khi giám đốc bị bắt đến nay 108 tháng gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 1.650.000.000 đồng.
b. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay ngân hàng 1,75%/ tháng khoản tiền đầu tư cho 27 hợp tác xã trồng kê 235.000.000đ từ khi giám đốc bị bắt đến nay 108 tháng gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 444.000.000đ
c. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay ngân hàng 1,75%/ tháng khoản tiền mua lô hàng ý rĩ 281.000kg giá trị 1.800.000đ từ khi giám đốc bị bắt đến nay gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 3.403.000.000 đồng.
d. Doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng 1,75%/ tháng khoản tiền mua lô hàng kê giống trị giá 1.550.000.000đ từ khi giám đốc bị bắt đến nay gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 2.929.000.000 đồng.
e. Doanh nghiệp phải trả lãi vay ngân hàng 1,75%/tháng khoản tiền 2.077.000.000đ khách hàng nợ bị cơ quan tố tụng bắt oan, 108 tháng gây thiệt hại cho doanh nghiệp = 3.926.000.000đồng.
Tổng cộng : (1.650.000.000đ + 444.000.000đ + 3.403.000.000đ
+ 2.929.000.000đ +3.926.000.000đ) = 12.352.000.000đ
Như vậy : Tổng thiệt hại các cơ quan tố tụng gây ra cho doanh nghiệp tôi là:
1. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất = 700.000.000đ
2. Thiệt hại do không thực hiện hợp đồng nước ngoài = 5.000.000.000đ
3. Thiệt hại do không thực hiện hợp đồng với HTX = 235.000.000đ
4. Thiệt hại do bắt oan đối tác làm ăn bị phá sản = 2.077.000.000đ
5. Thiệt hại tài sản tịch thu, kê biên, bán phát mại = 3.363.000.000đ
6. Thiệt hại do không được sử dụng khai thác tài sản và lãi phát sinh phải trả nợ ngân hàng: = 12.352.000.000đ
Cộng = 23.727.000.000đ
(Hai mươi ba tỷ bẩy trăm hai mươi bẩy triệu đồng chẵn)
Đây là khoản tiền rất lớn mà Nhà nước phải bồi thường cho doanh nghiệp do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra trong khi thi hành công vụ.
Kính thưa hội nghị !
Đã gần 10 năm qua, kể từ ngày tôi bị các cơ quan tố tụng tỉnh Thái Bình khởi tố điều tra, truy tố, xét xử, bắt giam oan đối với tôi 1/5/1998 thì việc xác định cơ quan tố tụng nào phải giải quyết bồi thường thiệt hại vô cùng khó khăn.
Thứ nhất : Các cơ quan tố tụng khi đã biết vụ án bị oan rồi thì họ co cụm lại với nhau, tìm cách trốn tránh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cố tìm những từ ngữ chưa hoàn chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật để lách luật.
Thứ 2: Khi đã biết rõ phải bồi thường rồi thì họ lại đổ lỗi cho nhau, đổ lỗi cho nhận thức, cơ quan này đùn đẩy cho cơ quan tố tụng khác và cuối cùng họ đẩy trách nhiệm cho tập thể 3 ngành tố tụng.
Thứ 3: Khi đã xác định chính thức cơ quan nào phải chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường, thì họ kéo dài thời gian thương lượng, gây khó dễ cho người bị oan. “Ngày 13/6/2006 toà án nhân dân tỉnh Thái Bình chính thức tổ chức buổi trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai đối với tôi, nhưng sau đó trải qua 6 lần thương lượng kéo dài gần 1 năm nữa, ngày 8/5/2007 Toà án mới ra được biên bản thương lượng không thành”. Cơ quan giải quyết bồi thường thiếu tinh thần hợp tác họ vẫn nhìn tôi bằng con mắt là kẻ phạm tội, chánh án uỷ quyền cho 2 thẩm phán thương lượng giải quyết bồi thường, nhưng hội đồng thương lượng bị vô hiệu hoá, chẳng giải quyết được gì cả, chánh án quyết định tất cả.
Sự nhận thức của cơ quan tố tụng là đổ lỗi cho tập thể, chẳng cá nhân ai việc gì cả. Người bị oan muốn kiện đến đâu thì kiện, các cơ quan tố tụng chẳng bao giờ quan tâm tới đời sống của người bị oan và doanh nghiệp bị thiệt hại đang vô cùng khó khăn.
Kính thưa hội nghị !
– Việc chứng minh thiệt hại của doanh nghiệp không có gì khó khăn, mọi thiệt hại đều có thể tính toán bằng con số được. Cái khó của việc giải quyết bồi thường là các văn bản pháp luật ra đời còn nhiều kẽ hở, còn bất cập, chưa rõ ràng, gây thiệt hại cho người bị oan và doanh nghiệp.
Thiệt hại tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Trong khi các doanh nghiệp đều có hệ thống kế toán, chứng từ sổ sách ghi chép đầy đủ theo quy định kế toán thống kê.
– Tài sản cố định của doanh nghiệp sử dụng, có khấu hao giá trị sử dụng còn lại, nếu khi phát mại dưới mức giá trị của nó thì Nhà nước phải bồi thường giá trị tài sản và lãi vay hợp pháp tới khi giải quyết bồi thường xong.
– Tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở, nếu khi phát mại không đúng giá trị thực của nó thì Nhà nước phải bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường.
– Riêng tài sản lưu động là hàng hoá, tiền bạc bị xâm phạm, bị phát mại thì nhà nước phải bồi thường bằng giá trị mua vào bán ra theo giá thị trường tại thời điểm thu giữ, đồng thời phải bồi thường cả khoản lãi suất tiền vay hợp pháp của doanh nghiệp tới khi giải quyết bồi thường xong.
Thí dụ: Tại điểm a, khoản 2 điều 8 Nghị quyết 388 trong việc trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản bị xâm phạm, có ghi rõ: “Trong trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất, bị hư hỏng, bị huỷ hoại thì thiệt hại được xác định tương đương với giá trị tài sản bị thiệt hại tại thời điểm giải quyết bồi thường”. Như vậy đối với vụ án oan của tôi thì từ khi tôi bị bắt đến nay đã gần 10 năm nếu nhà nước giải quyết bồi thường cho tôi số tiền tài sản mà giá trị thị trường mặt hàng lúc đó tại thời điểm lại thấp hơn lúc mua cách đây gần 10 năm thì giải quyết thế nào? mà số tiền này vay ngân hàng vẫn sinh lãi, làm sao doanh nghiệp trả đủ Ngân hàng cả gốc và lãi được. Hơn nữa hiện trạng tại các bản án của Toà xét xử tuyên về phần dân sự lại ghi rằng : “Kể từ ngày có đơn thi hành án, hàng tháng … A… còn phải chịu một khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành xong theo tỷ lệ lãi nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định”. Do vậy khi giám đốc doanh nghiệp bị oan, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bị thu giữ, bị kê biên, bán phát mại thì Nhà nước phải bồi thường toàn bộ tài sản đó bằng giá trị bán ra tại thời điểm thu giữ và phải bồi thường cả khoản lãi hợp pháp của tổng giá trị tài sản tới khi giải quyết bồi thường xong. Có như vậy việc nhà nước bồi thường cho doanh nghiệp mới được công bằng.
