ÁP DỤNG ÁN LỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC DUY MỸ

Có một thực tế là, dù VN rất tích cực đổi mới pháp luật theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng pháp luật về kinh tế, thương mại của nước ta vẫn còn có những khoảng cách nhất định so với pháp luật về thương mại của các nước, đặc biệt là với những chuẩn mực pháp lý của WTO mà VN sẽ trở thành thành viên trong một tương lai gần. Vấn đề không chỉ là những cách biệt về mặt quan điểm và kỹ thuật pháp lý, mà trong thực tiễn, chúng tạo nên những khó khăn cho việc hội nhập và nhất là đối với các quan hệ thương mại quốc tế. Một dẫn chứng sau đây cho thấy điều đó:

Vụ việc

Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung VN. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết.

Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại VN.

Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại VN. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.

Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ tư pháp, phán quyết của Trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại VN.

Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật VN khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại VN.

Vấn đề

Vụ việc trên đặt ra những vấn đề sau:

– Có sự khác biệt giữa pháp luật VN và quốc tế về khái niệm thương mại:

Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất, mua bán và dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của VN. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loạt các hành vi thương mại, theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thác hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán, các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian thương mại, ngân hàng, hối đoái, … đều được xem là hành vi thương mại.

Ngược lại, trong Luật thương mại VN năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hoá, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm thương mại. Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp; tức chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá và những tác vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hoá. Luật thương mại năm 2005, tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại, là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành có liên quan. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không nhất quán trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.

– Nếu cho phép vận dụng án lệ, vấn đề trở nên dễ dàng hơn:

Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại VN qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước.

Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ.

Đăt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại VN, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.

Án lệ

Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật đặc thù, đó là án lệ. An lệ là trường hợp các quyết định xét xử của toà án hoặc của cơ quan hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc toà án tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của toà trong trường hợp này có giá trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan toà đưa ra các bản án. Nói cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của toà án về một hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc bản thân các quy định của pháp luật có thiếu sót, hoặc không thể giải thích.

Các luật gia ở các nước thuộc hệ thống luật Anh, Mỹ chứng minh sự cần thiết của án lệ khi cho rằng toà án trong nhiệm vụ xét xử của mình có quyền sáng tạo các quy tắc mang tính chuẩn mực trong án lệ, giúp tạo ra quan niệm đồng nhất trong xét xử, nhất là trong điều kiện pháp luật thường lạc hậu hơn so với những gì đang diễn ra trong đời sống. Trong thực tiễn, việc vận dụng án lệ buộc các thẩm phán phải đọc các án văn của các toà án khác cũng như những bản án của toà án cấp trên trong quá trình phúc thẩm, nhất là các bản án giám đốc thẩm.

Thực ra, án lệ có lịch sử xuất hiện từ rất lâu. Trong pháp luật La Mã có một nguyên tắc là “Stare decisis”, nghĩa là phải tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một ”tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này. Có thể được tóm tắt án lệ qua những đặc điểm như: tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ giống nhau; giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp, điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng; tiết kiệm công sức của các thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc …

Thông thường, người ta có quan niệm rằng án lệ là một hình thức pháp luật đặc thù của các nước thuộc hệ thống Anh, Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của toà phúc thẩm có giá trị như một nguồn luật qua việc công bố các bản án của toà cấp phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc tương tự.

Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, từ lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để toà án, trọng tài thương mại dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp thương mại. Cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc tương tự. Điểm khác là, các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông luật.

Áp dụng ở VN

VN trước nay không xem án lệ là một nguồn luật. Thẩm phán khi xét xử vụ việc chỉ dựa vào các quy định trong văn bản pháp luật, không đặt ra những tiền lệ để áp dụng sau này. Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 3 có đề cập đến khả năng áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự nhưng không đề cập đến án lệ như là hình thức vận dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại toà. Việc không thừa nhận án lệ trong các tranh chấp thương mại ở VN có thể làm tăng thêm khó khăn cho các chủ thể tố tụng như các thẩm phán, luật sư và cả các bên đương sự. Sở dĩ như vậy là vì từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các vụ việc tranh chấp trong kinh doanh có một số điểm đặc thù so với tranh chấp trong dân sự thông thường.

Mặt khác, một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc khả năng áp dụng án lệ ở VN là việc VN đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và sắp tới là việc gia nhập WTO. Điều này đặt ra yêu cầu là công tác tài phán phải biết cách tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài qua việc công nhận và cho thi hành tại VN. Phương án sử dụng án lệ có thể được xem như là một nguồn luật bổ sung tuỳ theo mức độ để hoà nhập hệ thống tài phán của VN với hệ thống tài phán quốc tế. Điều này không hề làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp nước ta mà trái lại tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại VN thay vì phải đưa vụ tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài.

Thực hiện áp dụng án lệ tại VN là một quá trình lâu dài, song hành với tiến trình hội nhập. Trước mắt, Toà án nhân dân tối cao đã hoàn chỉnh và công khai hóa các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại điển hình của năm 2004, trong đó có các quyết định giám đốc thẩm về các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại. Đây là cách tiến hành theo hướng hình thành và công nhận án lệ. Cần phải thừa nhận những nỗ lực từ lâu của ngành toà án với việc trong các báo cáo tổng kết hàng năm của mình, Tòa án nhân dân tối Cao đều có trình bày, phân tích những vụ án điển hình, chỉ ra những vướng mắc, sai sót trong tố tụng ở cấp sơ thẩm và ban hành các thông tư hướng dẫn để các Tòa án nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong công tác xét xử khi gặp những vụ việc tương tự. Điều này có thể xem là những nỗ lực ban đầu theo hướng tiếp cận án lệ phục vụ công tác xét xử. Về lâu dài, cần xuất bản hẳn một tập san án lệ như cách làm của nhiều nước. Tập san án lệ sẽ thường xuyên phổ biến những quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao làm căn cứ cho tòa án các cấp. Tất nhiên, cùng với điều này, phải có những quy định bắt buộc đối toà án các cấp trong việc sử dụng có hiệu quả các phán quyết của toà cấp trên khi gặp những vụ việc tương tự.

Phổ biến án lệ cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải. Cần phải nghĩ đến việc phổ biến công khai các bản án của Toà án nhân dân tối cao trên các phương tiện thông tin như internet chẳng hạn. Điều này góp phần không nhỏ vào việc tăng cường giáo dục pháp luật và tạo niềm tin nơi doanh nhân và công chúng vào tính minh bạch, công khai của hệ thống toà án – một điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của VN ª

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 5/2006

VỀ TÍNH KHÓ HIỂU CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO HIỂM NHÂN THỌ TIẾP CẬN NGƯỜI DÂN DẼ HƠN

NGUYỄN TIẾN HÙNG

Tính khó hiểu

1. Trên phương diện lý luận

° Hệ quả của các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm

– Thứ nhất, xuất phát từ tính may rủi (aléatoire/ aleatory) của hợp đồng bảo hiểm. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm gắn liền với những rủi ro tức những biến cố không chắc chắn. Chính vì vậy mà nhà bảo hiểm khi chấp bút hợp đồng phải đưa ra nhiều tình huống giả định (nếu thế này thì.., nếu thế kia thì…, ngoại trừ…. v..v…). Điều này làm cho câu văn sử dụng để diễn đạt luôn phức tạp, hơn nữa, nhà bảo hiểm miêu tả các trường hợp giả định ở mức độ khái quát cao làm người đọc phải cố gắng hình dung ra các trường hợp đó. Tất nhiên, vì trình độ rất khác nhAau và lĩnh vực hoạt động rất khác nhau nên không phải ai nếu không nói là ít người có thể có trình độ, hiểu biết chuyên môn đầy đủ để hiểu tường tận một cách thống nhất với nhà bảo hiểm. Sự khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm, vì vậy, e rằng khó tránh khỏi;

– Thứ hai, xuất phát từ tính gia nhập của hợp đồng bảo hiểm, biểu hiện ở chỗ hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu, mở sẵn và do nhà bảo hiểm soạn thảo (và được Bộ tài chính chấp nhận) chứ không phải hình thành từ việc đàm phán trực tiếp của hai bên như các hợp đồng mua bán khác. Điều này đòi hỏi người mua bảo hiểm phải đọc thật kỹ để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trước khi ký kết và trong khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Nhưng, ngay cả khi đọc kỹ, nếu không có sự giúp đỡ, tư vấn của người hoạt động chuyên ngành, chưa chắc người mua bảo hiểm có thể hiểu đúng và thống nhất với người chấp bút các điều khoản.

° Xuất phát từ các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: bảo hiểm nhân thọ là có tính “đa mục đích” (bảo vệ, tiết kiệm và đầu tư), dài hạn và có mối quan hệ phức tạp bên người mua bảo hiểm (người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng,…), vì thế, hệ thống sản phẩm nhân thọ rất đa dạng về chủng loại: sản phẩm chính (sinh kỳ, tử kỳ, niên kim, trọn đời, hỗn hợp,…), sản phẩm bổ trợ (tai nạn, bệnh, từ bỏ thu phí..) và phức tạp (sản phẩm kết hợp, sản phẩm có khả năng chuyển đổi, liên kết nhân mạng,…). Điều này dẫn đến có sự mâu thuẫn giữa tính phức tạp, chuyên biệt của sản phẩm bảo hiểm với mức độ hiểu biết về bảo hiểm chưa cao của đại đa số khách hàng.

2. Trên phương diện thực tiễn

– Một là, ngành bảo hiểm là một ngành du nhập vào nước ta và cũng chỉ mới trong thời gian đầu. Hầu hết các hợp đồng bảo hiểm, đặc biệt, là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đều dựa theo mẫu của nước ngoài nên khi chuyển đổi ngôn ngữ, một số từ ngữ còn rất mới mẻ và khó hiểu chưa được bổ sung vào từ điển tiếng Việt phổ thông (trong khi đó vẫn chưa có từ điển thuật ngữ chuyên ngành bảo hiểm nhân thọ đầy đủ).

– Hai là, thị trường bảo hiểm nhân thọ nước ta chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây. Nhận thức của người dân về bảo hiểm còn nhiều hạn chế mà việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo hiểm cho người dân một cách rộng rãi hình như chưa được quan tâm đúng mức. Một khi chưa biết nhiều về bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm thì khi tiếp cận với hợp đồng bảo hiểm nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng gặp khó khăn, khó hiểu là điều dễ hiểu.

– Ba là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng hiện nay chưa đủ và bất cập. Chính vì thế, thật khó khăn cho việc tiếp cận tìm hiểu ngay cả đối với những người hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm chứ đừng nói đến từng người dân bình thường.

Làm thế nào để sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tiếp cận cho người dân dễ hơn?

Như vậy, tính khó hiểu, khó tiếp cận của hợp đồng bảo hiểm là do những tính chất vốn có của nó (tính may rủi, tính gia nhập,…) và do những nguyên nhân thực tế khách quan. Rõ ràng rằng nếu chỉ một mình nhà bảo hiểm không thể làm cho HĐBH dễ hiểu hơn.

Để sản phẩm bảo hiểm dễ hiểu hơn, tiếp cận dân chúng dễ dàng hơn, một số giải pháp có thể đặt ra như sau:

1. Về phía Nhà nước và Hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm:

– Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng.

– Việc thông tin và giáo dục về bảo hiểm cũng như pháp luật bảo hiểm cần được tăng cường và phổ biến rộng rãi (các phương tiện thông tin đại chúng, biên sọan và xuất bản các ấn phẩm có liên quan, biên sọan từ điển bảo hiểm…).

– Tạo điều kiện khuyến khích mạng lưới trung gian bảo hiểm phát triển dưới hình thức môi giới bảo hiểm, đại lý độc lập để giúp người dân tiếp cận bảo hiểm một các dễ dàng và bảo vệ quyền lợi của người mua bảo hiểm.

2. Về phía các nhà bảo hiểm:

– Tăng cường đào tạo chuyên môn cho các cán bộ – nhân viên;

Việc chấp bút hợp đồng bảo hiểm phải cố gắng làm sao cho phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ của nước ta, đơn giản đến mức có thể có nhưng không ảnh hưởng đến những nội dung quan trọng của hợp đồng bảo hiểm.

– Tăng cường hệ thống đại lý bảo hiểm về trình độ lẫn đạo đức nghề nghiệp để phục vụ tốt và tận tâm cho khách hàng bảo hiểm.

3. Về phía người mua bảo hiểm:

Chủ động tiếp cận và tự nâng cao trình độ về mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bảo hiểm. Phải thấy được rằng hợp đồng bảo hiểm khó hiểu bởi vì tính chất vốn có của nó, muốn hiểu được thì bản thân phải tự hoàn thiện, khắc phục điểm yếu của mình trong mối quan hệ với nhà bảo hiểm trên hợp đồng bảo hiểm. Đành rằng, khi thị trường bảo hiểm phát triển, mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm và nhà bảo hiểm là qua trung gian (môi giới, đại lý), nhưng kiến thức cơ bản về bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm sẽ giúp người mua tự bảo vệ quyền lợi của mình tốt nhất và với chi phí thấp nhất ª

———————————————————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 7/2006

QUẢN LÝ LAO ĐỘNG THEO GIỚI LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 TS. LÊ THANH HÀ

1. Bản chất của quản lý lao động theo giới 

Theo chúng tôi, quản lý lao động (QLLĐ) theo giới về thực chất là việc thường xuyên quan tâm đến yếu tố giới, tạo cơ hội bình đẳng cho sự tham gia của nam và nữ trong các nội dung QLLĐ, bao gồm các nội dung xây dựng và tổ chức thực hiện luật pháp và chính sách lao động (LĐ) các cấp từ trung ương đến cơ sở; ra các quyết định về LĐ và tuyển dụng, sử dụng LĐ ở các địa phương, cơ quan, đơn vị. 

Rõ ràng, các nội dung QLLĐ tác động trực tiếp đến người LĐ, trong đó có cả nam và nữ, họ vừa là người thực thi, vừa là người thụ hưởng thành quả của các nội dung QLLĐ này. Việc đưa vấn đề giới vào các nội dung QLLĐ, với mục đích tạo sự tham gia tích cực của cả nam và nữ trong việc hình thành luật pháp, chính sách, quyết định về các vấn đề LĐ là cần thiết bởi lẽ, bằng chính sự tham gia đó của cả hai giới, các nội dung QLLĐ sẽ có tính bao phủ cao hơn, thoả mãn hài hoà lợi ích của cả hai giới, sẽ được người LĐ chấp nhận và mang lại hiệu quả cao. Nhiều tổ chức quốc tế đã thực hiện nghiên cứu, tổng kết cho các kết luận bổ ích về khía cạnh kinh tế của vấn đề này. Theo Ngân hàng Thế giới “Đầu tư vào sự phát triển của phụ nữ mang lại lãi suất cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào khác ở các nước đang phát triển” Theo Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc: “Đầu tư vào khả năng của phụ nữ và tạo quyền cho họ thực hiện lựa chọn cơ hội không chỉ đem lại lợi ích cho phụ nữ, mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển chung” [1].  

Mặt khác, mục tiêu của phát triển là lấy con người làm trung tâm: phát triển vì con người, của con người và do con người, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Song con người bao gồm nữ và nam có cấu tạo cơ thể khác nhau, xã hội lại quan niệm và nhìn nhận họ khác nhau nên các cơ hội của họ cũng khác nhau khi tham gia các nội dung QLLĐ. Ở phần lớn các quốc gia, bao giờ nữ cũng thiếu các cơ hội so với nam nên LĐ nữ cũng thiếu cơ hội hơn so với LĐ nam. Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng: tạo cơ hội cho nữ bình đẳng với nam trong LĐ và QLLĐ sẽ làm cho quá trình phát triển bền vững hơn, hiệu quả hơn. Cho nên, việc tạo điều kiện và cơ hội cho nữ đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước và hưởng lợi bình đẳng kết quả của phát triển xã hội là nội dung quan trọng trong QLLĐ. Những phân tích trên đã chỉ ra rằng, nghiên cứu vấn đề QLLĐ theo giới về thực chất là nghiên cứu sự bình đẳng giữa nam và nữ trong quá trình LĐ, cũng như sự tham gia của họ trong vấn đề xây dựng, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chính sách và quyết định về LĐ ở các cấp từ trung ương đến cơ sở. 

2. Tiếp cận QLLĐ theo giới ở các quốc gia trên thế giới 

Đã có sự thay đổi trong quá trình nhìn nhận vấn đề QLLĐ từ góc độ giới. Trước đây, LĐ nữ thụ động trong mọi công việc và phụ thuộc vào nam giới, ngày nay, LĐ nữ đã được coi là những người độc lập. Đã có 6 quan điểm trong quá trình nghiên cứu phụ nữ kể từ những năm 50 của thế kỷ XX, từ những quan điểm này đã có các chính sách đối với LĐ nữ khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. 

Quan điểm phúc lợi xuất hiện trước năm 1950 ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước châu Á. Người phụ nữ bị phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới, họ hầu như không tham gia vào quá trình QLLĐ, “họ chỉ được xem là những người hưởng lợi một cách thụ động trong quá trình phát triển “ và “nhấn mạnh vai trò sinh đẻ của họ”. Theo quan điểm này các chính sách xã hội vĩ mô được xây dựng để hỗ trợ vai trò làm mẹ, làm vợ của LĐ nữ (trợ cấp lương thực, vật phẩm, tiền…) và hầu như không có sự tham gia của nữ trong các nội dung QLLĐ. 

Quan điểm về bình đẳng thuần tuý ra đời từ những năm 1960 đến 1970 là quan điểm đầu tiên liên quan đến phụ nữ trong sự phát triển. Quan điểm này cho rằng phụ nữ tham gia tích cực trong quá trình phát triển nhưng họ lại bị “tụt hậu” quá xa so với nam giới, vì vậy chính sách vĩ mô của Nhà nước cần chú ý tới cơ cấu phụ nữ trong cơ cấu hiện hành, xây dựng sự bình đẳng trong luật pháp. Quan điểm này chưa làm rõ mối quan hệ giữa nam và nữ và sự khác nhau về những khoảng cách giữa hai giới, đồng thời bỏ qua tình trạng bất bình đẳng giới ở từng địa phương. 

Quan điểm chống nghèo đói xuất hiện cuối những năm 1970, cho rằng sự bất bình đẳng về kinh tế giữa nam và nữ là do nghèo đói chứ không phải là hậu quả của sự phụ thuộc. Do vậy, chính sách của Nhà nước đề cập đến vai trò sản xuất của nữ và tăng việc làm, thu nhập cho nữ. Quan điểm này không đề cập đến vai trò tái sản xuất của nữ và những phong tục, tập quán cản trở sự tham gia của nữ. Do vậy, LĐ nữ hầu như chỉ làm các nghề đơn giản có thu nhập thấp. Vai trò của nữ được thừa nhận nhưng vị trí của họ chưa được cải thiện. Mức độ tham gia của họ trong QLLĐ, đặc biệt ở cấp cao, bị hạn chế. 

Quan điểm sử dụng triệt để sức LĐ của nữ giới cho rằng sự đóng góp của phụ nữ vào quá trình phát triển của quốc gia chưa nhiều và LĐ nữ là nguồn tiềm năng phát triển chưa được vận dụng hết, cần phải được sử dụng tốt hơn. Theo đó, các chính sách vĩ mô được xây dựng nhằm hoà nhập phụ nữ vào quá trình phát triển để sử dụng hết nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả quá trình phát triển. Quan điểm này mới chú ý tới sử dụng LĐ nữ, chưa đề cập tới sự hưởng lợi của họ nên họ phải chịu áp lực nhiều hơn trong công việc: vừa phải làm tốt việc cơ quan, vừa đảm nhận vai trò tái sản xuất sức LĐ trong gia đình. Các bất bình đẳng mới lại xuất hiện… phụ nữ làm việc từ 10h ? 16h/ ngày, sức khoẻ kém, học hành bị hạn chế… , vị trí của họ chưa được đánh giá đúng và việc sử dụng LĐ nữ cũng chưa thực sự có hiệu quả. 

 Các quan điểm trên không đề cập tới sự bất bình đẳng về quyền lực giữa nam và nữ đã kéo dài suốt thời kỳ phát triển. Quan điểm trao quyền lực xuất hiện giữa thập kỷ 70 với mục tiêu tạo cơ hội để củng cố và mở rộng quyền lực của nữ nhằm đạt được sự tự chủ cho họ. Việc “Trao quyền” cho nữ không phải là lấy quyền của nam trao cho nữ, mà là thực hiện quyền dân chủ đối với nữ trong mọi lĩnh vực, trong sản xuất cũng như sinh hoạt, trong cơ quan cộng đồng cũng như gia đình ở mọi lúc, mọi nơi. Thực hiện dân chủ cần được xem xét dưới góc độ giới mới đạt được dân chủ thật sự, nếu không chỉ có nam được dân chủ còn nữ vẫn không có tiếng nói, không thể hiện được nguyện vọng của mình và luôn bị phụ thuộc nam như một “thói quen”. Quan điểm trao quyền đặt nữ vào đúng vị trí của họ, tạo điều kiện để họ có tiếng nói của mình và tham gia vào các nội dung QLLĐ có hiệu quả hơn. 

 Quan điểm giới và phát triển xuất phát từ việc gắn quan hệ sản xuất với quan hệ tái sản xuất, phân tích bản chất đóng góp của nữ và nam trong quá trình phát triển cả trong xã hội và gia đình, gồm cả việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ để trao đổi và cả việc sản xuất không phải hàng hoá hoặc các dịch vụ không có lương. Quan điểm tiếp cận này chỉ ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất bình đẳng giới trong quá trình LĐ. Đây là vấn đề cần giải quyết của LĐ nữ để sử dụng LĐ có hiệu quả góp phần vào sự phát triển đất nước hiệu quả và bền vững hơn. 

 Quan điểm này không coi nữ là nhóm riêng biệt mà nhấn mạnh vai trò và nhu cầu của nữ và nam, chỉ ra rằng phải có đóng góp của cả nam và nữ mới tạo ra sự thay đổi cần thiết để đạt được bình đẳng, thúc đẩy bình đẳng nam – nữ trong QLLĐ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội và phát triển bền vững cho quốc gia. Theo quan điểm này, các chính sách của Nhà nước cần chỉ rõ vai trò của nữ và nam trong quá trình phát triển và nhiệm vụ của cả hai giới trong việc thúc đẩy bình đẳng giới. Quan điểm này đáp ứng nhu cầu của cả hai giới, nâng cao địa vị cho giới bị thiệt thòi (thường là nữ) và thực hiện công bằng xã hội. Các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới chính là những hoạt động nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn LĐ, đặc biệt là LĐ nữ. 

3. Quản lý lao động theo giới ở Việt Nam 

 Xét về khía cạnh chính sách và thực hiện chính sách, Bộ Luật LĐ đã dành một chương với mười điều đối với LĐ nữ (chương X) tạo điều kiện cho LĐ nữ tham gia vào quá trình LĐ bình đẳng mọi mặt với nam. Điều 119, Điểm 2 quy định: “Nhà nước có chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cải thiện điều kiện LĐ, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần cho LĐ nữ nhằm giúp họ phát huy hiệu quả năng lực, nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống LĐ và cuộc sống gia đình”. Bộ luật LĐ cũng đã quy định cụ thể tại Điều 5, Điều 109, Điều 111 về vấn đề không phân biệt đối xử, vấn đề bình đẳng nam – nữ và quyền của LĐ nữ. Luật đã ban hành và có Nghị định và Thông tư hướng dẫn song việc thực hiện các chính sách vẫn còn một số bất cập nhất định. Tỷ lệ LĐ nữ làm các công việc được trả công, trả lương chỉ chiếm khoảng 40%, LĐ nữ vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi, vẫn là đối tượng yếu thế trên thị trường LĐ [2].  

 LĐ nữ thường bị phân biệt đối xử trong trường hợp tuyển dụng vì lý do lập gia đình, trách nhiệm khi sinh đẻ, nuôi con nhỏ (người phụ nữ mất ít nhất hai năm khi sinh và nuôi một người con. Nếu sinh hai con, người phụ nữ mất đi ít nhất là 4 năm so với nam giới. Ngoài sự mất mát về thời gian, sức khoẻ của phụ nữ cũng bị suy yếu, thậm chí tính mạng bị đe dọa. Ở giai đoạn phụ nữ sinh và nuôi con, nam giới tiếp tục học tập và phát triển, vì vậy, sau thời gian này nhìn chung phụ nữ “tụt hậu” hơn so với nam giới). Một số doanh nghiệp (DN) có hiện tượng áp đặt khoảng thời gian tối thiểu làm việc tại DN để được lập gia đình hoặc sinh con đối với LĐ nữ nếu được tuyển dụng vào làm việc. Theo kết quả điều tra [3], có 15% DN quy định thời gian làm việc tối thiểu để được kết hôn, trong đó DN nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất (34,04%) và thấp nhất là Công ty TNHH (3,03%). Về thời gian kết hôn có 45,45% quy định tối thiểu dưới 1 năm, 18,18% quy định từ 1- 2 năm và 36,37% – trên 2 năm. 

