MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH

 PHAN CÔNG THƯƠNG

LTS: Chủ thể kinh doanh là ai, tại sao phải định nghĩa chủ thể kinh doanh; những đặc điểm của chủ thể kinh doanh; các loại hình chủ thể kinh doanh; quyền và lợi ích của chủ thể kinh doanh; những vấn đề tồn tại trong hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Đây là những nội dung lớn trong bài viết này nhằm thống nhất cách hiểu về chủ thể kinh doanh.

Có thể nói hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sức tăng trởng của nền kinh tế và sự tồn tại của xã hội. Hiện nay, trình độ về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đã đạt được mức cao hơn nhiều so với những năm đầu của thập niên 1990. Khung pháp lý và thể chế quản lý nhà nước đối với các loại hình chủ thể kinh doanh đã từng bớc phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Ngày 12/ 6/ 1999, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Doanh nghiệp trên cơ sở hợp nhất Luật Công ty (1990) và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990). Luật Doanh nghiệp có hiệu lực ngày 01/01/2000 được đánh giá là một bớc đột phá quan trọng trong công tác lập pháp nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động tối đa mọi nguồn lực cho mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, khuyến khích các thành phần kinh tế và các loại hình chủ thể kinh doanh phát triển.

Theo Luật Doanh nghiệp thì các loại hình chủ thể kinh doanh được mở rộng rất nhiều. Trong khi đó, khung pháp lý quy định về nội dung hoạt động cũng nh những cơ sở pháp lý mà Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chúng lại chậm sửa đổi, bổ sung, thiếu đồng bộ, có nhiều điểm lạc hậu, tạo ra những tồn tại vớng mắc ảnh hởng đến hoạt động sản xuất, hạn chế quyền tự do kinh doanh của chúng vốn được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải có một cách hiểu thống nhất về chủ thể kinh doanh để làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung từng bớc quy định pháp luật kinh tế hiện hành tiến đến ban hành một luật chung thống nhất về các loại hình chủ thể kinh doanh cũng nh hoàn thiện dần khung pháp lý về nội dung hoạt động của các chủ thể kinh doanh và cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chúng. Dưới đây tác giả xin được đề cập đề đến một số vấn đề về chủ thể kinh doanh:

I. Thuật ngữ chủ thể kinh doanh

Thuật ngữ "chủ thể kinh doanh" được dùng rất phổ biến trong các báo, tạp chí, giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành pháp lý- kinh tế. Tuy nhiên hiện nay vẫn cha có một khái niệm chính thức nào.

Định nghĩa Để làm rõ thuật ngữ này, chúng ta bắt đầu bằng thuật ngữ "kinh doanh". Theo Từ điển tiếng Việt , "kinh doanh" được hiểu là "tổ chức việc sản xuất buôn bán sao cho sinh lời". Với nghĩa phổ thông này từ "kinh doanh’ không những có nét nghĩa "buôn bán" mà còn bao hàm cả nét nghĩa "tổ chức việc sản xuất". Hơn thế nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là "kinh doanh". Theo định nghĩa pháp lý được quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp (12/6/1999) thì "kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi".

Với định nghĩa "kinh doanh" rộng nh vậy ta có thể hiểu: chủ thể kinh doanh là bất kỳ cá nhân, tổ chức, đơn vị nào theo quy định của pháp luật thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý- kinh tế hiện nay có một số quan điểm khác nhau về vấn đề này:

Các quan điểm về kinh doanh

Quan điểm thứ nhất: đồng nhất khái niệm "chủ thể kinh doanh" với khái niệm "doanh nghiệp". Khái niệm doanh nghiệp lần đầu tiên được đề cập đến một cách chính thức trong Luật Công ty (21/12/1990) và hiện nay Luật Doanh nghiệp có giải thích như sau: "doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh " (Khoản 1, Điều 3).

Xuất phát từ thực tiễn và trên cơ sở quy định của pháp luật cho phép chúng ta khẳng định rằng: "chủ thể kinh doanh" không thể chỉ giới hạn ở những doanh nghiệp nh đề cập ở trên. Theo các văn bản pháp luật có liên quan, tham gia vào hoạt động kinh doanh còn có hộ kinh doanh cá thể và tổ hợp tác . Và đơng nhiên là chúng ta không thể thừa nhận hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác cũng là các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại trong nền kinh tế nước ta. Hay nói khác đi chúng ta không thể đồng nhất hai khái niệm "chủ thể kinh doanh" và "doanh nghiệp" với nhau được.

Quan điểm thứ hai cho rằng: "chủ thể kinh doanh" và "thương nhân" là một. Thuật ngữ "thương nhân" có từ lâu đời trong lịch sử kinh tế thế giới. Riêng ở nước ta, "thương nhân" là một khái niệm còn tương đối mới, chỉ được dùng làm ngôn ngữ pháp lý chính thức kể từ khi Luật Thương mại được ban hành.