Việc chứng minh thiệt hại do không được khai thác từ tài sản, không phải là không chứng minh được một khi giám đốc bị bắt oan thì các đối tác làm ăn của doanh nghiệp thường xù nợ không hoàn trả các khoản tài sản đã đầu tư, họ lấy lý do đổ lỗi cho doanh nghiệp. Vì vậy Nhà nước phải bồi thường cả khoản tiền này và lãi phát sinh thì doanh nghiệp mới không thiệt thòi.
Kính thưa hội nghị !
Để xây dựng luật bồi thường Nhà nước, là người bị hàm oan doanh nghiệp tôi đã bị thiệt haị rất lớn vì vậy tôi kiến nghị :
1. Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, sự hoạt động đa dạng của các thành phần kinh tế, nâng cao trách nhiệm của các công chức nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền, tôn trọng dân chủ bình đẳng của mọi người, mọi doanh nghiệp để quy định việc nhà nước phải bồi thường cho doanh nghiệp về các thiệt hại mà mình gây ra trong quá trình thi hành công vụ. Tôi đề nghị các cơ quan có thẩm quyền khẩn trương xây dựng và ban hành luật bồi thường Nhà nước.
2. Đề nghị xây dựng luật bồi thường nhà nước là phạm vi bồi thường cho doanh nghiệp toàn diện, mọi thiệt hại mà cơ quan Nhà nước gây ra, kể cả khi cán bộ, công chức, viên chức không có lỗi trong khi thi hành công vụ.
3.Đề nghị xử lý nghiêm minh người đứng đầu cơ quan gây ra thiệt hại và cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước gây ra thiệt hại trên cơ sở định lượng, định khung cụ thể. “Nếu không như vậy thì họ sẽ đổ lỗi cho tập thể hoặc đổ lỗi do nhận thức pháp luật…”.
Cuối cùng tôi chân thành cảm ơn Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi khoảng thời gian dài để nêu nên được ý kiến của mình góp phần nhỏ bé vào công việc xây dựng luật bồi thường nhà nước, trong đó có việc nhà nước bồi thường cho doanh nghiệp một khi giám đốc doanh nghiệp bị các cơ quan tố tụng khởi tố, truy tố xét xử oan..
Kính chúc hội nghị thành công tốt đẹp !
Thái Bình, ngày 17 tháng 7 năm 2007
Lương Ngọc Phi
Giám đốc C.ty TNHH Thương mại Thanh Phong
Điện thoại : 0913.019.576

TÀI LIỆU THAM KHẢO
SỰ VIỆC OAN SAI CỦA ÔNG LƯƠNG NGỌC PHI VÀ CÔNG TY TNHH HÒA BÌNH (TỈNH THÁI BÌNH)
Khởi đầu của vụ án oan
Cụng ty Khai thỏc chế biến nụng hải sản xuất nhập khẩu Hũa Bỡnh (sau đây viết tắt là Cty Hũa Bỡnh) được thành lập từ năm 1992, do ông Lương Ngọc Phi làm giám đốc đó trở thành một trong số ớt cụng ty lớn ở Thỏi Binh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Ông Lương Ngọc Phi đó thay mặt cụng ty viết dự ỏn cú tờn “Sản xuất nụng sản xuất khẩu kờ hạt – vừng đen (mè) 1996 – 2001”. Ngân hàng Công thương Thái Bỡnh đó cho Cty Hũa Bỡnh vay tổng số tiền gần 5,5 tỉ đồng.
Năm 1998, do bị một số đối tác chậm thanh toán nên Cty Hũa Bỡnh gặp khú khăn và đó phỏt sinh nợ quỏ hạn đối với Ngân hàng Công thương Thái Bỡnh số tiền 5,5 tỉ đồng.
Cụng an tỉnh Thỏi Bỡnh ra quyết định khởi tố vụ án hỡnh sự, khởi tố bị can Giỏm đốc Lương Ngọc Phi về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”.
Ngày 1/5/1998, ụng Phi bị bắt khẩn cấp.
Ngày 6/7/1998, Cơ quan CSĐT, Công an tỉnhkhởi tố ông Phi thêm tội “Trốn thuế”.
Công an đó phỏt mại hàng loạt tài sản bị kờ biờn của Cty trong thời gian khởi tố vụ ỏn gồm 20 tấn kờ giống, 1 tấn vừng, 10 tấn kờ xuất khẩu trị giỏ 1,4 tỉ đồng, nhưng chỉ được hội đồng định giá bán hơn 28 triệu đồng; lô hàng ý dĩ 290 tấn trị giỏ hơn 2 tỉ, nhưng chỉ phát mại được 300 triệu đồng; chiếc xe ôtô vừa mua xong của ông Phi trị giá 25.000USD bị bán với giá 120 triệu đồng.
Tháng 9/1999 TAND tỉnh tuyên phạt 14 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và 3 năm tù tội “Trốn thuế”. Tổng mức hỡnh phạt mà ụng Phi phải chấp hành là 17 năm tù và buộc ông phải bồi hoàn số tiền 475 triệu đồng tiền “trốn thuế”.
Ngày 26/4/2000, Tũa phỳc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đó xử phỳc thẩm vụ ỏn núi trờn. Sau khi xem xột, nghiờn cứu hồ sơ, Hội đồng xét xử đó kết luận: “Việc ụng Phi chưa trả tiền cho Nhà nước là do các nguyên nhân khách quan, các nguyên nhân này là có thật và chính đáng. Do đó, hành vi của ông Phi không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Số tiền ông Phi cũn nợ ngõn hàng, trỏch nhiệm của ụng Phi cựng với Cty Khai thỏc chế biến nụng hải sản xuất khẩu Hũa Bỡnh phải thanh toỏn, nhưng đó chỉ là trách nhiệm dân sự”. Cũn với tội “Trốn thuế”, Tũa ỏn tối cao trả hồ sơ về Tũa ỏn tỉnh Thỏi Bỡnh để “giải quyết lại vụ án từ giai đoạn điều tra”. Với tội trốn thuế, sau 2 lần Tũa tối cao trả lại hồ sơ, Công an Thái Bỡnh ra bản kết luận chớnh xỏc: “Cty Hũa Bỡnh chỉ thiếu 4,8 triệu đồng tiền thuế”. Ngày 12/12/2003 VKSND tỉnh mới quyết định đỡnh chỉ điều tra tội trốn thuế.
Ngày 30/3/2001 ông Phi được trả tự do. Ông Phi đó được minh oan sau 1.066 ngày ngồi tù và trong tỡnh trạng mất sạch tài sản.