 Tương tự, có 25,69% DN quy định LĐ nữ chỉ được phép sinh con sau khi làm việc một thời gian nhất định. Tỷ lệ này cao nhất trong các DN nhà nước (50%) và thấp nhất ở các Công ty TNHH (9,09%). Thời gian làm việc tối thiểu các DN này quy định đối với LĐ nữ để được sinh con chủ yếu là trên 2 năm (58,33%). 

 Nguyên nhân của sự phân biệt này là DN thường cho rằng sử dụng LĐ nữ tốn kém và không hiệu qủa bằng sử dụng LĐ nam; chi phí cho LĐ nữ thường nhiều hơn do việc nghỉ đẻ, trợ cấp thai sản, nghỉ việc do con ốm … Trong khi đó các quy định ưu tiên đối với DN sử dụng nhiều LĐ nữ lại có thủ tục rườm rà, khó thực hiện.  

 Về tiền lương (TL), Hiến pháp và pháp luật đều quy định sự bình đẳng giữa nam và nữ, song, theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2000, mức thu nhập bình quân của LĐ nữ chỉ bằng 87,6% của nam. Trong khu vực nhà nước, thu nhập của LĐ nữ thấp hơn LĐ nam 15,3%. Một số khác biệt này xuất phát từ sự chênh lệch về trình độ, thâm niên công tác, nhưng không phải mọi trường hợp đều như vậy.  

 TL trung bình của nam cao hơn nữ từ 10 – 11% trong điều kiện như nhau về đặc điểm (tuổi đời, trình độ, kỹ năng tay nghề, công việc, địa điểm làm việc…), riêng các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ trả lương tương đối bình đẳng hơn [4]. 

 Tương tự, theo kết quả điều tra 505 DN với 2696 người LĐ thực hiện năm 2001 do trường Đại học KTQD và Viện HAGUE thực hiện cho thấy TL và thu nhập của nữ luôn bị yếu thế so với nam. TL giờ bình quân của nữ thấp hơn nam khoảng 15%. Khoảng cách này tồn tại ở tất cả các ngành kinh tế, các hình thức sở hữu của DN, khu vực, vị trí công việc, trình độ giáo dục, nhóm tuổi và loại hợp đồng. Khoảng cách TL giờ của khu vực tư nhân cao nhất (26%). Trong các ngành, sự chênh lệch TL giờ giữa LĐ nam và LĐ nữ cao nhất ở ngành điện lực (1,33 lần), TL giờ bình quân của hai giới ở miền Bắc và miền Trung gần như nhau trong khi miền Nam khoảng cách này khá rõ nét. Số liệu điều tra của VLSS cũng cho thấy TL của LĐ nữ luôn thấp hơn TL của LĐ nam trong công việc được trả lương ở tất cả các mảng thị trường LĐ trong điều kiện giống nhau về đặc điểm (tuổi đời, trình độ, kỹ năng tay nghề, nơi làm việc…) [5].  

 Về thời gian làm việc và nghỉ ngơi, theo kết quả điều tra [6], có tới 60% LĐ nữ có phải làm việc thêm tới trên 4h/ngày so với 40% LĐ nam. Ngoài ra, phụ nữ còn làm việc hơn 2 – 6 giờ trong 1 ngày so với nam vì công việc nội trợ. Vì thế nữ thiếu thời gian để học tập, giải trí nâng cao sức khỏe và trí tuệ để tham gia vào quá trình LĐ. 

 Nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là người sử dụng LĐ đặc biệt là người QLLĐ chưa chú ý tới các đặc điểm giới và giới tính trong quá trình LĐ. Nguyên nhân sâu xa là nhà QLLĐ chưa được đào tạo QLLĐ theo giới. Thực tế cho thấy rằng, ở các trường chuyên nghiệp, vấn đề quản lý lao động theo giới gần như không được quan tâm. Thậm chí, ngay cả các trường đại học đào tạo các chuyên ngành về LĐ, vấn đề QLLĐ theo giới rất ít được quan tâm, vấn đề lồng ghép giới vào các môn học hầu như chưa được thực hiện hoặc thực hiện rất ít. 

 Xét về khía cạnh tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách LĐ, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có chủ trương về bình đẳng nam – nữ rất sớm và có nhiều chính sách tạo điều kiện để phụ nữ tiến bộ và phát triển song những chính sách đó chưa thực sự đi vào thực tiễn. Vì vậy, để giải quyết các bất cập nêu trên cần phải đưa quan điểm “giới và phát triển” vào QLLĐ. Số liệu của Văn phòng Quốc hội cho thấy, tuy Việt Nam có tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội cao nhất trong khu vực Châu Á (Khoá XI – 27,3%), đứng thứ hai sau ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương (sau New Zealand), đứng thứ 10 thế giới (sau Cuba, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Iceland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Nam Phi và Thuỵ Điển), song điều này không có nghĩa là các nguyên tắc của QLLĐ theo giới đã được thực hiện đầy đủ. Cũng theo số liệu của Văn phòng Quốc hội, phụ nữ chỉ tập trung với tỷ lệ cao ở Uỷ ban Giáo dục, Thiếu niên nhi đồng (41,2%); Uỷ ban Dân tộc miền núi (39,5%) và Uỷ ban về các vấn đề xã hội (32,3%), trong khi đó ở một số uỷ ban khác, tỷ lệ này rất thấp (Uỷ ban các vấn đề quốc tế – 15,8%; Uỷ ban khoa học và kỹ thuật – 10,7%; Uỷ ban kinh tế và ngân sách – 3,1%). 

 Theo số liệu thống kê [7], tỷ lệ phụ nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp trong ba khoá gần đây tuy có tăng lên nhưng vẫn thấp hơn so với yêu cầu của QLLĐ theo giới. Tỷ lệ nữ cao nhất vẫn là ở cấp tỉnh – 23,8%, sau đó đến cấp huyện – 23,22% và thấp nhất là ở cấp xã – 20,3%.  

 Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới về việc phụ nữ tham gia vào công việc địa phương ở một số tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa như Hà Giang, Lào Cai, Quảng Trị.., tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo ở cơ sở rất thấp. Tại các điểm khảo sát (Hà Giang), không có xã nào có cán bộ nữ tham gia lãnh đạo cấp xã, thôn; ở Lào Cai, Quảng Trị, phụ nữ nghèo và phụ nữ vùng cao ít đi họp hoặc nếu đi thì chỉ ngồi nghe, ít tham gia ý kiến vào các công việc của địa phương… 

 Nguyên nhân sâu xa của tất cả các hiện tượng trên là do công tác giáo dục – đào tạo dành cho nữ vẫn còn nhiều điểm bất cập, ý thức, nhận thức về QLLĐ theo giới chưa cao, công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ nữ kế cận vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. 

4. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLLĐ theo giới 

 Để nâng cao hiệu quả QLLĐ theo giới, chúng tôi có một số khuyến nghị sau: 

 Một là, cần tiếp tục bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh hệ thống văn bản luật và chính sách nhằm đưa vấn đề QLLĐ theo giới là vấn đề bắt buộc đối với quốc gia, trong đó nên quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia vào bộ máy lãnh đạo các cấp, tham gia vào quá trình hoạch định chính sách phải không duới 30%. Cần có văn bản hướng dẫn quy trình ra quyết định QLLĐ các cấp theo đúng quy trình lồng ghép giới. 

 Hai là, cần thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề QLLĐ theo giới. Trước hết, các nhà quản lý, lãnh đạo trong bộ máy quản lý nhà nước, trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần được cung cấp các kiến thức cơ bản về QLLĐ theo giới và áp dụng kiến thức này vào việc hoạch định luật pháp, chính sách và ra các quyết định về QLLĐ. Các kiến thức cần được cung cấp tối thiểu gồm: (1) Nhạy cảm giới: có kiến thức về giới, có nhận thức về vai trò khác nhau của phụ nữ và nam giới, hiểu được nguyên nhân của sự khác nhau dẫn đến hạn chế sự tiến bộ của phụ nữ hoặc nam giới; (2) Trách nhiệm giới: đưa ra được các biện pháp nhằm khắc phục nguyên nhân làm hạn chế sự tiến bộ của phụ nữ hoặc nam giới; (3) Chu trình và nguyên tắc lồng ghép giới vào vấn đề QLLĐ; (4) Lợi ích của việc lồng ghép giới vào QLLĐ. Cũng cần tăng cường hoạt động tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng về vấn đề QLLĐ theo giới và lợi ích của vấn đề này.  

 Hơn nữa, thông qua đào tạo và các phương tiện truyền thông đại chúng, cần thay đổi cách nhìn nhận người LĐ theo hướng chú ý đến đặc điểm giới để phân công nhiệm vụ, trách nhiệm phù hợp với mỗi người theo đặc điểm giới và giới tính của họ. Khi sử dụng LĐ nữ, cần nhìn nhận cả những hoạt động tái sản xuất của họ. Nếu khoảng cách giới còn lớn, LĐ nữ còn phải làm phần lớn các công việc trong gia đình, cần có các biện pháp phù hợp để sử dụng hợp lý lực lượng LĐ nữ. 

 Ngoài ra, cần tăng cường đào tạo về QLLĐ theo giới tại các trường đại học, cao đẳng, mà trước hết là đào tạo về QLLĐ theo giới cho đội ngũ giáo viên. Dựa vào đội ngũ giáo viên đã được trang bị kiến thức QLLĐ theo giới, tiến hành lồng ghép vấn đề QLLĐ theo giới vào nội dung các môn học. Với các trường đại học, nên đưa học phần: “Giới và phát triển” vào nội dung chương trình đào tạo. Với các chuyên ngành đào tạo về lao động, nên hình thành học phần: “Quản lý lao động theo giới” như là một nội dung kiến thức chuyên ngành. 

 Ba là, cần tiến hành lồng ghép giới trong các nội dung của QLLĐ ở các cơ quan, doanh nghiệp. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc (1997), lồng ghép giới được hiểu là quá trình đánh giá và kết hợp giữa phụ nữ và nam giới trong bất cứ hoạt động có kế hoạch nào; trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, để phụ nữ và nam giới đều hưởng lợi như nhau tiến tới bình đẳng nam nữ. Cần nhấn mạnh rằng, lồng ghép giới chính là công cụ hữu hiệu của QLLĐ theo giới. 

Để lồng ghép giới có hiệu quả trong các hoạt động QLLĐ ở cơ quan, DN, cần thực hiện các bước sau: 

Bước 1: Nghiên cứu, phân tích về giới.

 Trong bước này cần tập hợp được các số liệu và đề ra các biện pháp tách biệt theo giới tính:  

° Xác định tỷ lệ nam, tỷ lệ nữ tham gia và cách thức điều chỉnh tỷ lệ này hợp lý (mỗi giới nên có tỷ lệ tối thiểu 30%).  

° Xác định các kinh nghiệm của nam và nữ và cách thức sử dụng hiệu quả các kinh nghiệm này. 

° Xác định các nhu cầu, nguyện vọng của nam và nữ và cách thức đáp ứng các nhu cầu của nam và nữ. 

° Xác định mức độ ảnh hưởng của chính sách, quyết định đưa ra đến nam, nữ trong tất cả các quá trình từ khâu xây dựng đến giám sát, đánh giá… và các hoạt động tiếp theo và xây dựng các biện pháp khắc phục các tác động xấu. 

° Xác định mức độ ưu tiên của các mục tiêu cần đạt được đối với nam, nữ. 

° Lựa chọn các mục tiêu ưu tiên đối với nam, nữ trong khuôn khổ nguồn lực hạn chế, đảm bảo cả nam và nữ đều được tham gia và hưởng lợi bình đẳng trong thực hiện công việc [8] cũng như thành quả công việc đó mang lại. 

Bước 2: Lập và phê duyệt kế hoạch giới.

 Dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và phân tích ở bước 1, xây dựng và phê duyệt kế hoạch (chính sách) nhằm sử dụng hợp lý và bình đẳng LĐ nam và LĐ nữ , đảm bảo cả nam và nữ đều được hưởng lợi bình đẳng. 

Bước 3: Tổ chức thực hiện kế hoạch (chính sách).

 Trong bước này cần thực hiện phân công công việc, trong đó đảm bảo có sự tham gia chủ động, bình đẳng của phụ nữ và nam giới ở tất cả bước công việc với tư cách người tham gia hưởng lợi và ra quyết định.  

Bước 4: Kiểm tra, giám sát và đánh giá.

Vấn đề kiểm tra, giám sát và đánh giá cũng tập trung vào vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ trong thực hiện công việc và mức độ hưởng lợi từ công việc. 

Có thể khái quát chu trình lồng ghép giới vào QLLĐ theo sơ đồ 1. Để thực hiện chu trình này có hiệu quả, cần xây dựng khuôn khổ thể chế và tổ chức thích hợp để lồng ghép giới. Cũng cần đảm bảo cho phụ nữ có cơ hội nói lên những khó khăn, nhu cầu cần thiết của họ và mong muốn của họ trong công việc. Ngoài ra, các cán bộ lãnh đạo, tổ chức quản lý cần có kiến thức về giới, có nhạy cảm giới và trách nhiệm giới, nếu không, cần lấy ý kiến tư vấn của các chuyên gia về giới. 

 Bốn là, cần nhân rộng các điển hình thực hiện tốt việc lồng ghép giới vào các nội dung QLLĐ. Trước hết, cần tập trung xây dựng các điển hình QLLĐ theo giới trong một số cơ quan, DN hoặc dự án được lựa chọn, dưới sự trợ giúp của các chuyên gia về QLLĐ theo giới. Sau một thời gian (nên là 1 năm), tổ chức đánh giá hiệu quả của QLLĐ theo giới ở các cơ quan, DN, dự án này và xây dựng thành các mô hình QLLĐ theo giới. Các mô hình này, cùng hiệu quả thiết thực của nó so với trước khi thực hiện QLLĐ theo giới sẽ được phổ biến, tuyên truyền và nhân rộng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng để các cơ quan, DN, dự án khác học tập và áp dụng. 

Năm là, cần đẩy mạnh việc triển khai các chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, đào tạo cho cán bộ và LĐ nữ ở các vùng sâu, vùng xa, nâng cao nhận thức cho các đối tượng này về QLLĐ theo giới ª 

Chú thích

[1] Báo cáo phát triển của UNDP 1995 

[2] VLSS, 1997-1998; RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000. 

[3] RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000 

[4] RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000 

[5] Phân mảng thị trường LĐ: Tác động của chính sách LĐ và các chính sách khác đến phân mảng thị trường LĐ ở Việt nam, Dự án Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo – ADB, Viện Khoa học Lao động và Xã hội. 

[6] Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ năm 2000; Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001; Điều tra các DN sử dụng nhiều LĐ nữ năm 2000. 

[7] http://ebiz.com.vn/?page=tintuc&code=congnghe&id=w3schinhtriw3sdoimoiw3snctdws3ws34w3sws36w3s159467w3s ngày 19.8.2005 

[8] Công việc được hiểu như là việc sản xuất một sản phẩm, thực hiện một dự án hay quá trình xây dựng, thực hiện một chính sách…) 

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo phát triển của UNDP, 1995. 

2. Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ năm 2000. Viện khoa học lao động và xã hội.  

3. Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001. Viện khoa học lao động và xã hội. 

4. Điều tra các DN sử dụng nhiều LĐ nữ năm 2000. Viện khoa học lao động và xã hội. 

5. Phân mảng thị trường lao động: Tác động của chính sách lao động và các chính sách khác đến phân mảng thị trường lao động ở Việt Nam. Dự án nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo. ADB, Viện khoa học lao động và xã hội.

6. Các trang Web: http://www.nld.com.vn/tintuc/the-gioi/124605.asphttp://ebiz.com.vn/?page=tintuc&code=congnghe&id=w3schinhtriw3sdoimoiw3snctdws3ws34w3sws36w3s159467w3s http://www.undp.org.vn/undp/docs/2000/gbkv/plan-v.htm

———————————————————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 7/2006

CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY

TRẦN NGỌC MINH – Giám đốc NHNN Chi nhánh TP.HCM

NHTM nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng.

Vấn đề cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) đặt ra trong giai đoạn này là phù hợp với tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng để hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc cổ phần hoá (CPH) một NHTM nhà nước không đơn thuần như việc CPH một doanh nghiệp nhà nước nhưng cũng không phải là vấn đề quá khó khăn không thể không thực hiện được. Do đó, quan trọng hiện nay là xác định được mục tiêu CPH, xác định những điều kiện cần và đủ để giải quyết những vấn đề trong quá trình CPH và phải đảm bảo được một ngân hàng sau khi CPH phải đáp ứng được các chuẩn mực Hội nhập kinh tế quốc tế, đủ năng lực cạnh tranh được với các ngân hàng trong nước và trên thế giới.

Với những yêu cầu và ý nghĩa như trên, Chi nhánh NHNN TP.HCM tham gia một số nội dung về việc cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước (CPH NHTMNN) như sau:

I. Sự cần thiết phải CPH NHTMNN

Hoạt động ngân hàng, trong đó NHTM nhà nước với vai trò chủ đạo trong những năm qua đã có sự đóng góp rất lớn vào sự thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đã triển khai thực hiện chính sách tiền tệ một cách tích cực, cơ bản ổn định được giá trị và sức mua của đồng tiền, kìm chế lạm phát, tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia và góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế, chưa phát huy hết chức năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả để làm cho kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo.

Việc CPH ngân hàng là một khâu trong quá trình đổi mới hoạt động NH, củng cố và cơ cấu lại các NHTM theo hướng tiếp tục phát huy thành tựu, khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới trong những năm tới

NHTM nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng.

Do yêu cầu của CNH-HĐH đất nước cần phải có một khối lượng vốn, vì vậy cần phải có NHTM đủ tiềm lực tài chính để thực hiện phân phối và sử dụng vốn một cách hiệu quả. Chính vì vậy, đặt ra vấn đề CPH NHTM nhà nước là rất cần thiết.

Quá trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và chuẩn bị hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế với việc tự do hóa tài chính đã làm cho môi trường cạnh tranh gay gắt hơn, đầy rủi ro hơn. Bối cảnh này đã đặt ra cho ngành ngân hàng cần thiết phải CPH NHTM nhà nước.

Với những yêu cầu hết sức cần thiết và bức xúc như đã nêu trên, đòi hỏi trong hoạt động của ngân hàng VN phải có một ngân hàng với quy mô lớn, năng lực tài chính mạnh trong khi các NHTM nhà nước cũng như các NHTM cổ phần không thể đáp ứng được thì vấn đề CPH NHTM nhà nước là một yêu cầu cần thiết khách quan.

II. Mục tiêu, yêu cầu cổ phần hoá

Thực chất cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển hình thức sở hữu nhà nước thành hình thức đa sở hữu thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp nhà nước cho nhiều chủ thể khác. Việc cổ phần hoá các NHTM nhà nước nhằm các mục tiêu sau:

– CPH ngân hàng thương mại nhà nước với mục đích sẽ tăng quy mô năng lực vốn trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu vốn (nhà nước, tổ chức kinh tế, cá nhân trong ngoài nước) để tăng năng lực cạnh tranh, vì vậy ngân hàng được CPH không phải như là một dạng của NHTM cổ phần và cũng không phải là một dạng của ngân hàng liên doanh (góp vốn của hai phía VN và nước ngoài). Vì vậy, đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý từ phía nhà nước ở tầm vĩ mô làm cơ sở cho Hội đồng quản trị điều hành ngân hàng một cách hiệu quả, linh hoạt.

– Tạo ra những NHTM lớn có khả năng phục vụ phát triển kinh tế xã hội và truyền tải các chính sách của nhà nước.

– Nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế .

III. Những vấn đề đặt ra trong quá trình CPH NHTM nhà nước

Thực hiện CPH đối với NHTM là vấn đề mới của ngành ngân hàng, do đó sẽ có những khó khăn nhất định. Việc thực hiện CPH NHTM nhà nước cần rút kinh nghiệm từ CPH các DNNN, không thực hiện chủ quan, nhưng cũng không được chậm trễ, do đó khi thực hiện phải đảm bảo những điều kiện cần và đủ như sau:

1. Về quy mô vốn tự có:

Hiện nay về quy mô vốn hoạt động của một NH trung bình trên thế giới khoảng từ một tỷ USD trở lên. Do đó, trong quá trình hội nhập và để đủ năng lực trong cạnh tranh, các NHTMNN được CPH đạt quy mô vốn ít nhất phải tương ứng với một ngân hàng trung bình trên thế giới, tức là mức vốn tự có của ngân hàng này phải đạt từ 16.000 tỷ đồng trở lên trong đó, vốn sở hữu của nhà nước đạt tối thiểu 8.160 tỷ đồng, phần còn lại gọi vốn từ cổ đông trong và ngoài nước.

Quy mô vốn của NH CPH phải luôn luôn bảo đảm được yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% trên tổng tài sản có, đây là một chuẩn mực quốc tế không thể thiếu được.

2. Về mức vốn giữ vai trò chi phối của nhà nước trong NH được CPH:

NHTM nhà nước khi thực hiện CPH tuy hình thức chủ sở hữu có sự thay đổi nhưng vai trò chủ đạo trong việc triển khai thực hiện chính sách tiền tệ vẫn không thay đổi mà vẫn tiếp tục phát huy dưới hình thức mới được điều hành bởi một Hội đồng quản trị theo cơ chế quản lý phù hợp. Vì vậy, nhất thiết NHTM nhà nước khi thực hiện CPH vốn nhà nước tham gia phải nắm vai trò điều phối với tỷ lệ tối thiểu 51%.

Việc này có thể thực hiện thông qua hình thức :

Một là, giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại NHTMNN (xem đó là 51%), phần 41% còn lại sẽ phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn từ các cổ đông trong và ngoài nước.

Hai là, mức vốn điều lệ tăng đến đâu thì vốn của nhà nước luôn giữ tỷ trọng 51%.

Tuy nhiên, việc quy định Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ vốn tối thiểu 51%, sẽ có hai khó khăn cần được giải quyết :

– Hiện nay, ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, không đủ vốn để luôn duy trì tỳ lệ 51% khi mức vốn điều lệ cần phải tăng cao theo yêu cầu.

– Khi Nhà nước nắm giữ số cổ phần khống chế và có quyền chỉ định các vị trí điều hành then chốt, các vấn đề nhân sự, cơ chế hoạt động… Như vậy về cơ bản sẽ chỉ là “bình mới rượu cũ”, hiệu quả hoạt động sẽ vẫn thấp, lợi ích đem lại không đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.

3. Về góp vốn của cổ đông nước ngoài:

Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia góp vốn để thu hút các nguồn lực ngoài nước, tỷ lệ tham gia của các cổ đông nước ngoài dần dần được mở rộng nhưng tỷ lệ tối đa không quá 30% vốn điều lệ. Trong đó, nên tập trung ưu đãi cho các cổ đông nước ngoài là các ngân hàng nước ngoài với tỷ lệ góp vốn tối đa không quá 20% vốn tự có. Bởi vì chính các ngân hàng này sẽ là cơ sở, điều kiện giúp cho ngân hàng được CPH mở rộng phát triển mạng lưới hoạt động (chi nhánh, văn phòng đại diện) đến các nước sở tại này.

4. Về vai trò chủ đạo trong thực hiện chính sách tiền tệ của NH được CPH:

NHTM nhà nước sau khi CPH phải trở thành một ngân hàng cùng với hệ thống NHTM nhà nước là lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực ngân hàng, là NH triển khai thực hiện tốt chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước VN, là một ngân hàng có khả năng huy động tốt mọi tiềm lực kinh tế xã hội trong và ngoài nước để phân phối và sử dụng một cách an toàn hiệu quả, an toàn góp phần thực hiện thành công CNH-HĐH đất nước.

Việc CPH ngân hàng đảm bảo ổn định được hoạt động tiền tệ-tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế.