Luật Thương mại nước ta lại không định nghĩa một cách trực tiếp mà chỉ nêu những đối tượng có thể trở thành thương nhân kèm theo các điều kiện ở những điều khoản sau đó. Tại Điều 5, Khoản 6 có viết: thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên ". Hoạt động thương mại mà Điều luật trên đề cập "là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện các chính sách kinh tế xã hội" (gồm có 14 hành vi thương mại quy định tại Điều 45 Luật Thương mại).

Như vậy, thương nhân theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam là một khái niệm rất hẹp chỉ giới hạn ở những chủ thể có đăng ký hoạt động thương mại, thực hiện các hành vi thương mại một cách độc lập thường xuyên nhằm mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Do đó, chúng ta không thể đồng nhất hai khái niệm "chủ thể kinh doanh" và "thương nhân" với nhau được.

Một vấn đề nữa cần làm rõ thêm là: chủ thể kinh doanh mà chúng ta đề cập là những chủ thể được thừa nhận về mặt tư pháp lý. Nghĩa là chúng xuất hiện trên cơ sở những sự kiện pháp lý nhất định. Chúng được pháp luật thừa nhận, bảo vệ và có quy chế pháp lý làm cơ sở cho sự tồn tại của mình, tức là chúng ta loại trừ những chủ thể kinh doanh trái pháp luật. Đó là những cá nhân, tổ chức, đơn vị mà hành vi kinh doanh của họ đã phạm vào điều cấm của pháp luật hoặc bản thân sự tồn tại thực tế của những hoạt động kinh doanh đó còn thiếu hoặc không tuân thủ những thủ tục hay điều kiện cần thiết do pháp luật quy định. Mặt khác việc thực hiện hành vi kinh doanh được chúng ta đề cập như là một hoạt động nghề nghiệp thường xuyên, chủ yếu của các chủ thể kinh doanh. Những chủ thể pháp luật khác nh các cơ quan nhà nước, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội đoàn thể… mặc dù có thể tham gia vào một quan hệ pháp lý mang tính chất kinh doanh nhng vẫn không được thừa nhận là chủ thể kinh doanh.

Nói tóm lại, chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú. Nó không những bao gồm tất cả các loại hình doanh nghiệp mà còn mở rộng đến tổ hợp tác, hộ gia đình và cá nhân nữa. Để hiểu rõ hơn về khái niệm này dới đây chúng ta sẽ phân tích những đặc điểm cơ bản của nó.

II. Đặc điểm cơ bản của chủ thể kinh doanh

Xét một cách tổng quát chủ thể kinh doanh có những đặc điểm cơ bản sau:

1. Chủ thể kinh doanh phải được thành lập, đăng ký hợp pháp

Các chủ thể kinh doanh nói chung phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận. Hiện nay, khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thì quy chế pháp lý về việc thành lập các chủ thể kinh doanh và các doanh nghiệp nói riêng có nhiều thay đổi theo hướng đơn giản hơn so với trước đây. Theo đó, các chủ thể kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp cùng với hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, và hợp tác xã trước đây chỉ cần đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng với các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp có vốn đầu t nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, việc thành lập vẫn phải tuân theo những trình tự thủ tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đang có hiệu lực. Đây là đặc điểm xác lập tư cách chủ thể pháp lý độc lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ sở để nhà nước thừa nhận và bảo vệ các chủ thể kinh doanh trước pháp luật.

2. Chủ thể kinh doanh phải có tài sản riêng

Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá bằng tiền và các quyền tài sản. Để tham gia vào hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh phải có tài sản riêng của mình. Bởi tài sản riêng là cơ sở vật chất không thể thiếu để các chủ thể này có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Dấu hiệu phải có tài sản riêng thể hiện tính độc lập và khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Nghĩa là các chủ thể này có quyền chiếm hữu (hoặc quản lý), sử dụng, định đoạt tài sản đó cũng như có quyền điều phối khối tài sản này theo nhu cầu sản xuất kinh doanh và phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trước pháp luật.

3. Chủ thể kinh doanh phải có chức năng kinh doanh

Chức năng kinh doanh là phơng diện hoạt động thường xuyên, cơ bản và chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh. Chức năng kinh doanh thể hiện ở các mặt sau:

a. Phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (gọi tắt là giấy phép kinh doanh). Đây là chứng thư pháp lý quan trọng thừa nhận một chủ thể có quyền hoạt động kinh doanh. Riêng đối với các chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì giấy phép đầu t có giá trị là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

b. Các chủ thể kinh doanh chỉ được kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề và loại hàng hoá ghi trong giấy phép kinh doanh. Mọi trường hợp kinh doanh không có giấy phép, không đúng nội dung giấy phép hoặc hàng hoá kinh doanh là đối tợng mà pháp luật cấm hoặc hạn chế lu thông sẽ không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.

c. Phải thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên nhằm mục đích chủ yếu là lợi nhuận. Với tư cách là một thực thể tham gia thị trường, nếu chủ thể kinh doanh không lấy kinh doanh làm hoạt động cơ bản để tìm kiếm lợi nhuận thì tất yếu không có sự tồn tại và không có khả năng tồn tại. Tất nhiên, chúng ta chỉ đứng ở giác độ lý luận khái quát loại trừ những chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích.