Quá trình đòi bồi thường thiệt hại
Cuộc họp giữa 3 ngành: Cụng an, Toà ỏn, Viện Kiểm sỏt tỉnh ngày 22/11/2004 thống nhất ụng Phi khụng thuộc diện bồi thường theo Nghị quyết 388 của UB Thường vụ QH (UBTVQH). Tuy nhiên, tại cuộc họp lónh đạo liên ngành giữa Tũa ỏn NDTC, Bộ Cụng an, VKSND tối cao ngày 25/10/2005 đó thống nhất xỏc định ông Lương Ngọc Phi bị oan ở cả hai tội đó bị khởi tố điều tra nên được áp dụng Nghị quyết 388 để bồi thường thiệt hại. Nhưng do cũn cú nhiều quan điểm khác nhau về xác định cơ quan nào đứng ra giải quyết bồi thường nên theo đề nghị của Thường trực Uỷ ban Pháp luật Quốc hội ngày 13/12/2005, một cuộc họp liên ngành với sự có mặt của UB Pháp luật của Quốc hội và Ban Nội chính trung ương được tổ chức. Kết quả, cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại cho ông Lương Ngọc Phi là TAND tỉnh Thái Bình.
Mói đến ngày 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bỡnh đó chớnh thức tổ chức buổi xin lỗi doanh nhân Lương Ngọc Phi, Giám đốc Công ty Khai thác chế biến nông hải sản xuất nhập khẩu Hũa Bỡnh (Thái Bình) vỡ đó kết ỏn oan sai ụng Phi hai tội danh “Lạm dụng tớn nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” và “Trốn thuế”.
Từ mức đòi bồi thường oan sai là 18,3 tỉ đồng năm 2004, đến nay mức đũi bồi thường đó lờn đến con số hơn 23 tỉ đồng. Tất cả những con số đũi bồi thường đều được ông Phi thống kê rành mạch, có cơ sở và dựa vào Nghị quyết 388 .
Căn cứ tính thiệt hại:
Thời điểm ông Phi bị bắt Cty TNHH Hoà Bỡnh là một trong số ớt DN làm ăn hiệu quả của tỉnh Thái Bỡnh và thường xuyên tạo việc làm cho hàng nghỡn lao động. Cty Hũa Bỡnh khụng hoạt động được và lâm vào cảnh bị phá sản hoàn toàn. Hàng ngàn hộ nông dân nghèo ở Thái Bỡnh mất thu nhập từ các mặt hàng nông sản xuất khẩu đó ký với Cty TNHH Hoà Bỡnh khi ụng Phi bị bắt. Trong 1.000 ngày ụng ngồi tự oan, vợ con ụng đầu đường cuối chợ nuôi nhau, tài sản công ty và tài sản gia đỡnh bị tịch thu, phỏt mại lờn tới hàng tỷ đồng không biết đi đâu về đâu.
Số tiền bồi thường này theo ông Phi tính toán gồm:
– Thiệt hại về tinh thần;
– Tổn hại sức khoẻ;
– Thu nhập bị mất trong thời gian bị bắt giam;
– Thiệt hại về tài sản bị thu giữ, kờ biờn
– Thiệt hại không được khai thác từ tài sản.
Đến nay vẫn chưa giải quyết xong việc bồi thường.

VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN TỪ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TY TNHH HÀ VINH

NGUYỄN THẾ VINH – Giám đốc Công ty TNHH Hà Vinh-Bắc Ninh

PHẦN 1: NGUYÊN NHÂN VÀ HÀNH VI VI PHẠM CỦA HẢI QUAN
Vụ việc liên quan đến việc áp mã thuế cho Công ty TNHH Hà Vinh kéo dài từ năm 2002 đến nay qua nhiều cấp từ Chi Cục Hải Quan đến Cục Hải Quan, Viện Nghiên Cứu Hải Quan,Vụ Kiểm Tra Tính Thuế, Vụ Pháp Chế, Thanh tra Tổng Cục.
Công ty TNHH Hà Vinh đư­ợc thành lập theo Luật Doanh nghiệp, mọi hoạt động của doanh nghiệp chấp hành theo luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Năm 2000 sau khi khảo sát thị trư­ờng thấy giấy tráng sáp trong nư­ớc ch­ưa sản xuất, hoàn toàn phải nhập ngoại trong khi chính sách nhà nư­ớc khuyến khích đầu t­ư trong n­ước đồng thời chi nhánh XNK H­ưng Yên đặt dây chuyền sản xuất giấy tráng sáp ghép đầu lọc và điếu thuốc lá tại phố mới thị xã Lao Cai.
Công ty Hà Vinh sau khi xem dây chuyền sản xuất của Chi nhánh XNK H­ưng Yên, thuế nguyên liệu đã đư­ợc nhập khẩu thư­ờng xuyên qua cửa khẩu Quốc Tế Lao Cai. Để cẩn thận Công ty lấy mẫu giấy gửi Chi Cục Hải Quan Lao Cai, Chi Cục Hải Quan Lao Cai cho giám định tại Viện Giấy và Xenluylô theo đúng quy định về giám định cấp nhà nư­ớc. Sau khi có giám định Chi Cục Hải Quan Lao Cai phân tích phân loại áp mã 4805 6000 vì giấy có trọng l­ượng d­ới 150 gam/m2 cùng mã với Chi nhánh XNK H­ưng Yên đang thực hiện nhập khẩu bình thư­ờng (Chi nhánh XNK H­ưng Yên giám định mẫu giấy tại VINACONTRON ) Như­ vậy với hai kết quả giám định đều đ­ược Chi Cục Hải Quan phân tích phân loại đều áp mã 4805. Công ty tiến hành đầu tư­ dây chuyền sản xuất giấy tráng sáp công dụng làm phụ liệu cho sản xuất giấy ghép đầu lọc thuốc lá và giấy tráng bao gói chống ẩm chống dính khác…
Từ tháng 8 năm 2000 Công ty Hà Vinh chính thức nhập khẩu giấy về để sản xuất và đ­ược áp mã 48056000 thuế xuất 5% để tính thuế nhập khẩu, như­ vậy Công ty TNHH Hà Vinh chấp hành theo đúng quy trình của Tổng Cục Hải Quan quy định cho công tác xuất nhập khẩu.
Tháng 7/2001, Công ty TNHH Hà Vinh không đáp ứng yêu cầu một số cán bộ Hải quan Lao Cai và mã số thuế bắt đầu thay đổi từ 48056000 lên 48052900 thuế xuất 10% mặc dù bất hợp lý nh­ưng Công ty vẫn chấp nhận không khiếu nại và công việc nhập khẩu vẫn bình th­ường.
