BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN: LUẬT PHÁP KHÓ THỰC THI

Nguyễn Văn Mạnh – Hội viên CLB Pháp chế DN

BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP ONLINE

===================

Để triển khai thi hành công tác bán đấu giá tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự, ngày 18/1/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP. Bộ Tư pháp đã có Thông tư hướng dẫn số 03/2005/TT-BTP ngày 4/5/2005, song thực tiễn việc tổ chức thi hành bán đấu giá tài sản còn những vướng mắc, bất cập.

Trước áp lực của hội nhập, hệ thống pháp luật của VN luôn được sửa đổi để phù hợp với thực tiễn, tương thích với các điều ước và thông lệ quốc tế. Khi các bộ luật và luật chuyên ngành thay đổi, nảy sinh một bất cập là việc xây dựng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành không theo kịp tiến độ, làm cho hiệu lực thi hành của các văn bản luật và văn bản dưới luật không thống nhất, không tạo được cơ sở pháp lý cho việc vận dụng thực thi pháp luật, gây khó khăn ách tắc cho các DN và người dân.

Văn bản quy phạm chưa thống nhất

Sau khi Bộ Luật Dân sự có hiệu lực từ ngày 1/7/1996, cho đến ngày 19/12/1996 Chính phủ mới ban hành Nghị định số 86/CP hướng dẫn thi hành điều 454 về quy chế bán đấu giá tài sản. Sau đó gần 10 năm, ngày 18/1/2005 Chính phủ mới ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản thay thế Nghị định số 86-CP ngày 19/12/1996. Trong khi đó Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 7 đã thông qua Bộ Luật Dân sự mới vào ngày 14/6/2005 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2006).


“Từ năm 2003 đến nay toàn thành phố Hà Nội đã tổ chức các phiên đấu giá quyền sử dụng đất với tổng số tiền theo kết quả đấu giá là 3.666 tỷ đồng nhưng cho đến nay mới chỉ thu được 2.355 tỷ đồng. Hiện còn 1.310 tỷ chưa thu được, năm 2004 nợ đọng 1.186 tỷ, năm 2005 là 177,067 tỷ. Quận Tây Hồ 8 tháng đầu năm 2006 diện tích đấu giá đạt 70%, tương đương 299 tỷ đồng nhưng thực tế chỉ thu được 67 tỷ đồng”.

(Đất để hoang, tiền nợ đọng – Báo Lao động ngày 10/8/2006).


Tại Điểm 4 Nghị quyết số 45/2005/QH11 về thi hành Bộ Luật Dân sự đã ghi rõ: “Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình có trách nhiệm: a) Tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về dân sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc đề nghị Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội huỷ bỏ sửa đổi bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ Luật Dân sự, bảo đảm hiệu lực của Bộ Luật Dân sự từ ngày 1/1/2006”.

Đã gần một năm trôi qua biết bao sự kiện nảy sinh trong các quan hệ dân sự có liên quan đến bán đấu giá tài sản, song các cơ quan chức năng vẫn chưa soạn thảo được Nghị định về bán đấu giá tài sản phù hợp với Bộ Luật Dân sự mới. Một minh chứng cụ thể là những điều “chênh nhau” trong khoản 3 điều 455 thuộc Bộ Luật Dân sự cũ và khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới.

Tại khoản 3 điều 455 (luật cũ) đã hạn chế hành vi mua bán bất động sản qua bán đấu giá bằng việc quy định phải có chứng nhận của công chứng nhà nước và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tại khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới lại quy định: “Việc mua bán đấu giá bất động sản được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc được đăng ký nếu pháp luật có quy định”. Tuy nhiên, trên thực tế không phải bất động sản nào được bán đấu giá khi trao đổi mua bán giữa các chủ thể dân sự cũng phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy quy định như khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới là phù hợp với thực tiễn trong các quan hệ giao dịch dân sự về mua bán bất động sản. Đơn cử, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước khi bán đấu giá phải đăng ký, còn nhà ở thuộc sở hữu cá nhân, tư nhân thì khi mua bán thông qua đấu giá không phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, chỉ cần công chứng, chứng thực là hợp pháp. Vì vậy, nếu không có văn bản hướng dẫn vấn đề này trong luật dân sự sẽ tạo nên nhiều hệ luỵ không đáng có.

Và những vướng mắc từ thực tiễn

Trong những năm gần đây, thực tiễn công tác bán đấu giá quyền sử dụng đất vẫn không thu được kết quả như mong muốn. Nguyên nhân của hiện tượng nợ đọng tiền sử dụng đất trong bán đấu giá có nhiều, nhưng chủ yếu là do thị trường nhà đất rớt giá và trầm lắng khiến cho nhiều chủ đầu tư tuy trúng giá nhưng lại mất khả năng thanh toán. Thậm chí, có những chủ đầu tư không đủ khả năng tài chính cũng tham gia đấu giá. Công tác khảo sát, tìm hiểu khả năng tài chính của các đối tác của Hội đồng đấu giá còn nhiều hạn chế cũng dẫn đến tình trạng “bỏ của chạy lấy người” như báo chí đã nêu. Nhìn vào thực tế các phiên đấu giá cho thấy, có những DN bỏ giá quá cao so với thực lực của các Cty làm cho các chuyên gia, DN lớn trong ngành xây dựng đô thị cũng phải lắc đầu. Không những vậy, thực tế đang có tình trạng đua nhau nâng giá quyền sử dụng đất lên cao đến mức phi lí, ngoài khả năng tài chính để được trúng giá rồi mới tính chuyện hợp tác làm ăn. Đây là một thực tế tồn tại vướng mắc của luật pháp điều chỉnh về quan hệ bán đấu giá tài sản. Ngoài các văn bản luật, nghị định, thông tư hướng dẫn, các tỉnh thành phố còn có quy chế bán đấu giá quyền sử dụng đất. Phải chăng các văn bản này còn chưa sát với thực tiễn gây ra tình trạng lãng phí tiền của nhà nước?

Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để hoàn thiện khung pháp lý về bán đấu giá tài sản cho phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành.

Nguyễn Văn Mạnh – Hội viên CLB Pháp chế DN

ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ CÔNG CHỨNG

LÊ THỊ PHƯƠNG HOA

SỞ TƯ PHÁP TỈNH VĨNH PHÚC

——————————————-

Quan niệm về công chứng là yếu tố quyết định tới việc xác định mô hình tổ chức, hoạt động công chứng ở mỗi quốc gia. Đổi mới quan niệm về công chứng là tạo cơ sở để đổi mới mô hình tổ chức, hoạt động công chứng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công chứng, phát huy vai trò công chứng. Đây cũng là yêu cầu bức thiết ở Việt Nam hiện nay

Quan niệm về công chứng ở Việt Nam

Theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp một thông tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khai sinh hệ thống công chứng nhà nước ở Việt Nam – công chứng nhà nước được xác định  là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Lần đầu tiên kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945), khái niệm công chứng nhà nước được đ a ra ở Việt Nam, đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi. Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới nên văn bản này không thể tránh hết được các hạn chế, đó là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm tăng nhanh cả về số lượng và quy mô các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động công chứng. Do đó, trong vòng 10 năm (1991 – 2000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 31/CP) và Nghị định số 5/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số 5/2000/NĐ-CP).

Theo Nghị định số 45/HĐBT, công chứng nhà nước được xác định như sau: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ” (Điều 1).

Đến Nghị định số 31/CP, công chứng nhà nước được xác định: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc y ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu” (Điều

1).

So với Thông tư số 574/QLTPK, khái niệm công chứng ở hai Nghị định này đã được xác định cụ thể, rõ ràng hơn. Và nếu so sánh Nghị định số 45/HĐBT với Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP đã bước đầu có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của hành vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt. Quy định “chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ” ở cả hai nghị định này còn quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng.

Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được tách bạch khỏi khái niệm chứng thực. Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã được xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới về công chứng. Theo Nghị định này, “công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” (khoản 1 Điều 2). Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP đã xác định khái niệm chứng thực “là việc y ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này” (khoản 2 Điều 2).

Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là đã thay đổi tên gọi từ “Phòng công chứng nhà nước” ở các văn bản pháp lý trước đó thành “Phòng công chứng“. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề để tiến tới chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề công chứng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, khái niệm công chứng của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP còn có một số điểm chưa phù hợp, đó là:

Thứ nhất, mặc dù Nghị định đã có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực bằng hai khái niệm khác nhau, song xem xét tổng thể Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, có thể thấy, hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực vẫn được đồng nhất cả về chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý.

Thứ hai, nếu Thông tư số 574/QLTPK cũng như Nghị định số 45/CP và Nghị định số 31/CP chưa xác định chủ thể của hoạt động công chứng, thì Nghị định số 75/2000/NĐ-CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng: “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận...”. Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy, dù được tổ chức như thế nào, công chứng vẫn là hoạt động của công chứng viên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình. Quy định như trên đã làm “mờ” đi vai trò của công chứng viên trong hoạt động công chứng.

Thứ ba, xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp lý về công chứng ở nước ta từ năm 1987 đến nay cho thấy, dù sử dụng thuật ngữ “Công chứng nhà nước” hay “Công chứng” thì quan niệm về công chứng của Việt Nam vẫn không thay đổi, đó là: công chứng là hoạt động của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp thực hiện. Với quan niệm này, công chứng Việt Nam được tổ chức theo mô hình công chứng nhà nước. Cụ thể, phòng công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nhà nước bảo đảm toàn bộ cơ sở vật chất cho hoạt động công chứng. Đây là mô hình công chứng mang tính đặc thù của Liên Xô (cũ) và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.

Những điểm chưa phù hợp trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau (thậm chí trái ng ợc nhau) về công chứng, đó là: công chứng là một cơ quan hành chính (cũng có ý kiến cho là cơ quan hành chính tư pháp), hoạt động công chứng là hoạt động quản lý nhà nước; công chứng là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động công chứng là hoạt động nghề nghiệp, hỗ trợ công dân, hỗ trợ quản lý nhà nước và hỗ trợ tư pháp, do đó, công chứng là một thiết chế bổ trợ tư pháp cũng giống như luật sư …

Sự thiếu thống nhất trong nhận thức về công chứng như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả và vai trò công chứng trong đời sống xã hội. Nguyên nhân chính ở đây là do chúng ta chưa có được nhận thức đúng về bản chất công chứng. Như vậy, để có được nhận thức thống nhất, chuẩn xác về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng, phát huy vai trò công chứng trong đời sống xã hội, về mặt lý luận, trước hết cần nghiên cứu làm rõ bản chất công chứng.

Quan niệm về công chứng trên thế giới

Theo Từ điển Luật học của Mỹ, công chứng (Notarial) là hoạt động của công chứng viên… Công chứng viên, theo tiếng Latinh là “Notarius“. “Notarius” trong luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng. Trong luật La Mã, công chứng viên là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu. Theo cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch sử loài người (từ thời La Mã cổ đại), với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng. Nghiên cứu các tài liệu về công chứng cho thấy, trên thế giới có ba hệ thống công chứng: Hệ thống công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã (còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự Civil Law); hệ thống công chứng Ănglo Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Ănglo Saxon (Common Law) và hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique).

So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon có sự khác biệt nhau về cách thức tổ chức, hoạt động, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về công chứng ở hai hệ thống này về cơ bản tương đồng. Cả hai hệ thống này đều coi công chứng là một nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình. Tuy nhiên, đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi công chứng viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ được nhà nước công nhận để có thể đảm bảo tính xác

thực cho các hợp đồng vốn rất phức tạp, đa dạng, công chứng viên do nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề. Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực định về công chứng của một số nước.

Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng La tinh), Điều 1 Pháp lệnh số 452500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng hòa Pháp quy định: “Công chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng” .