4. Chủ thể kinh doanh có tính liên quan và đối kháng với nhau

Trong điều kiện kinh tế thị trường, mỗi một chủ thể kinh doanh không tồn tại nh một tế bào kinh tế đơn lẻ mà nằm trong một hệ thống lớn lực lợng sản xuất xã hội có tính liên quan một cách hữu cơ với nhau. Các chủ thể kinh doanh phải hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự hỗ trợ này thực chất là cung cấp sản phẩm cho xã hội thể hiện nhu cầu đối với tiền vốn và sức lao động sản xuất. Có thể thấy mỗi hoạt động của chủ thể kinh doanh này có thể ảnh hởng đến hoạt động của chủ thể kinh doanh khác. Mặt khác, với t cách là một chủ thể tham gia thị trường, các chủ thể kinh doanh có tính đối kháng với những nhân tố tác động từ bên ngoài nh: khủng hoảng tài chính tiền tệ, thiên tai hoả hoạn, các thay đổi về chính sách quản lý kinh tế của nhà nước hoặc những lợi thế từ các đối thủ cạnh tranh… để có thể tồn tại, phát triển. Biểu hiện của tính đối kháng là chủ thể kinh doanh phải dựa vào chính bản thân mình để tiếp thu vật chất từ hoàn cảnh thị trường, năng động và nhạy bén thông tin, chuyển hoá nguy cơ thành cơ hội… từ đó không ngừng loại trừ, khắc phục những khó khăn; nếu không tất yếu sẽ bị quy luật thị trường đào thải. Qua việc tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của chủ thể kinh doanh chúng ta thấy rằng chủ thể kinh doanh tồn tại dới nhiều hình thức, nhiều loại với quy mô hoạt động khác nhau. Bản thân khái niệm chủ thể kinh doanh chỉ mang ý nghĩa khái quát, cần phải được hiểu cụ thể hơn. Do vậy việc nghiên cứu tìm hiểu các loại hình hoạt động của nó là hoàn toàn cần thiết.

III. Các loại hình chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Trên cơ sở quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực và tổng hợp các tiêu chí phân loại chủ thể kinh doanh, ta nhận thấy ở Việt Nam có các loại hình chủ thể kinh doanh sau:

– Doanh nghiệp nhà nước: doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có t cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.

Bên cạnh đó, có một loại hình chủ thể kinh doanh khác mà chúng ta cũng cần đề cập là các doanh nghiệp thuộc Đảng, đoàn thể. Đây là loại hình chủ thể kinh doanh được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, cũng có bản chấtư pháp lý tơng tự nh doanh nghiệp nhà nước.

– Hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiệu có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Hợp tác xã có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động trong phạm vi tài sản thuộc sở hữu của mình. Hợp tác xã có bản chất là một doanh nghiệp nhưng không đơn thuần chỉ hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận mà còn có chức năng xã hội đối với các xã viên.

– Doanh nghiệp t nhân: Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ. Chủ doanh nghiệp có thể tự mình trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thuê người khác thực hiện nhiệm vụ đó nhng vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với t cách là chủ sở hữu. Doanh nghiệp t nhân không có t cách pháp nhân, chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp (gồm cả tài sản mà chủ doanh nghiệp không sử dụng vào hoạt động kinh doanh).

– Công ty hợp danh: là doanh nghiệp không có t cách pháp nhân, có ít nhất hai thành viên hợp danh mà mỗi thành viên hợp danh có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty và có thể có thành viên góp vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Đây là loại hình chủ thể kinh doanh còn khá mới mẻ ở Việt Nam, việc thành lập thường liên quan đến điều kiện và chứng chỉ hành nghề nên số lợng đăng ký thành lập trên thực tế rất hạn chế.

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật.

– Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nước ngoài: doanh nghiệp 100% vốn đầu t nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu t nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có bản chất là công ty trách nhiệm hữu hạn, hoạt động kinh doanh độc lập và chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp do một cá nhân nước ngoài bỏ vốn ra thành lập.

– Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu t nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được tổ chức dới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, có t cách pháp nhân và chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ bằng tài sản của mình trên cơ sở vốn góp vào liên doanh của các bên.

– Tổ hợp tác: là một chủ thể dân luật, nó chỉ trở thành chủ thể kinh doanh khi có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật, có nhu cầu hoạt động thương mại, có đăng ký kinh doanh và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã của từ ba cá nhân trở lên cùng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm trong các quan hệ kinh doanh. Tổ hợp tác có đủ điều kiện để trở thành pháp nhân theo quy định của pháp luật thì đăng ký hoạt động với t cách pháp nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tổ hợp tác chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của tổ, nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của tổ thì tổ viên phải chịu trách nhiệm liên đới theo phần tơng ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.