5. Về tình hình tài chính:

Mặc dù hiện nay, Chính phủ đã có những chủ trương xử lý nợ tồn đọng và các NHTMNN đã tích cực xử lý nhưng nhìn chung tỷ lệ nợ tồn đọng vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao (trên địa bàn TP.HCM khoảng 5,1%). Kinh nghiệm từ thực tiễn CPH các DNNN về việc xử lý nợ tồn đọng luôn luôn là vấn đề hết sức khó khăn, phụ thuộc vào các cơ chế chính sách xử lý nợ, sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc xử lý nợ. Ngoài ra, việc xác định thực tế giá trị ngân hàng để CPH cũng không phải là vấn đề đơn giản, hiện nay đã có nhiều phương pháp để xác định giá trị tài sản hữu hình nhưng việc xác định giá trị tài sản vô hình đang gặp vướng mắc trong xác định thương hiệu và vị thế hoạt động:

– Xử lý các khoản nợ tồn đọng, đặc biệt Nhà nước phải có cơ chế xử lý dứt điểm các khoản nợ theo chủ trương như nợ cho vay thanh toán công nợ, nợ khoanh… Đây là một thực trạng khó khăn của các NHTM nhà nước hiện nay. Quá trình xử lý nợ đọng sẽ kéo dài thời gian ảnh hưởng đến tiến trình CPH.

– Xây dựng một ngân hàng CPH đủ thực lực tài chính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Muốn thực hiện được điều này, cần phải xác định chính xác giá trị thực tế của ngân hàng được CPH, đưa ra một mức giá phù hợp mà người mua và cả người bán đều có thể chấp nhận được, trên cơ sở đó việc gọi vốn góp cổ đông rất dễ dàng.

6. Xác định chiến lược kinh doanh ngân hàng:

Các nội dung khác của tiến trình CPH mặc dù được chuẩn bị tốt đến đâu nhưng không xác định được mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng thì cũng không thể đánh giá được tầm quan trọng của ngân hàng được CPH cũng như không thể làm cơ sở xác định được hiện giá ròng trong tương lai của ngân hàng. Vì vậy, NHTM CPH phải xây dựng được chiến lược kinh doanh mới theo thông lệ quốc tế và là một ngân hàng đa năng với các sản phẩm dịch vụ NH hiện đại như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, đầu tư tài chính, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường mua bán nợ…

Đảm bảo được hoạt động kinh doanh của ngân hàng được CPH theo nguyên tắc thị trường, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế.

Việc CPH NHTM nhà nước phải gắn liền với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng và phát triển mạng lưới hoạt động ra các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có cổ đông góp vốn (đây sẽ là một ưu thế của ngân hàng CPH ).

IV. Giải pháp

1. Về cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động:

Ngân hàng Nhà nước trình Quốc hội nghiên cứu điều chỉnh bổ sung loại hình NHTM CPH trong loại hình các TCTD làm cơ sở pháp lý thực hiện.

Là ngân hàng có yếu tố vốn đầu tư nước ngoài nên sẽ chịu điều chỉnh bởi Luật các TCTD và Luật đầu tư nước ngoài.

2. Về cơ chế quản trị ngân hàng:

Phải xây dựng được cơ chế quản lý của Hội đồng quản trị theo hướng nâng cao quyền lực. Theo đó, Hội đồng quản trị được quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với Tổng giám đốc điều hành; bộ phận kiểm soát và kiểm toán nội bộ ngân hàng hoạt động độc lập với Ban điều hành, chỉ trực thuộc Hội đồng quản trị, từ đó mới phát huy được vai trò hoạt động của Kiểm soát và kiểm toán nội bộ. Quy định một số quyền hạn nhất định của các cổ đông nước ngoài trong việc tham gia các quyết sách hoạt động của ngân hàng.

Xây dựng được các chuẩn mực quốc tế về quy trình nghiệp vụ quản trị rủi ro, quản lý tín dụng hiện đại, quản lý tài sản nợ-có, quản lý đầu tư, quy trình kiểm toán nội bộ….

3. Xác định giá trị thực tế ngân hàng:

Trong quá trình thực hiện CPH điều quan trọng là xác định giá trị thực tế ngân hàng để đưa giá bán cổ phần cho phù hợp, người mua và người bán có thể chấp nhận được. Tiến hành thí điểm và mở rộng bán đấu giá cổ phần lần đầu thông qua thị trường chứng khoán. Trong giai đoạn đầu, có thể nghiên cứu bán cổ phần không chi phối cho các nước có thực lực kinh tế phát triển mạnh để thu hút nhanh vốn.

4. Xây dựng lộ trình phát triển theo mục tiêu chiến lược của NH được CPH:

Trên cơ cơ sở mục tiêu chiến lược đã được định hướng, cần thiết phải xây dựng lộ trình phát triển hoạt động cho ngân hàng được CPH như sau :

– Từ năm 2006 đến 2010: Phải đạt một số chuyển biến lớn về cơ sở hạ tầng, nguồn vốn, phát triển các loại hình sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại. Phát triển mạng lưới văn phòng đại diện và chi nhánh hoạt động ở nước ngoài, hình thành một NHTM mạnh có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

– Từ năm 2010: Hoạt động NHTM theo chuẩn mực quốc tế kể cả về vốn, quản lý, công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu về vốn và thanh toán chủ yếu của nền kinh tế, đồng thời khẳng định vai trò nhất định trên thị trường tài chính khu vực và quốc tế.

5. Cổ phần hoá gắn với niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán:

Sau khi cổ phần hoá, cổ phiếu của các NH sẽ được đưa lên sàn giao dịch, để giá trị cổ phiếu được giao dịch công khai và phản ảnh đúng giá trị .

Đòi hỏi phát triển thị trường chứng khoán của VN phải lớn mạnh, xứng đáng là sàn giao dịch công bằng, bình đẳng, minh bạch, hiệu quả cho các nhà đầu tư. Để đạt được điều đó, thị trường chứng khoán VN cần thực hiện một số biện pháp sau:

° Về cơ sở pháp lý: Thị trường chứng khoán VN chưa thực sư là một kênh vốn dài hạn của nền kinh tế, do đó cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với tình hình thực tiễn của TTCK VN cũng như với thông lệ của các TTCK lớn trên thế giới. Đó là :

Phải sớm xây dựng và ban hành Luật chứng khoán, hoàn chỉnh các văn bản pháp quy về thuế, phí, chế độ theo hướng thông thoáng hơn nhằm khuyến khích các chủ thể tích cực tham gia thị trường.

Trong thời gian trước mắt chưa có Luật chứng khoán, Uỷ ban chứng khoán nhà nước cần phối hợp với Bộ kế hoạch và đầu tư xây dựng và trình Chính phủ Nghị định về quản lý, phát hành và giao dịch chứng khoán chưa niêm yết. Bên cạnh đó, cần phải ban hành thêm các hướng dẫn cụ thể về niêm yết cổ phiếu ngân hàng.

° Cần gắn liền việc niêm yết trên thị trường chứng khoán với việc CPH ngân hàng: Việc đưa vào quy định pháp lý ngay từ đầu các điều khoản yêu cầu các doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết khi cổ phần hoá phải tổ chức bán đấu giá và niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán. Điều này sẽ tạo ra một thói quen cho NH khi CPH với việc minh bạch và công khai hoá thông tin ngay từ đầu.

Có như vậy TTCK sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá NHTMNN thông qua việc thực hiện thành công việc bán cổ phần của các NHTMNN cổ phần hoá. Và một khi cổ phiếu ngân hàng được niêm yết trên TTCK thì sẽ có một khối lượng hàng hoá lớn được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán, tạo nên sự sôi động trên TTCK và chắc chắn TTCK VN sẽ tiến lên một bước ª

———————————————————————-

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 10/2006

TÀI SẢN VÔ HÌNH VÀ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG KINH DOANH

ĐÀO MINH ĐỨC

Phi cơ đang lướt êm trên không phận thành phố Sài Gòn, đêm dưới cánh bay trải rộng qua những tuyến và luồng giao thông nhấp nháy với những mảng sáng, tối đan xen, gợi lên trong lòng vị Tổng giám đốc vừa trở về từ nước ngoài một cảm nhận vừa huyền ảo, vừa thực tại, vừa chờ đợi, vừa thách thức … Hai hôm nay, những đánh giá và nhận định lạc quan của Trưởng văn phòng đại diện tại châu Âu luôn dằng co với các thông tin và báo cáo trực tuyến từ Tổng công ty về một số vấn đề mà ông sẽ phải chủ trì giải quyết trong ba buổi họp liên tục đã lên lịch ngày mai. 

Vấn đề thứ nhất, nhân viên marketing lâu năm N được cử đi nghiên cứu thị trường Ấn Độ vừa trở về đã nộp đơn nghỉ việc do xung đột tính cách không thể hoà giải với Giám đốc tiếp thị, và có khả năng sẽ nhận lời làm việc với một đối thủ cạnh tranh. Hàng loạt bí mật kinh doanh (trade secret) như phương án xâm nhập thị trường Ấn Độ mà công ty đã điều nghiên trước đó, các dữ liệu, thông tin và phán đoán mới mà nhân viên N vừa thu thập nhưng không báo cáo lại đầy đủ, các đối tác cung ứng nguồn nguyên liệu rẻ cho công ty … có nguy cơ bị thất thoát. Câu hỏi đầu tiên mà luật sư tư vấn hỏi Giám đốc điều hành về vụ việc này là công ty có quy chế bảo mật hay không? Trong thực tế thì quả là tổng công ty chưa từng quan tâm đến một quy chế như vậy … 

Vấn đề thứ hai, giáo sư M trước đây có giao kết với công ty về việc nghiên cứu quy trình đưa thêm một thành phần dược thảo vào một loại thực phẩm chức năng mà công ty đang lưu hành trên thị trường. Công ty đã trang trải toàn bộ chi phí và và phương tiện cần thiết cho việc nghiên cứu với thù lao đặc biệt. Tuy nhiên, do vị trí rất cao của giáo sư trong chuyên ngành, công ty đã đồng ý để giáo sư M đứng tên đăng ký sáng chế đối với quy trình được xác lập và Giáo sư M thỏa thuận cấp li-xăng sử dụng độc quyền cho Công ty trong việc khai thác sáng chế trong lĩnh vực thực phẩm. Vấn đề tế nhị xảy ra: Hiện Giáo sư N đang được một hãng dược phẩm nước ngoài đề nghị cấp li-xăng áp dụng quy trình này vào việc sản xuất một loại thuốc chữa bệnh mà họ đang có thị trường toàn cầu ! 

Vấn đề thứ ba, Công ty liên doanh giữa Tổng công ty với một đối tác Úc đã bước vào năm thứ 14. Các mục tiêu cơ bản của Liên doanh được hai bên nhất trí đánh giá là đã đạt từ cuối năm hoạt động thứ tám. Hợp đồng li-xăng theo đó Liên doanh được phép sử dụng nhãn hiệu R của đối tác Úc đã được gia hạn thêm một chu kỳ bảy năm và năm nay cũng là năm kết thúc hai chu kỳ giao kết. Giá trị nhãn hiệu R đã tăng lên nhiều lần cả ở thị trường trong nước cùng một số thị trường nước ngoài do nỗ lực tiếp thị của Liên doanh nhưng tài sản này lại không thuộc quyền sở hữu của Liên doanh hoặc Tổng công ty. Đối tác Úc vừa chính thức khẳng định sẽ không tái giao kết li-xăng này. Sự kiện này đã được tiên liệu và Liên doanh cũng đã chuẩn bị nhãn hiệu thay thế T từ năm năm trước đây nhưng trong thực tế, nhãn hiệu T hiện chỉ đóng góp chưa tới 27% tổng doanh thu thị trường nội địa và đã không tiếp thị thành công ra thị trường nước ngoài. Trong hợp đồng liên doanh và hợp đồng li-xăng đã ký, không có điều khỏan nào hạn chế quyền sử dụng nhãn hiệu R của đối tác Úc trên các thị trường trong và ngoài nước của Liên doanh sau khi hết hạn hợp đồng li-xăng !!! 

Mẫu trích một tình huống phân tích (case study) trên đây trong chuyên đề “Quản trị tài sản trí tuệ” khơi gợi đến một nhóm các đối tượng quản trị ngày càng chi phối các quyết định điều hành của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp: các tài sản trí tuệ (intellectual assets) nói riêng và các tài sản vô hình (intangible assets) nói chung với sự phức hợp các đặc trưng về pháp lý, công nghệ, thương mại và tài chính tương đối khó nắm bắt và vận dụng hơn so với nguồn vốn tiền tệ hoặc các tài sản hữu hình quen thuộc khác trong các hoạt động kinh doanh. 

Quyền sở hữu trí tuệ 

Trước hết, trong hoạt động hàng ngày của một tổ chức, bên cạnh các công việc đều đặn tuân thủ theo các quy trình đã được hoạch định, luôn luôn có thể xuất hiện các khó khăn cần phải khắc phục hoặc các tình huống ngoài dự liệu phải được xử lý, đòi hỏi người lao động ở các vị trí liên quan phải suy nghĩ và tìm ra các cách thức, biện pháp giải quyết. Các cách thức, biện pháp mới nảy sinh đó được gọi chung là các sáng kiến (innovations). Chủ tịch hội đồng quản trị có thể phát hiện một cơ hội đầu tư mới trên sân golf, trưởng phòng kỹ thuật trong một lần lướt web có thể tìm thấy một sáng chế ở nước ngoài có giá trị khai thác thương mại tại thị trường nhiều nước khác mà chủ sở hữu sáng chế đã không quan tâm đến và cũng không còn cơ hội đăng ký bảo hộ tại các thị trường đó, một designer trong một phút ngẫu hứng có thể phác hoạ ra một mẫu thiết kế sẽ trở thành một trong các chỉ dẫn thương mại quan trọng nhất trong phong cách kinh doanh (corporate identity) của công ty, một nhân viên marketing đang mải miết quan sát cách trình bày và thái độ chọn mua của khách trước quầy hàng trong siêu thị có thể bật ra trong đầu một tên nhãn hiệu (brand name) mới có tính phân biệt cao và độ gợi nhớ tốt giúp tiết giảm chi phí truyền thông trong giai đoạn đầu xâm nhập thị trường cho một sản phẩm mới, một công nhân cơ khí thạo việc có thể chợt chú ý và phát hiện sự thay đổi đôi chút trong độ cong của một chi tiết máy đã làm tăng độ ổn định của đầu ra một dây chuyền ngoại nhập sử dụng nguyên, vật liệu nội địa … Theo đó, mối bận tâm đầu tiên của nhà điều hành là, liệu mọi sáng kiến nảy sinh trong quá trình công vụ sẽ được các tác giả sáng kiến báo cáo lại đầy đủ để đưa vào áp dụng và làm giàu thêm cơ sở tri thức (intellectual base) của doanh nghiệp? hay sẽ được cất giữ và ẩn tàng trong kiến thức, kỹ năng cá nhân và sẽ ra đi hợp pháp không dấu vết vào một buổi đẹp trời nào đó? 

Trong dòng sáng kiến mới nảy sinh đó, có những sáng kiến có tính đơn giản chỉ có tác dụng cục bộ hay nhất thời và chỉ có giá trị như một kinh nghiệm chuyên môn cho một vị trí lao động cụ thể ; có những sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi hơn trong cả doanh nghiệp hoặc có giá trị khai thác trong ngắn hạn hay trung hạn ; có những sáng kiến lại có thể áp dụng lâu dài hoặc đại trà trong ngành, nghề và cần được bảo vệ thích đáng nhằm hạn chế khả năng sao chép để nhảy vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh. Dòng sáng kiến đa dạng đó, một khi được bộc lộ và cụ thể hoá theo một quy trình quản trị thích hợp, sẽ là các tri thức mới hoà thêm vào dòng dữ liệu (data), dòng thông tin (information) và dòng tri thức (knowledge) hiện có trong tổ chức, giúp hình thành và phát triển dòng tài sản trí tuệ (intellectual assets – IA) của doanh nghiệp. Khái niệm tài sản theo nghĩa pháp lý được phân thành bốn dạng: tiền, vật, giấy tờ có giá và “quyền tài sản”. Quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao lưu dân sự (như quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê mướn cầu thủ, thỏa thuận gia công …). Các tài sản trí tuệ là loại tài sản tồn tại dưới hình thức “quyền tài sản” và bao gồm các nhân tố trí tuệ mà doanh nghiệp có thể kiểm soát hoặc xác lập quyền sở hữu như: các cơ sở dữ liệu (data base), các quy trình tác nghiệp, các bí quyết công nghệ … Quyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể bao gồm ba khía cạnh: quyền chiếm hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản và quyền định đoạt tài sản. 

Một tài sản trí tuệ nếu thỏa mãn các điều kiện bảo hộ pháp lý cụ thể theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ sẽ trở thành một đối tượng sở hữu trí tuệ (intellectual property – IP) như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tác phẩm có bản quyền (copyright) … Tập hợp các đối tượng sở hữu trí tuệ mà một doanh nghiệp nắm giữ được gọi là tập đối tượng sở hữu trí tuệ (IP Portfolio) của doanh nghiệp đó. Một đối tượng sở hữu trí tuệ nếu được doanh nghiệp xúc tiến đầy đủ các biện pháp hoặc thủ tục bảo hộ thích ứng sẽ xác lập nên một quyền sở hữu trí tuệ (IP right) như bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu … Một quyền sở hữu trí tuệ có thể có tính độc quyền tuyệt đối (như bằng độc quyền sáng chế) hoặc độc quyền tương đối (như bí mật kinh doanh hoặc các tác phẩm có bản quyền). Điểm đáng chú ý của các đối tượng sở hữu trí tuệ so với các tài sản trí tuệ khác là, pháp luật sở hữu trí tuệ không chỉ điều chỉnh quá trình xác lập, bảo vệ và chuyển giao quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ, mà còn chú trọng bảo vệ quyền nhân thân của các tác giả đã tạo ra các đối tượng sở hữu trí tuệ đó (như quyền đứng tên trên văn bằng độc quyền, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền nhận thù lao và giải thưởng liên quan …).  

Việc chuyển giao hẳn quyền sở hữu (bao gồm cả quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) đối với một tài sản trí tuệ cụ thể hoặc một đối tượng sở hữu trí tuệ cho một chủ thể khác được gọi là sự chuyển nhượng tài sản (assignment), như trong trường hợp Unilever mua lại nhãn hiệu P/S của Công ty hoá mỹ phẩm P/S. Việc chủ sở hữu vẫn nắm quyền sở hữu tài sản và chỉ cấp phép cho một chủ thể khác sử dụng tài sản trí tuệ liên quan của mình gọi là sự cấp li-xăng (licensing), như trong trường hợp Unilever cấp li-xăng cho Kinh Đô sử dụng nhãn hiệu WALL trong một thời gian ngắn để thuận tiện cho việc chuẩn bị và lăng xê nhãn hiệu thay thế sau khi mua lại xưởng kem từ Unilever. Trong một hợp đồng nhượng quyền thương mại (franchising), việc cấp li-xăng nhãn hiệu hay thương hiệu là một trong các giao kết cơ bản và bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ tác nghiệp và hỗ trợ tiếp thị có thể dẫn theo việc cấp li-xăng một số tài sản trí tuệ khác như bí quyết công nghệ hoặc tác nghiệp, các tài liệu hướng dẫn hoặc các mẫu thiết kế có bản quyền … 

Bên cạnh các sáng kiến đóng góp trực tiếp vào việc làm giàu cơ sở tri thức (intellectual base) của doanh nghiệp, mọi người lao động trong doanh nghiệp cũng thường xuyên vận dụng kinh nghiệm, kỹ năng, óc phán đoán và tri thức cá nhân của mình trong quá trình lao động công vụ. Do vậy, nhìn từ góc độ huy động và khai thác nguồn lực, nhà điều hành cũng nên chú ý đến một đối tượng quản trị khác được gọi là nguồn vốn trí tuệ (intellectual capital – IC) của doanh nghiệp, bao gồm nguồn nhân lực hiện hữu cùng các tài sản trí tuệ (IA) được họ thường xuyên vận dụng và tạo dựng bổ sung cho doanh nghiệp, trong đó có các quyền sở hữu trí tuệ (IP). Ở góc độ chiến lược kinh doanh, có thể nói rằng, các quyền sở hữu trí tuệ (IP) là công cụ để bảo vệ các tài sản hiện tại, trong khi nguồn vốn trí tuệ (IC) và các tài sản trí tuệ (IA) đảm nhận vai trò khai thác các giá trị tương lai. Cách tiếp cận này sẽ giúp phân định rõ nhiệm vụ tác nghiệp của một luật sư sở hữu trí tuệ (Patent Attorney, Trademark Agency, IP lawyer …) với một quản trị viên tài sản trí tuệ (IP Manager, IA Manager). Một doanh nghiệp đã phát triển đến một tầm mức nào đó có thể sẽ có nhu cầu thiết lập một nhóm, tổ hoặc bộ phận quản trị sở hữu trí tuệ (IP team/group) hoặc chuyên nghiệp hơn nữa là quản trị tài sản trí tuệ (IA group/division), đảm nhiệm cả hai chức năng pháp lý lẫn quản trị. 

Các đối tượng sở hữu trí tuệ 

Pháp luật sở hữu trí tuệ VN hiện hành có thể tạm chia thành ba bộ phận chính: pháp luật về quyền tác giả (copyright) đối với tác phẩm và các quyền liên quan (related right/neighbouring right), pháp luật sở hữu công nghiệp (industrial property) và pháp luật bảo hộ giống cây trồng (plant varieties). Dưới đây xin được phân tích vắn tắt vài khía cạnh giá trị của một số đối tượng sở hữu trí tuệ hiện được đa số các chủ thể sở hữu quan tâm nhất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. 

Sáng chế (invention) là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình, sẽ được bảo hộ độc quyền cho người đăng ký trước nếu thỏa ba điều kiện: có khả năng áp dụng công nghiệp, có tính mới và có trình độ sáng tạo. Một nhà sáng chế hoặc một doanh nghiệp có thể nộp đơn đăng tất cả các sáng chế mà học có ngay khi mỗi sáng chế vừa phát sinh để giành quyền ưu tiên. Sau đó, tùy theo điều kiện thương mại hoá của mỗi sáng chế, họ có thể tạm giữ kín sáng chế trong vòng 19 tháng để quan sát hoặc chuẩn bị thị trường, để hoàn thiện sáng chế … hay cho công bố để chào bán hoặc chào mời hợp tác, để có quyền tạm thời khuyến cáo các doanh nghiệp khác không được khai thác … Cũng từ sau ngày nộp đơn, họ có một thời hạn là 42 tháng để ra quyết định cuối cùng là có nên lấy bằng độc quyền hay không. Có khi chỉ một thời gian ngắn sau khi đăng ký, đã xuất hiện một sáng chế khác ưu việt hơn của người khác, hoặc có khi sau khi đã công bố và tìm mọi cách xâm nhập thị trường mà vẫn không thành công, người đăng ký có thể từ bỏ đơn sáng chế đã nộp do sáng chế không có triển vọng thương mại hoá. Các tập đoàn công nghiệp quốc tế hàng năm đều đăng ký vài ngàn đơn sáng chế vào nhiều nước khác nhau trong đó có VN, chủ yếu là để ém trước các thị trường (preempt the markets) của các sản phẩm dự định được sản xuất theo các sáng chế đã nộp đơn. Họ có thể tiến hành lấy bằng độc quyền hoặc không trong vòng một, hai, ba, bốn hoặc năm năm sau tùy theo giá trị khai thác thương mại của mỗi sáng chế. Theo đó, hệ thống đăng ký sáng chế về bản chất là một hệ thống pháp lý trợ giúp kinh doanh công nghệ chứ không phải là hệ thống để thể hiện hoặc tôn vinh tài năng. Cũng như mọi loại sản phẩm mới khác, có công nghệ mới sẽ hết sức đắt giá nhưng sẽ có nhiều hơn các công nghệ mới chỉ mang tính lót đường cho tri thức và công nghiệp.  

Nhãn hiệu (brand/trademark) là dấu hiệu để phân biệt các sản phẩm (hàng hoá và/hoặc dịch vụ) cùng loại. Giá trị của nhãn hiệu đuợc hình thành dần trong tiến trình tiếp thị và có thể phân tách thành năm thành tố giá trị khác nhau bao gồm: mức độ nhận biết về nhãn hiệu, chất lượng cảm thụ của nhãn hiệu, các ấn tượng liên kết với nhãn hiệu, ý hướng trung thành của khách hàng và các lợi thế cạnh tranh của nhãn hiệu. Một mức độ nhận biết (brand awareness) rõ ràng là cơ sở tối thiểu để tạo lập sự tin cậy đối với nhãn hiệu và giúp neo kết các thành tố giá trị khác. Tuy nhiên, một chất lượng cảm thụ (brand perceived quality) không thua kém hoặc tốt hơn nữa là khác biệt so với các nhãn hiệu cạnh tranh mới bảo đảm tốt nhất cho khả năng cạnh tranh của nhãn hiệu trong lâu dài. Ở một giai đoạn nào đó khi khách hàng đã rất am tường về sản phẩm do hoạt động tiếp thị và truyền thông liên tục của các đối thủ cạnh tranh, các ấn tượng liên kết (brand associations) sẽ phát huy cao nhất vai trò khác biệt hoá thông qua việc làm giàu hình ảnh trong mức độ nhận biết về nhãn hiệu hoặc tăng cường cảm xúc để nâng cao chất lượng cảm thụ riêng biệt của nhãn hiệu. Một nhãn hiệu có mức độ nhận biết cao, có chất lượng cảm thụ khác biệt hoặc có ấn tượng liên kết phong phú vẫn có nguy cơ bị tấn công bởi các nhãn hiệu cạnh tranh không ngừng tự hoàn thiện và khác biệt hoá. Do vậy, việc tiếp tục vun bồi mối quan hệ với khách hàng để củng cố ý hướng trung thành (brand loyalty) với nhãn hiệu trước các chiến thuật và sách lược lôi kéo khách hàng của các đối thủ cạnh tranh là nhu cầu tất yếu. 