ở  Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công chứng Anglo Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định: “Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động sản và tài sản cá nhân ở Anh, xứ Wales, các nước khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài; chứng nhận hoặc xác nhận các giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị hàng hải về sự cố xảy ra đối với tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian tàu đi trên biển“.

Hệ thống công chứng Collectiviste lại có quan niệm về công chứng khác với hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon. hệ thống công chứng Collectiviste, công chứng chưa ở được coi là một nghề (công chứng viên là công chức nhà nước, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực hành chính); việc công chứng được giao cho cả các chủ thể không phải là công chứng viên đảm nhiệm; công chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước về những sai phạm trong hoạt động

của mình).

Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste, hầu hết các nước đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đều có sự đổi mới trong quan niệm về công chứng phù hợp với quan niệm của hệ thống công chứng La tinh và hệ thống Anglo Saxon, đó là xác định công chứng là một nghề tự do đặt d ới sự quản lý của nhà nước và đang từng bước tiến hành cải cách công chứng từ mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng tự do. Ví dụ: ở Ba Lan, Điều 1 Luật số 176 ngày 14/02/1991 về công chứng quy định: “Công chứng viên được bổ nhiệm để lập những văn bản mà trong đó, các bên phải hoặc muốn đem lại một tính đích thực“.

Đổi mới quan niệm về công chứng ở Việt Nam

Điều 1 Điều lệ công chứng được ban hành kèm theo Lệnh số 48/FR ngày 29/8/1968 của Cộng hòa Bênanh cũng chép lại gần như nguyên văn điều luật trên. Qua những nội dung đã trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: mặc dù nội dung chi tiết về chức năng, nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật thực định của các nước có những điểm khác nhau, nhưng quan niệm về công chứng ở các nước này đều có những điểm chung cơ bản sau:

Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.

Công chứng là việc soạn thảo, chứng nhận (xác nhận, chứng thực) các hợp đồng giao dịch. nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo đảm giá trị thực hiện cho các hợp đồng giao ý dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra (văn bản công chứng là một công chứng thư ). Qua các phân tích trên cho thấy, khởi nguồn, hoạt động công chứng là hoạt động của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự tranh chấp, lật lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước. như vậy, công chứng là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc. Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế, th ơng mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà nước, góp phần bảo đảm ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế, th ơng mại phát triển và hỗ trợ t pháp thông qua việc cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung

của xã hội, cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối tượng quản lý của nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ công).

Như vậy, bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công (service public). Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc t vấn, soạn thảo, chứng nhận các hợp đồng, giấy tờ, công chứng viên đã cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn pháp lý cho công dân và các tổ chức khi tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. Khẳng định bản chất công chứng như trên, cho phép chúng ta thấy rõ:

a) Công chứng là một hoạt động xã hội nghề nghiệp, không mang đặc tr ng quyền lực nhà nước; b) Về mặt tổ chức, công chứng cần được xác định là một tổ chức nghề nghiệp chứ không phải là cơ quan hành chính hay cơ quan hành chính tư pháp.

Như vậy, để bảo đảm sự phù hợp, hài hòa, tương thích với quan niệm của thế giới về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng và nâng cao hiệu quả công chứng, phát huy vai trò công chứng trong nền kinh tế thị trường định h ớng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, công chứng nên được hiểu như sau:

Công chứng là hành vi của công chứng viên lập, chứng nhận tính xác thực của các giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Văn bản công chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ.

***************************

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 12/2005

BẢO HỘ PHÁP LÝ QUYỀN TÁC GIẢ

THS. KIỀU THỊ THANH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

***************************

Tóm tắt:

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng chưa bao giờ được nhắc đến và bàn nhiềunhư mấy năm qua. Vậy “quyền tác giả” là gì’? “Quyền tác giả” có khác với “bản quyền”? Ai được coi là tác giả? Tác giả có những quyền gì đối với tác phẩm? Có những hạn chế nào đối với quyền tác giả? Quyền tác giả được bảo hộ trong bao nhiêu năm? Đây là những nét chính của sự bảo hộ quyền tác giả được trình bày trong bài viết.

Lược sử bảo hộ quyền tác giả

Bảo hộ pháp lý về quyền tác giả có từ rất sớm ở nhiều nước trên thế giới. Hình thức khởi thuỷ của sự bảo hộ bản quyền ở Anh là việc cấp giấy phép Hoàng gia cho các chủ xởng in có từ khoảng đầu thế kỷ XVI. Giấy phép này được cấp vừa có mục tiêu bảo hộ độc quyền in sách cho các chủ xởng in nhất định chống lại các chủ xởng in khác không có giấy phép, lại vừa làm tăng thêm một khoản tiền đáng kể cho ngân quỹ của nhà cầm quyền vì chủ xởng in muốn được cấp giấy phép thì phải nộp một khoản lệ phí. Đồng thời, việc cấp giấy phép in sách độc quyền còn tạo ra sự dễ dàng, thuận tiện cho chính quyền trong sự kiểm soát các ấn phẩm có tính chất dấy loạn hoặc phản tôn giáo .

Đạo luật đầu tiên về bản quyền của nước này được ban hành năm 1709 thường được gọi là Đạo luật của Nữ hoàng Anne (Statute of [Queen] Anne) đã dành 14 năm độc quyền cho việc in một cuốn sách và độc quyền này có thể được gia hạn thêm 14 năm nữa, nếu tác giả của cuốn sách vẫn còn sống khi thời hạn bảo hộ đầu tiên đã hết.

ở Pháp, với hai Nghị định nổi tiếng năm 1791, 1793, Nhà nước đã chính thức thiết lập luật về quyền tác giả, trong đó không chỉ bảo hộ lợi ích kinh tế của chủ nhà in, mà còn dành cho tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật một sự độc quyền trong sự cho phép nhân bản và trình diễn đối với tác phẩm của họ (chỉ với sự sửa đổi không đáng kể, luật này có hiệu lực cho tới năm 1957) . Đến năm 1886, Công ước quốc tế về Bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật đã được ký kết tại Berne – Thuỵ Sỹ với 10 nước tham gia là Anh, Pháp, Đức, Hali, Tây Ban Nha, Bỉ, Thuỵ Sỹ, Li Bi, Hai-i-ti và Tuy Ni theo sáng kiến của các nhà xuất bản và nhà văn của hai nước Anh và Pháp là những nước có nền văn hoá, khoa học, nghệ thuật đương thời tương đối phát triển. Xuất phát từ cơ sở của nguyên tắc “xử sự hợp lý ” (fair play) cũngnhư từ nhiều lợi ích khác, họ đã đa ra yêu cầu bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật của tác giả trong phạm vi quốc tế.

ở Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử đất nước trước năm 1945 là sự kế tiếp của các triều đại phong kiến nên hầu  như chưa thể xuất hiện bất kỳ ý tởng bảo hộ quyền của bất kỳ nhà sáng tác tác phẩm viết nào. Sau khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, do điều kiện riêng của sự phát triển kinh tế – xã hội, lại thêm hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nên ngay cả trong chế độ dân chủ mới, chúng ta cũng chỉ có một số ghi nhận mang tính nguyên tắc và hết sức khái quát trong Hiến pháp về một vài vấn đề liên quan đến lợi ích của người sáng tạo. Chẳng hạn, tại Hiến pháp năm 1946 chỉ có Điều thứ 13 quy

định: “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm“. Còn Hiến pháp năm 1959 thì quy định rộng hơn:

“… Nhà nước khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần tích cực trong lao động của những người lao động chân tay và lao động trí óc” (Điều 21); “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ tính sáng tạo của những công dân theo đuổi sự nghiệp khoa học, văn học, nghệ thuật và các sự nghiệp văn hoá khác” (Điều 34).

Vì vậy, hoàn toàn có thể làm một phép tính để so sánh sự bảo hộ pháp lý quyền tác giả ở Việt Nam có sự ra đời muộn hơn nhiều nước trên thế giới khoảng trên dưới 100 năm. Khi mà vào năm 1886, đã có nhiều nước ở Châu Âu và một vài nước ở châu lục khác cùng nhau ký kết Công ước quốc tế đầu tiên về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, thì phải đến năm 1986, khi đất nước đã được thống nhất, trước yêu cầu hiện thực hoá các quy định của Hiến pháp năm 1980, chúng ta mới ban hành được một văn bản điều chỉnh một số vấn đề cơ bản và cụ thể về quyền tác giả (với thẩm quyền của cơ quan ban hành và hiệu lực pháp lý còn khá khiêm tốn). Đó là Nghị định số 142/HĐBT ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) quy định quyền tác giả. Cùng với việc ban hành văn bản này, Nhà nước ta lần đầu tiên đã chính thức ghi nhận nhiều nội dung trọng yếu của sự bảo hộ quyền tác giả như quy định về tác giả, về các loại tác phẩm được bảo hộ, các quyền lợi tinh thần và vật chất của tác giả, thời hạn bảo hộ quyền tác giả… Sau mốc thời gian này, quy định pháp luật về quyền tác giả tiếp tục được thể hiện với các nội dung ngày càng đầy đủ hơn tại Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả năm 1994 và Bộ luật Dân sự năm 1995.

Những nét chính của sự bảo hộ quyền tác giả

Cho tới những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này, trước yêu cầu chung của tiến trình hội nhập kinh tế và thương mại quốc tế, khung pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, bảo hộ quyền tác giả nói riêng của các nước trên thế giới nhìn chung có sự tương đối thống nhất. Điều này được giải thích bởi quy chuẩn pháp lý tối thiểu mỗi nước cần có nếu muốn trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng như sự ràng buộc giữa các quốc gia khi cùng nhau ký kết một số hiệp định song phơng hoặc đa phơng trong lĩnh vực này. Riêng về quyền tác giả, có thể khái quát 5 vấn đề chính sau đây:

1. Về tên gọi của lĩnh vực bảo hộ

Liên quan đến vấn đề này, có sự tồn tại của hai cách gọi khác nhau: một số nước trong đó có Việt Nam gọi là “quyền tác giả” (author’s right), nhiều nước khác mà tiêu biểunhư Anh, Mỹ gọi là “bản quyền” (copyright). Dù gọi theo cách nào thì nội dung của văn bản pháp luật vẫn phải bao gồm các quy định về đối tượng bảo hộ quyền tác giả, các quyền của tác giả đối với tác phẩm, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, giới hạn quyền tác giả…

Tuy nhiên, về mặt lịch sử, hai cách gọi này có điểm khác biệt cơ bản về cơ sở hình thành. Với cách gọi “bản quyền- copyright” thì đó là xuất phát từ khía cạnh thương mại để nhấn mạnh quyền “sao chép, nhân bản” (copy) tác phẩm là hạt nhân cơ bản nhất trong tập hợp các quyền của tác giả (author) hoặc của người khác được pháp luật thừa nhận giữ quyền này, mà ban đầu quyền đó thường thuộc về các chủ nhà in hoặc sau này là các nhà xuất bản. Nghĩa là, với cách gọi luật bản quyền, trước hết người ta đứng về phía các nhà khai thác giá trị kinh tế của tác phẩm, không phải đứng về phía

người sáng tạo tác phẩm. Còn với cách gọi “quyền tác giả – author’s right” người ta lại dồn trọng tâm bảo vệ vào quyền của người sáng tạo tác phẩm với việc khẳng định người có các quyền đối với tác phẩm, đặc biệt là quyền tinh thần, được chú trọng và bảo hộ trước hết phải là tác giả. Lịch sử bảo hộ bản quyền trên thế giới vẫn phân biệt hai cách tiếp cận cơ bản theo hai quan điểm trên. Một là cách tiếp cận của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa với điểm xuất phát gắn chặt mối

quan hệ cá nhân giữa tác giả với tác phẩm, vì thế quyền nhân thân của tác giả rất được coi trọng. Hai là cách tiếp cận của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ lại hầunhư không để ý hoặc chỉ để ý rất ít tới quyền nhân thân, chỉ tập trung vào quyền kinh tế trong quá trình khai thác tác phẩm. Những cách tiếp cận khác nhau này về cơ bản thể hiện quan điểm lập pháp u tiên quyền lợi của tác giả hơn hay của nhà khai thác tác phẩm hơn.