– Hộ kinh doanh cá thể: (thực chất là cá nhân và nhóm kinh doanh hoạt động theo Nghị định 66/HĐBT ngày trước đây) là loại hình chủ thể kinh doanh không có t cách pháp nhân do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ kinh doanh tại một địa điểm cố định không thường xuyên thuê mướn lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

Ngoài những loại hình chủ thể kinh doanh nêu trên, trong thực tiễn các quan hệ kinh tế chúng ta còn thấy có một số tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng được phép hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Các tổ chức và cá nhân nước ngoài này cũng có những đặc điểm của chủ thể kinh doanh, được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận và bảo vệ quyền- lợi ích hợp pháp.

Qua việc tìm hiểu các loại hình chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có thể thấy nước ta cha có một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất làm cơ sở áp dụng chung cho tất cả các loại hình chủ thể kinh doanh. Mỗi loại hình kinh doanh có những lợi thế đặc thù và những hạn chế riêng biệt. Tuỳ vào điều kiện, khả năng, nhu cầu… các tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn cho mình một loại hình hoạt động phù hợp theo quy định của pháp luật. Chủ trơng, chính sách chung của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta là không phân biệt đối xử giữa các loại hình kinh doanh.

IV. Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh

Với t cách là một chủ thể pháp lý độc lập, các chủ thể kinh doanh không chỉ tham gia vào các quan hệ xã hội khác do các ngành luật khác nhau điều chỉnh. Do vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của chúng trong các quan hệ pháp luật khác nhau là khác nhau. Trong giới hạn cho phép, tác giả chỉ đề cập đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh trong quá trình tham gia vào các quan hệ kinh doanh do luật kinh tế điều chỉnh.

Về quyền:

Theo nghĩa phổ thông "quyền" là "điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hởng, được làm, được đòi hỏi" . Theo nghĩa pháp lý "quyền" là khả năng được tự do lựa chọn hành động, khả năng này do Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện, không có giá trị bắt buộc . Từ đây "quyền" của chủ thể kinh doanh có thể được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: quyền của chủ thể kinh doanh trong hoạt động kinh doanh là các quyền về tự do kinh doanh, quyền được Nhà nước bảo hộ về sở hữu tài sản, quyền bình đẳng trước pháp luật giữa các loại hình kinh doanh… Trong số các quyền này thì quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa quan trọng. Quyền tự do kinh doanh dới góc độ pháp lý, là quyền của các chủ thể kinh doanh trong việc lựa chọn các lĩnh vực ngành nghề để đầu t vốn, sức lao động, máy móc thiết bị, cách thức quản lý… nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh.

Quyền tự do kinh doanh có cơ sở pháp lý là toàn bộ các quy định của Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh một cách hợp lý. Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh có nội dung rất rộng bao gồm nhiều nội dung khác nhau: quyền chủ động mở rộng quy mô ngành nghề kinh doanh; quyền chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; quyền tuyển, thuê sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; quyền từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kỳ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào… ở mỗi loại hình chủ thể kinh doanh, pháp luật có những quy định cụ thể, chi tiết về quyền của chúng trong các văn bản quy phạm pháp luật tơng ứng. Thông thường khi hởng các quyền do pháp luật ghi nhận thì các chủ thể kinh doanh phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định. Đó là những nghĩa vụ về thống kê, tài chính- kế toán, kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký… cũng như tuân thủ các quy định về an ninh quốc phòng, bảo vệ tài nguyên môi trường, di tích lịch sử- văn hoá, danh lam, thắng cảnh.

Theo nghĩa hẹp: quyền của chủ thể kinh doanh là những quyền mà các bên có được, được ghi nhận trong các cam kết, thoả thuận do các bên ký kết trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đó là các hợp đồng có mục đích kinh doanh về sản xuất, mua bán, trao đổi, ký gửi… sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ… hoặc các bản điều lệ về góp vốn thành lập công ty, về phân chia lợi nhuận hoặc những văn bản thoả thuận về việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu…

Về lợi ích:

Từ điển tiếng Việt có giải thích: "lợi ích" là "cái có tác dụng tốt đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, điều có lợi cho một tập thể hay một cá nhân…". Theo Từ điển Triết học thì "lợi ích" là "khái niệm nói lên đặc điểm của cái có ý nghĩa khách quan, cần thiết cho cá nhân, gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung". Theo nghĩa pháp lý "lợi ích" (hợp pháp) "là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần phù hợp với quy định của pháp luật" .

Từ các tra cứu trên ta có thể hiểu lợi ích của các chủ thể kinh doanh như sau: Theo nghĩa rộng: lợi ích của các chủ thể kinh doanh là tất cả những điều, những cái phát sinh từ quyền do pháp luật quy định. Lợi ích của chủ thể kinh doanh có thể là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần.

Theo nghĩa hẹp: lợi ích của chủ thể kinh doanh đơn thuần chỉ là thu nhập, lợi nhuận mà các chủ thể này có được trong quá trình thực hiện hành vi kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi .

Tuy nhiên, có một điều cần đề cập rõ hơn là: dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì quyền và lợi ích của chủ thể kinh doanh phải xuất phát từ những quy định của pháp luật và phải phù hợp với những quy định của pháp luật. Đây gọi là những quyền và lợi ích hợp pháp. Đối lập lại là những quyền và lợi ích bất hợp pháp, chúng không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.