Cả bốn thành tố giá trị trên khi được bồi tụ đến một mức độ nào đó sẽ tạo nên lợi thế hình ảnh cho nhãn hiệu, bên cạnh bốn loại lợi thế cạnh tranh khác mà nhãn hiệu có thể có là: lợi thế về công nghệ, lợi thế về tài chính, lợi thế về thương mại và lợi thế về pháp lý (như các văn bằng độc quyền sở hữu trí tuệ khác trợ lực cho nhãn hiệu). Việc phân tách giá trị nhãn hiệu thành năm thành tố giá trị như trên (hoặc qua một phương án phân tích khác) sẽ giúp nhận biết chính xác hơn các tương tác nhân – quả trong tác nghiệp quản trị nhãn hiệu. Thí dụ, một nhãn hiệu được nhận biết rộng rãi (well-known mark) nhờ đi trước trong thị trường, nhờ kinh doanh lâu năm, nhờ truyền thông tích cực hoặc nhờ lợi thế thương mại hay tài chính … chưa hẳn đã là một nhãn hiệu nổi tiếng (famous mark) nếu chất lượng cảm thụ không có điểm vượt trội (thí dụ, do non yếu hơn trong đầu tư công nghệ) hoặc các ấn tượng liên kết luôn mờ nhạt hay hỗn độn, thiếu nhất quán (thí dụ, do thường xuyên thay đổi quản trị viên hoặc đối tác quảng cáo). Trong một giao kết nhượng quyền thương mại, nếu nhãn hiệu được cấp li-xăng chỉ có được một mức độ nhận biết rộng rãi mà không thực sự là một nhãn hiệu mạnh về chất lượng cảm thụ hoặc ấn tượng liên kết so với các nhãn hiêu cạnh tranh, và phương thức kinh doanh hoặc tác nghiệp cũng thể bảo hộ bằng các quyền sở hữu trí tuệ liên quan khác (sáng chế, bí quyết công nghệ …), thì giao kết franchising tương ứng chỉ đơn thuần là một trong các biện pháp phát triển nhanh kênh phân phối nhằm khai thác thời cơ thị trường, thu hút nguồn lực đầu tư, san sẻ rủi ro và phí tổn …  

Tên thương mại của doanh nghiệp hoặc thương hiệu (corporate brand/trade name) là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt các chủ thể kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp sử dụng luôn thương hiệu làm nhãn hiệu (IBM, Prudential), thường là do kinh doanh đơn ngành hoặc phổ sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ) có tính liên kết hay bổ trợ cho nhau. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp lại quản trị thương hiệu và nhãn hiệu như những giá trị độc lập và tách biệt, thậm chí chẳng liên quan gì đến nhau (P&G, Unilever), thường là do phổ sản phẩm có tính đa dạng phục vụ các phân mảng thị trường (segment) khác biệt với chất lượng cảm thụ hoặc các ấn tượng liên kết không nên trộn lẫn với nhau hoặc đôi khi còn trái ngược với nhau (thí dụ, trong phổ sản phẩm vừa có tuyến (line) thực phẩm cho người, vừa có tuyến thực phẩm cho gia súc). Trong một giao kết licensing hoặc franchising, nếu có quá trình cấp phép sử dụng thương hiệu, có thể hiểu rằng về mặt bản chất, thương hiệu đó đang được sử dụng như một nhãn hiệu dịch vụ (service mark). Việc phân định về bản chất chức năng của thương hiệu với chức năng của nhãn hiệu trong cách tiếp cận này sẽ giúp phát triển các chiến thuật và sách lược khai thác mối tương quan giữa thương hiệu (corporate brand) với các nhãn hiệu (brand) trong tập nhãn hiệu (brand portfolio) của doanh nghiệp. Không như giá trị của nhãn hiệu về cơ bản được hình thành trong mối quan hệ với mảng khách hàng mục tiêu (target segment), giá trị của thương hiệu được hình thành qua quá trình giao kết và giao tiếp với hàng loạt các đối tác kinh doanh như: các nhà cung ứng, các nhà phân phối, khách hàng, các nhà đầu tư, cổ đông, người lao động trực thuộc, chính quyền, giới báo chí, giới phân tích … mà vào từng giai đoạn kinh doanh khác nhau, một đối tác nào đó lại có vai trò quan trọng hơn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Đó cũng là quá trình giúp doanh nghiệp thiết lập nên các mối quan hệ (relationships), xác lập các quyền (rights) được thụ hưởng, quản lý các công việc đang tiến triển (going concerns), phát triển các tài sản trí tuệ và tạo dựng nên lợi thế hình ảnh (corporate goodwill) cho doanh nghiệp. Năm thành tố vừa liệt kê cấu thành phần tài sản vô hình của doanh nghiệp, kết hợp cùng nguồn vốn tiền tệ và các tài sản hữu hình khác xác lập và củng cố giá trị của thương hiệu trên trường kinh doanh, phản ánh qua một trong những thước đo chủ yếu là giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp một khi đã được tung vào sàn giao dịch chứng khoán. Do vậy, việc chuyển nhượng tên thương mại hoặc thương hiệu bao giờ cũng phải đi kèm cùng toàn bộ cơ sở kinh doanh liên quan. 

Phân loại tài sản vô hình 

 Khái niệm tài sản vô hình vừa đề cập có thể định nghĩa khái quát hơn là các nhân tố phi vật chất được sử dụng trong (như một quy trình được cấp bằng sáng chế) hoặc đóng góp vào (như quyền sử dụng đất) quá trình sản xuất hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ, hay được kỳ vọng sẽ làm phát sinh một nguồn lợi tương lai (như ý hướng trung thành của khách hàng) cho doanh nghiệp.  

Nhìn dưới góc độ pháp lý, các tài sản vô hình có thể được phân định thành ba nhóm: các tài sản vô hình mà doanh nghiệp có thể sở hữu và chuyển giao như các quyền sở hữu trí tuệ hay một số quyền được thụ hưởng qua hợp đồng, giấy phép …, các tài sản vô hình mà doanh nghiệp có thể kiểm soát nhưng không thể chuyển giao như một số tài sản trí tuệ không thể bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ hoặc một số công việc đang tiến triển tại doanh nghiệp … và các nhân tố cùng các tác động vô hình khác như các mối quan hệ, lợi thế công nghệ, lợi thế tài chính, lợi thế thương mại hoặc lợi thế pháp lý của doanh nghiệp. Dưới góc nhìn quản trị, việc phân định các lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp vào năm nhóm lợi thế (công nghệ, tài chính, thương mại, pháp lý và hình ảnh) sẽ giúp doanh nghiệp chú ý chi tiết hơn đến vai trò và các ảnh hưởng vô hình của từng nhân tố tham gia cấu thành một lợi thế. Trong trường hợp doanh nghiệp tiến hành kinh doanh bằng một tập nhãn hiệu, thì các lợi thế cạnh tranh tương ứng của mỗi nhãn hiệu có thể được phân bổ hoặc hỗ trợ từ các lợi thế cạnh tranh của thương hiệu tức lợi thế cạnh tranh của toàn doanh nghiệp. 

Nhìn dưới góc độ kế toán tài chính, tài sản vô hình được phân thành tài sản cố định vô hình có thể hạch toán, phân bổ và khấu hao giá trị một cách chắc chắn và lợi thế thương mại chỉ hình thành qua một giao dịch sáp nhập (merger), thôn tính (acquisition) hay thanh lý (liquidation). Nếu xảy ra một giao dịch như vậy, lợi thế thương mại sẽ là khỏang chênh giữa giá trị được thanh toán của doanh nghiệp với tổng giá trị của vốn tiền tệ với các tài sản hữu hình và các tài sản vô hình đã được hạch toán (khái niệm lợi thế thương mại trong góc nhìn kế toán tài chính này xin đươc xem là bao hàm cà năm nhóm lợi thế trong góc nhìn quản trị bên trên). Các nhân tố vô hình khác không thỏa điều kiện hạch toán như một tài sản cố định vô hình (có thể xác định riêng biệt, có khả năng kiểm soát, có lợi ích kinh tế tương lai chắc chắn, thời gian sử dụng ước tính trên một năm …) hoặc chưa xuất hiện sự kiện để hạch toán vào lợi thế thương mại sẽ chỉ có thể hạch toán như các khỏan chi phí trong một kỳ kế hoạch. 

 Nhìn dưới góc độ phân bổ và huy động nguồn lực, các tài sản vô hình có thể chia thành: các tài sản vô hình liên quan đến công nghệ (sáng kiến, sáng chế, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bản thiết kế, sổ tay kỹ thuật …), các tài sản vô hình liên quan đến tiếp thị (danh sách khách hàng, danh sách nhà cung ứng, phương án tiếp thị, chính sách giá cả, chỉ dẫn thương mại …), các tài sản vô hình liên quan đến các tác phẩm (đồ án, tranh ảnh, mẫu thiết kế, giai điệu, phim, sách .., các tài sản vô hình liên quan đến hợp đồng (cung ứng, phân phối, khai thác, thi công, sử dụng chuyên gia, hợp tác nghiên cứu …) …  

 Trong xu thế toàn cầu hoá, đi kèm cùng quá trình “giải định chế” (deregulation) đối với cấu trúc và hệ thống kinh tế và các áp lực của tự do thương mại, các cơ chế bảo hộ thị trường về mặt tài chính, thuế quan, thương mại, kỹ thuật … ở tầm kích quốc gia nói chung đang từng bước bị tháo dỡ ; các tài sản vô hình và tài sản trí tuệ (trong đó có các quyền sở hữu trí tuệ) đang dần phát huy cao hơn vai trò vừa là một công cụ tự bảo vệ của doanh nghiệp, vừa là một rào cản cạnh tranh trên từng phân mảng thị trường mục tiêu, vừa là một nguồn lực mang tiêu chuẩn quốc tế cần được kiểm soát, phát triển và vận dụng trong mắt của các nhà hoạch định chiến lược và các nhà điều hành doanh nghiệp ª 

———————————————————————————————————-

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 11/2006

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH

 PHAN CÔNG THƯƠNG

LTS: Chủ thể kinh doanh là ai, tại sao phải định nghĩa chủ thể kinh doanh; những đặc điểm của chủ thể kinh doanh; các loại hình chủ thể kinh doanh; quyền và lợi ích của chủ thể kinh doanh; những vấn đề tồn tại trong hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Đây là những nội dung lớn trong bài viết này nhằm thống nhất cách hiểu về chủ thể kinh doanh.

Có thể nói hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sức tăng trởng của nền kinh tế và sự tồn tại của xã hội. Hiện nay, trình độ về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đã đạt được mức cao hơn nhiều so với những năm đầu của thập niên 1990. Khung pháp lý và thể chế quản lý nhà nước đối với các loại hình chủ thể kinh doanh đã từng bớc phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Ngày 12/ 6/ 1999, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Doanh nghiệp trên cơ sở hợp nhất Luật Công ty (1990) và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990). Luật Doanh nghiệp có hiệu lực ngày 01/01/2000 được đánh giá là một bớc đột phá quan trọng trong công tác lập pháp nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động tối đa mọi nguồn lực cho mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, khuyến khích các thành phần kinh tế và các loại hình chủ thể kinh doanh phát triển.

Theo Luật Doanh nghiệp thì các loại hình chủ thể kinh doanh được mở rộng rất nhiều. Trong khi đó, khung pháp lý quy định về nội dung hoạt động cũng nh những cơ sở pháp lý mà Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chúng lại chậm sửa đổi, bổ sung, thiếu đồng bộ, có nhiều điểm lạc hậu, tạo ra những tồn tại vớng mắc ảnh hởng đến hoạt động sản xuất, hạn chế quyền tự do kinh doanh của chúng vốn được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải có một cách hiểu thống nhất về chủ thể kinh doanh để làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung từng bớc quy định pháp luật kinh tế hiện hành tiến đến ban hành một luật chung thống nhất về các loại hình chủ thể kinh doanh cũng nh hoàn thiện dần khung pháp lý về nội dung hoạt động của các chủ thể kinh doanh và cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chúng. Dưới đây tác giả xin được đề cập đề đến một số vấn đề về chủ thể kinh doanh:

I. Thuật ngữ chủ thể kinh doanh

Thuật ngữ "chủ thể kinh doanh" được dùng rất phổ biến trong các báo, tạp chí, giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành pháp lý- kinh tế. Tuy nhiên hiện nay vẫn cha có một khái niệm chính thức nào.

Định nghĩa Để làm rõ thuật ngữ này, chúng ta bắt đầu bằng thuật ngữ "kinh doanh". Theo Từ điển tiếng Việt , "kinh doanh" được hiểu là "tổ chức việc sản xuất buôn bán sao cho sinh lời". Với nghĩa phổ thông này từ "kinh doanh’ không những có nét nghĩa "buôn bán" mà còn bao hàm cả nét nghĩa "tổ chức việc sản xuất". Hơn thế nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là "kinh doanh". Theo định nghĩa pháp lý được quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp (12/6/1999) thì "kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi".

Với định nghĩa "kinh doanh" rộng nh vậy ta có thể hiểu: chủ thể kinh doanh là bất kỳ cá nhân, tổ chức, đơn vị nào theo quy định của pháp luật thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý- kinh tế hiện nay có một số quan điểm khác nhau về vấn đề này:

Các quan điểm về kinh doanh

Quan điểm thứ nhất: đồng nhất khái niệm "chủ thể kinh doanh" với khái niệm "doanh nghiệp". Khái niệm doanh nghiệp lần đầu tiên được đề cập đến một cách chính thức trong Luật Công ty (21/12/1990) và hiện nay Luật Doanh nghiệp có giải thích như sau: "doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh " (Khoản 1, Điều 3).

Xuất phát từ thực tiễn và trên cơ sở quy định của pháp luật cho phép chúng ta khẳng định rằng: "chủ thể kinh doanh" không thể chỉ giới hạn ở những doanh nghiệp nh đề cập ở trên. Theo các văn bản pháp luật có liên quan, tham gia vào hoạt động kinh doanh còn có hộ kinh doanh cá thể và tổ hợp tác . Và đơng nhiên là chúng ta không thể thừa nhận hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác cũng là các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại trong nền kinh tế nước ta. Hay nói khác đi chúng ta không thể đồng nhất hai khái niệm "chủ thể kinh doanh" và "doanh nghiệp" với nhau được.

Quan điểm thứ hai cho rằng: "chủ thể kinh doanh" và "thương nhân" là một. Thuật ngữ "thương nhân" có từ lâu đời trong lịch sử kinh tế thế giới. Riêng ở nước ta, "thương nhân" là một khái niệm còn tương đối mới, chỉ được dùng làm ngôn ngữ pháp lý chính thức kể từ khi Luật Thương mại được ban hành.

Luật Thương mại nước ta lại không định nghĩa một cách trực tiếp mà chỉ nêu những đối tượng có thể trở thành thương nhân kèm theo các điều kiện ở những điều khoản sau đó. Tại Điều 5, Khoản 6 có viết: thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên ". Hoạt động thương mại mà Điều luật trên đề cập "là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện các chính sách kinh tế xã hội" (gồm có 14 hành vi thương mại quy định tại Điều 45 Luật Thương mại).

Như vậy, thương nhân theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam là một khái niệm rất hẹp chỉ giới hạn ở những chủ thể có đăng ký hoạt động thương mại, thực hiện các hành vi thương mại một cách độc lập thường xuyên nhằm mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Do đó, chúng ta không thể đồng nhất hai khái niệm "chủ thể kinh doanh" và "thương nhân" với nhau được.

Một vấn đề nữa cần làm rõ thêm là: chủ thể kinh doanh mà chúng ta đề cập là những chủ thể được thừa nhận về mặt tư pháp lý. Nghĩa là chúng xuất hiện trên cơ sở những sự kiện pháp lý nhất định. Chúng được pháp luật thừa nhận, bảo vệ và có quy chế pháp lý làm cơ sở cho sự tồn tại của mình, tức là chúng ta loại trừ những chủ thể kinh doanh trái pháp luật. Đó là những cá nhân, tổ chức, đơn vị mà hành vi kinh doanh của họ đã phạm vào điều cấm của pháp luật hoặc bản thân sự tồn tại thực tế của những hoạt động kinh doanh đó còn thiếu hoặc không tuân thủ những thủ tục hay điều kiện cần thiết do pháp luật quy định. Mặt khác việc thực hiện hành vi kinh doanh được chúng ta đề cập như là một hoạt động nghề nghiệp thường xuyên, chủ yếu của các chủ thể kinh doanh. Những chủ thể pháp luật khác nh các cơ quan nhà nước, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội đoàn thể… mặc dù có thể tham gia vào một quan hệ pháp lý mang tính chất kinh doanh nhng vẫn không được thừa nhận là chủ thể kinh doanh.

Nói tóm lại, chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú. Nó không những bao gồm tất cả các loại hình doanh nghiệp mà còn mở rộng đến tổ hợp tác, hộ gia đình và cá nhân nữa. Để hiểu rõ hơn về khái niệm này dới đây chúng ta sẽ phân tích những đặc điểm cơ bản của nó.

II. Đặc điểm cơ bản của chủ thể kinh doanh

Xét một cách tổng quát chủ thể kinh doanh có những đặc điểm cơ bản sau:

1. Chủ thể kinh doanh phải được thành lập, đăng ký hợp pháp

Các chủ thể kinh doanh nói chung phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận. Hiện nay, khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thì quy chế pháp lý về việc thành lập các chủ thể kinh doanh và các doanh nghiệp nói riêng có nhiều thay đổi theo hướng đơn giản hơn so với trước đây. Theo đó, các chủ thể kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp cùng với hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, và hợp tác xã trước đây chỉ cần đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng với các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp có vốn đầu t nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, việc thành lập vẫn phải tuân theo những trình tự thủ tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đang có hiệu lực. Đây là đặc điểm xác lập tư cách chủ thể pháp lý độc lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ sở để nhà nước thừa nhận và bảo vệ các chủ thể kinh doanh trước pháp luật.

2. Chủ thể kinh doanh phải có tài sản riêng

Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá bằng tiền và các quyền tài sản. Để tham gia vào hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh phải có tài sản riêng của mình. Bởi tài sản riêng là cơ sở vật chất không thể thiếu để các chủ thể này có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Dấu hiệu phải có tài sản riêng thể hiện tính độc lập và khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Nghĩa là các chủ thể này có quyền chiếm hữu (hoặc quản lý), sử dụng, định đoạt tài sản đó cũng như có quyền điều phối khối tài sản này theo nhu cầu sản xuất kinh doanh và phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trước pháp luật.

3. Chủ thể kinh doanh phải có chức năng kinh doanh

Chức năng kinh doanh là phơng diện hoạt động thường xuyên, cơ bản và chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh. Chức năng kinh doanh thể hiện ở các mặt sau:

a. Phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (gọi tắt là giấy phép kinh doanh). Đây là chứng thư pháp lý quan trọng thừa nhận một chủ thể có quyền hoạt động kinh doanh. Riêng đối với các chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì giấy phép đầu t có giá trị là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

b. Các chủ thể kinh doanh chỉ được kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề và loại hàng hoá ghi trong giấy phép kinh doanh. Mọi trường hợp kinh doanh không có giấy phép, không đúng nội dung giấy phép hoặc hàng hoá kinh doanh là đối tợng mà pháp luật cấm hoặc hạn chế lu thông sẽ không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.

c. Phải thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên nhằm mục đích chủ yếu là lợi nhuận. Với tư cách là một thực thể tham gia thị trường, nếu chủ thể kinh doanh không lấy kinh doanh làm hoạt động cơ bản để tìm kiếm lợi nhuận thì tất yếu không có sự tồn tại và không có khả năng tồn tại. Tất nhiên, chúng ta chỉ đứng ở giác độ lý luận khái quát loại trừ những chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích.

4. Chủ thể kinh doanh có tính liên quan và đối kháng với nhau

Trong điều kiện kinh tế thị trường, mỗi một chủ thể kinh doanh không tồn tại nh một tế bào kinh tế đơn lẻ mà nằm trong một hệ thống lớn lực lợng sản xuất xã hội có tính liên quan một cách hữu cơ với nhau. Các chủ thể kinh doanh phải hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự hỗ trợ này thực chất là cung cấp sản phẩm cho xã hội thể hiện nhu cầu đối với tiền vốn và sức lao động sản xuất. Có thể thấy mỗi hoạt động của chủ thể kinh doanh này có thể ảnh hởng đến hoạt động của chủ thể kinh doanh khác. Mặt khác, với t cách là một chủ thể tham gia thị trường, các chủ thể kinh doanh có tính đối kháng với những nhân tố tác động từ bên ngoài nh: khủng hoảng tài chính tiền tệ, thiên tai hoả hoạn, các thay đổi về chính sách quản lý kinh tế của nhà nước hoặc những lợi thế từ các đối thủ cạnh tranh… để có thể tồn tại, phát triển. Biểu hiện của tính đối kháng là chủ thể kinh doanh phải dựa vào chính bản thân mình để tiếp thu vật chất từ hoàn cảnh thị trường, năng động và nhạy bén thông tin, chuyển hoá nguy cơ thành cơ hội… từ đó không ngừng loại trừ, khắc phục những khó khăn; nếu không tất yếu sẽ bị quy luật thị trường đào thải. Qua việc tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của chủ thể kinh doanh chúng ta thấy rằng chủ thể kinh doanh tồn tại dới nhiều hình thức, nhiều loại với quy mô hoạt động khác nhau. Bản thân khái niệm chủ thể kinh doanh chỉ mang ý nghĩa khái quát, cần phải được hiểu cụ thể hơn. Do vậy việc nghiên cứu tìm hiểu các loại hình hoạt động của nó là hoàn toàn cần thiết.

III. Các loại hình chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Trên cơ sở quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực và tổng hợp các tiêu chí phân loại chủ thể kinh doanh, ta nhận thấy ở Việt Nam có các loại hình chủ thể kinh doanh sau:

– Doanh nghiệp nhà nước: doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có t cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.

Bên cạnh đó, có một loại hình chủ thể kinh doanh khác mà chúng ta cũng cần đề cập là các doanh nghiệp thuộc Đảng, đoàn thể. Đây là loại hình chủ thể kinh doanh được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, cũng có bản chấtư pháp lý tơng tự nh doanh nghiệp nhà nước.

– Hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiệu có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Hợp tác xã có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động trong phạm vi tài sản thuộc sở hữu của mình. Hợp tác xã có bản chất là một doanh nghiệp nhưng không đơn thuần chỉ hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận mà còn có chức năng xã hội đối với các xã viên.

– Doanh nghiệp t nhân: Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ. Chủ doanh nghiệp có thể tự mình trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thuê người khác thực hiện nhiệm vụ đó nhng vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với t cách là chủ sở hữu. Doanh nghiệp t nhân không có t cách pháp nhân, chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp (gồm cả tài sản mà chủ doanh nghiệp không sử dụng vào hoạt động kinh doanh).

– Công ty hợp danh: là doanh nghiệp không có t cách pháp nhân, có ít nhất hai thành viên hợp danh mà mỗi thành viên hợp danh có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty và có thể có thành viên góp vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Đây là loại hình chủ thể kinh doanh còn khá mới mẻ ở Việt Nam, việc thành lập thường liên quan đến điều kiện và chứng chỉ hành nghề nên số lợng đăng ký thành lập trên thực tế rất hạn chế.

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật.

– Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nước ngoài: doanh nghiệp 100% vốn đầu t nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu t nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có bản chất là công ty trách nhiệm hữu hạn, hoạt động kinh doanh độc lập và chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp do một cá nhân nước ngoài bỏ vốn ra thành lập.

– Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu t nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được tổ chức dới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, có t cách pháp nhân và chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ bằng tài sản của mình trên cơ sở vốn góp vào liên doanh của các bên.

– Tổ hợp tác: là một chủ thể dân luật, nó chỉ trở thành chủ thể kinh doanh khi có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật, có nhu cầu hoạt động thương mại, có đăng ký kinh doanh và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã của từ ba cá nhân trở lên cùng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm trong các quan hệ kinh doanh. Tổ hợp tác có đủ điều kiện để trở thành pháp nhân theo quy định của pháp luật thì đăng ký hoạt động với t cách pháp nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tổ hợp tác chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của tổ, nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của tổ thì tổ viên phải chịu trách nhiệm liên đới theo phần tơng ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.

– Hộ kinh doanh cá thể: (thực chất là cá nhân và nhóm kinh doanh hoạt động theo Nghị định 66/HĐBT ngày trước đây) là loại hình chủ thể kinh doanh không có t cách pháp nhân do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ kinh doanh tại một địa điểm cố định không thường xuyên thuê mướn lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

Ngoài những loại hình chủ thể kinh doanh nêu trên, trong thực tiễn các quan hệ kinh tế chúng ta còn thấy có một số tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng được phép hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Các tổ chức và cá nhân nước ngoài này cũng có những đặc điểm của chủ thể kinh doanh, được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận và bảo vệ quyền- lợi ích hợp pháp.

Qua việc tìm hiểu các loại hình chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có thể thấy nước ta cha có một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất làm cơ sở áp dụng chung cho tất cả các loại hình chủ thể kinh doanh. Mỗi loại hình kinh doanh có những lợi thế đặc thù và những hạn chế riêng biệt. Tuỳ vào điều kiện, khả năng, nhu cầu… các tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn cho mình một loại hình hoạt động phù hợp theo quy định của pháp luật. Chủ trơng, chính sách chung của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta là không phân biệt đối xử giữa các loại hình kinh doanh.

IV. Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh

Với t cách là một chủ thể pháp lý độc lập, các chủ thể kinh doanh không chỉ tham gia vào các quan hệ xã hội khác do các ngành luật khác nhau điều chỉnh. Do vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của chúng trong các quan hệ pháp luật khác nhau là khác nhau. Trong giới hạn cho phép, tác giả chỉ đề cập đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh trong quá trình tham gia vào các quan hệ kinh doanh do luật kinh tế điều chỉnh.

Về quyền:

Theo nghĩa phổ thông "quyền" là "điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hởng, được làm, được đòi hỏi" . Theo nghĩa pháp lý "quyền" là khả năng được tự do lựa chọn hành động, khả năng này do Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện, không có giá trị bắt buộc . Từ đây "quyền" của chủ thể kinh doanh có thể được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: quyền của chủ thể kinh doanh trong hoạt động kinh doanh là các quyền về tự do kinh doanh, quyền được Nhà nước bảo hộ về sở hữu tài sản, quyền bình đẳng trước pháp luật giữa các loại hình kinh doanh… Trong số các quyền này thì quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa quan trọng. Quyền tự do kinh doanh dới góc độ pháp lý, là quyền của các chủ thể kinh doanh trong việc lựa chọn các lĩnh vực ngành nghề để đầu t vốn, sức lao động, máy móc thiết bị, cách thức quản lý… nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh.

Quyền tự do kinh doanh có cơ sở pháp lý là toàn bộ các quy định của Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh một cách hợp lý. Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh có nội dung rất rộng bao gồm nhiều nội dung khác nhau: quyền chủ động mở rộng quy mô ngành nghề kinh doanh; quyền chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; quyền tuyển, thuê sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; quyền từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kỳ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào… ở mỗi loại hình chủ thể kinh doanh, pháp luật có những quy định cụ thể, chi tiết về quyền của chúng trong các văn bản quy phạm pháp luật tơng ứng. Thông thường khi hởng các quyền do pháp luật ghi nhận thì các chủ thể kinh doanh phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định. Đó là những nghĩa vụ về thống kê, tài chính- kế toán, kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký… cũng như tuân thủ các quy định về an ninh quốc phòng, bảo vệ tài nguyên môi trường, di tích lịch sử- văn hoá, danh lam, thắng cảnh.

Theo nghĩa hẹp: quyền của chủ thể kinh doanh là những quyền mà các bên có được, được ghi nhận trong các cam kết, thoả thuận do các bên ký kết trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đó là các hợp đồng có mục đích kinh doanh về sản xuất, mua bán, trao đổi, ký gửi… sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ… hoặc các bản điều lệ về góp vốn thành lập công ty, về phân chia lợi nhuận hoặc những văn bản thoả thuận về việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu…

Về lợi ích:

Từ điển tiếng Việt có giải thích: "lợi ích" là "cái có tác dụng tốt đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, điều có lợi cho một tập thể hay một cá nhân…". Theo Từ điển Triết học thì "lợi ích" là "khái niệm nói lên đặc điểm của cái có ý nghĩa khách quan, cần thiết cho cá nhân, gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung". Theo nghĩa pháp lý "lợi ích" (hợp pháp) "là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần phù hợp với quy định của pháp luật" .

Từ các tra cứu trên ta có thể hiểu lợi ích của các chủ thể kinh doanh như sau: Theo nghĩa rộng: lợi ích của các chủ thể kinh doanh là tất cả những điều, những cái phát sinh từ quyền do pháp luật quy định. Lợi ích của chủ thể kinh doanh có thể là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần.

Theo nghĩa hẹp: lợi ích của chủ thể kinh doanh đơn thuần chỉ là thu nhập, lợi nhuận mà các chủ thể này có được trong quá trình thực hiện hành vi kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi .

Tuy nhiên, có một điều cần đề cập rõ hơn là: dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì quyền và lợi ích của chủ thể kinh doanh phải xuất phát từ những quy định của pháp luật và phải phù hợp với những quy định của pháp luật. Đây gọi là những quyền và lợi ích hợp pháp. Đối lập lại là những quyền và lợi ích bất hợp pháp, chúng không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.

Tóm lại:

quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh là khả năng chủ thể kinh doanh được tự do lựa chọn hành động nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong quá trình hoạt động kinh doanh, phù hợp với quy định của pháp luật được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Có thể nói trong hoạt động quản lý kinh tế, việc Nhà nước quy định cho các chủ thể kinh doanh có những quyền và được hởng những lợi ích khi thực hiện các quyền đó có ý nghĩa và tác dụng rất lớn. Nó tạo lập một hành lang pháp lý an toàn chung, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh, hạn chế những "sách nhiễu" từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, qua những quy định về quyền nhà nước cũng kèm theo đó những nghĩa vụ bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh, hớng các quan hệ kinh doanh phát triển tích cực, đặt chúng trong mối quan hệ hài hoà với lợi ích chung của nền kinh tế- xã hội. Mặt khác, đây là cơ sở để Nhà nước xác định cách thức, phương pháp, công cụ bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh một cách phù hợp khi chúng bị xâm hại.

V. Những vấn đề nổi cộm

Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển nhất định và đạt được mức tăng trưởng cao. Số lợng chủ thể tham gia thị trường cũng tăng lên đáng kể, cơ chế thị trường đã hoạt động với quy mô và cờng độ lớn hơn, mức độ mở cửa của nền kinh tế nước ta với bên ngoài cũng đã tăng lên rất nhiều so với trước. Theo tính toán của các nhà kinh tế, hiện nay ở nước ta có khoảng 5.700 doanh nghiệp nhà nước; 14.791 công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã; 491 doanh nghiệp có vốn đầu t nước ngoài; 1,5 triệu hộ kinh doanh cá thể và tổ hợp tác. Đó là chưa kể hàng năm dự án nước ngoài đã được cấp phép và hơn 10.000 doanh nghiệp mới được thành lập theo Luật Doanh nghiệp trên phạm vi cả nước (tính đến tháng 11/2000) cùng hàng trăm doanh nghiệp nước ngoài, cũng nh các tổ chức cá nhân nước ngoài khác đang hoạt động thương mại ở Việt Nam.

Với một số lượng rất lớn chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường nh vậy thì không thể nào tránh khỏi những nghiệt ngã của thương trường, kéo theo nhiều vấn đề phát sinh. Dưới đây sẽ đề cập đến một số khía cạnh:

Một là, xét ở bình diện riêng đối với các loại hình chủ thể kinh doanh:

– Đối với các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp nhà nước nói chung, đây là lực lợng đóng góp cho quốc gia mỗi năm 40% GDP, gần 60% nguồn thu thuế và lệ phí của ngân sách nhà nước, chiếm giữ 70% vốn và tài sản cố định của nền kinh tế (không tính vốn và tài sản của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) sử dụng khoảng 15% lực lợng lao động trong các ngành nghề phi nông nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp nhà nước choáng ngợp với cơ chế thị trường kinh doanh lúng túng, kém hiệu quả, thua lỗ liên tục, bộc lộ nhiều hạn chế về quy mô, công nghệ, khả năng quản lý điều hành…

– Đối với chủ thể kinh doanh là các công ty, doanh nghiệp t nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác, các đơn vị này có đóng góp hàng năm từ 8% đến 10% GDP, tạo được trung bình 500.000 chỗ làm việc mới, giải quyết nhiều việc làm cho lực lợng lao động trong mùa nông nhàn (nhất là các hợp tác xã, tổ hợp tác tiểu thủ công nghiệp). Hiện nay, loại hình hợp tác xã rất được a chuộng vì nó được Nhà nước khuyến khích có nhiều u đãi nên có xu hớng "hợp tác xã hóa" mục đích là nhằm trốn thuế. Riêng ở các công ty và doanh nghiệp t nhân nổi lên tình trạng buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo. Cá biệt có nhiều doanh nghiệp cấu kết và hối lộ với cán bộ nhà nước có thẩm quyền trong một thời gian dài nhập một số lượng hàng lậu lớn vào Việt Nam, gián tiếp bóp chết nền sản xuất non trẻ trong nước, nhất là điện tử và ô tô, gây tổn thất cho ngân sách nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, thiệt hại lâu dài đối với nền kinh tế quốc dân không thể thống kê được. Nguyên nhân chính là do Nhà nước buông lỏng quản lý hoặc có nhưng không chặt chẽ khâu sau thành lập đối với các doanh nghiệp này nói chung.

– Đối với các chủ thể kinh doanh có vốn đầu t nước ngoài, có đóng góp gần 15% GDP, thu hút số lượng lớn lao động trẻ của Việt Nam. Bên cạnh những u thế về vốn, trình độ tổ chức quản lý cao, thiết bị công nghệ sản xuất hiện đại, hoạt động kinh doanh có hiệu quả… các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường có những hạn chế biểu hiện ở các mặt: bóc lột quá sức lao động của công nhân nói riêng và vi phạm luật lao động nói chung, xâm phạm thuần phong mỹ tục của Việt Nam.

– Đối với hộ kinh doanh cá thể, tạo ra khoảng 9% GDP, sử dụng hơn 3 triệu lao động. Hiện nay nhiều cá nhân hộ gia đình hoạt động với số vốn rất lớn nhng vẫn không có nhu cầu chuyển sang các loại hình kinh doanh khác. Họ mở rộng quy mô hoạt động của mình bằng việc tiếp tục đăng ký kinh doanh thêm dới tên của người khác hoặc nhận làm đại lý cho các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Thông qua đó họ "cẩn thận" kinh doanh thêm nhiều loại mặt hàng khác không đúng với nội dung đăng ký kinh doanh. Tình trạng này diễn ra khá phổ biến, trong nhiều trường hợp làm phát sinh những hậu quả đáng tiếc.

Hai là, xét trên bình diện chung, thực tiễn hoạt động của các chủ thể kinh doanh nổi lên các vấn đề chính sau:

+ Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, biểu hiện của tình trạng này là các hành vi: đầu cơ để lũng đoạn thị trường, bán phá giá, nâng- ép giá, xâm phạm về quyền nhãn hiệu hàng hoá cũng như các quyền về sở hữu công nghiệp của các chủ thể kinh doanh khác, quảng cáo so sánh dối trá, bán và lưu thông hàng nhái, hàng kém phẩm chất, hàng giả… Những biểu hiện có xu hớng tăng lên một cách đáng lo ngại. Pháp luật của chúng ta về vấn đề này cũng đã có điều chỉnh nhng cũng còn thiếu, rải rác và chưa hệ thống.

+ Nhiều chủ thể kinh doanh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán đối với các khoản nợ đến hạn, kéo theo những khiếu kiện dông dài hoặc những cách đòi nợ theo kiểu "luật rừng", "cá lớn nuốt cá bé"… làm mất trật tự và an toàn xã hội, gây nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng.

+ Các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động gia tăng đáng kể, nhất là các tranh chấp về hợp đồng kinh tế. Mặt khác, tình trạng nhiều chủ thể kinh doanh cố tình vi phạm hợp đồng, lừa đảo, chiếm dụng vốn của các đối tác diễn ra phổ biến.

Có thể nói, trong giai đoạn quá độ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hớng xã hội chủ nghĩa, những yếu tố của cơ chế mới đang trong quá trình hình thành, cha đồng bộ nên cha đủ sức thay thế hoàn toàn những yếu tố của cơ chế cũ. Đó là một quá trình đấu tranh toàn diện, gay go và phức tạp giữa những lực lợng tiến bộ và những lực lợng lạc hậu, phi tiến bộ. Trong bối cảnh đó, việc các chủ thể kinh doanh có những biểu hiện ở trên trong hoạt động của mình là điều có thể hiểu và lý giải được./.

===============================================

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 6/2001.

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI OAN SAI TRONG TỐ TỤNG

TS. DƯƠNG THANH MAI – CN. NGUYỄN HOÀNG HẠNH

1. Thực trạng chung

Báo Pháp luật ngày 3/6/2001 đa tin tại trang 1: “Bắt oan sai, bồi thường 30 triệu đồng” với nội dung: Chánh văn phòng Huyện uỷ huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã chủ trì cuộc họp, thoả thuận bồi thường cho gia đình ông Võ Văn Chiêu 30 triệu đồng do cơ quan tố tụng của huyện đã bắt và giam giữ oan sai 4 người con trai của ông Chiêu (có một người ở độ tuổi cha thành niên) trong thời gian 3 tháng. Và không chỉ ở Việt Nam… Toà án nhân dân Thành phố Nam Ninh, Khu tự trị dân tộc Choang, Trung Quốc, dựa trên bản án phúc thẩm tuyên vô tội và căn cứ vào Luật Nhà nước bồi thường 1995, đã xác định toà án sơ thẩm quận kết án và giam oan sai 352 ngày đối với Giám đốc công ty thương mại X vì tội danh “Không chấp hành bản án dân sự”, do đó, phải bồi thường 3.706,3 NDT cho việc xâm phạm tự do cá nhân và 4.519,37 NDT về các chi phí thực tế khác mà nạn nhân đã phải gánh chịu trong quá trình tố tụng. Tại Thuỵ Điển, trong vụ ám sát cố Thủ tướng Ô Lếch Pam-mơ năm 1986, người bị tình nghi và bị giam oan 10 tháng đã được bồi thường 300.000 Crown (tương đương 45.000 USD).

Hơn thế nữa, đây cũng không chỉ còn là vấn đề nội bộ của từng quốc gia… Hội đồng giải quyết khiếu kiện hỗn hợp Hoa Kỳ- Mexico đã ra phán quyết Chính phủ Mexico phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho H. Robert- công dân Hoa Kỳ do bị các cơ quan tố tụng của Mexico giam giữ quá thời hạn luật định (19 tháng) mà không được đa ra xét xử. Từ những vụ việc cụ thể trên có thể thấy, hiện tợng oan sai trong hoạt động tố tụng không chỉ xảy ra ở Việt Nam hay cá biệt ở một nước nào mà tồn tại ở mọi nước trên thế giới với số lợng và mức độ nghiêm trọng khác nhau. Các quốc gia đều phải tìm cách tiếp cận và giải quyết vấn đề phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống pháp luật của nước mình thông qua việc xây dựng và hoàn thiện chế định pháp lý về bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị oan sai do cơ quan tố tụng gây ra, thể hiện ngày một đầy đủ hơn trách nhiệm của nhà nước trước công dân nước mình cũng như trước quốc gia và công dân nước khác về hoạt động của các cơ quan, công chức tư pháp.

2. Bồi thường thiệt hại ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan tư pháp đã góp phần tích cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp luật và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ tích cực cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước. Tuy nhiên, việc xử lý oan sai trong hoạt động điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử các vụ án hình sự hiện vẫn đang còn là vấn đề bức xúc, đáng lo ngại. Theo số liệu báo cáo chính thức của các cơ quan tư pháp, trong quý 4/1999 và quý 1/2000 qua xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, toà án nhân dân các cấp đã tuyên 73 bị cáo không có tội; năm 2000, toà án nhân dân (TAND) cấp tỉnh đã huỷ 334 bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại (chiếm 4,08%), các toà phúc thẩm của TAND tối cao huỷ 127 vụ (chiếm 1,1,%) cấp giám đốc thẩm huỷ 21 bản án để điều tra, xét xử lại và kết quả sau xét xử lại là giảm án đối với 8 vụ, tuyên vô tội đối với 8 vụ khác. Tình trạng người bị oan sai khiếu kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự đang có xu hớng gia tăng. Cùng với quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay, sự ưu tiên hàng đầu được dành cho vấn đề nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trước các công dân, trong đó có vấn đề bồi thường thiệt hại cho các công dân bị các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý oan sai. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã khẳng định yêu cầu: “Đối với việc bắt giữ, xét xử oan sai cần truy cứu trách nhiệm của những người ra lệnh và người thừa hành, đồng thời minh oan công khai, thoả đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử oan sai, đảm bảo quyền công dân đúng pháp luật” Trong khi đó, thực tế công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra còn nhiều bất cập, cha đáp ứng kịp thời những đòi hỏi chính đáng của người dân khi mà tài sản, uy tín, danh dự, các quyền và lợi ích hợp pháp khác, thậm chí cả tính mạng

của họ bị xâm phạm. Việc bồi thường trong các vụ oan sai đã được xử lý cho thấy vẫn cha có một cách thức thống nhất nào được áp dụng, mức bồi thường phần lớn phụ thuộc vào sự “tự nguyện” của các cơ quan tố tụng hoặc của chính quyền địa phơng. Ví dụ nh anh Bùi Minh Hải sau 13 tháng chấp hành hình phạt tù chung thân vì bị kết tội giết người, hiếp dâm và cớp tài sản của công dân đã được trả tự do vì không phạm tội và được các cơ quan tố tụng tỉnh Đồng Nai bồi thường thiệt hại vật chất 60 triệu đồng, bồi thường danh dự 5 triệu đồng. Trong khi đó nhớ lại, cách đây một năm, Báo Pháp luật Thành

phố Hồ Chí Minh (ngày 23/5/2000) nêu câu hỏi day dứt: “Ai sẽ bồi thường 140 ngày tù oan?” cho người phụ nữ được toà tuyên vô tội sau khi đã bị giam oan 4 tháng hai mơi ngày nhưng sau hơn 5 năm khiếu kiện vẫn cha có cơ quan tố tụng nào của tỉnh Phú Yên đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường… Các báo cáo chính thức của các cơ quan nhà nước hữu quan mới chỉ đa ra các con số thống kê chưa đầy đủ về số lợng các vụ oan sai chứ cha có thống kê cụ thể nào về việc xử lý các trường hợp oan sai và giải quyết bồi thường thiệt hại. Một trong các căn nguyên chính của tình trạng trên là do những bất

cập trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam trong lĩnh vực này.

3. Những bất cập trong pháp luật về bồi thường thiệt hại

Pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra những bất cập cần được giải quyết trong nghiên cứu lập pháp.

Điều 72 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Người bị bắt, bị giam giữ, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”. Nguyên tắc hiến định này được cụ thể hoá một bước thành chế độ trách nhiệm pháp lý của các cơ quan và cá nhân tiến hành tố tụng gây oan sai.

Điều 24 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà bị xử lí kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 phân định rõ thêm: cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, sau đó có trách nhiệm yêu cầu người đó bồi hoàn khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Như vậy, có thể thấy rằng, Hiến pháp và các bộ luật đã xác lập một số nguyên tắc cơ bản: người bị oan sai phải được cơ quan tiến hành tố tụng có người gây oan sai bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần, danh dự; bản thân người có thẩm quyền đã gây oan sai phải chịu trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền bồi thường thiệt hại và tuỳ trường hợp, đồng thời phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự .

Để hướng dẫn thi hành các nguyên tắc trên, ngày 3/5/1997, Chính phủ đã có Nghị định 47/CP về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Trên cơ sở Nghị định đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 38/TT-BTC ngày 30/3/1998 hớng dẫn việc lập dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/1998 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 47/CP.

Thực tiễn áp dụng các văn bản trên cho thấy những bất cập chính sau:

– Chưa có một văn bản riêng, có hiệu lực pháp luật cao quy định toàn diện các vấn đề có tính đặc thù của việc bồi thường đối với trường hợp oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra.

– Chưa có quy định cụ thể về các loại oan sai trong tố tụng hình sự; các căn cứ pháp lý để xác định một người bị oan sai; phạm vi oan sai được bồi thường thiệt hại; căn cứ xác định mức độ thiệt hại và mức bồi thường đối với từng loại oan sai, đặc biệt là mức và cách thức bồi thường những thiệt hại do bị xâm phạm quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm.

– Các quy định hiện hành về trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại và hoàn trả bồi thường cha giải quyết được các vấn đề đặc thù của trường hợp oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là những khó khăn, vớng mắc trong việc xác định trách nhiệm (độc lập và liên đới) của các cơ quan và cá nhân tiến hành các bớc, các giai đoạn tố tụng vốn có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Việc xác định trách nhiệm của người ra lệnh và người thừa hành theo tinh thần của Hội nghị Trung ơng 8 khoá VII cho đến nay vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ cha có trả lời cụ thể xác đáng. Ví dụ nh việc điều tra viên bắt người để tạm giam theo lệnh của thủ trưởng cơ quan điều tra có phê chuẩn của viện kiểm sát và việc tạm giam này sau đó được xác định là sai, bị can không phải là người phạm tội trong trường hợp này những cơ quan, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm bồi thường cho nạn nhân?

– Các quy định về lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho các khoản tiền bồi thường thiệt hại tuy có ưu điểm là đơn giản, tập trung một đầu mối ở cơ quan tài chính địa phương nhưng trên thực tế lại không phù hợp với cơ chế quản lí kinh phí theo ngành dọc hiện nay của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Chính vì những bất cập trên của pháp luật trước thực tiễn đầy bức xúc nên đầu năm 2000 Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các cơ quan đảng, nhà nước phải khẩn trương nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách và chuẩn bị ngay các văn bản để ban hành làm cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp bị oan sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên, với chủ trơng Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, việc nghiên cứu so sánh pháp luật của các nước về bồi thường thiệt hại do các cơ quan tố tụng gây ra là điều rất cần thiết nhằm giúp cho các nhà lập pháp nắm được những nét tơng đồng có tính phổ biến cũng nh những điểm khác biệt của từng nước, từ đó lựa chọn, rút ra những kinh nghiệm quý, kể cả kinh nghiệm thành công và cha thành công của việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này ở các nước, đặc biệt là ở những nước có truyền thống văn hoá và pháp luật cũng nh có các điều kiện phát

triển về chính trị, kinh tế- xã hội gần gũi với Việt Nam. Cách tiếp cận đó sẽ góp phần làm hài hoà hệ thống pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước và pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại đồng thời vẫn giữ được bản sắc, đặc trng phù hợp với trình độ phát triển của đất nước.

4. Những quan điểm định hướng để xây dựng các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại

Các quan điểm của Đảng về cải cách hành chính và cải cách tư pháp cần được quán triệt thành những định hướng chỉ đạo việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp việc bồi thường thiệt hại cho các trường hợp oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra, cụ thể là:

– Khẳng định trách nhiệm trước tiên và trên hết thuộc về Nhà nước trong việc giải quyết, khắc phục các hậu quả, bồi thường thiệt hại cho công dân bị oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra đồng thời xác định rõ cơ sở phân định trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đã gây oan sai.

– Phạm vi oan sai mà người gánh chịu được quyền yêu cầu bồi thường, mức độ và cách thức bồi thường phải được quy định bằng Luật, đảm bảo tính công bằng nhng phải phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội ở từng giai đoạn, có tính khả thi.