2. Về tác giả và đối tượng bảo hộ quyền tác giả

Đây là hai vấn đề hết sức quan trọng trong pháp luật về quyền tác giả và giữa chúng có mối liên hệ rất chặt chẽ. Bởi vì, xét đến cùng thì mục đích chính của sự bảo hộ quyền tác giả không thể là cái gì khác ngoài việc làm cho tác giả được hởng ngày càng đầy đủ hơn các quyền lợi vật chất và tinh thần trên kết quả của sự sáng tạo của mình được biểu hiện thông qua tác phẩm. Trong mối quan hệ này, nhìn chung, sự nhìn nhận về tác giả có sự thống nhất dễ dàng hơn so với sự nhìn nhận về tác phẩm. Dấu hiệu cô đọng và chuẩn xác nhất để xác định tác giả của tác phẩm là việc một hoặc một số người có bỏ công sức, trí tuệ để sáng tạo ra tác phẩm đó hay không. Đây là khía cạnh được quy định rất rõ tại khoản 1 Điều 745 của Bộ luật Dân sự (BLDS) Việt Nam: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học“. Tương tự như vậy, Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Sáng chế 1988 của Vơng quốc Anh quy định: tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm và được xác định là người chủ sở hữu đầu tiên của bản quyền, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định riêng .So với quy định về tác giả thì quy định về đối tượng quyền tác giả (hay tác phẩm được bảo hộ) bao

hàm sự phức tạp hơn rất nhiều. Về vấn đề này, Điều 747 của BLDS Việt Nam chỉ liệt kê theo tên gọi của 14 loại hình tác phẩm được bảo hộ mà không nêu khái niệm tác phẩm. Trong khi đó, điều này thường được luật của các nước quy định khá rõ. Chẳng hạn, theo Điều 4 Luật Bản quyền Estonia: “Nhằm mục đích của luật này, tác phẩm là bất cứ thành quả nguyên gốc nào trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học được thể hiện dưới một hình thức khách quan có thể nhận biết được và sao chép được dưới hình thức này hoặc trực tiếp hoặc bằng các thiết bị kỹ thuật. Một tác phẩm có tính nguyên gốc nếu là thành quả sáng tạo trí tuệ của chính tác giả” . Tiếp theo quy định này, họ cũng liệt kê lên tới 22 loại hình tác phẩm được bảo hộ theo luật bản quyền.

Khác với pháp luật của Việt Nam và pháp luật của Estonia, pháp luật về quyền tác giả của Cộng hoà Pháp và một số nước Châu Âu quy định điều kiện tiên quyết để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả là tác phẩm đó phải mang tính độc đáo. Trên cơ sở đó, họ đã đa ra một số đòi hỏi về “tính độc đáo” của tác phẩm (tác phẩm phải thể hiện được dấu ấn cá nhân của tác giả, không thể là một tác phẩm sao chép lại của người khác).

Vì vậy, hoàn toàn có thể coi sự bảo hộ pháp lý về quyền tác giả ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với thế giới trên dưới 100 năm, khi mà vào năm 1886, nhiều nước ở Châu Âu và một vài châu lục khác đã cùng nhau ký kết Công ước quốc tế đầu tiên về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật thì phải tới năm 1986, trong điều kiện đất nước hoàn toàn thống nhất và thực thi qui định của Hiến pháp 1980, chúng ta mới có một văn bản pháp lý đầu tiên chính thức qui định một số vấn đề cơ bản, cụ thể về quyền tác giả với thẩm quyền của cơ quan ban hành và hiệu lực pháp lý còn ở mức độ khá khiêm tốn. Đó là Nghị định 142/HĐBT ngày 14.11.1986 của Hội đồng Bộ trởng qui định quyền tác giả. Dù sao, với việc ban hành văn bản này, Nhà nước ta cũng đã bước đầu đặt cơ sở pháp lý cho việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật về quyền tác giả, bảo hộ quyền lợi tinh thần, vật chất cho tác giả, khuyến khích công dân sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học… Sau thời điểm này, qui định pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam lần lợt được thể hiện tạiháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả ngay từ năm 1990 với nhiều thuận lợinhư chúng ta đã rút ra được nhiều kinh nghiệm bổ ích sau mấy năm ban hành và thực hiện Nghị định quyền tác giả. Mặt khác, nhiều quan hệ quốc tế được mở rộng đã giúp chúng ta có luật mẫu về quyền tác giả để nghiên cứu, tham khảo (do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới cung cấp). Những thuận lợi đó đã giúp cho việc soạn thảo dự án Pháp lệnh quyền tác giả tiến triển tốt đẹp. Ngày 2.12.1994 Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả đã chính thức được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước công bố ngày 10.12.1994 đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước

ta trong việc bảo hộ quyền tác giả, góp phần thúc đẩy việc sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, phát triển nền văn hoá dân tộc hiện đại, nhân văn, mở rộng sự hợp tác và giao lưu văn hoá, khoa học với các nước.

a. Về các quyền của tác giả

Việc thừa nhận hay không thừa nhận các quyền tinh thần của người sáng tạo tác phẩm lại tồn tại quan điểm khác biệt giữa các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Nếu như các quyền nhân thân của tác giả luôn giữ một vị trí trang trọng trong pháp luật về quyền tác giả của Pháp, Nhật Bản, Việt Nam… thì ở Anh, Mỹ vấn đề này hoặc là chỉ được chú trọng gần đây hoặc là không được quy định. Cộng hoà Pháp thừa nhận 4 quyền nhân thân cụ thể của tác giả là:

1) Quyền đứng tên tác phẩm 2) Quyền công bố tác phẩm 3) Quyền rút lại tác phẩm 4) Quyền về tính toàn vẹn của tác phẩm . Ngược lại, Luật Bản quyền của Mỹ (Copyright Law of United States of America) cho tới sự sửa đổi vào năm 1996, vẫn không hề biết đến khái niệm quyền nhân thân của tác giả. Còn ở Anh thì phải mãi tới năm 1988, khi Nghị viện nước này thông qua văn bản luật mới là Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Sáng chế (Copyright, Designs and Patents Act) thì các quyền tinh thần của tác giả mới được quy định, còn ở các đạo luật bản quyền có hiệu lực trước đó (ví dụ đạo luật năm 1956) họ cũng hoàn toàn xa lạ với vấn đề quyền nhân thân hay quyền tinh thần của tác giả.

Tuy có những khác biệt trong quy định về quyền tinh thần nhng về quyền tài sản thì nhìn chung dù theo cách gọi nào (quyền tài sản hay quyền kinh tế) theo quy định của pháp luật nhiều nước, tác giả luôn được thừa nhận có các quyền tài sản chuyên biệtnhư quyền sao chép lại tác phẩm, quyền trình diễn tác phẩm, quyền dịch tác phẩm, quyền chuyển thể tác phẩm… mà thực chất khi được tập hợp lại, các quyền chuyên biệt này trở thành độc quyền khai thác tác phẩm của tác giả (ở Việt Nam các quyền này được gọi chung là quyền cho hoặc không cho phép người khác sử dụng tác phẩm và được

quy định dưới góc độ là một quyền nhân thân). Điều 751 của BLDS Việt Nam quy định tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền nhân thân và quyền tài sản bao gồm: 1) Đặt tên cho tác phẩm 2) Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng 3) Công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình

4) Cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình

5) Bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm (các quyền nhân thân)

6) Được hởng nhuận bút

7) Được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng

8) Được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức xuất bản, tái bản, trng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê

 9) Nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ (các quyền tài sản).

b. Về giới hạn quyền tác giả

Theo một thông lệ chung, luật quyền tác giả của các nước đều có những quy định hạn chế quyền của tác giả trong những trường hợp nhất định, trên cơ sở đó cho phép người khác có quyền sử dụng tác phẩm của tác giả mà không phải xin phép, không phải trả thù lao nhng phải đảm bảo tuân thủ những điều kiện và cách thức hợp lý luật định. Quy định này thường được gọi là sử dụng hợp lý hoặc sử dụng cá nhân mà về cơ bản là nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và những người khác trong xã hội ở một mức độ có thể chấp nhận được.

ở Việt Nam, các điều 760, 761 của BLDS và Điều 12 của Nghị định 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ quy định một phạm vi khá rộng rãi giới hạn quyền tác giả theo hướng có lợi cho người sử dụng. Chẳng hạn, người sử dụng ở Việt Nam hoàn toàn có quyền sao lại (toàn bộ) một cuốn sách để sử dụng riêng không quá một bản, trong khi điều này không hợp pháp ở nhiều nước khác. Luật bản quyền Anh chỉ cho phép người đọc copy tới 10% nhng không được quá một chương của một cuốn sách (luôn luôn ít hơn 10%). Vậy mà điều này vẫn vấp phải sự không đồng tình của một số tác giả Anh khi họ cho rằng tỷ lệ đó có thể là hợp lý đối với những cuốn sách mỏng hoặc có số trang vừa phải, nhưng chắc chắn sẽ là bất hợp lý với cuốn sách Copyright dày 1.750 trang của Copinger và Skone James trình bày về chính vấn đề bản quyền .

c. Về thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Các quyền độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả luôn chỉ được bảo hộ trong một thời hạn nhất định nhằm tạo điều kiện cho họ và người thừa kế của họ trong việc hưởng các quyền lợi vật chất từ quá trình khai thác tác phẩm. Hết thời hạn này, tác phẩm thuộc về chế độ công sản, mọi người trên thế giới đều có quyền tự do sử dụng chúng. Hiện nay, hầu hết các nước đều quy định thời hạn bảo hộ bản quyền là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo sau khi tác giả chết. Đây là thời hạn tối thiểu được thể hiện tại Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật.

Tuy nhiên, ở Châu Âu tình hình lại có sự khác biệt. Nhiều năm trước, Đức là nước tiên phong trong việc quy định thời hạn bảo hộ bản quyền kéo dài tới 70 năm sau khi tác giả chết. Do đó, từ năm 1993, Cộng đồng Châu Âu đã có yêu cầu hoà hợp thời hạn bảo hộ này trong luậtư pháp của các nước thành viên . Kết quả là Anh, Pháp và nhiều nước Châu Âu khác đã bảo hộ bản quyền cho các tác giả là công dân nước họ và công dân các nóc thành viên khác của Cộng đồng Châu Âu lên tới 70 năm sau cái chết của tác giả.

ở Việt Nam, thời hạn bảo hộ quyền tác giả (áp dụng đối với hai quyền nhân thân là quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm; quyền cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm và các quyền tài sản) là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết. Nếu tác phẩm do các đồng tác giả cùng sáng tạo thì thời hạn 50 năm được tính kể từ khi đồng tác giả cuối cùng chết. Riêng đối với các tác phẩm điện ảnh, phát thanh, truyền hình, video và tác phẩm di cảo – do đặc thù riêng không thể xác định thời hạn bảo hộ theo cá nhân cuộc đời tác giả – nên các loại tác phẩm này chỉ được bảo hộ trong thời hạn 50 năm kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu tiên (Điều 766 của BLDS)./.