Tóm lại:

quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh là khả năng chủ thể kinh doanh được tự do lựa chọn hành động nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong quá trình hoạt động kinh doanh, phù hợp với quy định của pháp luật được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Có thể nói trong hoạt động quản lý kinh tế, việc Nhà nước quy định cho các chủ thể kinh doanh có những quyền và được hởng những lợi ích khi thực hiện các quyền đó có ý nghĩa và tác dụng rất lớn. Nó tạo lập một hành lang pháp lý an toàn chung, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh, hạn chế những "sách nhiễu" từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, qua những quy định về quyền nhà nước cũng kèm theo đó những nghĩa vụ bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh, hớng các quan hệ kinh doanh phát triển tích cực, đặt chúng trong mối quan hệ hài hoà với lợi ích chung của nền kinh tế- xã hội. Mặt khác, đây là cơ sở để Nhà nước xác định cách thức, phương pháp, công cụ bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh một cách phù hợp khi chúng bị xâm hại.

V. Những vấn đề nổi cộm

Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển nhất định và đạt được mức tăng trưởng cao. Số lợng chủ thể tham gia thị trường cũng tăng lên đáng kể, cơ chế thị trường đã hoạt động với quy mô và cờng độ lớn hơn, mức độ mở cửa của nền kinh tế nước ta với bên ngoài cũng đã tăng lên rất nhiều so với trước. Theo tính toán của các nhà kinh tế, hiện nay ở nước ta có khoảng 5.700 doanh nghiệp nhà nước; 14.791 công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã; 491 doanh nghiệp có vốn đầu t nước ngoài; 1,5 triệu hộ kinh doanh cá thể và tổ hợp tác. Đó là chưa kể hàng năm dự án nước ngoài đã được cấp phép và hơn 10.000 doanh nghiệp mới được thành lập theo Luật Doanh nghiệp trên phạm vi cả nước (tính đến tháng 11/2000) cùng hàng trăm doanh nghiệp nước ngoài, cũng nh các tổ chức cá nhân nước ngoài khác đang hoạt động thương mại ở Việt Nam.

Với một số lượng rất lớn chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường nh vậy thì không thể nào tránh khỏi những nghiệt ngã của thương trường, kéo theo nhiều vấn đề phát sinh. Dưới đây sẽ đề cập đến một số khía cạnh:

Một là, xét ở bình diện riêng đối với các loại hình chủ thể kinh doanh:

– Đối với các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp nhà nước nói chung, đây là lực lợng đóng góp cho quốc gia mỗi năm 40% GDP, gần 60% nguồn thu thuế và lệ phí của ngân sách nhà nước, chiếm giữ 70% vốn và tài sản cố định của nền kinh tế (không tính vốn và tài sản của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) sử dụng khoảng 15% lực lợng lao động trong các ngành nghề phi nông nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp nhà nước choáng ngợp với cơ chế thị trường kinh doanh lúng túng, kém hiệu quả, thua lỗ liên tục, bộc lộ nhiều hạn chế về quy mô, công nghệ, khả năng quản lý điều hành…

– Đối với chủ thể kinh doanh là các công ty, doanh nghiệp t nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác, các đơn vị này có đóng góp hàng năm từ 8% đến 10% GDP, tạo được trung bình 500.000 chỗ làm việc mới, giải quyết nhiều việc làm cho lực lợng lao động trong mùa nông nhàn (nhất là các hợp tác xã, tổ hợp tác tiểu thủ công nghiệp). Hiện nay, loại hình hợp tác xã rất được a chuộng vì nó được Nhà nước khuyến khích có nhiều u đãi nên có xu hớng "hợp tác xã hóa" mục đích là nhằm trốn thuế. Riêng ở các công ty và doanh nghiệp t nhân nổi lên tình trạng buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo. Cá biệt có nhiều doanh nghiệp cấu kết và hối lộ với cán bộ nhà nước có thẩm quyền trong một thời gian dài nhập một số lượng hàng lậu lớn vào Việt Nam, gián tiếp bóp chết nền sản xuất non trẻ trong nước, nhất là điện tử và ô tô, gây tổn thất cho ngân sách nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, thiệt hại lâu dài đối với nền kinh tế quốc dân không thể thống kê được. Nguyên nhân chính là do Nhà nước buông lỏng quản lý hoặc có nhưng không chặt chẽ khâu sau thành lập đối với các doanh nghiệp này nói chung.

– Đối với các chủ thể kinh doanh có vốn đầu t nước ngoài, có đóng góp gần 15% GDP, thu hút số lượng lớn lao động trẻ của Việt Nam. Bên cạnh những u thế về vốn, trình độ tổ chức quản lý cao, thiết bị công nghệ sản xuất hiện đại, hoạt động kinh doanh có hiệu quả… các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường có những hạn chế biểu hiện ở các mặt: bóc lột quá sức lao động của công nhân nói riêng và vi phạm luật lao động nói chung, xâm phạm thuần phong mỹ tục của Việt Nam.