– Thủ tục, trình tự giải quyết bồi thường thiệt hại phải đơn giản, rõ ràng, thuận tiện và nhanh chóng, dứt điểm phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và tư pháp nhằm vừa bảo vệ triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vừa giảm thiểu những tổn thất, đau khổ kéo dài mà người bị oan sai tiếp tục phải gánh chịu.

– Tạo ra và đảm bảo thực thi các cơ chế hữu hiệu để tăng cờng sự giám sát, kiểm tra của công dân, của xã hội đối với các quá trình tố tụng cũng nh đối với việc Nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện việc bồi thường cho người bị oan sai theo quy định của pháp luật. Chính cơ chế giám sát và tự giám sát này sẽ góp phần quan trọng thực hiện chủ trơng đã được Đại hội Đảng IX một lần nữa khẳng định: “cải cách tổ chức, nâng cao chất lợng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ,

truy tố, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan sai”.

———————————————————————————–

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 6/2001

CÁC KỸ NĂNG CẦN THIẾT TRONG HỌC TẬP, LÀM VIỆC THEO NHÓM

"Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng… chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được"

HERBERT SPENCER

 

PHẦN 1: CÁC KỸ NĂNG CẦN THIẾT TRONG HỌC TẬP, LÀM VIỆC NHÓM

CỘNG TÁC TRONG HỌC TẬP

Cộng tác trong học tập là một quá trình làm việc theo nhóm, mỗi thành viên đóng góp và giúp đỡ nhau để cùng đạt được một mục đích chung. Lớp học chính là một môi trường lý tưởng để rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm mà sẽ rất cần cho bạn trong cuộc sống sau này.

Cộng tác trong học tập là hoạt động tương tác, là một thành viên của nhóm, bạn sẽ có trách nhiệm:

  • Phát triển và cùng chia sẻ một mục đích chung
  • Đóng góp ý kiến vào việc giải quyết vấn đề, đặt ra các câu hỏi hay tìm giải pháp
  • Tham gia, nỗ lực làm việc để hiểu quan điểm của các thành viên khác, cũng như ý kiến của họ. Mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu người khác phải trình bày ý kiến, phát biểu và đóng góp.
  • Có trách nhiệm với các thành viên khác và họ cũng có trách nhiệm đối với bạn
  • Quyền lợi và nghĩa vụ gắn liến chặt chẽ với mọi người và ngược lại

Điều gì tạo nên một nhóm làm việc hiệu quả?

  • Các hoạt động của nhóm nên bắt đầu cho các thành viên làm quen, và hiểu rõ cách thức làm việc của cả nhóm. Người hướng dẫn cũng có thể bắt đầu bằng việc đưa ra các gợi ý cho thảo luận mà không cần phải áp đặt câu trả lời cho cả đội, đặc biệt với những đội gặp khó khăn khi làm việc cùng nhau.
  • Nhóm gồm 3 đến 5 người. nếu nhóm có đông người hơn thì sẽ khó quản lý và giao công việc
  • Các nhóm dưới chỉ định của giáo viên thì sẽ hiệu quả hơn nhóm tự chỉ định lẫn nhau
  • Các thành viên có sự đa dạng trong kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm
    • Mỗi thành viên sẽ có khả năng đóng góp riêng cho toàn đội
    • Các thành viên không chỉ chịu trách nhiệm đóng góp trong sở trường của mình mà còn có thể giúp các thành viên khác tìm hiểu thêm về lĩnh vực đó.
    • Thành viên nào gặp khó khăn hoặc còn chưa thoải mái khi làm việc trong nhóm nên được các thành viên khác động viên, giúp đỡ.
    • Sự đa dạng trong kiến thức và kinh nghiệm sẽ có tác động tích cực đến việc học. tăng thêm các phương thức giải quyết vấn đề tăng thêm chi tiết để cân nhắc
  • Đóng góp của mỗi người cho công việc phải được thống nhất.
    • Các nhận xét nội bộ nên được giữ kín, và đó là cách khác tốt để đánh giá ai đang đóng góp hoặc không đóng góp.
    • Nhóm có quyền “sa thải” các cá nhân không tích cực đóng góp nếu sau khi mọi biện pháp khuyên can đều không thành. (cá nhân đó hoàn toàn có quyền xin vào một nhóm khác nếu nhóm đó nhận)
    • Một thành viên cũng có quyền bỏ nhóm nếu như họ cảm thấy họ làm phần lớn công việc trong khi người khác không làm hoặc không giúp đỡ. (Người này sẽ dễ dàng tìm được nhóm khác hoan nghênh đóng góp của họ)
  • Chia sẻ trách nhiệm, và cả nhóm nên thống nhất trách nhiệm, nguyên tắc làm việc. Điều đó bao gồm:

1. 1. Nghĩa vụ phải tham gia, chuẩn bị trước các buổi họp, và phải đến đúng giờ

2. 2. Tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến, tập trung vào giải quyết vấn đề và tránh việc chỉ trích cá nhân.

3. 3. Có trách nhiệm chia sẻ công việc và hoàn thành công việc đúng thời hạn. Và đôi khi, bạn cũng cần phải làm những công việc mà bạn có ít kinh nghiệm, cảm thấy chưa chuẩn bị đầy đù hay thậm chí còn có người trong nhóm có khả năng làm tốt hơn bạn. Hãy chấp nhận thử thách đó, nhưng cũng đừng ngại để cho mọi người trong nhóm biết là bạn cần sự giúp đỡ, huấn luyện, hay thôi không làm được mà xin làm việc khác.

Quá trình:

Xem thêm ở mục Hướng dẫn làm chuyên đề theo nhóm

  • Đặt ra các mục tiêu, xem xét mức độ thường xuyên, và phương tiện để các bạn liên lạc với nhau, đánh giá công việc, quyết định và giải quyết vấn đề.
  • Xem các nguồn lực, nhất là xem ai có khả năng hướng dẫn, kiểm tra, đưa ra lời khuyên cho nhóm kể cả khả năng phân xử nếu nhóm có mâu thuẫn.
  • Lên lịch tổng kết, báo cáo công việc, và thảo luận tiến độ công việc cũng như trục trặc nếu có.

Các nhóm gặp khó khăn khilàm việc với nhau nên gặp giáo viên để trình bày hoàn cảnh của nhóm.

Xem thêm: "Cooperative learning in technical courses: procedures, pitfalls, and payoffs" của Richard M. Felder, North Carolina State University & Rebecca Brent, East Carolina University

**************************************************************************************

NGHE CHỦ ĐỘNG

Nghe chủ động và hiệu quả là một thói quen, cũng giống như là nền tảng của việc giao tiếp.

Nghe chủ động có nghĩa là tập trung vào người bạn đang lắng nghe, cho dù đó là cuộc nói chuyện trong nhóm hay là chỉ có 2 người, để hiểu được họ đang nói điều gì. Là người nghe, bạn nên tự mình có thể nhắc lại bằng từ ngữ của mình những gì họ vừa nói. Điều đó không có nghĩa là bạn đồng ý với tất cả những gì họ nói, mà chỉ có nghĩa là bạn thực sự hiểu họ đang nói gì.

Điều gì ảnh hưởng đến việc lắng nghe?

Bạn nghĩ thế nào về vấn đề đang thảo luận? Vấn đề này có mới mẻ với bạn hay là bạn đã có nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực này? Vấn đề này có khó hiểu không, hay là nó rất đơn giản? Vấn đề này có quan trọng với bạn không hay chỉ là thảo luận cho vui?

Thông tin có được minh họa bởi hình ảnh hay ví dụ gì không? Có dùng phương tiện kỹ thuật để minh họa không? Các khái niệm có được trình bày kèm ví dụ không?

Người nói có kinh nghiệm hay là lúng túng? Có "tín hiệu" không lời nào từ phía người nói hay không? Họ hay suy nghĩ theo kiểu gì? Lời nói có thể hiện sự cá tính, thông minh… hay đáng sợ không?

Không gian có thuận lợi cho việc nghe họ nói không? hay việc tương tác, trao đổi với người nói? có sự phân tán làm mất tập trung không?

Những yếu tố ở trên là tác động ngoại cảnh. Còn bây giờ: là chủ yếu ở bạn, là trung tâm, và là người nghe

Hãy chuẩn bị một thái độ tích cực

Tập trung sự chú ý của bạn vào nội dung câu chuyện Hãy ngừng ngay tất cả các hoạt động không liên quan để hướng sự chú ý của bạn vào người nói hoặc chủ đề đang được thảo luận.

· Nhẩm lại trong đầu xem những gì bạn đã biết về vấn đề này Sắp xếp trước những kiến thức liên quan để sau đó có thể phát triển thêm sau (ví dụ: bài giảng lần trước, một chương trình TV bạn đã xem, trang web, kinh nghiệm thực tế…)

· Tránh sự mất tập trung Chọn chỗ ngồi gần người nghe Tránh các nguồn gây mất tập trung (vị trí cửa sổ, bà hàng xóm nói nhiều, tiếng ồn…)

· Cảnh giác với sự xúc động quá Nén cảm xúc hoặc tham gia nghe từ từ cho đến khi bạn kìm nén được cảm xúc

· Bỏ những định kiến của bạn sang một bên Nên nhớ bạn ở đó để học những gì người khác muốn nói, chứ không phải ngược lại.

Nghe một cách chủ động

· Tập trung vào người đang nói Theo dõi và cố gắng hiểu người và đặt mình vào hoạt cảnh của họ Lắng nghe với đôi tai, và kể cả với đôi mắt và các giác quan khác

· Lưu ý: những ngôn ngữ không cần lời Hãy để cuộc tranh luận đi theo diễn biến của nó. Đừng đồng ý hay bất đồng vội, mà hãy cho dòng suy nghĩ tiếp tục

· Tham gia: Chủ động trước các câu hỏi Sử dụng các động tác (ví du: ngả người về phía trước) để khích lệ và ra dấu sự chú ý của bạn với người nói

Các hoạt động sau đó:

Một đối một

Cho người nói có thời gian và không gian nghỉ một lát trong khi nói lâu Bày tỏ lòng biết ơn với họ vì đã chia sẻ và đối thoại Kiểm tra xem bạn đã hiểu chưa

· Thử nhắc lại những ý quan trọng để khẳng định xem bạn có hiểu thật sự chưa và tiếp tục cuộc nói chuyện.

· Tóm tắt các ý chính

· Đặt câu hỏi để cả hai cùng hiểu rõ hơn

Tiếp tục mạch câu chuyện:

· Thử nói qua các kinh nghiệm của bạn để bày tỏ là bạn đang thích thú với câu chuyện (phản hồi)

· Dịch sau khi bạn cảm thấy bạn đã nắm bắt được nội dung

· Áp dụng vào tình huống khác

Trong nhómCho người nói thời gian để người nói sắp xếp lại thông tin đã nói Lúc Hỏi-ĐápKhi đặt câu hỏi· Trình bày nhanh sự hoan nghênh của bạn với người nghe· Tóm tắt điểm mấu chốt· Đặt câu hỏi Khi trình bày một quan điểm · Trình bày nhanh sự hoan nghênh của bạn với người nghe · Trình bày ngắn gọn ýliên quan · Trình bày quan điểm của bạn, nhận xét… · Hoan nghênh nhận xét Sau đó · Lấy thông tin liên lạc information để tiện liên lạc sau này · Có nhã ý mời bạn bè/đồng nghiệp.. tiếp tục tham gia thảo luận

**************************************************************************************

SẮP XẾP VÀ LÀM VIỆC CÁC DỰ ÁN THEO NHÓM

Một cách giải thích khác:

Khi nhóm của bạn cùng nhau theo dõi việc học, bản thân bạn sẽ học nhanh hơn, hiệu quả và chắc chắn hơn. Đánh giá chính là ở kết quả của cả nhóm.

Viện nghiên cứu Học thuật (IRL) http://www.irl.org/projects/projects.html, (16 tháng 9, 1998 )

LÀM GÌ AI THẾ NÀO KHI NÀO
Tự giới thiệu: sở thích, kinh nghiệm Tất cả   Buổi gặp lần 1
Phân công công việc ghi chép, thư ký.. để ghi chép lại nội dung các cuộc họp Tất cả · Được quyết định bởi cả nhóm· Các yếu tố cần cân nhắc:tự nguyện, kinh nghiệm, nguyện vọng,· Cách thông báo các báo cáo cuộc họpo Xem các báo cáo để theo dõi tiến độ công việc Buổi gặp lần 1
Xem cách thức cả nhóm sẽ liên lạc với nhau Tất cả · Gặp trực tiếp: thời gian, địa điểm· Danh sách số điện thoại và thời gian thuận tiện để gọi· Địa chỉ email Buổi gặp lần 1
Tóm tắt các mục tiêu Tất cả Gợi ý:· Từng thành viên tự thảo ra từ 2-3 mục tiêu chính.· Cả nhóm so sánh, và từ đó quyết định Buổi gặp lần 1
Quyết định quá trình và cách đạt được mục đích   · Các chương trình lên lịch (Gantt, Critical Path, PERT)· Các chương trình hỗ trợ trình bày (Word, PowerPoint, etc. )· Các bước thực hiện· Lịch làm việc và hạn cụ thể· Chia nhóm nhỏ  
    Nếu sau khi đã chia nhỏ, mà nhóm vẫn còn đông người: hãy bắt đầu lại các bước trên!  
Nghiên cứu, tìm thông tin   · Trong thư viện· Về lĩnh vực· Các nguồn khác  
Phân tích/Tìm hiểu   · Kiểm tra thường xuyên· Lên kế hoạch cho những chỗ trống· Kêu gọi sự giúp đỡ nếu cần  
Lên khung sản phẩm   · Mở đầu/Ý chính· Chủ đề nhỏ  
Viết/thảo văn bản/bài nói   · Mở bài· Thân bài· Kết luận  
Các tài liệu và sắp xếp      
Kiểm tra      
Xem xét và đánh giá   · Sản phẩm· Quá trình· Ai tham gia  
Tóm tắt      
Tập lại bài nói      
Trình bày sản phẩm cuối cùng      
Ăn mừng nào!!!      

Nguyên tắc của làm chuyên đề theo nhóm

Học nhóm, hoặc làm việc theo nhóm cần sự chia sẻ thông tin, nguồn lực và thống nhất về phương thức thực hiện. Nhóm nào làm việc hiệu quả thường biết kết hợp các yếu tố này. Tuy nhiên, từng nhóm hoặc từng cá nhân làm việc sẽ hiệu quả chỉ khi họ luôn sẵn sàng chia sẻ và tôn trọng các thành viên khác trong nhóm.

Làm việc trong nhóm dựa trên sự tôn trọng và khích lệ lẫn nhau..

Thường thì tính sáng tạo thường mơ hồ. Các ý tưởng là vô cùng quan trọng với thành công của dự án, chứ không phải là tính cách cá nhân. Sức mạnh của một nhóm là ở khả năng thực hiện và phát triển các ý tưởng mà từng thành viên đem lại.

Mâu thuẫn có thể là sự mở rộng của sự sáng tạo. Để giái quyết mâu thuẫn, mọi người luôn phải tổn trọng ý kiến của nhau. Nói cách khác, làm dự án theo nhóm mang tính chất cộng tác, hơn là cạnh tranh.

Hai mục tiêu chính trong làm dự án theo nhóm là:

  • Học được gì? Các tài liệu, thông tin cũng như quá trình làm việc
  • Sán phẩm cuối cùng: bài báo cáo viết, trình bày miệng, hay là các sản phẩm có hình ảnh, âm thanh khác…

Vai trò của người hướng dẫn/giáo viên:

  • Đôi khi, nhóm có đạt được thành công hay không là phụ thuộc rất nhiềuvào sự mạch lạc trong giải thích yêu cầu đề bài, dự án cũng như tiêu chí đưa ra từ phía thầy cô giáo. Công việc của nhóm là giải nghĩa các hướng dẫn đó và thống nhất cách giải quyết vấn đề.
  • Quá trình công việc sẽ chỉ có hiệu quả khi thầy cô hướng dẫn trong quá trình. Dự án làm theo nhóm không đơn giản như việc học theo nhóm. Các sinh viên cần nắm rõ và chuẩn bị kỹ càng cho dự án. Các dự án cần được xây dựng sao cho không thành viên nào trong nhóm bỏ qua nỗ lực công việc của các thành viên khác.

Tính điểm:

  • Khen thưởng thường là điều không thể thiếu được cho quá trình, các thành viên nhận được phần thưởng của mình từ những gì họ đóng góp cho dự án.
  • Các động lực khác (như điểm số…) có thể được chấm điểm dựa trên sự tiến bộ, trái ngược với cách tính điểm một cách tương đối. Thường thì tính điểm tương đối thì cách đánh giá với những thành viên không đạt hiệu quả cao. Đánh giá dựa trên tiến bộ của toàn đội và của cá nhân. Tuy nhiên, phương pháp này có thể gây hậu quả không hay khi mà những thành viên bị điểm thấp sẽ bị coi là "bỏ đi" và không ai chú ý đến họ nữa.

Hiểu nhanh và hiểu chậm?

  • Người hiểu nhanh thường giúp và chỉ cho các thành viên còn gặp khó khăn. Khi chỉ cho những người khác, chính là chúng ta cũng học để hiểu sâu hơn. Đôi khi, những câu hỏi đơn giản sẽ khiến chúng ta nhìn lại vấn đề dưới cách nhìn mới mẻ hơn. Khi giải thích, chúng ta sẽ hiểu sâu hơn.
  • Có thể coi như người gặp khó khăn lại "dạy" lại người đã hiểu!

*******************************************************************************************

GIA SƯ

Gia sư có thể truyền kinh nghiệm, kiến thức và sự động viên. Họ không phải là người đưa ra đáp án, mà là những hướng dẫn bạn tìm ra câu trả lời. Thử thách của bạn là phải tập trung vào bài tập với các kiến thức đã được cung cấp.

Gia sư không có trách nhiệm phải tìm hiểu nguyên do vì sao học sinh học không vào vì việc này là ngoài nhiệm vụ gia sư và phải được thực hiện bởi một chuyên gia tư vấn. Nếu có vấn đề nghiêm trọng, thì từ chối là cách tốt nhất.

Cách mẹo khi bạn làm gia sư:

Để trở thành một gia sư tốt, bạn cần được huấn luyện: Huấn luyện về kiến thức cũng như phương pháp gia sư

Xác định và tuyên bố rõ ràng với học sinh những gì bạn yêu cầu: Bạn yêu cầu học sinh phải học tập như thế nào? về giáo viên? Hay người thân thiết với học sinh (bạn cùng lớp, khoa, trường, gia đình…)

Đề ra các nguyên tắc mà tuân thủ các nguyên tắc đó Viết ra giấy, dán lên tường, và làm theo! Nguyên tắc là cần thiết, nhưng phải được cả người học và người dạy thống nhất. Và đồng thời, các nguyên tắc cần được công bằng và hiệu lực. Nguyên tắc sẽ giúp tránh được những sự cố không cần thiết.

Biết rõ về khả năng cũng như hạn chế của mình, và những kỹ năng hoặc kiến thức bạn có thể dùng để gia sư. Một phần thưởng của việc làm gia sư là cơ hội được sử dụng và áp dụng những gì bạn đã học

Tìm hiểu về học viên Tìm hiểu điểm mạnh và khó khăn của học viên. Với điều kiện nào thì họ học vào nhất? hay không học được? (Đừng bao giờ nghĩ rằng thói quen học của tất cả mọi người đều như nhau, hoặc đều giống như bạn)

Thành lập mối quan hệ và tin tưởng.

· · Lưu ý những điểm khác biệt giữa bạn và người học. Không phải là bạn đang cố gắng thay đổi học sinh, mà là dựa vào sức học của họ để hướng dẫn họ học tốt hơn. Vì bạn có nhiều kinh nghiệm hơn học sinh, nên bạn sẽ cần phải thích nghi và tìm giải pháp.

· · Cởi mở và thật lòng Chế giễu hay hạ mình sẽ đều không có hiệu quả. Bạn làm gia sư không phải để khoe mẽ, mà là để giúp đỡ người khác.

· · Đừng ngại nói cho học sinh biết nếu như bạn và học sinh đó không thể hợp nhau được. Hoặc là một người dạy khác sẽ có thể hiệu quả hơn. Mục đích là để giúp, chứ không phải là để chịu đựng lẫn nhau.

Bảo đảm rằng học sinh biết là thời gian đầu, rất khó đạt được thành công ngay lập tức Học là một quá trình có cả những lần bạn chưa thành công. Đó không phải là thất bại vì tất cả những gì bạn làm đều để hoàn thành nhiệm vụ một cách đúng nhất. Học và giải quyết vấn đề là bao gồm cả một thời gian mày mò. tìm kiếm để đi đến thành công.

Buổi học:

Lắng nghe để tìm hiểu khó khăn thực sự Kiểm tra xem học sinh đã dành thời gian và công sức chuẩn bị bài chưa

Đánh giá tình hình Cân nhắc đến các mục đích thực tế, lâp ra các nguyên tắc

Sử dụng câu hỏi để giải quyết vấn đề

Trình bày hoặc ví dụ các quá trình tương tự

Đừng ngại nói thẳng nếu như bạn không biết rõ điều gì đó Bạn có thể giới thiệu học sinh tìm đến các nguồn khác nhau, kể cả hỏi thầy cô. Bạn cũng có thể tận dụng cơ hội này coi như để học thêm, tìm hiểu thêm và sau đó trả lời sau, chính bạn lúc đó cũng học mà!

Đưa ra các nhận xét tích cực, dùng cách nói động viên Tìm thành công, củng cố các nỗ lực của học sinh để cả những thành công đơn giản

Tóm tắt và ôn lại để học sinh sẽ theo các giờ sau

Ăn mừng thành công nào!

Nhớ lưu lại các ghi chép để sau này tiện theo dõi

Xem thêm

LERN 10 – Online Tutor Training Project Một mẫu tập làm gia sư, Trung tâm sư phạm, City College of San Francisco

Online tutoring skills của Clive Shepherd, TACTIX

*******************************************************************************************

GIẢI QUYẾT TRANH CÃI

Cách để giải quyết tranh cãi một cách êm thấm nhất là để cả 2 bên:

· Làm việc với nhau một cách tự nguyện

· Hợp tác giải quyết vấn đề

· Dưới sự hướng dẫn của một người có kinh nghiệm

Quá trình sau nên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một người có kinh nghiệm. Cùng với đối phương đến một nơi riêng tư:

· Thu thập thông tin: tìm vấn đề mấy chốt và đừng luận tội Tập trung vào vấn đề, chứ không phải ai đã gây ra lỗi Không luận tội, bới móc, hay gọi tên để cãi nhau

· Mỗi bên đều phải nói rõ quan điểm của mình và xem điều đó ảnh hưởng đến họ như thế nào; Những người khác lắng nghe một cách tập trung và tôn trọng, nhất là không được ngắt ngang

· Mỗi bên lần lượt nhắc lại hoặc nói rõ quan điểm của phía bên kia đúng với cách phía bên kia nghĩ (thói quen thứ 5 của Franklin Covey: "Thử học cách hiểu người khác trước khi muốn người khác hiểu mình")

· Tất cả mọi người nên cố gắng nhìn vấn đề từ các quan điểm khác, ngoài quan điểm của 2 bên

· Các bên suy nghĩ, bàn bạc để tìm ra những điểm chung, ý kiến trung hòa nhất, các phương án sáng tạo hơn….

· Mỗi bên tự nguyện làm những gì mình có thể để giải quyết mâu thuẫn.

· Một thương lượng chính thức nên được vạch ra và thống nhất giữa 2 bên;

· Nên theo dõi quá trình thường xuyên

· Nếu thành công, nên có phần thưởng hoặc mọi người cùng ăn mừng

Giải quyết mâu thuẫn giữa 2 bên nên là một quá trình tự nguyện:

· Phản ánh giá trị của trường nếu được áp dụng cho cả trường

· Được thầy cô đem ra làm mẫu và làm theo

· Sẽ thất bại nếu như chỉ được coi là việc của học sinh

Mỗi bên cần phải thẳng thắn nói lên quan điểm của mình, và cũng cần được tôn trọng khi họ trình bày quan điểm, cảm thấy sự quan trọng của cả 2 phía. Chính vì vậy, bên nào cũng phải tôn trọng và lắng nghe phía bên kia, và cố gắng hiểu họ, cùng làm hợp tác làm việc để tìm ra giải pháp trung hòa nhất, có lợi cho cả 2 bên.