====================

1. Xem: Intellectual Property Law – Paul Marett -Published by Sweet and Maxwel. London 1996. Tr.5

2. Xem: Intellectual Property Law. Sách đã dẫn. Tr 6, Tr 219.

3. Xem: Những Công ước quốc tế về quyền tác giả. Cục Bản quyền tác giả Hà Nội1997. Tr 4.

4. Xem: Intellectual Property Law. Sách đã dẫn. Tr 40

5. Xem: Quyền tác giả và quyền liên quan. Kart Hinnok. Tài liệu hội thảo về Hiệp định TRIPs, Công ước Berne và

Công ước Rome. Hà Nội 6/2001

6. Xem: Hội thảo Pháp – Việt: Khoảng không vũ trụ, mạng không gian và thông tin viễn thông. NXB Chính trị

quốc gia. Hà Nội 1999. Tr 88

7. Xem: Hội thảo Pháp – Việt. Tài liệu đã dẫn. Tr 102 – 103.

8. Xem: Intellectual Property Law. Sách đã dẫn. Tr 49

9. Xem: Intellectual Property Law. Sách đã dẫn. Tr 43

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 12/2002

GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

 

Sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của công nghệ thông tin để làm biến đổi sâu sắc nhiều hoạt động của thế giới. Những thay đổi diễn ra trong các giao dịch là dễ thấy nhất vì nó động chạm đến từng cá nhân. Giao dịch điện tử, giao dịch trên mạng để và đang mang lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Tuy nhiên, do tốc độ phát triển “tên lửa” của công nghệ thông tin và tính kỹ thuật cao của nó nên các rủi ro cho đối tượng tham gia giao dịch là một khả năng thường trực.

Trong giao dịch truyền thống, hình thức văn bản được ghi (viết) trên giấy là hình thức chủ yếu và được sử dụng rộng rãi từ lâu, trở thành phổ biến đến mức đương nhiên. Các văn bản này, ngoài nội dung còn có chữ ký xác nhận (hoặc điểm chỉ) của người cam kết chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản. Ngoài ra, các công đoạn tiếp sau: bao gói, chuyển phát, đối chiếu khi cần thiết đều dễ hiểu, dễ kiểm soát đối với người lập văn bản. Về mặt quản lý, kỹ thuật xác định chữ ký của người lập văn bản cũng để phát triển đến mức không khó khăn khi xác nhận chữ ký thật so với chữ ký giả mạo. Để giao dịch điện tử được chấp nhận rộng rãi và phát triển sâu rộng, cần có hình thức đáp ứng các đặc trưng của chữ ký tay và bảo toàn được thông tin khi truyền đi trên các phương tiện điện tử. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải có kỹ thuật, công nghệ đảm bảo không chỉ xác nhận tác giả mà còn phải xác minh được tính toàn vẹn của thông tin chứa trong văn bản giao dịch được truyền đi bởi các phương tiện điện tử.

Trên thế giới để có nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi nhằm nhận dạng và chứng thực cá nhân trong giao dịch điện tử. Giải pháp phổ biến, được công nhận và áp dụng rộng rãi là chữ ký kỹ thuật số (Digital Signatures) hay còn gọi là chữ ký điện tử.

Chữ ký điện tử là gì? Thông thường, để chuyển thông điệp từ người gửi đến người nhận được bí mật, không bị sửa chữa trên đường đến tay người nhận, phải mã hoá chúng theo một nguyên tắc nào đó trước khi gửi đi, nguyên tắc này gọi là khoá mã (tiếng Anh là Key). Người nhận muốn hiểu được thông điệp phải sử dụng khoá mã đó để giải mã. Việc mã hoá và giải mã thông điệp dùng một chìa khoá rất dễ dẫn đến tình trạng chìa khoá đó bị người thứ ba chiếm đoạt. Người có chìa khoá mã có thể xem và sửa đổi nội dung thông điệp, như vậy sẽ làm mất tính nguyên trạng và bảo mật của thông tin. Vấn đề đặt ra là làm sao đảm bảo thông điệp truyền đi bằng các phương tiện điện tử giữ được bí mật, nội dung không bị thay đổi trên đường truyền, người nhận thông điệp nhận đúng được người gửi và người gửi không chối bỏ được trách nhiệm để “ký” và gửi thông điệp của mình. Giải quyết vấn đề nêu trên, trong truyền nhận các thông điệp điện tử, người ta sử dụng một chương trình phần mềm mã hoá các thông điệp có 2 khoá mã: Khoá mã công cộng (Public Key) và mã khoá riêng của người gửi thông điệp (Private Key hay còn gọi là Secret Key). Trong đó, mã khoá công cộng có thể được công khai cho những ai cần chia sẻ thông tin. Còn mã khoá riêng là bí mật của người “ký” gửi thông điệp đi. Hai khóa mã này có liên quan mật thiết đến nhau: Khi người gửi thông điệp dùng mã khoá riêng để mã hoá thông điệp thì trong thông điệp sẽ có một “chữ ký”. Người nhận dùng mã khoá công cộng cùng cặp để nhận dạng “chữ ký”, qua đó xác minh: người gửi thông điệp là ai; nội dung thông điệp có được bảo toàn nguyên trạng trong quá trình truyền trên mạng hay không. Về nguyên tắc, không thể dùng mã khoá công cộng để tìm ra mã khoá riêng. Có thể hiểu “chữ ký điện tử” là sự kết hợp giữa khoá mã riêng và dữ liệu cần mã hoá bằng công nghệ số. Ở đây, cũng cần lưu ý bạn đọc là độ dài (đo bằng đơn vị thông tin) của khoá mã càng lớn thì khả năng bảo mật của thông tin để được mã hoá càng cao nhưng cũng vì thế mà nó cũng tỷ lệ thuận với thời gian cần phải bỏ ra để mã hoá và giải mã. Hiện nay, độ dài của mã khoá điện tử thường được thiết kế có độ dài từ 95 – 265 byte. Như trên để trình bày, mỗi người tham gia giao dịch điện tử cần phải có đồng thời một cặp khoá mã (Public Key và Secret Key). Một câu hỏi được đặt ra: Ai là người cung cấp cặp khoá mã ấy? Và dịch vụ chứng thực điện tử để xuất hiện. 

Chứng thực điện tử là gì? “Chứng thực điện tử” hay “chứng thực số” (Digital Certificate) là dịch vụ do những nhà cung cấp chứng chỉ số (Certification Authorities – CA) thực hiện, cung cấp cho khách hàng công cụ và kiến thức cần thiết (tên truy cập, mật khẩu, địa chỉ kết nối, khoá mã…) nhằm bảo mật thông tin, chứng thực nguồn gốc và nội dung thông tin trong giao dịch qua mạng. Chứng thực điện tử dựa trên cơ sở hạ tầng khoá công khai (Public Key Infrastructure) với nền tảng là mật mã khoá công khai và chữ ký số. Nhà cung cấp dịch vụ chứng thực đảm bảo:          Chứng thực danh tính của những người tham gia giao dịch: Chỉ có chủ sở hữu của chứng chỉ số mới có thể ký chữ ký điện tử và gửi thông điệp đi. Và người nhận thông điệp tin tưởng thông điệp đúng là của người chủ hợp pháp gửi đến.          Bảo mật được thông tin: Thông điệp được mã hoá trước khi chuyển đi.          Đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu khi đến người nhận: Thông tin để được mã hoá sẽ không bị sửa đổi trên đường truyền.Dịch vụ chứng thực điện tử để và đang phát triển thành dịch vụ toàn cầu. Một số nhà cung cấp nổi tiếng trên thế giới như Verysign, WSIeKey, eTrust… Để có một số Công ty và tổ chức của Việt Nam thử nghiệm và cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử như Công ty phần mềm và truyền thông (VASC), Công ty điện toán và truyền số liệu (VDC), Trung tâm tin học – Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban Cơ yếu Chính phủ.           

Giao dịch điện tử có an toàn không? Tuy rằng trên ý thuyết, việc tấn công vào hệ thống truyền nhận tin để được mã hoá trên mạng là không thể, nhưng thực ra mọi hệ thống điện tử chỉ có độ an toàn tương đối. Thiệt hại do các vụ tấn công gây ra là không đáng kể so với lợi ích do giao dịch điện tử mang lại. Hơn nữa, phần lớn các cuộc tấn công đều do sự mất cảnh giác, không cẩn thận của người sử dụng hệ thống. Ví dụ như việc để lộ Password hoặc đặt Password không đủ khó khiến cho khoá mã bí mật bị phá; hoặc để máy tính cá nhân bị dính virus, Trojan  (thuật ngữ chỉ Chương trình máy tính xuất hiện để thực hiện một chức năng có ích, nhưng đồng thời có chứa các mã hoặc các lệnh ẩn, gây hỏng đối với hệ máy đang chạy nó. Thuật ngữ này được đặt theo điển tích Hy lạp về Con ngựa thành Troa (Trojan Horse): Theo thần thoại Hy Lạp, quân Hy Lạp muốn chiếm thành Troa để dùng mưu chứa quân vào bụng một con ngựa gỗ để đưa vào thành. Đêm đến quân trong bụng ngựa chui ra mở cửa thành, đốt lửa làm ám hiệu cho đại quân tấn công hạ được thành. Trojan máy tính đầu tiên xuất hiện năm 1989, ngụy trang dưới những thông tin về bệnh AIDS), Keylogger (chương trình lấy cắp khoá mã, mật khẩu…). Vì vậy, để có an toàn tuyệt đối về mặt kỹ thuật trong giao dịch điện tử, ngoài trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ chứng thực, người tham gia giao dịch phải luôn luôn có ý thức thực hiện nghiêm túc các chính sách, nội quy về bảo mật, về an toàn cho hệ thống.

 Khía cạnh pháp lý của giao dịch điện tử: Vấn đề an toàn cho giao dịch thông qua mạng được khẳng định về mặt kỹ thuật nếu được tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, quy định về bảo mật. Tuy nhiên, trong giao dịch luôn luôn phát sinh các tranh chấp, để giải quyết các tranh chấp đó cần phải có các quy định pháp luật điều chỉnh. Chỉ khi có khung pháp lý chặt chẽ, đảm bảo phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan thì giao dịch điện tử mới có thể phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Trước hết, phải xác định giá trị pháp lý của văn bản điện tử. Một văn bản điện tử  đảm bảo các thành tố: khẳng định người ký, đảm bảo toàn vẹn của nội dung thông tin phải được coi như có giá trị như văn bản trên giấy truyền thống.  Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm của các đối tượng tham gia giao dịch điện tử (kể cả nhà cung cấp chứng thực số) trong việc cung cấp, nhận, xử lý thông tin, bảo đảm an toàn hệ thống… Thứ ba, phải thay đổi quy trình của từng giao dịch cụ thể theo mức độ phổ biến, và hành lang pháp lý của giao dịch điện tử trong xã hội. Ví dụ: Trong một số giao dịch, theo cách truyền thống, ngoài khai báo, bên có yêu cầu phải nộp bản photocopy và xuất trình văn bản gốc cho người xử lý.  Khi giao dịch điện tử chưa phát triển như ở nước ta hiện nay thì việc khai thác các cơ sở dữ liệu điện tử có liên quan để đối chiếu, xác minh ngay là chưa thực hiện được vì chưa có hoặc không được phổ biến trên mạng (ví dụ như giấy phép xuất nhập khẩu, vận đơn…). Do đó, phải có quy định về giới hạn giao dịch và trách nhiệm lưu giữ bản gốc. Thứ tư, phải có chế tài xử lý nghiêm khắc các vi phạm.   