Tháng 6/2002, mặt hàng này lại bị chuyển sang áp mã 48139000 thuế xuất 30% để tính thuế trong khi luật thuế biểu thuế xuất nhập khẩu không hề thay đổi, Công ty TNHH Hà Vinh phản đối ngay và nhận đ­ược cách giải quyết là nếu đồng ý ký vào thông báo thuế thì cho thông quan, để có nguyên liệu cho sản xuất Công ty chúng tôi phải chấp nhận và khiếu nại, sau gần một tháng ân hạn thuế nhập khẩu và khiếu nại Công ty chúng tôi nhận đ­ợc quyết định điều chỉnh thuế từ 48139000 thuế xuất 30% sang mã 48025190 Thuế xuất 40% và không đ­ược biết nguyên nhân và nhận đ­ược trả lời là làm theo sự chỉ đạo của Tổng Cục Hải Quan, yêu cầu ngư­ời khai Hải Quan chấp hành không cho biết lý do. Ngay lập tức Công ty TNHH Hà Vinh làm đơn khiếu nại yêu cầu Chi Cục Hải Quan ra quyết định chính xác mã số thuế 48025190 là đúng cho Công ty chúng tôi lấy cơ sở khiếu nại tiếp theo đến Thanh Tra Cục Hải Quan Lao Cai , Cục Trư­ởng Cục Hải Quan Lao Cai. Trong thời gian chưa có trả lời, việc nhập hàng vẫn cứ tạm áp mã cho đến tháng 10, Công ty Hà Vinh mới nhận đư­ợc công văn trả lời của Chi Cục Hải Quan Lao Cai là căn cứ vào kết quả phân tích phân loại của Viên Nghiên Cứu Hải Quan làm cơ sở.
Để cho Viện Nghiên Cứu trả lời khách quan Công ty TNHH Hà Vinh tạm dừng nhập khẩu sử dụng Công ty TNHH Thuận Phát là Công ty tiêu thụ đứng ra nhập khẩu cho Công ty TNHH Hà Vinh theo tờ khai số 3835 ngày 25/11/2002 và ngay lập tức bi lập biên bản giữ hàng không cho thông quan đến ngày 4/12/2002 ra quýêt định giữ hàng hoá, cả biên bản của Chi Cục Hải Quan và Quyết định của Cục Hải quan đều không hẹn ngày giải quyết, sau đó Công ty Thuận Phát đ­ược Viện Kiểm sát tỉnh Lao Cai mời, Công ty Thuận Phát phải làm đơn đề nghi giải toả hàng. Viện Kiểm sát tỉnh Lao Cai đồng ý nh­ng Phòng tham mưu chống buôn lậu Cục Hải Quan Lao Cai đồng ý trả hàng với điều kiện phải đặt cọc tiền phạt là: 57.600.000đ. Công ty cũng đành phải nộp để lấy hàng cho sản xuất. Trong khi chư­a có quyết định mã số thuế chính xác, Cục Hải Quan ra quyết định tạm giữ hàng, xử phạt hoàn toàn tùy tiện trái pháp luật cho đến nay số tiền đặt cọc không xử lý và cũng không trả lại.
Thấy việc nhập khẩu qua đơn vị khác không ổn Công ty Hà Vinh lại tiếp tục nhập trên tờ khai Công ty tự khai mã 48056000 kiểm hoá Hải Quan kết luận mã 48139000 bộ phận tính thuế áp mã 48025190. Nh­ vậy chỉ có 1 loại hàng mà trên tờ khai áp 3 mã khác nhau với những mã đều do Chi Cục Hải Quan Cửa khẩu Lao Cai ban hành.
Ngày 8/3 Cục Hải Quan Lao Cai làm việc Công ty Hà Vinh ban lãnh đạo Cục Hải Quan Lao Cai không thừa nhận việc áp mã 48025190 là đúng biểu thuế nhập khẩu hiện hành lấy lý do làm theo chỉ đạo của Tổng Cục Hải Quan.
Ngày 3/7/2003 Công ty TNHH Hà Vinh đư­ợc làm việc trực tiếp với một số cán bộ lãnh đạo của Tổng cục Hải quan[1]. Tại buổi làm việc này chưa có câu trả lời việc áp mã thuế 48025190 là đúng hay không đúng với chính sách thuế, biểu thuế XNK hiện hành.
Từ khi xảy ra sự việc thay đổi mã số thuế nói trên, doanh nghiệp bị ra quyết định giữ hàng không cho thông quan, xử phạt vi phạt hành chính, thế chấp tiền phạt mới cho thông quan hàng hoá. Doanh nghiệp khiếu nại kéo dài đến 15 tháng nhưng không nhận đư­ợc bất cứ quyết định giải quyết khiếu nại từ cấp Chi Cục, Thanh Tra Cục, Cục Hải Quan, Trung Tâm Phân Tích Phân Loại, Vụ Kiểm Tra Tính Thuế, Vụ Pháp Chế, Thanh Tra Tổng Cục, Tổng Cục Hải Quan.
Quá trình khiếu nại, Công ty đã có 4 lần đối thoại với các cơ quan chức năng
Lần 1: ngày 08/3/2003 tại Cục Hải quan Lao Cai
Lần 2: ngày 30/5/2003 tại trung tâm phân tích phân loại miền Bắc có sự chứng kiến của Thanh tra tổng cục Hải quan.
Lần 3: ngày 10/6/2003, Hội thảo chuyên ngành do Trung tâm phân tích, phân loại Miền Bắc và các ban ngành trong và ngoài Tổng cục Hải quan.
Lần 4: ngày 3/7/2003 Tổng Cục Phó Lê Mạnh Hùng, Đ/c Chuẩn – Chánh Thanh tra, Đ/c X­ương Phó Thanh tra, Đ/c Xuân Giám đốc Trung tâm phân tích phân loại Miền Bắc, Đ/c Hồng Vụ phó Vụ Pháp chế, Đ/c Tâm Vụ Tr­ưởng kiểm tra tính thuế Tổng cục Hải quan.
Ngày 26-9-2003 Thanh tra Tổng cục Hải quan trả lời Công ty và báo Đầu tư­ theo công văn gửi khẳng định do Hải quan không tuân thủ các quy định về pháp luật, huỷ các quyết định xử phạt và biên bản vi phạm hành chính và h­ướng dẫn cụ thể theo mặt hàng và thuế nhập khẩu.
Ngày 3 tháng 10 năm 2003 theo biên bản Công ty làm việc với Cục Hải quan Lao Cai theo chỉ đạo của Thanh tra Tổng cục đều thống nhất huỷ bỏ quyết định xử phạt và biên bản vi phạm hành chính theo kết luận của thanh tra, như­ vậy về thủ tục hành chính doanh nghiệp không vi phạm Công ty yêu cầu hoàn trả tiền thuế tiền phạt tiền thuế phạt đặt cọc hải quan Lao Cai hoãn xem lại.
Ngày 6-2-2004, theo biên bản Công ty khiếu nại nhiều lần hải quan Lao Cai mới làm việc với Công ty. Kết qủa thống nhất phần trả tiền phạt, tiền thuế phạt đặt coc, tiền bồi thư­ờng các khoản trên còn tiền thuế hải quan không chấp nhân chờ ý kiến trên.
Ngày 16-4-2004 Cục Hải quan Lao Cai lại thay đổi sang một mã thuế nhập khẩu 4823 với tên hàng giống các lô hàng mà công ty đang tranh chấp mã số thuế, nh­ng thực tế tại mã số thuế nhập khẩu mới không đúng với tên hàng công ty nhập từ tr­ước tới nay và bắt công ty phải chấp nhận và phạt hành chính bất chấp sự phản đối và khiếu nại của Công ty.