– Đối với hộ kinh doanh cá thể, tạo ra khoảng 9% GDP, sử dụng hơn 3 triệu lao động. Hiện nay nhiều cá nhân hộ gia đình hoạt động với số vốn rất lớn nhng vẫn không có nhu cầu chuyển sang các loại hình kinh doanh khác. Họ mở rộng quy mô hoạt động của mình bằng việc tiếp tục đăng ký kinh doanh thêm dới tên của người khác hoặc nhận làm đại lý cho các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Thông qua đó họ "cẩn thận" kinh doanh thêm nhiều loại mặt hàng khác không đúng với nội dung đăng ký kinh doanh. Tình trạng này diễn ra khá phổ biến, trong nhiều trường hợp làm phát sinh những hậu quả đáng tiếc.

Hai là, xét trên bình diện chung, thực tiễn hoạt động của các chủ thể kinh doanh nổi lên các vấn đề chính sau:

+ Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, biểu hiện của tình trạng này là các hành vi: đầu cơ để lũng đoạn thị trường, bán phá giá, nâng- ép giá, xâm phạm về quyền nhãn hiệu hàng hoá cũng như các quyền về sở hữu công nghiệp của các chủ thể kinh doanh khác, quảng cáo so sánh dối trá, bán và lưu thông hàng nhái, hàng kém phẩm chất, hàng giả… Những biểu hiện có xu hớng tăng lên một cách đáng lo ngại. Pháp luật của chúng ta về vấn đề này cũng đã có điều chỉnh nhng cũng còn thiếu, rải rác và chưa hệ thống.

+ Nhiều chủ thể kinh doanh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán đối với các khoản nợ đến hạn, kéo theo những khiếu kiện dông dài hoặc những cách đòi nợ theo kiểu "luật rừng", "cá lớn nuốt cá bé"… làm mất trật tự và an toàn xã hội, gây nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng.

+ Các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động gia tăng đáng kể, nhất là các tranh chấp về hợp đồng kinh tế. Mặt khác, tình trạng nhiều chủ thể kinh doanh cố tình vi phạm hợp đồng, lừa đảo, chiếm dụng vốn của các đối tác diễn ra phổ biến.

Có thể nói, trong giai đoạn quá độ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hớng xã hội chủ nghĩa, những yếu tố của cơ chế mới đang trong quá trình hình thành, cha đồng bộ nên cha đủ sức thay thế hoàn toàn những yếu tố của cơ chế cũ. Đó là một quá trình đấu tranh toàn diện, gay go và phức tạp giữa những lực lợng tiến bộ và những lực lợng lạc hậu, phi tiến bộ. Trong bối cảnh đó, việc các chủ thể kinh doanh có những biểu hiện ở trên trong hoạt động của mình là điều có thể hiểu và lý giải được./.

===============================================

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 6/2001.

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI OAN SAI TRONG TỐ TỤNG

TS. DƯƠNG THANH MAI – CN. NGUYỄN HOÀNG HẠNH

1. Thực trạng chung

Báo Pháp luật ngày 3/6/2001 đa tin tại trang 1: “Bắt oan sai, bồi thường 30 triệu đồng” với nội dung: Chánh văn phòng Huyện uỷ huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã chủ trì cuộc họp, thoả thuận bồi thường cho gia đình ông Võ Văn Chiêu 30 triệu đồng do cơ quan tố tụng của huyện đã bắt và giam giữ oan sai 4 người con trai của ông Chiêu (có một người ở độ tuổi cha thành niên) trong thời gian 3 tháng. Và không chỉ ở Việt Nam… Toà án nhân dân Thành phố Nam Ninh, Khu tự trị dân tộc Choang, Trung Quốc, dựa trên bản án phúc thẩm tuyên vô tội và căn cứ vào Luật Nhà nước bồi thường 1995, đã xác định toà án sơ thẩm quận kết án và giam oan sai 352 ngày đối với Giám đốc công ty thương mại X vì tội danh “Không chấp hành bản án dân sự”, do đó, phải bồi thường 3.706,3 NDT cho việc xâm phạm tự do cá nhân và 4.519,37 NDT về các chi phí thực tế khác mà nạn nhân đã phải gánh chịu trong quá trình tố tụng. Tại Thuỵ Điển, trong vụ ám sát cố Thủ tướng Ô Lếch Pam-mơ năm 1986, người bị tình nghi và bị giam oan 10 tháng đã được bồi thường 300.000 Crown (tương đương 45.000 USD).