Giao dịch điện tử trên thế giới và ở Việt Nam: Trên thế giới, nhiều nước để ban hành các đạo luật công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, tạo hành lang pháp lý cho giao dịch điện tử phát triển. Điểm qua một số nước trong khu vực và trên thế giới:          Năm 1997 Malaysia ban hành Luật Chữ ký số;          Năm 1998 Singapore ban hành Luật Giao dịch điện tử;          Năm 1999 Hàn Quốc ban hành Luật Chữ ký điện tử, Luật này được sửa đổi năm 2001;          Năm 2000 hàng loạt các nước và vùng lãnh thổ ban hành Luật về giao dịch điện tử như: Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Thái Lan, Brunei, Ấn Độ, Hồng Kông;          Năm 2001 Liên minh Châu Âu chính thức chấp nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử;          Năm 2004 Trung Quốc thông qua Luật Chữ ký điện tử. Các cơ quan chức năng của Việt Nam đang tích cực soạn thảo các văn bản pháp quy điều chỉnh các mối quan hệ trong giao dịch điện tử như: Luật Giao dịch điện tử, Pháp lệnh Thương mại điện tử, Nghị định về chữ ký số và chứng thực điện tử. Tuy nhiên, do chưa có kinh nghiệm nên các dự án Luật nêu trên cần nhiều thời gian nghiên cứu.  Để sớm sử dụng những tiện ích mà giao dịch điện tử mang lại, không chờ đến khi xây dựng được hệ thống pháp luật về giao dịch điện tử, ngày 21/3/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg về việc sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Điều 2 của Quyết định này quy định: “Chứng từ điện tử là chứng từ kế toán mà các yếu tố của nó được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử để được mã hoá mà không có sự thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang thông tin như  băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán.  Chứng từ điện tử phải có đủ các yếu tố quy định cho chứng từ kế toán, đảm bảo tính pháp lý của chứng từ kế toán và phải được mã hoá bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý truyền tin và lưu trữ; riêng yếu tố chữ ký phải được mã hoá bằng khoá mật mã – được gọi là chữ ký điện tử. Chữ ký điện tử được xác lập riêng cho từng cá nhân để xác định quyền hạn và trách nhiệm của người lập và những người liên quan chịu trách nhiệm về tính an toàn và chính xác của chứng từ điện tử. Chữ ký trên chứng từ điện tử có giá trị như chữ ký tay trên chứng từ giấy”. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý cao nhất quy định về chữ ký điện tử đang được áp dụng tại Việt Nam. Căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để ban hành quy định về xây dựng, cấp phát, quản lý và sử dụng chữ ký điện tử trong hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.  

Nhiều ngành khác của nước ta đang nỗ lực nghiên cứu, làm thí điểm, từng bước thay các giao dịch truyền thống bằng giao dịch điện tử trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình trước khi có một bộ luật bao quát cho mọi đối tượng tham gia giao dịch điện tử. Ngành Hải quan cũng đang cố gắng để có thể thực hiện thông quan điện tử cho hàng hoá xuất nhập khẩu của một số doanh nghiệp được chọn lọc làm thủ tục tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng.

Y Vân_Viện NCHQ

http://www.customs.gov.vn

HOÀN THIỆN BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

ĐINH THỊ MAI PHƯƠNG – BỘ TƯ PHÁP

Tác giả phân tích những khuyết tật trong Bộ luật Dân sự 1995: vị trí trên, dưới trong hệ thống chưa rõ, tính chung chung, thiếu khả thi, nhiều mảng quan hệ xã hội chưa được điều chỉnh, chưa khớp với pháp luật quốc tế… và đề xuất những quan điểm, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật này.

I. Sự cần thiết của việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện Bộ luật Dân sự năm 1995

Không thể phủ nhận ý nghĩa to lớn của Bộ luật dân sự năm 1995 (BLDS), tuy nhiên, trong quá trình thi hành, BLDS đã bộc lộ những điểm còn chưa phù hợp. Để nền kinh tế có những bước phát triển mới về chất và đẩy nhanh tiến độ của quá trình hội nhập quốc tế, một yêu cầu cấp bách chúng ta phải tiến hành, theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, đó là: “Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nghiên cứu sủa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành phù hợp với yêu cầu thực hiện chiến lược kinh tế- xã

hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế…”. Để bảo đảm thực hiện các yêu cầu trên đây, có thể khái quát tính cấp thiết của việc sửa đổi, bổ sung BLDS như sau:

1. Việc thực hiện các quy định của BLDS trên thực tế còn nhiều bất cập

1.1. Chưa có quy định xác định vị trí, vai trò của BLDS trong hệ thống pháp luật

Điều này đã tạo ra sự cô lập giữa các quy định của BLDS với các quy định trong các lĩnh vực pháp luật khác có liên quannhư các quy định pháp luật thuộc lĩnh vực kinh tế hoặc thương mại. Từ đó dẫn đến sự cứng nhắc trong quá trình áp dụng pháp luật dân sự, đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật tại toà án. Điều này tạo ra tình trạng thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. Một vấn đề cùng một lúc có thể được điều chỉnh bởi các quy phạm thuộc các ngành luật khác nhau, nhưng lại cho hai kết quả khác nhau . Xét về lý luận phân ngành luật ở các nước trên thế giới nói chung, BLDS được coi là đạo luật chung và chiếm vị trí cốt yếu trong hệ thống luật t điều chỉnh mối quan hệ giữa các cá nhân, các chủ thể khác trong quan hệ tài sản và nhân thân. Trong khi đó, các luật khácnhư Luật Thương mại, Luật về Sở hữu trí tuệ… là các văn bản luật chuyên ngành. Việc áp dụng các quy định của BLDS chỉ được thực hiện khi các văn bản luật chuyên ngành không quy định hoặc quy định chưa cụ thể. Khác với quan điểm này, ở nước ta, BLDS nói riêng và ngành luật dân sự nói chung độc lập và cùng tồn tại song song với các ngành luật khác như luật thương mại, luật kinh tế. Điều này đã gây nên tình trạng không có đáp số cho bài toán phân biệt về đối tợng và phạm vi điều chỉnh giữa các ngành luật. Hơn thế, nó còn tạo ra tình trạng thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, tình trạng tranh chấp về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau dẫn tới tình trạng kéo dài trong hoạt động xét xử, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể không được bảo vệ một cách kịp thời.

1.2. Một số quy định của BLDS mới dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc, chưa thể thi hành trên thực tế

Điều này có thể thấy rõ nhất qua một số quy định tại Phần 2 về Tài sản và Quyền sở hữu, Chương V, Phần 3 về Trách nhiệm bồi thờng thiệt hại ngoài hợp đồng, tại Phần 4 về Thừa kế, Phần 5 về Những quy định về Chuyển quyền sử dụng đất… Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 613, 614 và 615: Tuỳ từng trường hợp, toà án quyết định buộc người xâm phạm phải bồi thờng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó phải gánh chịu. Tuy nhiên, việc xác định khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần khi nào được thực hiện và thực hiện nh thế nào thì không được quy định cụ thể. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng, trong rất nhiều trường hợp trong quá trình xét xử, Toà án đã bỏ qua không xem xét tới khoản tiền bù đắp về tinh thần.Theo các quy định về thừa kế trong BLDS, một cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình và người thừa kế có thể là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết hoặc là cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Như vậy, một cá nhân có thể để lại di sản của mình cho Nhà nước. Tuy nhiên, BLDS không quy định cụ thể cơ quan nào thay mặt Nhà nước để tiếp nhận di sản thừa kế.

Tương tự như vậy, theo quy định tại Điều 647 BLDS, trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhng không được quyền hởng di sản, từ chối quyền hởng di sản, thì di sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật cũng không quy định cụ thể Nhà nước tiếp nhận di sản với t cách gì, cơ quan nào thực hiện và họ có phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản hay không?…

1.3. Một số quy định của BLDS thiếu tính khả thi

Điều này có thể thấy rõ nhất qua một số quy định trong phần chungnhư quy định về tư cách chủ thể của Hộ gia đình và Tổ hợp tác, quy định về thời hạn từ chối hưởng di sản thừa kế…Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 116 BLDS: Hộ gia đình bao gồm các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó. Quy định chung chung này đã dẫn đến tình trạng sự tồn tại của chủ thể hộ gia đình chỉ là trên danh nghĩa; trên thực tế, tư cách của chủ thể này gần như không tồn tại trong các giao dịch dân sự. Quy định này cũng rất khó xác định thế nào là một hộ gia đình, thế nào để trở thành thành viên của hộ gia đình và chính vì vậy, trách nhiệm dân sự của chủ thể hộ gia đình không được xác định và tồn tài một cách cụ thể trên thực tế. Tương tự như vậy, sự tồn tại tư cách chủ thể của Tổ hợp tác cũng không thực sự hợp lý cũng như không bảo đảm sự an toàn cho các chủ thể khác khi tham gia vào các giao dịch dân sự với chủ thể này. Quy định tại Điều 645 BLDS về việc từ chối nhận di sản thừa kế cũng chứng tỏ điều trên. Theo quy định tại điều này, nếu sau thời hạn sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế mà người thừa kế không thực hiện quyền từ chối nhận di sản thừa kế thì họ buộc phải nhận di sản. Như vậy, pháp luật đã đưa ra quy định buộc chủ thể có quyền phải thực hiện quyền của mình. Rõ ràng quy định về thời hạn này trong BLDS là chưa thực sự hợp lý. Vì vậy, trên thực tế, khoảng thời gian giữa thời điểm mở thừa kế và thời điểm xảy ra tranh chấp và yêu cầu toà án giải quyết vợt quá 6 tháng rất nhiều, nhng thông thường các toà án vẫn chấp nhận yêu cầu từ chối nhận di sản thừa kế của các đương sự…

1.4. Một số mảng quan hệ xã hội chưa được điều chỉnh bởi các quy định của BLDS

Thực trạng này có thể thấy rõ nhất qua các quy định của BLDS trong phần chủ thể quan hệ pháp luật dân sự và phần tài sản. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 172 BLDS: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản“. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu, tài sản được phân thành hai loại cơ bản sau:

Thứ nhất, tài sản là các vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền;

Thứ hai,  Tài sản là các quyền sử dụng, chiếm hữu, định đoạt đối với loại tài sản thứ nhất. Như vậy, nếu theo quy định này, các nhà làm luật chỉ mới đề cập tới các tài sản hữu hình, các tài sản tồn tại dới hình thức vật chất nhất định mà hoàn toàn chưa đề cập tới mảng tài sản vô hình, một loại tài sản ngày càng trở nên quan trọng trong xã hội, đặc biệt khi nền kinh tế của nhân loại đang dần từng bước chuyển sang hình thái mới, hình thái kinh tế tri thức. Thực tế đã chứng minh giá trị và vai trò của loại tài sản này  trong xã hội nói chung và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng là

rất lớn, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của mỗi doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với một doanh nghiệp, giá trị hữu hình, giá trị vật chất đối với một nhãn hiệu hàng hoá cho một sản phẩm là không lớn. Chỉ với một chi phí không lớn, người ta cũng có thể tạo ra những nhãn hiệu hàng hoá rất đẹp, rất đặc thù. Tuy nhiên, giá trị vô hình của mỗi nhãn hiệu hàng hoá được thể hiện qua sự chiếm lĩnh trên thị trường so với các hàng hoá cùng loại, lòng tin và thói quen của khách hàng đối với nhãn hiệu hàng hoá là một tài sản có giá trị rất lớn, ở một khía cạnh nào đó có thể nói nó là vô giá. Nó quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp trên thị trường cũng như nó có thể mang lại những giá trị vật chất rất lớn cho mỗi doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong lần sửa đổi tới, những khoảng trống trên cần khắc phục nhằm đáp ứng ngày càng  tốt hơn các yêu cầu phát sinh trong thực tiễn điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự.