Năm 2005 khi Pháp lệnh giám định tư pháp và Nghị định hư­ớng dẫn thi hành Pháp lệnh giám định t­ư pháp có hiệu lực, Công ty Hà Vinh khởi kiện ra Toà hành chính và đã đư­ợc xử nhiều lần. Toà án và Hải quan đi tr­ưng cầu đơn vị không có chức năng giám định t­ư pháp và đây cũng là nguyên nhân b­ước sang một tên hàng mới không đúng nội dung theo quyết định xử phạt và từ đó phần thắng luôn thuộc về hải quan phần thua thuộc về doanh nghiệp. Tại thời điểm này Công ty Hà Vinh mất hết niềm tin vào Luật khiếu nại, Tố cáo vì khi chuyển Toà, Hải quan lại thông đồng với toà án “hành” doanh nghiệp.
Kết luận tại nhiều kỳ đối thoại trực tiếp không một cấp nào, lãnh đạo nào khẳng định việc áp mã số thuế xuất nhập khẩu đang áp đặt cho 3 Công ty Hà Vinh, Công ty Thuận Phát, Công ty H­ưng Phát là đúng chính sách và Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành, đồng thời không một lãnh đạo nào khẳng định việc xử lý của Cục Hải quan Lao Cai là đúng Luật Hải quan, Nghị định 101, Luật khiếu nại, tố cáo là đúng luật pháp và pháp lệnh cán bộ, công chức.
Luật khiếu nại, tố cáo đã đư­ợc Quốc Hội n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành số 09/1998/QH 10 ngày 02/12/1998 trong đó các Điều từ 34 đến 38 của Luật ghi rõ thời hạn giải quyết khiếu nại, đến nay việc giải quyết khiếu nại của Tổng Cục Hải quan đã quá thời hạn theo luật định.
Kính th­ưa hội nghị.
Cùng một mặt hàng giấy nguyên liệu chúng tôi nhập về để sản xuất mà bị áp thuế như­ sau:
Năm 2000 thuế 5%
Tháng7 /2001 lên thuế nhập khẩu 10%
Tháng 6/2002 lên thuế nhập khẩu 30% và sau đó lên 40%
Tháng 10-2003 xuống 20% với mã số thuế mới không đúng với tên hàng theo biểu thuế
Đầu năm 2005 khi khởi kiện tại Toà, lập tức tên hàng lại đư­ợc thay đổi theo đúng với biểu thuế hiện hành.
Năm 2007 khi Công ty tiếp tục khiếu nại và đối thoại tại Bộ Tài chính và ngay lập tức tên hàng lại thay đổi về đúng với giấy nguyên liệu [Hải quan kết luận giấy làm nền sản xuất giấy gói đầu lọc thuốc lá] và ng­ược lại nhiều lần doạ làm biên bản nh­ưng khi doanh nghiệp quy trách nhiệm thì Hải quan không phản hồi.
Trong khi theo Luật thuế xuất nhập khẩu, biểu thuế xuất nhập khẩu không hề thay đổi dẫn đến sự việc khiếu nại kéo dài gây ảnh hư­ởng đến sản xuất của Công ty Hà Vinh đồng thời làm mất uy tín của ngành Hải quan. Đến nay 5 năm 1 tháng, Viện Nghiên cứu Hải quan là người xây dựng các mã thuế cũng không thừa nhận là mã thuế nào đúng chính sách thuế xuất nhập khẩu hiện hành trong khi doanh nghiệp vẫn phải chấp hành, xử phạt một cách trái pháp luật do một số công chức Hải quan không làm đúng pháp luật.
Khi có các văn bản của Tổng cục, Thanh tra Hải quan đến nay ch­ưa trả hoàn toàn và mới trả một phần trong số thuế được trừ và Hải quan không trừ ngay. Trong khi doanh nghiệp nộp thuế chậm thì bị phạt nhưng Hải quan hoàn thuế chậm thì lại không bị chế tài gì.
Trên các biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt, bản án của Toà không chứng minh đ­ược doanh nghiệp vi phạm luật Hải quan, như­ng vẫn bị phạt và Toà án vẫn bảo vệ Hải quan.
– Nhữ­ng sai sót của Hải quan và Toà án: Vi phạm luật hải quan, nghị định, quy chế, quy trình, Pháp lệnh giám định tư­ pháp, Nghị quyết toà án nhân dân tối cao.
– Về thiệt hại: Do việc ách tắc gây cho doanh nghiệp thiệt hai nhiều về mất cơ hội kinh doanh, mất thị trường, mất uy tín doanh nghiệp, thiệt hại vì phải trả lãi suất ngân hàng, chi phí đi lại, bảo quản hàng hoá, phạt hợp đồng.
-Quá trình giải quyết thniệt hại: Công ty đề nghị nhiều lần họ không giải quyết vì ho biết sai nh­ưng do trình độ thấp, cấp trên chỉ đạo sao nghe vậy không giám trái lệnh. Doanh nghiệp luôn luôn yêu cầu bồi th­ường với số tiền thiệt hại và mong muốn qua hội nghị này đề nghị các cơ quan hữu quan có biện pháp để doanh nghiệp đ­ược bồi th­ường thoả đáng.
Kiến nghị:

Việc xây dựng Luật Bồi thư­ờng nhà n­ước đối với doanh nghiệp là hoàn toàn cấp bách và cần thiết cho toàn dân và các doanh nghiệp. Khi xây dự­ng phải mang tính chất công bằng ví dụ nh­ư sau. Theo luật thuế thì khi doanh nghiệp nợ thuế bị phạt chậm ng­ược lại khi tiền bồi thư­ờng, và các khoản tiền thu sai phải trả cũng phải tính phạt chậm theo luật thuế. Đề nghị phải có tổ chức giám sát vi phạm bồi thư­ờng độc lập nếu không khi các cơ quan nhà n­ước sai họ không nhận ngay mà Toà lại đứng về phía cơ quan nhà nước thì người dân và doanh nghiệp biết kêu ai.
Thay mặt Công ty Hà Vinh, Công ty Thuận Phát, Công ty H­ưng Phát
Chúc hội nghị lời chúc sức khoẻ .
Xin Chân thành Cảm ơn.
CÔNG TY HÀ VINH BẮC NINH
————————————————-
TÀI LIỆU THAM KHẢO:

SỰ VIỆC CỦA CÔNG TY TNHH HÀ VINH (ĐÌNH BẢNG BẮC NINH)


Phóng sự-Điều tra
Nhập nhằng áp mã thuế
(Nguồn: Báo Đầu tư)

Kỳ 1
Một mặt hàng do một doanh nghiệp (DN) nhập về qua chỉ một cửa khẩu, nhưng trong vòng chưa đầy 4 năm đã bị hải quan tỉnh Lào Cai áp tới 5 mã số thuế khác nhau và tương đương với nó là 5 mức thuế suất. Doanh nghiệp (DN) càng thắc mắc, thuế suất nhập khẩu càng… tăng lên và các cơ quan đầu ngành của Tổng cục Hải quan đã phải vào cuộc để tháo gỡ. Nhưng điều này lại khiến cho sự việc rắc rối thêm. Chủ DN đã không hề ngoa khi nói rằng “đây là vụ việc tiêu biểu cho tình trạng một số cán bộ hải quan lợi dụng chức quyền sách nhiễu DN”.