Hơn thế nữa, đây cũng không chỉ còn là vấn đề nội bộ của từng quốc gia… Hội đồng giải quyết khiếu kiện hỗn hợp Hoa Kỳ- Mexico đã ra phán quyết Chính phủ Mexico phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho H. Robert- công dân Hoa Kỳ do bị các cơ quan tố tụng của Mexico giam giữ quá thời hạn luật định (19 tháng) mà không được đa ra xét xử. Từ những vụ việc cụ thể trên có thể thấy, hiện tợng oan sai trong hoạt động tố tụng không chỉ xảy ra ở Việt Nam hay cá biệt ở một nước nào mà tồn tại ở mọi nước trên thế giới với số lợng và mức độ nghiêm trọng khác nhau. Các quốc gia đều phải tìm cách tiếp cận và giải quyết vấn đề phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống pháp luật của nước mình thông qua việc xây dựng và hoàn thiện chế định pháp lý về bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị oan sai do cơ quan tố tụng gây ra, thể hiện ngày một đầy đủ hơn trách nhiệm của nhà nước trước công dân nước mình cũng như trước quốc gia và công dân nước khác về hoạt động của các cơ quan, công chức tư pháp.

2. Bồi thường thiệt hại ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan tư pháp đã góp phần tích cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp luật và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ tích cực cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước. Tuy nhiên, việc xử lý oan sai trong hoạt động điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử các vụ án hình sự hiện vẫn đang còn là vấn đề bức xúc, đáng lo ngại. Theo số liệu báo cáo chính thức của các cơ quan tư pháp, trong quý 4/1999 và quý 1/2000 qua xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, toà án nhân dân các cấp đã tuyên 73 bị cáo không có tội; năm 2000, toà án nhân dân (TAND) cấp tỉnh đã huỷ 334 bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại (chiếm 4,08%), các toà phúc thẩm của TAND tối cao huỷ 127 vụ (chiếm 1,1,%) cấp giám đốc thẩm huỷ 21 bản án để điều tra, xét xử lại và kết quả sau xét xử lại là giảm án đối với 8 vụ, tuyên vô tội đối với 8 vụ khác. Tình trạng người bị oan sai khiếu kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự đang có xu hớng gia tăng. Cùng với quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay, sự ưu tiên hàng đầu được dành cho vấn đề nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trước các công dân, trong đó có vấn đề bồi thường thiệt hại cho các công dân bị các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý oan sai. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã khẳng định yêu cầu: “Đối với việc bắt giữ, xét xử oan sai cần truy cứu trách nhiệm của những người ra lệnh và người thừa hành, đồng thời minh oan công khai, thoả đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử oan sai, đảm bảo quyền công dân đúng pháp luật” Trong khi đó, thực tế công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra còn nhiều bất cập, cha đáp ứng kịp thời những đòi hỏi chính đáng của người dân khi mà tài sản, uy tín, danh dự, các quyền và lợi ích hợp pháp khác, thậm chí cả tính mạng

của họ bị xâm phạm. Việc bồi thường trong các vụ oan sai đã được xử lý cho thấy vẫn cha có một cách thức thống nhất nào được áp dụng, mức bồi thường phần lớn phụ thuộc vào sự “tự nguyện” của các cơ quan tố tụng hoặc của chính quyền địa phơng. Ví dụ nh anh Bùi Minh Hải sau 13 tháng chấp hành hình phạt tù chung thân vì bị kết tội giết người, hiếp dâm và cớp tài sản của công dân đã được trả tự do vì không phạm tội và được các cơ quan tố tụng tỉnh Đồng Nai bồi thường thiệt hại vật chất 60 triệu đồng, bồi thường danh dự 5 triệu đồng. Trong khi đó nhớ lại, cách đây một năm, Báo Pháp luật Thành

phố Hồ Chí Minh (ngày 23/5/2000) nêu câu hỏi day dứt: “Ai sẽ bồi thường 140 ngày tù oan?” cho người phụ nữ được toà tuyên vô tội sau khi đã bị giam oan 4 tháng hai mơi ngày nhưng sau hơn 5 năm khiếu kiện vẫn cha có cơ quan tố tụng nào của tỉnh Phú Yên đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường… Các báo cáo chính thức của các cơ quan nhà nước hữu quan mới chỉ đa ra các con số thống kê chưa đầy đủ về số lợng các vụ oan sai chứ cha có thống kê cụ thể nào về việc xử lý các trường hợp oan sai và giải quyết bồi thường thiệt hại. Một trong các căn nguyên chính của tình trạng trên là do những bất

cập trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam trong lĩnh vực này.

3. Những bất cập trong pháp luật về bồi thường thiệt hại

Pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra những bất cập cần được giải quyết trong nghiên cứu lập pháp.

Điều 72 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Người bị bắt, bị giam giữ, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”. Nguyên tắc hiến định này được cụ thể hoá một bước thành chế độ trách nhiệm pháp lý của các cơ quan và cá nhân tiến hành tố tụng gây oan sai.

Điều 24 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà bị xử lí kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 phân định rõ thêm: cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, sau đó có trách nhiệm yêu cầu người đó bồi hoàn khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Như vậy, có thể thấy rằng, Hiến pháp và các bộ luật đã xác lập một số nguyên tắc cơ bản: người bị oan sai phải được cơ quan tiến hành tố tụng có người gây oan sai bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần, danh dự; bản thân người có thẩm quyền đã gây oan sai phải chịu trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền bồi thường thiệt hại và tuỳ trường hợp, đồng thời phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự .

Để hướng dẫn thi hành các nguyên tắc trên, ngày 3/5/1997, Chính phủ đã có Nghị định 47/CP về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Trên cơ sở Nghị định đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 38/TT-BTC ngày 30/3/1998 hớng dẫn việc lập dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/1998 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 47/CP.

Thực tiễn áp dụng các văn bản trên cho thấy những bất cập chính sau:

– Chưa có một văn bản riêng, có hiệu lực pháp luật cao quy định toàn diện các vấn đề có tính đặc thù của việc bồi thường đối với trường hợp oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra.

– Chưa có quy định cụ thể về các loại oan sai trong tố tụng hình sự; các căn cứ pháp lý để xác định một người bị oan sai; phạm vi oan sai được bồi thường thiệt hại; căn cứ xác định mức độ thiệt hại và mức bồi thường đối với từng loại oan sai, đặc biệt là mức và cách thức bồi thường những thiệt hại do bị xâm phạm quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm.

– Các quy định hiện hành về trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại và hoàn trả bồi thường cha giải quyết được các vấn đề đặc thù của trường hợp oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là những khó khăn, vớng mắc trong việc xác định trách nhiệm (độc lập và liên đới) của các cơ quan và cá nhân tiến hành các bớc, các giai đoạn tố tụng vốn có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Việc xác định trách nhiệm của người ra lệnh và người thừa hành theo tinh thần của Hội nghị Trung ơng 8 khoá VII cho đến nay vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ cha có trả lời cụ thể xác đáng. Ví dụ nh việc điều tra viên bắt người để tạm giam theo lệnh của thủ trưởng cơ quan điều tra có phê chuẩn của viện kiểm sát và việc tạm giam này sau đó được xác định là sai, bị can không phải là người phạm tội trong trường hợp này những cơ quan, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm bồi thường cho nạn nhân?

– Các quy định về lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho các khoản tiền bồi thường thiệt hại tuy có ưu điểm là đơn giản, tập trung một đầu mối ở cơ quan tài chính địa phương nhưng trên thực tế lại không phù hợp với cơ chế quản lí kinh phí theo ngành dọc hiện nay của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Chính vì những bất cập trên của pháp luật trước thực tiễn đầy bức xúc nên đầu năm 2000 Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các cơ quan đảng, nhà nước phải khẩn trương nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách và chuẩn bị ngay các văn bản để ban hành làm cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp bị oan sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên, với chủ trơng Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, việc nghiên cứu so sánh pháp luật của các nước về bồi thường thiệt hại do các cơ quan tố tụng gây ra là điều rất cần thiết nhằm giúp cho các nhà lập pháp nắm được những nét tơng đồng có tính phổ biến cũng nh những điểm khác biệt của từng nước, từ đó lựa chọn, rút ra những kinh nghiệm quý, kể cả kinh nghiệm thành công và cha thành công của việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này ở các nước, đặc biệt là ở những nước có truyền thống văn hoá và pháp luật cũng nh có các điều kiện phát

triển về chính trị, kinh tế- xã hội gần gũi với Việt Nam. Cách tiếp cận đó sẽ góp phần làm hài hoà hệ thống pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước và pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại đồng thời vẫn giữ được bản sắc, đặc trng phù hợp với trình độ phát triển của đất nước.

4. Những quan điểm định hướng để xây dựng các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại

Các quan điểm của Đảng về cải cách hành chính và cải cách tư pháp cần được quán triệt thành những định hướng chỉ đạo việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp việc bồi thường thiệt hại cho các trường hợp oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra, cụ thể là:

– Khẳng định trách nhiệm trước tiên và trên hết thuộc về Nhà nước trong việc giải quyết, khắc phục các hậu quả, bồi thường thiệt hại cho công dân bị oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra đồng thời xác định rõ cơ sở phân định trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đã gây oan sai.

– Phạm vi oan sai mà người gánh chịu được quyền yêu cầu bồi thường, mức độ và cách thức bồi thường phải được quy định bằng Luật, đảm bảo tính công bằng nhng phải phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội ở từng giai đoạn, có tính khả thi.

– Thủ tục, trình tự giải quyết bồi thường thiệt hại phải đơn giản, rõ ràng, thuận tiện và nhanh chóng, dứt điểm phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và tư pháp nhằm vừa bảo vệ triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vừa giảm thiểu những tổn thất, đau khổ kéo dài mà người bị oan sai tiếp tục phải gánh chịu.

– Tạo ra và đảm bảo thực thi các cơ chế hữu hiệu để tăng cờng sự giám sát, kiểm tra của công dân, của xã hội đối với các quá trình tố tụng cũng nh đối với việc Nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện việc bồi thường cho người bị oan sai theo quy định của pháp luật. Chính cơ chế giám sát và tự giám sát này sẽ góp phần quan trọng thực hiện chủ trơng đã được Đại hội Đảng IX một lần nữa khẳng định: “cải cách tổ chức, nâng cao chất lợng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ,

truy tố, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan sai”.

———————————————————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 6/2001