2. Một số bất cập phát sinh từ yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trước một số yêu cầu phát sinh từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũngnhư từ quá trình toàn cầu hoá đời sống kinh tế- xã hội, ví dụ việc Việt Nam tham gia vào một số điều ước quốc tếnhư Hiệp định TRIPs, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, việc tiến tới gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO… đòi hỏi hệ thống pháp luật của nước ta nói chung và các quy định pháp luật dân sự nói riêng cần phải hoàn thiện tạo đà cho quá trình chủ động hội nhập. Các yêu cầu này chúng ta có thể nhìn nhận một cách chi tiết trong một số quy định của BLDS, nhưng ở giác độ tổng quan, chúng ta có thể khái quát ở một số điểm sau:

2.1. Khung pháp luật dân sự Việt Nam còn thiếu nhiều so với khung của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc chuẩn bị tham gia

Thực trạng này có thể thấy qua các quy định pháp luật về bảo hộ đối tợng sở hữu công nghiệp. Theo quy định của BLDS, các đối tợng sở hữu công nghiệp được bảo hộ thiếu rất nhiều. Chính vì vậy, các văn bản dới luật (các Nghị định của Chính phủ) đã được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu điều chỉnh, ví dụ: Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp; Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 1/2/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996… Thực trạng này cũng tương tự đối với các quy định pháp luật trong BLDS về quyền tác giả. Để tạo sự thống nhất trong quá trình thi hành cũng như nhằm bảo đảm tính ổn định về hiệu lực của các quy phạm pháp luật, các quy phạm trong các văn bản trên cần được bổ sung vào BLDS. Hơn thế, việc ghi nhận các quy phạm trên vào BLDS còn thể hiện thái độ nghiêm chỉnh của nước ta trong việc thực hiện nguyên tắc tuân thủ điều ước quốc tế “Pacta Sunt Servanda” trong quá trình thực thi các điều ước quốc tế song phương và đa phương.

2.2. Các quy phạm xung đột trong BLDS chưa đủ và chưa đáp ứng yêu cầu dẫn chiếu của các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đang phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp

Các quy phạm xung đột trong BLDS (từ Điều 826 tới Điều 838)như hiện nay chưa thực sự tương xứng, đặc biệt trong một số vấn đềnhư vấn đề sở hữu, vấn đề thừa kế và vấn đề hợp đồng. Thực trạng này đã dẫn tới tình trạng các toà án thiếu cơ sở pháp lý trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, việc xây dựng và bổ sung thêm các quy phạm xung đột vào BLDS là một đòi hỏi tất yếu phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật.

II. Một số quan điểm cơ bản trong quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định của BLDS

Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của BLDS trong đời sống kinh tế- xã hội nước ta, theo ý kiến cá nhân, chúng tôi cho rằng việc sửa đổi, bổ sung lần này cần quán triệt một số quan điểm cơ bản sau:

1. Cụ thể hoá Hiến pháp

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật không chỉ thể hiện ở việc tạo ra hệ thống các quy phạm pháp luật phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội mà còn thể hiện ở tính thống nhất giữa các quy phạm trong toàn hệ thống pháp luật. Với vai trò là một đạo luật gốc trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp là nền tảng, là cơ sở pháp lý cho sự hình thành của các ngành luật trong hệ thống pháp luật, cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức cũngnhư mọi công dân trong xã hội. Chính vì vậy, các quy định của BLDS phải cụ thể hoá được các quy định của Hiến pháp trong lĩnh vực dân sự. Vì vậy, trong lần sửa đổi tới, BLDS phải cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung.

2. Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, đồng thời có tính dự báo lâu dài

Thực tế cho thấy, các quy phạm pháp luật chỉ phát sinh hiệu lực thực tế khi chúng phù hợp với các yêu cầu phát sinh từ các quan hệ xã hội tương ứng. Chính vì vậy, nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật dân sự trong thực tiễn, khắc phục những hạn chế của BLDS qua hơn 5 năm thi hành, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật cần bám sát các yêu cầu phát sinh từ thực tiễn cuộc sống. Hơn thế, nhằm duy trì sự ổn định của BLDS trong hệ thống pháp luật và cũng là duy trì sự phát triển ổn định của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, tránh những thiệt hại khách quan đối với các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự mang lại do sự thay đổi của các quy phạm pháp luật, trong quá trình sửa đổi, bổ sung, việc nghiên cứu quy luật vận động của các quan hệ dân sự ở nước ta trong thời gian sắp tới cũngnhư trong một khoảng thời gian lâu dài là vô cùng cần thiết. Việc làm này cũng nhằm khắc phục tình trạng lập pháp ở nước ta hiện nay, nhiều văn bản pháp luật mới có hiệu lực thi hành đã phải sửa đổi, bổ sung, tình trạng “hôm nay làm, ngày mai sửa“. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện hệ thống các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, chuẩn bị tham gia hoặc sẽ tham gia nhằm đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật nói chung và BLDS nói riêng. Việc làm này nhằm khắc phục tình trạng “sửa luật theo điều ước quốc tế” và tình trạng “nước đến chân mới nhảy” vốn xa nay vẫn thường thấy ở nước ta.

Thực trạng này gây ra hai hiện tượng:

thứ nhất, đa chúng ta vào trạng thái “bị động hội nhập” mà không phải “chủ động hội nhập“, giảm hiệu quả của các hoạt động trong lộ trình thực hiện cam kết trong điều ước quốc tế;

thứ hai, gây xáo trộn hệ thống pháp luật mỗi khi tham gia hoặc ký kết một điều ước quốc tế, điều này cũng tác động không nhỏ tới các chủ thể thuộc phạm vi, đối tợng điều chỉnh của các văn bản pháp luật tương ứng.

3. Kinh nghiệm của quá khứ và kinh nghiệm nước ngoài

Thực tiễn thi hành BLDS trong thời gian vừa qua cho thấy, những quy phạm pháp luật phản ánh được phong tục, tập quán, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc thờng phát huy tối đa hiệu lực thực tế. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng BLDS, chắc chắn, việc nghiên cứu nhằm tiếp tục phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp đó chưa thể được thực hiện một cách toàn diện. Chính vì vậy, trong lần sửa đổi này, việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu các phong tục, tập quán tốt đẹp một cách toàn diện nhằm phản ánh chúng trong các quy phạm pháp luật của BLDS là một việc làm cần thiết. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu thực tiễn thi hành nhằm tìm ra những nhóm quy phạm đã phù hợp với thực tiễn cuộc sống, trên cơ sở đó rút ra những bài học cần thiết cho việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật chưa thực sự phù hợp với cuộc sống cũng đóng vai trò rất quan trọng. Lịch sử phát triển của nhân loại nói chung và của mỗi nước trên thế giới nói riêng cho thấy, sự vận động và phát triển của đời sống dân sự ở mỗi quốc gia trong cùng một thời kỳ có rất nhiều điểm tương đồng và không phụ thuộc vào chế độ chính trị. Chính vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số nước phát triển trên thế giới nhằm vào ba mục tiêu cơ bản:

thứ nhất, nhằm tránh những va vấp mà những nước này đã gặp phải trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự;

thứ hai, nhằm học tập kinh nghiệm lập pháp về những vấn đề tương tự đã được kiểm nghiệm qua thực tế;

và cuối cùng, nhằm phục vụ cho quá trình chủ động hội nhập của nước ta như đã phân tích ở trên.

Tầm quan trọng của việc nghiên cứu hệ thống pháp luật của các nước tiên tiến trên thế giới được khẳng định rõ nét nhất thông qua mục tiêu thứ ba. Điều này có thể được minh chứng qua những hành động cấp bách mà nước ta đang xúc tiến để thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ. Trong các hoạt động đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là một trong những hoạt động được ưu tiên hàng đầu.

III. Một số yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLDS

Trên cơ sở quán triệt những quan điểm phân tích ở trên, việc sửa đổi, bổ sung BLDS phải nhằm vào một số mục tiêu sau:

1. Lấy BLDS là bộ luật gốc trong lĩnh vực dân sự

Nh đã phân tích trong phần tính cấp thiết, trong lần sửa đổi này, vị trí, vai trò của BLDS trong hệ thống pháp luật phải được xác định một cách rõ ràng. Theo đó, BLDS được coi là một đạo luật chung, là bộ luật gốc để điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự do thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Khi phát sinh quan hệ trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và hôn nhân gia đình, các đạo luật chuyên ngành sẽ được áp dụng, trong những trường hợp trong các văn bản pháp luật chuyên ngành không có quy phạm để điều chỉnh thì khi đó mới áp dụng các quy định của

BLDS.

Giải pháp trên bảo đảm tính thống nhất và rõ ràng trong quá trình áp dụng pháp luật, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn. Hơn thế, giải pháp này còn góp phần lấp những khoảng trống trong các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, tránh tình trạng ban hành văn bản quy phạm một cách tràn lan, tuỳ tiện và thiếu thống nhất như hiện nay.

2. Các quy định trong BLDS cần phải được cụ thể ở mức tối đa

Trong thời gian qua, thực tế đã cho thấy, nhiều quy định trong BLDS vẫn chưa thực sự phát sinh hiệu lực, chưa khẳng định vai trò của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là các quy định đó mới dừng ở mức độ là những nguyên tắc chung, chưa thể áp dụng vào các quan hệ cụ thể, trong khi đó các cơ quan có thẩm quyền chưa kịp ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này có thể thấy một cách rõ nét nhất trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lĩnh vực thừa kế, lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ… Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp, khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan xét xử thường chờ văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc công văn hướng dẫn của toà án cấp trên. Từ đó, dẫn tới thời gian xét xử các vụ án tại các toà án kéo dài, sự thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. Để khắc phục tình trạng này, trong lần sửa đổi, bổ sung tới cần xây dựng BLDS theo hướng cụ thể hoá ở mức độ tối đa để các quy định của BLDS có thể trực tiếp đi vào cuộc sống mà không phải chờ đợi các văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, bên cạnh việc cụ thể hoá ở mức tối đa nhằm nâng cao hiệu lực thực tế của các quy phạm pháp luật, việc sửa đổi, bổ sung vẫn phải quán triệt nguyên tắc như đã đề cập ở trên. Đó là, BLDS là một đạo luật gốc, một đạo luật chung điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận và tự chịu trách nhiệm.

3. Làm rõ mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với giao lưu dân sự

Theo quan điểm lập pháp của Việt Nam, nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước có vai trò quan trọng trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, đối với mỗi trường hợp cần có sự hiện diện (can thiệp hoặc hỗ trợ) của Nhà nước thì vấn đề tiếp theo là cơ quan nào (cơ quan hành chính hay tư pháp, cơ quan cấp cơ sở hay cao hơn) sẽ thực hiện việc can thiệp hay hỗ trợ đó không hẳn là câu hỏi dễ trả lời. Nhất là trong điều kiện bộ máy nhà nước của chúng ta đang trong quá trình cải cách, đổi mới mạnh mẽ trong một vài năm qua. Sự thận trọng trong việc giao thẩm quyền cho một cơ quan cụ thể trong BLDS như vậy là rất cần thiết nhằm đảm bảo cho Bộ luật tương thích với quá trình cải cách, đổi mới bộ máy nhà nước. Nhưng việc trao thẩm quyền chung chung, không rõ ràng và chưa thực sự hợp lý về phạm vi thẩm quyền cũngnhư việc không quy định các chế tài bảo đảm thực hiện thẩm quyền này một cách rõ ràng hoặc trên thực tế có quy định của pháp luật song cơ quan được trao thẩm quyền đó lại chưa được thành lập hoặc có nhiều cơ quan được giao trùng thẩm quyền dẫn đến việc khó khăn khi áp dụng các quy định của BLDS. Mặt khác, các quy định này trong một chừng mực nào đó, biểu hiện”sự can thiệp quá sâu ” vào giao lưu dân sự, làm hạn chế nguyên tắc cơ bản trong giao lưu dân sự là tự do ý chí, tự nguyện, tự thoả thuận, đặc biệt trong các quan hệ hợp đồng dân sự. Thực trạng này làm giảm hiệu quả trong giao lưu dân sự nói chung. Điều này có thể chứng minh qua một số quy định như quy định về thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 403 BLDS), về giải thích giao dịch dân sự (Điều 135 BLDS)…  Theo quy định tại Điều 403, thời điểm giao kết hợp đồng đối với những hợp đồng mà theo quy định

của pháp luật phải có chứng nhận của Công chứng Nhà nước, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép là thời điểm hợp đồng đó được chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép. Qua thực tiễn thi hành cũngnhư xét về mặt lý luận, quy định này phần nào chưa thực sự hợp lý, thể hiện sự can thiệp quá sâu của Nhà nước. Xét về bản chất, thời điểm giao kết là thời điểm các bên cam kết với nhau về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ. Chính vì vậy, Nhà nước can thiệp ngay vào giai đoạn này là không thực sự cần thiết.