Đầu năm 2000, khi thấy giấy tráng sáp vàng đầu lọc thuốc lá là sản phẩm trong nước chưa sản xuất được, phải nhập ngoại, ông Nguyễn Tiến Vinh, một doanh nhân ở tỉnh Bắc Ninh đã quyết định thành lập Công ty TNHH Hà Vinh (DN Hà Vinh) để gia công sản xuất loại giấy sáp vàng đầu lọc thuốc lá từ nguồn giấy nguyên liệu nhập khẩu của Trung Quốc.
Trước khi chính thức bắt tay vào sản xuất, ông Vinh đã lấy mẫu giấy nguyên liệu nhập khẩu gửi Hải quan Cửa khẩu Lào Cai, còn gọi là Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai để cơ quan này chuyển đi giám định tại Viện Giấy và Xenluylô theo đúng quy định về giám định cấp nhà nước. Sau khi có kết quả giám định, Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai phân tích phân loại áp mã 48056000 với thuế suất thuế nhập khẩu là 5%.
Vậy là từ tháng 8 năm 2000, Công ty Hà Vinh bắt đầu nhập khẩu giấy nguyên liệu về để sản xuất. Mọi chuyện diễn ra ổn thoả cho cho đến tháng 7 năm 2001 – thời điểm mà Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai có sự thay đổi ở cấp lãnh đạo. Khi đó, ông Nguyễn Trung Tĩnh được Cục Hải quan Lào Cai điều về làm Chi cục trưởng Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai. Theo ông Vinh, những sách nhiễu, gây khó dễ cho DN Hà Vinh được ông Tĩnh thực hiện qua việc thay đổi mã số thuế đối với mặt hàng giấy nguyên liệu nhập về, từ 48056000 thành 48052900. Điều này có nghĩa là DN Hà Vinh đã bị nâng thuế nhập khẩu đánh vào mặt hàng giấy nguyên liệu nhập về thành 10%, thay vì mức 5% như lúc đầu.
“Khi đó, tuy nhận thấy việc thay đổi mã số thuế như nói trên là bất hợp lý, nhưng vì mỗi tấn giấy nhập về thuế chỉ tăng thêm hơn 2 triệu đồng và do không muốn mất thời gian, tiền bạc vào việc khiếu nại, khiếu kiện nên DN đành chấp nhận”, ông Vinh giải thích. Nhưng sự nín nhịn này chẳng giúp Công ty TNHH Hà Vinh yên ổn. Đầu tháng 6 năm 2002, khi ông Tĩnh được thăng chức Cục phó Cục Hải quan Lào Cai thì cũng là lúc mức thuế đánh vào mặt hàng giấy nguyên liệu nhập khẩu của DN Hà Vinh nhảy vọt từ 10% lên 30%, trong khi biểu thuế suất nhập khẩu không hề có sự thay đổi. Cơ sở của việc tăng thuế này là sự chuyển đổi một lần nữa mã số thuế của các lô hàng giấy nguyên liệu mà Công ty Hà Vinh nhập về từ 48052900 sang thành 48139000.
Sự tăng vọt số thuế phải nộp đã khiến cho ông chủ Công ty Hà Vinh không thể cam chịu được và đã khiếu nại ngay sau khi nhận được thông báo về mức thuế của lô hàng. Tuy nhiên, 1 tháng sau đó, thay vì nhận được văn bản giải thích từ phía hải quan Lào Cai, Công ty Hà Vinh lại nhận được Quyết định điều chỉnh thuế suất lô hàng nhập về từ 30% (theo mã số thuế 48139000) lên 40% (theo mã số thuế 48025190). Bị “sốc” trước quyết định này, ông Vinh tiếp tục làm đơn khiếu nại yêu cầu Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai có quyết định chính thức xác nhận việc áp mã số thuế 48025190 với với suất 40% cho lô hàng giấy nguyên liệu của Công ty Hà Vinh nhập về là đúng chính sách thuế hiện hành để Công ty có cơ sở khiếu nại tiếp lên Thanh tra và Cục trưởng Cục Hải quan Lào Cai… Thế nhưng phải tới 4 tháng sau, Công ty Hà Vinh mới nhận được văn bản trả lời của cơ quan hải quan, trong đó giải thích việc áp mã số thuế nói trên (48025190) là “căn cứ vào kết quả phân tích, phân loại của Viện Nghiên cứu khoa học hải quan (Tổng cục Hải quan), nên Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai không thể ra được quyết định chính thức xác nhận việc áp mã số thuế cho lô hàng của DN”.
Tuỳ tiện ra quyết định phạt DN?
Nhận thấy việc “đối đầu” với hải quan Lào Cai không giải quyết được triệt để vấn đề, đồng thời cũng để chờ Viện Nghiên cứu Hải quan có câu trả lời khách quan đối với mẫu giấy của Công ty nhập về, DN Hà Vinh đã tạm dừng nhập khẩu. Thế nhưng, do yêu cầu sản xuất, công ăn việc làm của người lao động và đảm bảo hợp đồng giao hàng cho khách, vào cuối tháng 11 năm 2002, DN Hà Vinh đã thông qua Công ty TNHH Thuận Phát (là công ty tiêu thụ sản phẩm của DN Hà Vinh) để nhập khẩu hộ giấy nguyên liệu về. Ngay lập tức, lô hàng nhập về đã bị hải quan Lào Cai lập biên bản và ra quyết định tạm giữ, không cho thông quan. Theo ông Vinh, cả Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai lẫn Cục Hải quan Lào Cai trong biên bản và quyết định giữ hàng hoá đều không hẹn ngày giải quyết. Quá bức xúc. Công ty đã làm đơn gửi Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Lào Cai nhờ can thiệp. Khi đó, Phòng Tham mưu Chống buôn lậu Cục Hải quan Lào Cai mới đồng ý “tạm tha” cho DN với điều kiện phải nộp phạt thêm một lần tiền thuế là 57,6 triệu đồng. Không còn cách nào khác, Công ty Thuận Phát đã phải nộp tiền phạt để lấy hàng về sản xuất.Ngoài ra, do chưa một cơ quan thẩm quyền nào thuộc Bộ Tài chính hay Tổng cục Hải quan có quyết định chính thức xác nhận các lô giấy nguyên liệu mà Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát… nhập về thuộc mã số thuế nào, nên trong suốt thời gian qua, trong tờ khai hải quan DN cứ kê khai một kiểu, bộ phận kiểm hoá Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai kết luận một kiểu và bộ phận tính thuế XNK của Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai lại tính thuế theo kiểu khác. Hậu quả là DN lãnh đủ bằng những quyết định xử phạt hành chính của hải quan Lào Cai cho mỗi lô hàng nhập về.