Tương tự như vậy là quy định tại Điều 135 BLDS: “2. Trong trường hợp giao dịch dân sự có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch, theo tập quán nơi giao dịch xác lập; nếu bên mạnh thế về kinh tế đa vào giao dịch dân sự nội dung bất lợi cho bên yếu thế về kinh tế, thì khi giải thích giao dịch dân sự phải theo hướng có lợi cho bên  yếu thế “. Theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng, sự can thiệp của Nhà nước được thể hiện qua quy định này chưa thực sự hợp lý. Rõ ràng, một giao dịch dân sự phải được xác lập trên cơ sở tự do ý chí của các chủ thể tham gia. Như vậy, khi giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 135 thì chỉ có thể xảy ra hai trường hợp:

Thứ nhất, Nhà nước không nên can thiệp vào giao dịch này thông qua việc giải thích theo hướng có lợi cho bên yếu thế. Vì, dù sao các bên tham gia giao dịch đã hoàn toàn tự do ý chí. Sự can thiệp này rõ ràng không bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia giao dịch.

Thứ hai, giao dịch này nên được xếp vào giao dịch vô hiệu do điều kiện hoàn toàn tự nguyện đối với các chủ thể tham gia chưa thực sự thoả mãn (theo quy định tại Điều 131 và 136 BLDS).

Ngoài ra, khi được trao những thẩm quyền này, các cơ quan này trong hoạt động của mình kể cả về đội ngũ cán bộ, tổ chức, hoạt động… còn chưa phúc đáp được yêu cầu của thực tiễn. Đây cũng là một nguyên nhân làm giảm đáng kể hiệu lực thi hành của các quy định pháp luật dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng. Do vậy, trong lần sửa đổi này, mối quan hệ giữa vấn đề quản lý nhà nước trong giao lưu dân sự và vấn đề tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự cần được nghiên cứu một cách thận trọng nhằm bảo đảm sự quản lý nhà nước đối với giao lưu dân sự một cách có hiệu quả nhất./.

* Xem thêm và đối chiếu giữa: Điều 47, Luật Thương mại và Điều 421 BLDS; Điều 55, Luật Thương mại và Điều

403, BLDS; Các Điều 58, 69, 76 của Luật Thương mại và các điều 432, 433, 436 của BLDS; Điều 228 của Luật

Thương mại và Điều 378 của BLDS.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 12/2002

.

TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế- Bộ Tư pháp

Trong bối cảnh hiện nay, tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều hơn. Tương trợ t ư pháp (trong đó có tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự) là một công cụ trợ giúp hữu hiệu để giải quyết tranh chấp đó. Tuy nhiên, còn khá nhiều việc phải làm trong lĩnh vực này. Bài viết chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động tương trợ tư pháp những năm qua và đề xuất ban hành Pháp lệnh về tương trợ tư pháp, đồng thời tăng cường đàm phán, ký kết, tham gia các điều ước quốc tế.

1. Cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện tương trợ tư pháp quốc tế giữa Việt Nam và các nước

Tương trợ tư pháp quốc tế là việc các quốc gia (chủ yếu thông qua Toà án và các cơ quan tư pháp) giúp đỡ, hỗ trợ nhau về các vấn đề tư pháp (bao gồm cả dân sự và hình sự). Trong lĩnh vực dân sự, chủ yếu là hoạt động uỷ thác tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các nước nhằm giúp đỡ nhau thực hiện một số công việc có liên quan đến hoạt động tố tụng như: tống đạt giấy tờ, lấy lời khai, điều tra thu thập chứng cứ.

Việc thực hiện tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước

Trước hết dựa trên cơ sở các hiệp định song phơng về tương trợ tư pháp

. . Trước năm 1992, khi còn tồn tại Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã ký kết 06 Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước là: CHDC Đức, Liên Xô, Tiệp Khắc, CuBa, Hungary, Bungary. Đến nay, Hiệp định với CHDC Đức đã hết hiệu lực, Hiệp định với Liên Xô được Liên bang Nga kế thừa (mặc dù giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã ký Hiệp định mới nhưng Hiệp định mới này hiện cha có hiệu lực), Hiệp định với Tiệp Khắc được cả Séc và Xlôvakia kế thừa. Nội dung của các Hiệp định được ký trong giai đoạn này về cơ bản tương đối giống nhau. Các Hiệp định này đều điều chỉnh một cách tổng thể hai mảng quan hệ, đó là tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các nước ký kết và phơng pháp thống nhất các quy tắc chọn pháp luật áp dụng để giải quyết xung đột luật và quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự. Sau năm 1992, kể từ khi có Hiến pháp mới cho đến nay, Việt Nam đã ký thêm 9 Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước là: Ba Lan, Lào, Trung Quốc,

Liên bang Nga, Pháp, Ucraina, Mông Cổ, Belarus, CHDCND Triều Tiên. Các Hiệp định tương trợ tư pháp trong giai đoạn này so với giai đoạn trước được ký với những nước có chế độ chính trị đa dạng hơn, nội dung của các Hiệp định cũng không giống nhau. Trong khi các Hiệp định ký với Ba Lan, Ucraina, Mông Cổ, Belarus, CHDCND Triều Tiên có phạm vi điều chỉnh tổng thể nh các Hiệp định giai đoạn trước năm 1992, thì Hiệp định ký với Pháp và Trung Quốc chỉ điều chỉnh các vấn đề tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp hai nước mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng giải

quyết xung độtư pháp luật cũng nh dẫn độ tội phạm. Đối với các nước cha ký với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp, việc thực hiện các tương trợ tư pháp về dân sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại.

Điều 85 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 quy định Toà án Việt Nam sẽ hợp tác với toà án nước ngoài trong việc thực hiện tương trợ tư pháp trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. Toà án Việt Nam sẽ chấp nhận thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp của Toà án nước ngoài nếu yêu cầu tương trợ tư pháp đó không trái với trật tự xã hội và không làm phương hại đến an ninh của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực tế cho thấy, các vụ việc có yếu tố nước ngoài có được giải quyết một cách ổn thoả tại Toà án hoặc cơ quan trọng tài của một nước hay không, còn phụ thuộc vào kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp của quốc gia được yêu cầu. Nếu nh quốc gia được yêu cầu từ chối thực hiện uỷ thác tư pháp, thì rõ ràng các vụ việc đó sẽ không được giải quyết phù hợp với pháp luật. Hay nói cách khác, lợi ích chính đáng của các bên trong trờng hợp này sẽ không được bảo vệ một cách khách quan. Do đó, việc Toà án và các cơ quan tư pháp khác của Việt Nam thực hiện uỷ thác tư pháp quốc tế theo yêu cầu của phía nước ngoài, kể cả khi không có điều ước quốc tế nh đã trình bày trên đây là việc làm cần thiết nhằm bảo vệ trước hết là quyền lợi của công dân Việt Nam trong vụ việc do phía nước ngoài yêu cầu.

2. Thực trạng hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự.

1. Tình hình thực hiện

Thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp ở nước ta nhiều năm qua cho thấy, uỷ thác tư pháp về dân sự thường bao gồm:

a) tống đạt cho đơng sự giấy gọi ra Toà, quyết định của Toà án hay các giấy tờ khác;

 b) lấy lời khai của các bị đơn và nhân chứng;

c) thu thập chứng cứ;

d) xác minh địa chỉ;

e) trng cầu giám định v.v…

Việc thực hiện uỷ thác tư pháp quốc tế về dân sự ở Việt Nam trong các năm qua cho thấy, mặc dù chúng ta còn thiếu văn bản pháp luật quy định về vấn đề này, song các cơ quan nhà nước đã cố gắng thực hiện một khối lợng lớn công việc uỷ thác tư pháp theo yêu cầu của các nước đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp, cũng nh các nước cha ký Hiệp định này. Nếu như trong những năm 80, số lượng uỷ thác tư pháp về dân sự của nước ngoài yêu cầu ta thực hiện chỉ chiếm khoảng trên 100 vụ/năm, thì từ năm 1997 đến nay, số lợng uỷ thác loại này tăng lên rất nhiều (trung bình khoảng trên 300 vụ/1 năm).

Riêng năm 2001, số lợng các uỷ thác về dân sự đã là hơn 600 vụ, trong đó chủ yếu là các uỷ thác về tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đơng sự là ngời nước ngoài trong vụ kiện ly hôn do Toà án nước ta yêu cầu, đặc biệt là đối với Đài Loan.

Phạm vi uỷ thác tư pháp thờng bao gồm các loại vụ việc chính sau:

Thứ nhất, các uỷ thác tư pháp do Toà án nước ngoài yêu cầu Toà án Việt Nam thực hiện.

Uỷ thác tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đơng sự trong vụ kiện truy nhận cha và cấp dỡng nuôi con là loại uỷ thác chiếm đa số trong những năm 80 và nửa đầu 90 (khoảng trên 100 vụ/năm), chủ yếu do các nước Đông Âu và Cộng hoà Liên bang Đức chuyển cho ta. Ngoài ra, trong năm 1999 đã phát sinh loại việc mới là phía Séc yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thực hiện giám định nhóm máu để xác định cha cho con. Đây là loại việc đòi hỏi chi phí khá cao. Uỷ thác tống đạt giấy tờ liên quan đến các vụ ly hôn (khoảng trên 50 vụ/năm) là loại việc đang phát sinh ngày một nhiều, chủ yếu do các Toà án của CHLB Đức, Séc, Xlôvakia, Nga yêu cầu. Ngoài ra, uỷ thác tống đạt giấy tờ về vụ kiện thơng mại (hợp đồng mua bán hàng hoá) cũng là loại việc mới phát sinh trong những năm gần đây.

Thứ hai, uỷ thác tư pháp do Toà án Việt Nam yêu cầu Toà án nước ngoài và Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài thực hiện.

Uỷ thác tống đạt giấy tờ và lấy lời khai của đơng sự là công dân Việt Nam đang c trú ở nước ngoài trong vụ kiện ly hôn là loại việc chiếm số (khoảng 70% vụ việc do Toà án Việt Nam yêu cầu). Trong thời gian gần đây số lợng các uỷ thác tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đối với bị đơn là công dân nước ngoài trong các vụ án ly hôn cũng gia tăng rất nhanh. Ngoài ra, các uỷ thác về việc lấy lời khai của đơng sự là công dân Việt Nam đang c trú ở nước ngoài trong các vụ kiện dân sự do Toà án trong nước xét xử (đòi thừa kế, chia tài sản, thay đổi họ tên…) cũng đang có xu hớng tăng lên (khoảng 10 vụ/năm).