Cảm thấy quá oan ức, Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát đã gửi đơn khiếu nại, tố cáo tới Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan nhờ can thiệp. Khi đó, Thanh tra Tổng cục Hải quan đã thành lập Đoàn Thanh tra sự việc nêu trên. Đến cuối tháng 9 năm 2003, Đoàn Thanh tra kết luận rằng, việc các đơn vị nghiệp vụ thuộc Cục Hải quan tỉnh Lào Cai ra các quyết định xử phạt hành chính cũng như bắt DN phải đặt cọc tiền phạt như trên là “chưa tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về hải quan” và yêu cầu Cục Hải quan tỉnh Lào Cai phải huỷ các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với DN Hà Vinh và Công ty Thuận Phát…
Căn cứ vào Quyết định nói trên của Đoàn Thanh tra, Hải quan Lào Cai đã làm việc với đại diện Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát, thông báo sẽ huỷ các quyết định xử phạt hành chính trái pháp luật đã ban hành, đồng thời hoàn lại các khoản tiền phạt mà DN đã nộp. Nhưng đã hơn 1 năm trôi qua kể từ khi có các cuộc gặp gỡ đôi bên, theo đại diện của DN Hà Vinh và Thuận Phát, hiện họ vẫn chưa nhận được quyết định cũng như khoản bồi hoàn tiền phạt mà mình đã nộp.

Kỳ 2:
Báo Đầu tư số 132 ra ngày 3/ 11/2003 đã phản ánh việc Công ty TNHH Hà Vinh (Bắc Ninh) bị một số cán bộ Hải quan Lào Cai sách nhiễu, gây khó khăn trong việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất. Để giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH Hà Vinh trong việc áp mã thuế nhập khẩu giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu, Viện Nghiên cứu khoa học Hải quan, Vụ Kiểm tra thu thuế Xuất nhập khẩu, Vụ Pháp chế, Thanh tra Tổng cục Hải quan… đã vào cuộc. Thế nhưng, không hiểu sao các cơ quan chuyên môn của Tổng cục Hải quan lại làm cho vấn đề phức tạp thêm.
Cấp dưới đổ cho cấp trên.
Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Nguyễn Quang Hùng, Trưởng phòng Nghiệp vụ Cục Hải quan Lào Cai thừa nhận, trong vòng 4 năm mà thay đổi tới 5 mã số thuế áp cho một loại hàng hoá mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về qua cửa khẩu Lào Cai là “điều không bình thường và không chuẩn”. Tuy nhiên, ông Hùng không thừa nhận lỗi thuộc về Cục Hải quan Lào Cai mà đổ cho tại vì phải thực hiện theo “chỉ đạo” của Tổng cục Hải quan.“Từ năm 2002, thực hiện Luật Hải quan, chúng tôi đã lấy mẫu giấy nguyên liệu nhập khẩu của Công ty TNHH Hà Vinh gửi về Tổng cục Hải quan để phân tích, phân loại. Sau đó, Tổng cục Hải quan đã có tới gần 10 văn bản yêu cầu chúng tôi thu thuế nhập khẩu 40%, theo mã số thuế 4802.51.90 đối với những lô hàng này”, ông Hùng giải thích. Vẫn theo ông Hùng, một số cán bộ Hải quan Lào Cai nhận thấy có vấn đề không ổn từ những văn bản này, nhưng vì là cơ quan cấp dưới nên họ buộc phải thực hiện theo. “Tổng cục Hải quan đã có văn bản chỉ đạo trực tiếp, cụ thể, tại chỗ nên không có lý gì Cục Hải quan Lào Cai lại bác bỏ, không thực hiện theo”, ông Hùng phân bua. Những văn bản “chỉ đạo” mà ông Hùng nói đến ở trên là của Cục Kiểm tra thu thuế Xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu Hải quan…
Tất nhiên là Công ty TNHH Hà Vinh đã không chấp nhận cách áp thuế như vậy và tiếp tục khiếu nại lên Bộ Tài chính. Phải mất gần một năm thực hiện áp mã thuế các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh theo thuế suất 40%, vào trung tuần tháng 9 năm 2003, Tổng cục Hải quan mới có Công văn số 4494/TCHQ – KTTT do Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Lê Mạnh Hùng ký, trong đó chỉ đạo Cục Hải quan Lào Cai tiến hành áp thuế nhập khẩu đối với các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh nhập về trước ngày 1 tháng 9 năm 2003, theo thuế suất 30% (tương ứng với mã số thuế 4823.90.90). Còn những lô hàng nhập về sau ngày 1 tháng 9 năm 2003 thì áp thuế suất 20% (tương ứng với mã số thuế 4823.90.91).
Công văn 4494 của Tổng cục Hải quan đã chính thức phủ nhận những văn bản do các bộ phận nghiệp vụ của Tổng cục ký trước đó. Cũng theo tinh thần Công văn này thì Cục Hải quan Lào Cai phải tiến hành thoả thuận hoàn trả và đền bù thiệt hại cho doanh nghiệp, do thu vượt ít nhất là 10% thuế nhập khẩu các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh . Tuy nhiên, những bất cập của Tổng cục Hải quan trong việc chỉ đạo thu thuế đối với Công ty TNHH Hà Vinh đến đây chưa phải là đã hết.
Càng “chỉ đạo” càng sai.

Sau khi có Văn bản số 4494 của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Lào Cai đã tổ chức cuộc gặp với đại diện Công ty TNHH Hà Vinh để huỷ bỏ các Quyết định xử phạt Công ty TNHH Hà Vinh và thoả thuận bồi thường thiệt hại. Nhưng tại buổi làm việc này, Cục Hải quan Lào Cai đã nhận ra các lô hàng mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về trước đó thuộc loại giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu nên không thể tính thuế nhập khẩu của loại giấy tráng sáp vàng (loại giấy thành phẩm) mà Tổng cục Hải quan đã hướng dẫn trong Công văn số 4494. Do vậy, Cục Hải quan Lào Cai phải xin khất doanh nghiệp để “tiếp tục xin ý kiến chỉ đạo cụ thể hơn của Tổng cục Hải quan để thực hiện trong thời gian sớm nhất”.
Tuy nhiên, cuộc gặp này cũng đã giúp Cục Hải quan Lào Cai và Công ty TNHH Hà Vinh đạt được thống nhất là sẽ bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp do các quyết định xử phạt và lập biên bản vi phạm hành chính của Cục Hải quan Lào Cai đối với Công ty TNHH Hà Vinh. Trường hợp hai bên không thoả thuận được mức bồi thường thì đưa vụ việc ra phân xử tại Toà hành chính.Khoảng nửa tháng sau khi ban hành Công văn số 4494, vào ngày 29 tháng 9 năm 2003, một Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan khác là ông Nguyễn Ngọc Túc đã ký văn bản “đính chính” Công văn này. Theo văn bản “đính chính” thì nguyên liệu giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về cũng áp mã số thuế như giấy thành phẩm tráng sáp vàng. Điều này đã đi ngược lại chủ trương của Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính là bảo hộ sản xuất trong nước thông qua việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá thành phẩm cao hơn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Việc giải quyết khiếu kiện của Công ty TNHH Hà Vinh vì thế càng thêm rắc rối và tiếp tục kéo dài.
“Nếu tôi là lãnh đạo Tổng cục Hải quan thì để giải quyết dứt điểm vụ việc trên, tôi chỉ cần ban hành một văn bản áp thuế suất nhập khẩu đối với mặt hàng giấy nguyên liệu của doanh nghiệp nhập về thấp hơn thuế suất nhập khẩu giấy thành phẩm. Đây cũng chính là điều mà khung bảng thuế nhập khẩu các loại hàng hoá khác đang thể hiện”, một cán bộ Hải quan Lào Cai nói. Một số cán bộ Hải quan Lào Cai đã mang thắc mắc này tới hỏi các chuyên gia của Hải quan Nhật Bản đang công tác tại Tổ chức Hải quan Thế giới. Các chuyên gia Nhật Bản đã trả lời : Tổng cục Hải quan Việt Nam đã xếp mặt hàng giấy nguyên liệu vào nhóm mặt hàng giấy thành phẩm (mã số 4823) là không phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trong thời gian chờ đợi hướng dẫn cụ thể của Tổng cục Hải quan, Công ty TNHH Hà Vinh vẫn bảo lưu mã số thuế đã khai từ ngày đầu nhập khẩu (với thuế suất nhập khẩu chỉ là 5%), còn Hải quan Cửa khẩu Lào Cai thì buộc phải theo “chỉ đạo” cũ là áp thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng giấy nguyên liệu bằng mặt hàng giấy thành phẩm là 20%. Vì sự khập khiễng này mà Hải quan Cửa khẩu Lào Cai vẫn lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Hà Vinh, nhưng không dám ra quyết định xử phạt theo Luật Hải quan, vì sợ khi có kết luận chính thức lại phải làm thủ tục bồi hoàn cho doanh nghiệp. Tất nhiên, sự dai dẳng khiếu kiện của Công ty TNHH Hà Vinh đã làm lực lượng hải quan ở Lào Cai khó chịu và không ít lần họ đã dùng các thủ tục hành chính để gây khó cho Công ty TNHH Hà Vinh. Chẳng hạn, lần nhập khẩu 100 tấn giấy nguyên liệu của Công ty TNHH Hà Vinh vào ngày 30 tháng 10 năm 2004, ông Nguyễn Hải Phú, Cán bộ thuộc Đội Nghiệp vụ Hải quan Cửa khẩu Lào Cai từ chối cho làm thủ tục với yêu cầu doanh nghiệp phải giải trình bổ sung thêm vì sao trên các loại giấy tờ trong bộ hồ sơ nhập khẩu như C/O, Invoice, Packing List không thể hiện màu của giấy mà trong tờ khai hải quan doanh nghiệp lại ghi “giấy có màu vàng”. Rất may là sau đó lãnh đạo Hải quan Cửa khẩu Lào Cai đã bỏ qua hành vi này, cho hàng của doanh nghiệp thông quan.
Hải quan sợ ra Quyết định?
Cho đến nay, Cục Hải quan Lào Cai và Công ty TNHH Hà Vinh vẫn chưa thoả thuận được mức tiền đền bù thiệt hại do việc thu thuế nhập khẩu không đúng và xử phạt oan Công ty TNHH Hà Vinh. Thế nhưng, Công ty TNHH Hà Vinh hiện tại không thể kiện Cục Hải quan Lào Cai ra Toà hành chính vì tất cả những việc làm của Cục Hải quan Lào Cai đều tuân thủ công văn chỉ đạo nội bộ của Tổng cục Hải quan gửi xuống. Mà những công văn này khi đưa vào hồ sơ xét xử lại không có giá trị về mặt pháp lý.
Do vậy, ông Nguyễn Tiến Vinh, Giám đốc Công ty TNHH Hà Vinh mới đây đã gửi đơn đến ông Vũ Ngọc Anh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, đề nghị ông Vũ Ngọc Anh khi trả lời đơn khiếu nại của doanh nghiệp phải ra Quyết định giải quyết khiếu nại để Công ty TNHH Hà Vinh có cơ sở kiện Cục Hải quan Lào Cai ra Toà hành chính. Được biết, trước đó ông Vũ Ngọc Anh đã ký Công văn hướng dẫn số 1684/TCHQ-GSQL, ngày 16 tháng 4 năm 2004 về việc phân loại áp mã số thuế nhập khẩu mặt hàng giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu toàn bộ để làm cơ sở cho Cục Hải quan Lào Cai tiến hành áp mã, thu thuế nhập khẩu các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh.
Theo ông Vinh, việc ông Vũ Ngọc Anh chỉ ra Công văn giải quyết khiếu nại cho Công ty TNHH Hà Vinh là không đúng với quy định của Luật Khiếu nại tố cáo. “Chúng tôi muốn ông Vũ Ngọc Anh sớm có Quyết định giải quyết khiếu nại và gửi trực tiếp cho Công ty TNHH Hà Vinh”, ông Vinh nói.
Vẫn theo ông Vinh, sở dĩ ông muốn nhờ Toà hành chính xét xử vụ việc vì ngoài việc phải nộp oan tiền thuế, tiền phạt vi phạm hành chính…Công ty TNHH Hà Vinh, thời gian qua, còn phải chi phí không nhỏ cho việc đi lại, giải quyết các lô hàng bị tạm giữ không đúng pháp luật tại Cửa khẩu Lào Cai. “Khi Công ty tôi nợ thuế chỉ một ngày là họ (Cục Hải quan Lào Cai) đã tính ngay lãi suất phạt chậm nộp thì để công bằng, họ cũng phải trả tôi lãi suất tiền thu thuế sai, phạt hành chính không đúng”, ông Vinh bức xúc nói.
Trưởng phòng Nghiệp vụ Cục Hải quan Lào Cai Nguyễn Quang Hùng thừa nhận, các khoản tiền phạt vi phạm hành chính (không đúng pháp luật) của Công ty TNHH Hà Vinh đang nằm trong tài khoản tạm giữ của Cục Hải quan Lào Cai, có thể hoàn trả ngay cho doanh nghiệp. Nhưng các khoản khác (tiền chênh lệch thuế suất thuế nhập khẩu, lãi suất…), đã nộp vào ngân sách, phải hoàn trả cho doanh nghiệp thì Cục Hải quan Lào Cai không biết sẽ lấy từ nguồn nào. ng

[1] Đ/c Lê Văn Hùng Phó Tổng Cục tr­ưởng Tổng cục Hải quan, Đ/c Xuân Giám đốc Trung Tâm Phân tích phân loại Miền Bắc- Tổng Cục Hải quan TCHQ, Đ/c Tâm- Vụ Trưởng Vụ kiểm tra tính thuế- Tổng cụo Hải quan, Đ/c Hồng- Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế- Tổng cục Hải quan, Đ/c Chuẩn- ChánhThanh Tra, Đ/c Xư­ơng-Phó Chánh Thanh Tra TCHQ, Đ/c C­ường cán bộ phân tích phân loại và là tác giả của mã thuế 48025190.

=====================================

SOURCE: WWW.VCCI.COM.VN