Trong các năm qua, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh là hai nơi thực hiện nhiều nhất các uỷ thác tư pháp của nước ngoài, cũng là nơi đã yêu cầu Toà án nước ngoài và Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài thực hiện uỷ thác nhiều nhất (chiếm 80% vụ việc uỷ thác của Toà án trong nước ra nước ngoài). Riêng trong năm 1999, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã có khoảng 70 vụ việc uỷ thác ra nước ngoài liên quan đến việc đòi ly hôn giữa công dân Việt Nam với ngời Đài Loan, nhng Toà án Đài Loan mới chỉ thực hiện được 30 vụ việc do Toà án TP Hồ

Chí Minh yêu cầu. Điều này gây trở ngại không nhỏ đến thời hạn xét xử của Toà án Việt Nam.

2. Đánh giá về tình hình thực hiện

Nhìn chung, việc thực hiện các uỷ thác tư pháp (với các nước đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp cũng như với các nước chưa ký kết Hiệp định) trong những năm gần đây đã dần dần đi vào nền nếp, đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên, đánh giá về những tồn tại của công tác này, có thể nêu lên một số nhược điểm và nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, tiến độ thực hiện uỷ thác tư pháp, về cơ bản còn chậm so với yêu cầu. Nguyên nhân chủ yếu là do các Toà án địa phơng cha có cán bộ chuyên trách, thiếu phơng tiện đi lại, cha có biện pháp chế tài đối với bị đơn không thi hành giấy gọi đến Toà án, do địa chỉ của đơng sự cần được tống đạt giấy tờ và lấy lời khai không được chính xác. Các Toà án Việt Nam thờng phải mất rất nhiều thời gian cho việc xác minh địa chỉ của đơng sự ghi trong hồ sơ uỷ thác. Có những uỷ thác không thể thực hiện được do không thể tìm được được địa chỉ của đơng sự, hoặc đơng sự đã chuyển nơi ở, thậm chí có nhiều trường hợp đương sự vẫn đang sống bất hợp pháp tại nước có Toà án gửi uỷ thác, hoặc đã trốn sang tỵ nạn tại các nước khác. Thực trạng này xảy ra nhiều đối với các uỷ thác của Cộng hoà Séc trong các vụ kiện truy nhận cha và cấp dưỡng nuôi con.

Hai là, về chất lợng thực hiện uỷ thác, nhiều Toà án địa phơng còn cha thực hiện nghiêm túc theo đúng hớng dẫn của Bộ Tư pháp tại Thông t số 163/HTQT ngày 25/3/1991 về việc thực hiện uỷ thác tư pháp của Toà án nước ngoài. Bên cạnh đó, còn có Toà án (nhất là các Toà án các tỉnh phía Nam) chưa quan tâm đúng mức đến việc thực hiện uỷ thác tư pháp, trong hồ sơ thực hiện uỷ thác còn thiếu giấy tờ theo hớng dẫn, biên bản tống đạt giấy tờ không được lập theo quy định (không đầy đủ các chữ ký của Thẩm phán (chủ toạ), của cán bộ th ký, của ngời nhận tống đạt và nhiều khi còn không có dấu

của Toà án). Đặc biệt, các Toà án còn cha quan tâm thực hiện đúng quy định về thủ tục liên hệ với Toà án nước ngoài và gửi hồ sơ cho Toà án nước ngoài. Mặc dù đã có hớng dẫn của Bộ Tư pháp, nhưng nhiều trờng hợp Toà án không làm đúng theo hớng dẫn, không có Công văn trả lời Toà án nước ngoài về kết quả thực hiện uỷ thác. Trong hớng dẫn của Bộ Tư pháp cũng đã nêu rõ về tính hợp lệ và hợp thức của một hồ sơ uỷ thác, nhng nhiều Toà án của ta cha quan tâm đến vấn đề này.

Ba là, việc thực hiện uỷ thác tư pháp do Toà án trong nước yêu cầu thông qua đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài về việc tống đạt giấy tờ và lấy lời khai của công dân Việt Nam đang tạm trú ở nước ngoài là đương sự trong các vụ kiện về dân sự, lao động và hôn nhân gia đình, đã được Toà án trong nước xem xét và đang thụ lý, nhìn chung giải quyết còn rất chậm. Phải thừa nhận rằng trong những năm qua, đặc biệt là những năm gần đây, Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao cũng nh các Đại sứ quán, Lãnh sự quán Việt Nam ở các nước đã có nhiều cố gắng, nỗ lực thực hiện các yêu cầu này và đã thu được những kết

quả khả quan, nếu so với những năm trước đây. Tuy vậy, loại uỷ thác này ngày một nhiều, do đó việc thực hiện cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu của các Toà án trong nước, nhất là về mặt tiến độ thời gian (nhiều uỷ thác có khi phải hơn 1 năm mới thực hiện được, trong khi đó Toà án bị phụ thuộc và khống chế bởi thời hạn thụ lý và phải đa vụ án ra xét xử theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự).

Bốn là, trong 5 năm trở lại đây, các vụ việc uỷ thác do Toà án nước ta đề nghị Toà án nước ngoài hỗ trợ thực hiện các hành vi tư pháp ngày càng nhiều, nhất là đối với các nước cha ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp (nh Đài Loan). Trong khi chúng ta cha có văn bản quy phạm pháp luật trong nước quy định về trình tự, thủ tục thực hiện uỷ thác tư pháp với các nước cha ký kết điều ước quốc tế với nước ta, nên lâu nay các cơ quan của Việt Nam chỉ biết nhờ qua đờng ngoại giao. Vì thế, tiến độ cũng như chất lượng thực hiện các uỷ thác này từ phía Toà án nước ngoài (được yêu cầu) rất khác nhau vì pháp luật các nước quy định khác nhau về vấn đề này, nhng thờng là kết quả rất chậm, cha đáp ứng được yêu cầu của

Toà án trong nước.

3. Giải pháp về mặtư pháp lý

Một trong những nguyên nhân cơ bản đối với những tồn tại nêu trên là hiện nay, chúng ta chưa có một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao (ở cấp luật, pháp lệnh) điều chỉnh về hoạt động tương trợ tư pháp trong khi chúng ta ký kết ngày càng nhiều các Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước và thực tiễn hoạt động uỷ thác tư pháp ngày càng phát triển. Đối với các nước đã ký Hiệp định, Thông t liên bộ số 139/TT-LB ngày 12/3/1984 của Bộ Tư pháp – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Toà án nhân dân tối cao- Bộ Nội vụ- Bộ Ngoại giao về việc thi hành Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự đã ký giữa nước ta với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã quá lỗi thời và không còn phù hợp với tình hình mới. Đối với các nước cha ký Hiệp định, hoạt động này vẫn thực hiện theo từng vụ việc cụ thể, không có cơ chế nhất quán.

Ban hành Pháp lệnh về tương trợ tư pháp quốc tế

Trong thời gian tới, theo chúng tôi, cần thiết phải xây dựng Pháp lệnh về tương trợ tư pháp quốc tế, bởi vì đây là một vấn đề rất rộng, cha được văn bản luật nào điều chỉnh, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ không chỉ của các cơ quan thuộc Chính phủ (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công An…), các cơ quan chính quyền địa phơng mà còn liên quan nhiều đến chức năng của các ngành Toà án, Kiểm sát. Việc ban hành pháp lệnh của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội sẽ có giá trị ràng buộc (về nghĩa vụ pháp lý) đối với cả Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thực hiện, đặc biệt là cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và sự chỉ đạo, hớng dẫn việc thực hiện các Hiệp định tương trợ tư pháp đã ký kết. Nếu xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật thấp hơn mức Pháp lệnh, ví dụ Nghị định của Chính phủ về tương trợ tư pháp thì rõ ràng không đáp ứng được yêu cầu này, nhất là không thể quy định nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế cho Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao được. Ngược lại, nếu trong thời điểm hiện nay, chúng ta xây dựng ngay một đạo luật về tương trợ tư pháp quốc tế thì cũng không hợp lý, vì để xây dựng một đạo luật phức tạp này đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức và cần được tính toán, cân nhắc kỹ càng, thận trọng. Hơn thế nữa, Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội đã quá tải. Pháp lệnh tương trợ tư pháp cần điều chỉnh các nội dung cơ bản sau đây:

– Nguyên tắc thực hiện tương trợ tư pháp quốc tế: các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tương trợ tư pháp quốc tế trên cơ sở điều ước quốc tế được ký kết giữa Việt Nam với các nước; trong trờng hợp không có điều ước quốc tế, thì tương trợ tư pháp được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia và các bên cùng có lợi.

– Điều kiện thực hiện tương trợ tư pháp: quy định những điều kiện cụ thể cho việc thực hiện tương trợ tư pháp (hồ sơ, ngôn ngữ, thời hạn, chi phí…).

– Trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp: quy định những thủ tục, trình tự thực hiện tương trợ tư pháp theo yêu cầu của Toà án, cơ quan tư pháp nước ngoài tại Việt Nam, cũng nh thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp của Toà án, cơ quan tư pháp Việt Nam tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài.

– Yêu cầu đối với hồ sơ uỷ thác tư pháp quốc tế (giấy tờ, tài liệu, thủ tục về dịch văn bản, công chứng, hợp pháp hoá…).

– Quản lý nhà nước về công tác tương trợ tư pháp quốc tế: nội dung quản lý nhà nước; hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước; nhiệm vụ của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trách nhiệm và cơ chế phối hợp công tác giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, các Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng và cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài trong công tác quản lý nhà nước.

Tăng cường đàm phán, ký kết và tham gia các điều ước quốc tế

Việt Nam hiện mới ký kết được 14 Hiệp định tương trợ tư pháp song phơng với các nước, trong khi đó nhiều nước có đông ngời Việt làm ăn sinh sống và có nhu cầu về tương trợ tư pháp cao nh: Hoa Kỳ, úc, Canađa… thì lại cha có Hiệp định. Điều này gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện tương trợ tư pháp. Trong thời gian tới, song song với thúc đẩy công tác đàm phán, ký kết Hiệp định song phương, Việt Nam cần tham gia vào một số Công ước đa phơng về vấn đề này. Việc tham gia Công ước đa phương sẽ tạo thuận lợi, để có thể cùng một lúc hợp tác tương trợ tư pháp với nhiều nước là thành viên của Công ước, mở rộng phạm vi hợp tác mà không cần phải trực tiếp đàm phán với từng nước một như điều ước song phương. Đối với hoạt động tương trợ tư pháp ở Việt Nam hiện nay, theo chúng tôi, nước ta nên tham gia một số công ước nh: Công ước LaHay năm 1956 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp ra nước ngoài; Công ước LaHay năm 1970 về thu thập chứng cứ cho các vụ kiện dân sự và thơng mại… Đây là những công ước hiện có nhiều nước tham gia, có phạm vi điều chỉnh liên quan các vụ việc uỷ thác tư pháp về tống đạt giấy tờ cũng nh lấy lời khai, thu thập chứng cứ trong các vụ án dân sự – một loại uỷ thác hiện đang chiếm đa số trong hoạt động tương trợ tư pháp của các Toà án nước ta. Củng cố các cơ sở pháp lý đóng vai trò quan trọng, tiên quyết đối với hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế. Việc hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết các vấn đề đang vớng mắc hiện nay như: tổ chức bộ máy thực hiện tương trợ tư pháp, quy trình uỷ thác tư pháp, cơ chế phối hợp, cơ chế hợp tác giữa Toà án Việt Nam và các nước… Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tương trợ tư pháp quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước, cũng như khuyến khích các chủ thể của pháp luật tham gia ngày một nhiều vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thơng mại có yếu tố nước ngoài, với sự yên tâm, tin tởng rằng các tranh chấp phát sinh giữa họ (nếu có) sẽ được giải quyết một cách ổn thoả, thông qua sự trợ giúp hữu hiệu của hoạt động tương trợ tư pháp./.

* Khái niệm \”dân sự \” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả thơng mại, hôn nhân gia đình, lao động

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 12/2002