Nếu vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, nhờ một người thứ 3, trung gian hòa giải; hoặc "cưỡng chế" (người trung gian hòa giải sẽ đưa ra giải pháp)

Giáo dục là một môi trường thuận lợi để học giải quyết các vấn đề và các phương pháp hòa giải mâu thuẫn. Cho dù mâu thuẫn là một tình huống trong lớp học hay là một tình huống tình cảm thật ngoài đời, thì việc học cách giải quyết vấn đề và cùng hợp tác để tìm được hướng giải quyết phù hợp sẽ giúp bạn có được các kỹ năng mà sau này bạn hoàn toàn có thể áp dụng vào các tình huống, trường hợp khác. Việc rèn luyện sẽ giúp bạn:

· Chấp nhận sự khác nhau · Học cách phản bác ý kiến của người khác mà không phải căng thẳng hay gây sự
· Nhận ra những lợi ích cả hai bên  
· Trau dồi kỹ năng thuyết phục · Tạo sự tự tin trước những tình huống bạn có thể thắng
· Tăng khả năng lắng nghe · Nhận ra/ Chấp nhận và từ từ giải quyết sự tức giận và các trạng thái tình cảm khác
· Phá bỏ vòng quay · Giải quyết vấn đề!

Tài liệu được lấy từ "Hướng dẫn giải quyết mâu thuẫn," Trường Friends School of Minnesota, tháng 6 năm 2002.

Xem thêm: Conflict Negotiation: Skills Checklist Umbreit, M.S. 1995. Conflict Negotiation: Skills Checklist. St. Paul, MN: Center for Restorative Justice & Peacemaking, trường Đại học Minnesota.

Deutsch, Morton & Coleman, Peter T., Handbook of Conflict Resolution: Theory and Practice, tháng 4 2000, Jossey-Bass

*******************************************************************************************

NHÓM TRUNG GIAN HÒA GIẢI

Trung gian hoà giải nhóm vừa là một chương trình và một quá trình

Khi một nhóm sinh viên cùng lứa tuổi giúp giải quyết mâu thuẫn giữa hai người hoặc hai nhóm nhỏ, đó gọi là trung gian hoà giải nhóm. Quá trình này đã tỏ ra có hiệu quả ở các trường học trên nước Mỹ, và đang thay đổi cách mà các sinh viên nhìn nhận và giải quyết xung đột trong cuộc sống của họ. Thay đổi bao gồm: cải thiện lòng tự trọng, kĩ năng nghe và suy nghĩ có tính phê bình, cải thiện môi trường học, giảm áp dụng biện pháp kỷ luật và cãi cọ. Những kỹ năng này có thể tuyên truyền và áp dụng ngoài môi trường lớp học.

Quá trình này phải do hai bên tự nguyện:

Người trung gian hoà giải không quyết định mà chủ yếu tìm đến một giải pháp cho cả hai cùng “thắng cuộc” để tránh rắc rối thêm. Những nhà quản lý chuyên trách vấn đề kỷ luật luôn kết hợp những chiến lược hoà giải trong quá trình giải quyết xung đột.

Các kiểu xung đột thường gặp:

đồn đại đưa chuyện

ẩu đả mức độ nhẹ

trục trặc trong quan hệ cá nhân

Lừa và ăn cắp

đối đầu về sắc tộc và văn hoá

Viết vẽ bậy, xúc phạm

Tranh cãi trong và ngoài lớp học

Những vấn đề nghiêm trọng hơn cần có những người trung gian chuyên nghiệp, vì vậy không thích hợp với kiểu trung gian hoà giải. Những trường hợp này bao gồm: lạm dụng tình dục, hành hung, tự tử, sở hữu vũ khí, dùng ma tuý, và những vấn đề có liên quan đến luật pháp.

Chi phí bao gồm tài liệu, vật dụng, địa điểm dành cho trung gian, đào tạo, hỗ trợ của đồng nghiệp, không gian làm việc, khen thưởng.

Dưới đây sẽ tóm tắt:

  • Quá trình bắt đầu chương trình trong nhà trường
  • Các bước tiến hành trong một buổi trung gian hoà giải

Bắt đầu chương trình trong nhà trường

Quá trình lên kế hoạch là hết sức quan trọng: Nền tảng của việc trung gian hoà giải là làm cho sinh viên có them sức mạnh, vì vậy sinh viên đóng vai trò quan trọng trong tất cả các bước phát triển cũng như tiến hành.

Sinh viên thành lập ban lãnh đạo bao gồm một lien lạc viên giàu kinh nghiệm, được tôn trọng, và một số giáo viên, chuyên viên đáng tin cậy. Ban lãnh đạo này có thể được phân công hoặc tự đảm nhận. Ban này sẽ:

  • Nghiên cứu nền tảng của việc trung gian hoà giải, hệ thống các bước giải quyết xung đột và giữ kỷ luạt trong nhà trường
  • Thiết kế và xuất bản chương trình hành động cho chương trình giải quyết xung đột, bao gồm nội dung khái quát, truyền thông, đào tạo, thực hành, kiểu mẫu, và đánh giá.

Mục đích là nhằm hướng dẫn các nhóm trung gian hoà giải trong cộng đồng trường học, tạo ra một khối hợp sức thống nhất cùng giải quyết vấn đề theo một chương trình dựa trên tinh thần hoà bình.

Ban lãnh đạo sẽ tìm kiếm sự hỗ trợ từ lãnh đạo trường, bao gồm các nhóm, khối trong trường cùng thực thi biện pháp này (gồm cả giáo viên lẫn nhà quản lý)

  • Ban lãnh đạo đảm nhận trách nhiệm lâu dài: chuẩn bị các cuộc họp, thực hành kỹ năng hoà giải, nghiên cứu về bạo lực, nguyên nhân và cách phòng ngừa.

Người liên lạc đóng vai trò trung gian giữa các nhóm, bao gồm: ban lãnh đạo, tập thể sinh viên, nhà quản lý, phụ huynh, chuyên viên đào tạo mời bên ngoài. Nhiệm vụ chính bao gồm:

  • Phát triển một nhóm người lớn trọng điểm trong trường học để thực hiện và làm mẫu cho các hoạt động hoà giải.
  • Giám sát việc lựa chọn, đào tạo, khuyến khích, củng cố nâng cao trình độ cho người hoà giải.
  • Đóng vai trò hoà giải để hỗ trợ việc thực hiện và khởi đầu cho các chương trình hoà giải.
  • Lập bảng thoả ước cho người được hoà giải và bên trọng tài hoà giải.
  • Chọn và lên lịch cho các nhân viên hoà giải trong từng trường hợp.
  • Lưu giữ hồ sơ và thường xuyên thông báo cho mọi người trong chương trình qua thư tin, mạng…
  • Tự cập nhật với các tài liệu và nghiên cứu có liên quan
  • Năng nổ trong việc vượt qua trở ngại về thái độ hoặc cơ chế trong nhà trường, thiết lập và duy trì nhóm hỗ trợ, bao gồm nhóm phụ huynh.

Lựa chọn người trung gian hoà giải:

  • Người trung gian phải đại diện cho nhiều nhóm trong trường về mặt văn hoá, giới tính, hành vi, học vấn, quan hệ xã hội, chủng tộc.
  • Quá trình lựa chọn phải được thông báo rộng rãi và bao gồm thư giới thiệu cũng như thư tự giới thiệu.
  • Người được chọn phải sẵn sang tiếp tục nâng cao kỹ năng, hợp tác với đồng nghiệp và hướng dẫn nhân viên mới.
  • Việc từ chối cần phải được diễn đạt một cách tế nhị để làm sao cho sinh viên đó không cảm thấy bị xa lánh.

Trước tiên cần thiết lập “kinh nghiệm” Người trung gian hoà giải cần phải được đào tạo và giám sát bởi vì họ thường thiếu sự từng trải và kinh nghiệm cả trong việc điều chỉnh mâu thuẫn và kỹ năng đàm phán.

Các chiến lược bao gồm tự đóng vai, học hỏi từ chính các tình huống cụ thể. Nếu có thể, nên tổ chức hội thảo ngoài trường học để hạn chế tối đa những yếu tố ảnh hưởng bất lợi.

Những yếu tố chính trong các buổi hoà giải: Mục đích là giảm thiểu sự bất bình và để các bên cùng chấp nhận giải pháp đưa ra.

Bên tranh cãi sẽ điền vào bảng câu hỏi trước khi tham gia buổi hoà giải trình bày những nguyên tắc cơ bản, hứa sẽ cùng giải quyết mâu thuẫn, nói sự thực, nghe ý kiến của người khác một cách tôn trọng và không ngắt lời.

Bên tranh cãi gặp gỡ hoà giải viên để xem hai bên có hoà hợp không và đảm bảo rằng không có tranh chấp về quyền lợi.

Người hoà giải:

  • Gặp bên tranh cãi và giải thích rõ việc họ co quyền tiết lộ những chi tiết có liên quan trong buổi hoà giải và hỏi xem họ có muốn tiếp tục hay không
  • Giải thích các bước hoà giải: dùng kỹ năng nghe và giao tiếp để giúp bạn giải quyết xung đột, bất đồng trước khi họ lên cơn nóng giận và đánh mất khả năng suy nghĩ trong tình huống của mình.
  • Giải thích rõ ràng các câu hỏi trước khi bắt đầu.

Trong buổi hoà giải, bên tranh cãi phải:

  • Giới thiệu bản thân
  • Mỗi người lần lượt kể chuyện của mình cho người hoà giải nghe tập trung vào vấn đề, không nói ai làm gì, trong khi người kia tập trung nghe và không ngắt lời.
  • Hai bên tranh cãi đổi vai: mỗi bên kể lại chuyện của bên kia theo như họ hiểu và không nhất thiết phải đồng ý với nội dung kể.

Người hoà giải:

  • Tóm tắt ý và cảm xúc của hai bên nhằm mục đích thẩm định và nêu ý đồng ý với các chi tiết. Thảo luận các vấn đề và giúp hai bên thấy rằng sẽ rất khó giải quyết vấn đề nếu họ tiếp tục mất bình tĩnh và giữ thái độ hậm hực.
  • Hỏi hai bên xem họ có giải pháp gì không. Ghi lại các ý hoặc bắt đầu suy nghĩ mà không bình luận gì.
  • Thảo luận về các giải pháp đánh dấu vào các giải pháp mà cả hai bên cùng đồng ý.

Người tranh cãi:

  • Quyết định cách giải quyết tốt nhất
  • Chọn giải pháp dự bị tốt nhất.

Người cùng hoà giải:

  • Thẩm định các thoả hiệp với các bên đảm bảo rằng không có ai ngân ngại nói ra bất đồng.
  • Viết biên bản thoả thuận dùng từ mà hai bên nói ra.

Người cùng hoà giải và bên tranh cãi:

  • Ký biên bản
  • Thống nhất quá trình theo dõi Đảm bảo rằng mọi bên đều giữ lời và cùng giám sát việc thực hiện thoả thuận.

Người hoà giải cảm ơn các bên đã tham gia và đã cho phép họ có dịp được giúp hai bên.


Tiêu chuẩn cư xử của hoà giải viên

ADR, Arbitration and Mediation

Cohen, Richard, Implementing a Peer Mediation Program, CREnet—The Conflict Resolution Education Network, 6/20/02

Bài viết này dựa trên ebook "Cẩm nang và chiến lược dành cho học tập" do Nguyễn Trung Hiếu soạn thảo dựa trên Dự án được lập và duy trì bởi Joe Landsberger như một trang web giáo dục. Những lời khuyên trong cuốn cẩm nang này được sử dụng rộng rãi cho các học sinh sinh viên trên toàn nước Mỹ và trên thế giới. Được dịch sang Tiếng Việt bởi Nguyễn Thanh Hương, sinh viên trường Lafayette College, Pennsylvania, Hoa Kỳ, thực tập sinh của Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ – Đông Dương (US-Indochina Educational Foundation) dưới sự giúp đỡ tài chính của Quỹ Freeman Assist. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Đào Tú Anh (Hà Nội) và Trần Hà Hải (Thành Phố Hồ Chí Minh).

PHẦN 2: HIỆU QUẢ LÀM VIỆC NHÓM TỪ KINH NGHIỆM CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN

NGUYỄN VĂN HOÀNG – Cựu SV K03 – Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM

Có đôi khi bạn nghĩ rằng “mình học ở trường chẳng được bao nhiêu, khi đi làm thì chẳng áp dụng được gì”, thật sự điều này đúng hay không? Suy nghĩ của bạn, và cách làm của bạn sẽ quyết định phần lớn điều này. Học trong trường, cách học hiện tại của đa phần các bạn sinh viên đôi khi không hợp lý. Để xem xét, bạn có thể tự đặt câu hỏi rằng:

1. Bạn đã làm bài tập của thầy cô như thế nào?

2. Các bạn học nhóm (nhóm 2-3 người để làm đồ án thực hành, lý thuyết) các bạn đã phân công công việc, phân bố thời gian (schedule) như thế nào?

3. Các bạn có kiểm tra tiến độ làm việc của mình không?

4. Các bạn có các quy định để làm việc không? (ví dụ như cách viết code, cách trao đổi, thảo luận) .

Với cách làm việc hiện tại các bạn thấy mình có được những thuận lợi và khó khăn gì? Dưới đây là các câu trả lời của mình thôi – (có thể không đúng tất cả) trong quá trình mình đã học ở trường và mình tin rằng một phần lớn các bạn cũng có thể tương tự mình

– Phần lớn, các bài tập của thầy cô thì đợi “nước ngâp chân” rồi mới nhảy nên chất lượng bài làm kém, làm mang tính đối phó nhiều hơn là học hỏi, cách học chủ động.

– Khi học nhóm thì hầu như công việc chỉ có 1 hoặc 2 người “ôm” cho cả nhóm vì ít có thời gian gặp mặt, ít có thời gian trao đổi và chủ yếu là làm theo ý người “ôm” và nếu có phân thì cũng rất ít khi phân đều, chia thời gian gần như không hợp lý, hoặc có hợp lý thì không làm được và đến vài ngày cuối thức “căng mắt” ra để làm cho kịp deadline.

– Kiểm tra tiến độ làm việc thì có nhưng ít quan tâm, chỉ hỏi nhau để biết đang làm đến đâu và làm như thế nào để còn biết mà “vấn đáp”.

– Quy định làm việc nhóm thì nghe ghê quá, nhưng mà hầu hết ít có nhóm nào quy định, kết quả là cuối cùng code 2-3 người thôi nhưng mà thời gian để ghép bài thì vất vả, cách viết code không đồng nhất nhìn rất lộn xộn, viết xong gặp bug thì debug “mỏi mắt” mới ra, xong là dẹp luôn chứ không dám xem lại.

Tại sao lại có kết quả như trên, các bạn có để ý không? Thật ra do các bạn học quá nhiều môn, một môn thì có khối lượng công việc khá nhiều nên hết “bôn ba” môn này các bạn phải “lăn lộn” với môn khác nên rất mệt, dẫn đến tình trạng này không có gì lạ, Nhưng nếu các bạn sắp xếp một tí sẽ ổn thôi.

Không thể phủ nhận rằng với cách làm việc của chúng ta hiện nay thì việc tạo ra những khoảng thời gian linh hoạt để có thể luân chuyển nhiều project là khá tốt nhưng nếu xét ở góc độ chất lượng thì khó có thể nhóm nào cũng đạt chất lượng ở mọi project hơn nữa cách làm việc đó sẽ gây khó cho chúng ta rất nhiều khi chúng ta thật sự làm việc tại môi trường công ty với nhiều ràng buộc.

Ở công ty, chúng ta làm việc như thế nào (đây là một vài ý kiến của mình khi mình đã đi làm ở 2 công ty và thời gian cũng được 1 năm rồi, chắc hẳn có phần đúng, và cũng có một phần chủ quan).

– Cách làm việc thường xuyên là họp tiến độ trong team hàng tuần, hoặc định kỳ.

– Nếu có vấn đề thì thảo luận trước rồi làm việc sau, đó là nguyên tắc thống nhất mọi quan điểm chung trước khi làm việc.

– Sau khi hoàn thành xong một phần việc nào đó, gởi mail và thông báo cho các thành viên khác biết tiến độ công việc của mình, và có thể xem chi tiết công việc của mình.

– Lên kế hoạch – Schedule – cho toàn nhóm làm việc, thống nhất và tuân thủ theo đúng schedule để đảm bảo công việc được thực hiện đúng tiến độ.

– Đưa ra một luật viết code – coding rule – và mọi thành viên phải tuân thủ theo để code được thống nhất, dễ hiệu chỉnh, đọc lại và nâng cấp.

Có khá nhiều thuận lợi đó là: Công việc sẽ diễn ra tốt và đúng nếu như tuân theo đúng schedule, nếu có khó khăn gặp phải mọi người sẽ cùng thảo luận để giải quyết vấn đề. Công việc của mọi người sẽ đảm bảo và có trách nhiệm với công việc của mình, ai cũng phải làm việc,… Việc review lại sẽ dễ dàng.

Tuy vậy cũng có nhiều khó khăn: Tuân thủ coding rule, schedule là điều khó, đòi hỏi phải làm việc nghiêm túc, có tính kỷ luật. Việc thảo luận cũng có nhiều khó khăn để thống nhất quan điểm với nhau vì một vấn đề có nhiều cách để giải quyết.

Với những thực tại, ưu điểm, khuyết điểm chúng ta khoan hãy nói cách nào tốt hơn, cách nào hay hơn mà chúng ta hãy hướng đến cách làm khoa học hơn.

1. Hãy tập thói quen làm việc nào luôn có schedule cho công việc đó vì khi có schedule bạn sẽ biết mình phải làm cái gì và làm sao để làm được nó. Hơn nữa bạn sẽ kiểm soát được công việc của mình, nếu dự định sai bạn vẫn có cơ hội để ước lượng và định lại cho hợp lý và có kinh nghiệm cho lần sau.

2. Liên lạc hiệu quả cũng là một trong những điều rất quan trọng để có thể hòan thành tốt công việc. hiện tại thì các bạn có rất nhiều cách liên lạc trong đó có thể tham khảo tạo ra các diễn đàn mã nguồn mở nếu như việc liên lạc email khó khăn với các bạn. Điều này sẽ giúp cho mọi người nắm công việc của nhau tốt hơn ai hết.

3. Quản lý công việc và thời gian như thế nào là một vấn đề rất lớn và cũng rất khó, nhưng nếu làm được các bạn sẽ sử dụng thời gian vô cùng hiệu quả, các bạn có thể bàn với nhau để gặp nhau, phân chia công việc theo module, theo cụm chức năng,… để dễ làm việc với nhau.

4. Điều quan trọng hơn nữa là các quy tắc phát triển code – Coding Rule – sẽ giúp các bạn quản lý source tốt, view lại code, phát triển tử code có sắn, nâng cấp các chức năng và đừng quên phải viết các tài liệu đi cùng để lần sau có thể hiểu tính logic của những cái đã làm là gì. Các bạn có thể đề nghị Khoa hỗ trợ Visual Source Safe để học cách làm việc nhóm phát triển thực thụ, điều này mình không rõ khoa có hỗ trợ được không nữa.

5. Còn một vấn đề cuối cùng mà có lẽ các bạn cũng quan tâm trong nhóm, đó là có khả năng báo cáo tốt đều này chứng tỏ các bạn nắm việc trong nhóm tốt và luôn tham gia nhóm.

Chỉ một vài điều mình rút ra sau thời gian đi làm, nhưng mình nghĩ có thể giúp cho các bạn một phần trong việc xem xét cách làm việc và định hướng một cách làm việc gần với thực tế tại công ty, doanh nghiệp. Chúc các bạn thành công.

SOURCE: http://www.blogkhoahoc.com

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP

KỶ YẾU HỘI THẢO XUẤT BẢN BẰNG TIẾNG VIỆT CỦA NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

Năm 2005

1. Kỷ yếu hội thảo: Khía cạnh pháp lý của vấn đề bảo tồn đa dạng văn hóa, 11/2005, 234tr.

2. Dự thảo Luật công chứng Việt Nam, 11/2005, 38tr.

3. Dự thảo Luật Điện ảnh, 09/2005, 34tr.

4. Dự thảo Luật doanh nghiệp thống nhất và Luật đầu tư chung, 08/2005, 90tr.

5. Tham luật hội thảo: Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ nhân thân và tài sản trong tư

pháp quốc tế, 05/2005, 188tr.

6. Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thương mại sửa đổi, 04/2005, 44tr.

7. Dự thảo Nghị định thi hành luật cạnh tranh, 03/2005, 66tr.

8. Tham luận hội thảo: Đạo đức nghề thẩm phán và vai trò của hội đồng thẩm phán tối cao Pháp, 20/02/2005, 110 tr.

9. Pháp lệnh đăng ký giao dịch bảo đảm và tin học hóa hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, 01/2005, 84tr.

10. Hội thảo Quy chế nghề công chứng và phương hướng xây dựng pháp lệnh công chứng Việt Nam, 01/2005, 32tr.

Năm 2004

11. Tham luận Hội thảo, Kỷ niệm hai trăm năm Bộ luật dân sự Pháp, 3-5/11/2004, 177tr.

12. Pháp luật về hội, 11/2004, 39tr.

13. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, 11/2004, 55tr.

14. Pháp luật và thực tiễn chống bán phá giá tại Liên minh Châu Âu, 64tr., 9-10/09/2004

15. Các tập đoàn kinh tế lớn, 28-29/09/2004, 45tr.

16. Quy chế độc lập và cơ chế trách nhiệm của thẩm phán, 09/2004, 77tr.

17. Bộ luật dân sự sửa đổi, 08/2004, 153tr.

18. Dự thảo Pháp lệnh hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và khám nghiệm tử thi, 25-26/06/2004, 85tr.

19. Giám định pháp y tâm thần, 22-23/06/2004, 35tr.

20. Luật thương mại (sửa đổi), 06/2004, 78tr.

21. Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003, 04/5004, 30tr.

Năm 2003

22. Hội thảo Tin học hóa ngành tư pháp

23. Bộ luật dân sự sửa đổi, 08/2003, 85tr.

24. Hội thảo Pháp lệnh thi hành án dân sự, 07/2003, 45tr.

25. Luật doanh nghiệp nhà nước, 07/2003, 50tr.

26. Pháp luật về giám định tư pháp, 06/2003, 56tr.

Năm 2002

27. Pháp luật về giám định tư pháp, 06/2002, 50tr.

28. Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự VN, 10/2002, 60tr.

CÁC BẠN TÌM ĐỌC CÁC TẬP KỶ YẾU TRÊN TẠI THƯ VIỆN NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP 87 – NGUYỄN CHÍ THANH – HÀ NÔI (NẰM TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI)

LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Các thông tin trong bài viết này được chúng tôi khai thác từ http://wikipedia.org chỉ có tính chất tham khảo không phải là quan điểm chính thống trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học luật dân sự

———————————————————-

Luật Dân sự Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Lịch sử

Trong giai đoạn nhà nước phong kiến, luật dân sự Việt Nam không được tách ra thành một bộ luật riêng mà được tìm thấy trong các điều khoản của các bộ luật phong kiến như Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức), Nguyễn triều hình luật (Hoàng Việt luật lệ). Đến khi người Pháp chiếm đóng Việt Nam thì các bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện. Ví dụ ở Nam Kỳ thì bộ luật dân sự Nam Kỳ giản yếu ra đời năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và tại Trung Kỳ là bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936. Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh với người Pháp nên chính phủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn áp dụng các bộ luật dân sự này. Ngày 22 tháng 5 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 97/SL để “sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật” nhằm sửa đổi một số điều trong các bộ dân luật cũ này. Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1959 tòa án tối cao ra chỉ thị số 772/TATC để “đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc”. Từ thời điểm đó trở đi, tại miền bắc Việt Nam thiếu hẳn bộ luật dân sự thực thụ. Một số mảng của luật dân sự được tách ra thành các bộ luật khác như Luật hôn nhân và gia đình hay các văn bản pháp quy dưới luật như thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh. Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực dân sự như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ v.v không được điều chỉnh trực tiếp. Các quy định về nghĩa vụ dân sự được quy định chủ yếu là các vấn đề về nhà ở, vàng bạc, kim khí quý và đá quý v.v và nói chung mang nặng tính chất hành chính. Có thể liệt kê một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự như: Luật hôn nhân gia đình (1986), Luật Quốc tịch (1988), Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988), Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh về thừa kế (1990), Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự (1991), Pháp lệnh về nhà ở (1991) v.v. Tuy các pháp lệnh có nhiều nhưng đôi khi chồng chéo và mâu thuẫn với nhau nên đã gây ra nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật.

Năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996). Sau 10 năm thi hành, Bộ luật Dân sự đã có nhiều hạn chế, bất cập như: một số quy định không phù hợp với sự chuyển đổi nhanh của nền kinh tế thị trường, không rõ ràng hay không đầy đủ hoặc còn mang tính hành chính. Nhiều bộ luật mới ra đời có các nội dung liên quan đến Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 nhưng bộ luật này lại không điều chỉnh, sửa đổi dẫn đến mâu thuẫn giữa chúng cũng như chưa có sự tương thích với các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế.

Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi. Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2006

Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ về tài sản, nhân thân trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động (Điều 1 bộ Luật dân sự năm 2005).

Bộ luật Dân sự năm 2005

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 gồm có 777 điều, chia thành 7 phần và 36 chương. Cụ thể như sau:

*Phần I: Quy định chung

  • Chương 1: Gồm 3 điều (1-3) quy định nhiệm vụ và hiệu lực của bộ luật dân sự Việt Nam.
  • Chương 2: Gồm 10 điều (4-13) quy định những nguyên tắc cơ bản.
  • Chương 3: Gồm 70 điều (14-51) quy định về cá nhân.
    • Mục 1: Gồm 10 điều (14-23) quy định năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân (Trong luật học, thể nhân hay tự nhiên nhân là một con người có thể cảm nhận được thông qua các giác quan và bị các quy luật tự nhiên chi phối, ngược lại với pháp nhân, là một tổ chức nào đó, mà vì một số mục đích nhất định thì luật pháp xem như là một cá nhân tách biệt với các thành viên và/hoặc chủ sở hữu của nó.Ví dụ, các điều khoản pháp lý như sửa đổi thứ 19 của Hiến pháp Hoa Kỳ đảm bảo quyền bầu cử của phụ nữ, chỉ áp dụng cho thể nhân mà thôi. Trong nhiều trường hợp thì các quyền con người cơ bản hoàn toàn chỉ được dành cho thể nhân; ví dụ một công ty không thể đảm nhiệm một chức vụ trong xã hội, nhưng công ty này có thể khởi kiện hay có thể bị khởi kiện.Mặc dù các truyện khoa học viễn tưởng từ lâu rồi đã mơ tưởng về khả năng tồn tại của các người máy (robot) có tri giác, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một tòa án nào xem xét câu hỏi về việc các dạng người máy này có thể được coi là “thể nhân” hay không.

      Tại Việt Nam, trong các văn bản pháp quy hiện nay, như bộ Luật Dân sự 2005, lại không sử dụng khái niệm thể nhân, mà thay vào đó là khái niệm cá nhân).

  • Mục 2: Gồm 28 điều (24-51) quy định về quyền nhân thân.
  • Mục 3: Gồm 6 điều (52-57) quy định về nơi cư trú.
  • Mục 4: Gồm 15 điều (58-73) quy định về giám hộ.
  • Mục 5: Gồm 10 điều (74-83) quy định về thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích và tuyên bố chết.
  • Chương 4: Gồm 22 điều (84-105) quy định về pháp nhân (Pháp nhân là một định nghĩa luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, thường dùng trong luật kinh tế. Về pháp nhân có rất nhiều quan điểm, nhưng quan trọng nhất pháp nhân chỉ ra được các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tương tự như thể nhân. Pháp nhân có nhiều định nghĩa, song theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những tổ chức có tư cách tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.).
    • Mục 1: Gồm 16 điều (84-99) quy định chung về pháp nhân.
    • Mục 2: Gồm 6 điều (100-105) quy định về các loại pháp nhân.
  • Chương 5: Gồm 15 điều (106-120) quy định về hộ gia đình và tổ hợp tác.
    • Mục 1: Gồm 5 điều (106-110) quy định chung về hộ gia đình.
    • Mục 2: Gồm 10 điều (111-120) quy định về tổ hợp tác.
  • Chương 6: Gồm 18 điều (121-138) quy định về giao dịch dân sự.
  • Chương 7: Gồm 10 điều (139-148) quy định về đại diện.
  • Chương 8: Gồm 5 điều (149-153) quy định về thời hạn.
  • Chương 9: Gồm 9 điều (154-162) quy định về thời hiệu.
  • *Phần II: Tài sảnquyền sở hữu

    ·Chương 10: Gồm 11 điều (163-173) quy định chung.

    • Chương 11: Gồm 8 điều (174-181) quy định các loại tài sản.

    Chương 12: Gồm 18 điều (182-199) quy định nội dung quyền sở hữu.

      • Mục 1: Gồm 10 điều (182-191) quy định quyền chiếm hữu.
      • Mục 2: Gồm 3 điều (192-194) quy định quyền sử dụng.
      • Mục 3: Gồm 5 điều (195-199) quy định quyền định đoạt.
    • Chương 13: Gồm 33 điều (200-232) quy định các hình thức sở hữu.
      • Mục 1: Gồm 8 điều (200-207) quy định sở hữu nhà nước.
      • Mục 2: Gồm 3 điều (208-210) quy định sở hữu tập thể.
      • Mục 3: Gồm 3 điều (211-213) quy định sở hữu tư nhân.
      • Mục 4: Gồm 13 điều (214-226) quy định sở hữu chung.
      • Mục 5: Gồm 3 điều (227-229) quy định sở hữu của tổ chức chính trị, chính trị-xã hội.
      • Mục 6: Gồm 3 điều (230-232) quy định sở hữu của tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp.
    • Chương 14: Gồm 22 điều (233-254) quy định về xác lập, chấm dứt quyền sở hữu.
      • Mục 1: Gồm 15 điều (233-247) quy định về xác lập quyền sở hữu.
      • Mục 2: Gồm 7 điều (248-254) quy định về chấm dứt quyền sở hữu.
    • Chương 15: Gồm 7 điều (255-261) quy định về bảo vệ quyền sở hữu.
    • Chương 16: Gồm 18 điều (262-279) những quy định khác về quyền sở hữu.

    Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động. Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình.

    Tài sản cố định

    Tài sản cố định là tư liệu sản xuất chuyên dùng trong sản xuất kinh doanh dùng được vào nhiều chu kì sản xuất.

    Có ba loại tài sản cố định:

    • Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị…
    • Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…
    • Tài sản cố định thuê tài chính: là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.

    Tài sản lưu động

    Là tư liệu sản xuất chỉ dùng được trong một chu kỳ sản xuất. Đó là tổng thể nói chung tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và những khoản có thể chuyển ngay thành tiền mặt, như thương phiếu, v.v.

    = Tài sản hữu hình: bao gồm những vật(có những điều kiện nhất định)tiền và giấy tờ có giá.(ngôn ngữ luật học).Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được.Điều kiện để vật trở thành tài sản là một vấn đề còn tranh cãi rất nhiều. Bởi vì khi vật không thuộc của ai gọi là vật vô chủ không ai gọi là tài sản vô chủ cả.khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng phải có một số đặc tính riêng như: Thuộc sở hữu của ai đó.

      : có thể mua bán được;
      : Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất;
      :là những thứ đã tồn tại(tài sản trước kia) đang tồn tại và có thể có trong tưong lai.

    Tài sản hữu hình khi có càng nhiều đăc tính nêu trên thì càng chắc chắn đó là tài sản hữu hình.

    = Tài sản vô hình:

    Là những quyên tài sản (nghĩa hẹp) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao. Tuy nhiên một số quyền tài sản có thể chuyển giao như thương hiệu hàng hóa hoặc ủy quyền cho chủ thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lương để tính. Nhưng trong quá trình chuyển giao có thẻ quy ra tiền (cái này là quan trọng nhất). Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá như thế nào. Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ phải bồi thường nhưng rất khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc xác định giá trị của tài sản vô hình khong thể xác định được.

    Sở hữu trong kinh tế chính trị, là một phạm trù cơ bản, chỉ mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm dụng của cải. Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải. Nó có thể được luật hóa thành quyền sở hữu và được thực hiện theo cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu.

    *Phần III: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự

    • Chương 17: Gồm 148 điều (280-427) những quy định chung.
      • Mục 1: Gồm 3 điều (280-282) quy định về nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 2: Gồm 19 điều (283-301) quy định về thực hiện nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 3: Gồm 7 điều (302-308) quy định về trách nhiệm dân sự.
      • Mục 4: Gồm 9 điều (309-317) quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 5: Gồm 56 điều (318-373) quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm quy định chung (318-325), cầm cố tài sản (326-341), thế chấp tài sản (342-357), đặt cọc (358), ký cược (359), ký quỹ (360), bảo lãnh (361-371), tín chấp (372-373).
      • Mục 6: Gồm 14 điều (374-387) quy định về chấm dứt nghĩa vụ dân sự
      • Mục 7: Gồm 40 điều (388-427) quy định về hợp đồng dân sự, bao gồm giao kết hợp đồng dân sự (388-411), thực hiện hợp đồng dân sự (412-422) và sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự (423-427).
    • Chương 18: Gồm 166 điều (428-593) quy định về hợp đồng dân sự thông dụng.
      • Mục 1: Gồm 35 điều (428-462) quy định về hợp đồng mua bán tài sản, bao gồm quy định chung (428-449), hợp đồng mua bán nhà (450-455) và quy định riêng về mua bán tài sản (456-462).
      • Mục 2: Gồm 2 điều (463-464) quy định về hợp đồng trao đổi tài sản.
      • Mục 3: Gồm 6 điều (465-470) quy định về hợp đồng tặng cho tài sản.
      • Mục 4: Gồm 9 điều (471-479) quy định về hợp đồng vay tài sản.
      • Mục 5: Gồm 32 điều (480-511) quy định về hợp đồng thuê tài sản, bao gồm quy định chung (480-491), hợp đồng thuê nhà (492-500) và hợp đồng thuê khoán tài sản (501-511).
      • Mục 6: Gồm 6 điều (512-517) quy định về hợp đồng mượn tài sản.
      • Mục 7: Gồm 9 điều (518-526) quy định về hợp đồng dịch vụ.
      • Mục 8: Gồm 20 điều (527-546) quy định về hợp đồng vận chuyển, bao gồm hợp đồng vận chuyển hành khách (527-534) và hợp đồng vận chuyển hàng hóa (535-546).
      • Mục 9: Gồm 12 điều (547-558) quy định về hợp đồng gia công.
      • Mục 10: Gồm 8 điều (559-566) quy định về hợp đồng gửi giữ tài sản.
      • Mục 11: Gồm 14 điều (567-580) quy định về hợp đồng bảo hiểm.
      • Mục 12: Gồm 9 điều (581-589) quy định về hợp đồng ủy quyền.
      • Mục 13: Gồm 4 điều (590-593) quy định về hứa thưởng và thi có giải.
    • Chương 19: Gồm 5 điều (594-598) quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền.
    • Chương 20: Gồm 5 điều (599-603) quy định về nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi thế về tài sản không có căn cứ pháp luật.
    • Chương 21: Gồm 27 điều (604-630) quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bao gồm quy định chung (604-607), xác định thiệt hại (608-612), bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể (613-630).

    *Phần IV: Thừa kế

    Chương 22: Gồm 15 điều (631-645) quy định chung.

    • Chương 23: Gồm 28 điều (646-673) quy định về thừa kế theo di chúc.
    • Chương 24: Gồm 7 điều (674-680) quy định về thừa kế theo pháp luật.
    • Chương 25: Gồm 7 điều (681-687) quy định về thanh toán và phân chia di sản.

    *Phần V: Quyền sử dụng đất

    • Chương 26: Gồm 5 điều (688-692) quy định chung.
    • Chương 27: Gồm 4 điều (693-696) quy định về hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.
    • Chương 28: Gồm 6 điều (697-702) quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
    • Chương 29: Gồm 12 điều (703-714) quy định về hợp đồng thuê, thuê lại quyền sử dụng đất, bao gồm:
      • Mục 1: Gồm có 11 điều (703-713) quy định về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.
      • Mục 2: Gồm có 1 điều (714) quy định về hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất.
    • Chương 30: Gồm 7 điều (715-721) quy định về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
    • Chương 31: Gồm 5 điều (722-726) quy định về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
    • Chương 32: Gồm 6 điều (727-732) quy định về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
    • Chương 33: Gồm 3 điều (733-735) quy định về thừa kế quyền sử dụng đất.

    *Phần VI: Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

    • Chương 34: Gồm 14 điều (736-749) quy định về quyền tác giả và quyền liên quan, bao gồm:
      • Mục 1: Gồm có 8 điều (736-743) quy định về quyền tác giả
      • Mục 2: Gồm có 6 điều (744-749) quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả.
    • Chương 35: Gồm 4 điều (750-753) quy định về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
    • Chương 36: Gồm 4 điều (754-757) quy định về chuyển giao công nghệ

    Theo Điều 2(viii) của Công ước Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, sở hữu trí tuệ (intellectual property) được định nghĩa là các quyền liên quan tới:

    • Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học,
    • Sự thể hiện của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình,
    • Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của loài người,
    • Phát minh khoa học,
    • Kiểu dáng công nghiệp,
    • Nhãn hiệu (hàng hoá), nhãn hiệu dịch vụ, tên và chỉ dẫn thương mại,
    • Quyền (bảo vệ) chống cạnh tranh không lành mạnh,
    • Và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hay nghệ thuật.

    Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (viết tắt từ tiếng Anh: World Intellectual Property OrganizationWIPO) là một trong những cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc có mục tiêu chính là đẩy mạnh hoạt động trí tuệ sáng tạo và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ liên quan đến sở hữu trí tuệ sang các nước đang phát triển nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá (điều 1 của Hiệp ước giữa UN và WIPO năm 1974). WIPO có 181 nước thành viên và quản lý 21 hiệp ước quốc tế. Trụ sở của WIPO đặt tại Geneva, Thụy Sỹ

    *Phần VII: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:

    Không lập thành chương, bao gồm các điều từ 758 đến 777.

    LUẬT HỒNG ĐỨC

    Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.

    Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau: Luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chính v.v…

    Lịch sử

    Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà Nội). Tại đây có hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật. Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc triều hình luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này.

    Trong đó bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có giá trị nhất. Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn. Sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác. Bìa nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều hình luật bằng bút lông. Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại trong phần Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn sách này 143 điều trong tổng số 722 điều.

    Từ đầu thế kỷ 20, Quốc triều hình luật đã được khảo dịch sang tiếng Pháp. Đến năm 1956, nó mới được dịch sang quốc ngữ lần đầu tiên (bản dịch của trường luật khoa đại học do Lương Thần Cao Nãi Quang phiên âm, và dịch nghĩa, Nguyễn Sĩ Giác hiệu đính, Vũ Văn Mẫu viết lời tựa, nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn, 1956). Gần đây, Viện Sử học Việt Nam đã dịch thuật lại cho chuẩn xác hơn. (Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội – 1991).

    Một số học giả Pháp, khi khảo dịch và nghiên cứu cho rằng nó có tên là Lê triều hình luật và nó là Lê triều điều luật được in năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 38) mà Phan Huy Chú đã ghi lại trong Lịch triều hiến chương loại chí sau khi họ nghiên cứu thiên Hình luật chí trong cuốn sách này của ông cũng như bản chép tay của Quốc triều hình luật. Theo Vũ Văn Mẫu, Quốc triều hình luật được ban bố lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và có lẽ vào thời gian cuối của niên hiệu này. Ý kiến của Vũ Văn Mẫu chủ yếu dựa vào ý kiến của Phan Huy Chú viết về việc ban hành dưới thời Lê bộ Hồng Đức hình luật và lời đề tựa của vua Gia Long triều Nguyễn cho bộ Hoàng Việt luật lệ, trong đó ông đánh giá rất cao bộ luật cổ này và gọi nó là bộ luật Hồng Đức.

    Các ý kiến khác cho rằng bộ Quốc triều hình luật đã được soạn, sửa đổi liên tục từ đầu thời kỳ nhà Hậu Lê, trong đó có những đóng góp to lớn dưới thời Lê Thánh Tông. Các ý kiến này chủ yếu dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư với ghi chép là năm Thái Hòa thứ 7 (1449), vua Lê Nhân Tông đã bổ sung thêm vào bộ hình luật chương điền sản gồm 14 điều. Ngoài ra, qua các sử sách khác và qua các lần in khắc ván (với những điểm khác nhau về nội dung của các văn bản), các bổ sung và tên gọi các đơn vị hành chính ghi trong bộ luật v.v có thể nhận thấy bộ luật này được soạn thảo, bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua triều Lê. Thời điểm khởi thảo, ban hành lần đầu cho đến nay vẫn chưa rõ.

    Bố cục

    Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v).

    Bố trí cụ thể như sau:

    1. Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản có tính chất chi phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộc tội bằng tiền v.v)
    2. Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và các tội về cấm vệ.
    3. Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của quan lại, các tội về chức vụ.
    4. Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái của tướng, sĩ, các tội quân sự.
    5. Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình và các tội phạm trong các lĩnh vực này.
    6. Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm trong lĩnh vực này.
    7. Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục.
    8. Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số tội chính trị như phản nước hại vua.
    9. Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các tội vu cáo, lăng mạ v.v
    10. Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối.
    11. Chương Tạp luật: 92 điều quy định về các tội không thuộc các nhóm tội danh trên đây.
    12. Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tội thuộc lĩnh vực này.
    13. Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm và các tội phạm trong lĩnh vực này.

    Hai chương cuối này đã có một số quy định về tố tụng, nhưng chưa hoàn chỉnh.

    Các quy định dân sự

    Trong bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.

    Sở hữu và hợp đồng

    QTHL đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến là: sở hữu nhà nước (ruộng công) và sở hữu tư nhân (ruộng tư).

    Trong bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền-công điền tương đối toàn diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công như: không được bán ruộng đất công (điều 342), không được chiếm ruộng đất công quá hạn mức (điều 343), không được nhận bậy ruộng đất công đã giao cho người khác (điều 344), cấm làm sai quy định phân cấp ruộng đất công (điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công (điều 350), cấm biến ruộng đất công thành tư (điều 353), không được ẩn lậu để trốn thuế (điều 345) v.v

    Bên cạnh đó việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân/ hợp đồng về ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng. Chẳng hạn, cấm xâm lấn ruộng đất của người khác (điều 357), cấm tá điền tranh ruộng đất của chủ (điều 356), cấm ức hiếp để mua ruộng đất của người khác (điều 355) v.v

    Qua một số quy định trên, có thể thấy bộ luật đã điều chỉnh 3 loại hợp đồng về ruộng đất:

    • Mua bán ruộng đất
    • Cầm cố ruộng đất
    • Thuê mướn ruộng đất

    Về hình thức, các hợp đồng thường phải lập thành văn tự giữa các bên tham gia hợp đồng với sự chứng thực của quan viên có thẩm quyền.

    Thừa kế

    Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể: Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ. Thứ hai là các quan hệ thừa kế theo di chúc (các điều 354, 388) và thừa kế không di chúc (thừa kế theo luật) với các điều 374-377, 380, 388. Điều đáng chú ý là bộ luật Hồng Đức cho người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người con trai là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiến khác. Đây chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều Lê.

    Các quy định hình sự

    Các nguyên tắc chủ đạo

    Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật. Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của nó là:

    • Vô luật bất thành hình (điều 642, 683, 685, 708, 722): trong đó quy định chỉ khép tội khi trong bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hình phạt đã quy định và nó là tương tự như trong các bộ luật hình sự hiện đại.
    • Chiếu cố (điều 1, 3-5, 8, 10, 16, 17, 680): trong đó quy định các chiếu cố đối với địa vị xã hội, tuổi tác (trẻ em và người già cả), tàn tật, phụ nữ v.v
    • Chuộc tội bằng tiền (điều 6, 16, 21, 22, 24): đối với các tội danh như trượng, biếm, đồ, khao đinh, tang thất phụ, lưu, tử, thích chữ. Tuy nhiên các tội thập ác (mười tội cực kỳ nguy hiểm cho chính quyền) và tội đánh roi (có tính chất răn đe, giáo dục) không cho chuộc.
    • Trách nhiệm hình sự (điều 16, 35, 38, 411, 412): trong đó đề cập tới quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc chịu trách nhiệm hình sự thay cho người khác.
    • Miễn, giảm trách nhiệm hình sự (điều 18, 19, 450, 499, 553): trong đó quy định về miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người).
    • Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu (điều 25, 39, 411, 504)
    Tội phạm
    • Phân loại theo hình phạt (ngũ hình và các hình phạt khác)
    • Theo sự vô ý hay cố ý phạm tội
    • Theo âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội
    • Tính chất đồng phạm
    Các nhóm tội cụ thể
    • Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như:
      • Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (điều 2, 411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-điều 412), đại bất kính (430, 431).
      • Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch (điều 416), bất hiếu (nhiều điều, chẳng hạn điều 475), bất mục, bất nghĩa, nội loạn.
      • Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho giáo: bất đạo (420 và 421).
    • Các nhóm tội phạm khác: bao gồm các tội liên quan đến sự an toàn thân thể của vua, nghi lễ cung đình, xâm phạm trật tự công cộng, quản lý hành chính, thể thức nghi lễ triều đình, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm con người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các tội phạm quân sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế độ hôn nhân-gia đình, các tội tình dục, các tội xâm phạm chế độ tư pháp v.v
    Hình phạt

    Quan niệm về hình phạt trong bộ luật khá chi tiết nhưng cứng nhắc với khung hình phạt thường là cố định, tuy rằng có tính đến các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ (điều 41).

    Các hình phạt cụ thể có ngũ hình và các hình phạt khác.

    Ngũ hình

    Ngũ hình được quy định tại điều 1 và bao gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử.

    • Xuy (đánh bằng roi) có 5 bậc: 10, 20, 30, 40, 50 roi, có thể kèm phạt tiền và biếm chức, áp dụng cả cho nam và nữ.
    • Trượng (đánh bằng gậy) cũng có 5 bậc: 60, 70, 80, 90 và 100 trượng, chỉ áp dụng cho nam.
    • Đồ có 3 bậc là:
      • Dịch đinh kèm 80 trượng cho nam và dịch phụ kèm 50 roi cho nữ. Dịch đinh/dịch phụ có nhiều hạng là:
        • Thuộc đinh: phục dịch ở các viện (dành cho quan chức có tội)
        • Quân đinh: phục dịch ở các sảnh
        • Khao đinh: phục dịch ở trong trại lính
        • Xã đinh: phục dịch ở các xã (dành cho thường dân nam có tội)
        • Thứ phụ: phục dịch công việc ở làng (dành cho thường dân nữ có tội)
        • Viên phụ: làm các công việc trong vườn (dành cho vợ các quan chức)
        • Tang thất phụ: phục dịch ở các nơi nuôi tằm, nếu phạm tội nặng
      • Tượng phường binh (quét dọn chuồng voi kèm 80 trượng và thích 2 chữ vào mặt) cho nam và xuy thất tỳ (nấu cơm nuôi quân kèm 50 roi và thích 2 chữ vào cổ) cho nữ.
      • Chủng điền binh (lính lao động ở đồn điền của nhà nước kèm 80 trượng và thích vào cổ 4 chữ, phải đeo xiềng) cho nam và thung thất tỳ (xay thóc giã gạo trong các kho thóc thuế của nhà nước kèm 50 roi và thích vào cổ 4 chữ) cho nữ.
    • Lưu tức lưu đày đi nơi xa, có 3 bậc là:
      • Lưu cận châu, đày đi làm việc nặng ở Nghệ An với hình phạt phụ là thích vào mặt 6 chữ, đánh 90 trượng, đeo xiềng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
      • Lưu ngoại châu: Lưu đày đến Bố Chánh, Quảng Bình. Phụ hình có 90 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đeo xiềng 2 vòng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
      • Lưu viễn châu: đày đi Cao Bằng. Phụ hình gồm 100 trượng, thích 10 chữ vào mặt, đeo xiềng 3 vòng cho nam, đánh 50 roi cho nữ.
    • Tử (giết chết) có 3 bậc là:
      • Giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu)
      • Khiêu (chém bêu đầu)
      • Lăng trì (tùng xẻo) tức xẻo từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết, sau đó còn bị cắt rời chân tay và bẻ gãy hết xương.
    Các hình phạt khác

    Ngoài ngũ hình, luật Hồng Đức còn áp dụng các hình phạt khác như:

    • Biếm tư (điều 27, 46) bao gồm các bậc từ 1 đến 5 tư nhưng có quy định cho chuộc tội biếm bằng tiền theo điều 22.
    • Phạt tiền (điều 26) có 3 bậc: 300-500 quan, 60-200 quan và 5-50 quan. Ngoài ra còn có quy định về tiền bồi thường tang vật (điều 28), tiền đền mạng (điều 29).
    • Tịch thu tài sản có 2 bậc là tịch thu toàn bộ gia sản (nặng theo điều 426, 430) và tịch thu một phần tài sản (nhẹ, các điều 88, 523)
    • Thích chữ vào cổ hoặc mặt: Được áp dụng như là hình phạt phụ đối với các tội lưu, đồ, trượng, xuy.
    • Xung vợ con làm nô tỳ. Chỉ áp dụng đối với các tội mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn trong thập ác (điều 411, 412).

    Các quy định trong hôn nhân-gia đình

    Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hôn nhân của bộ luật là: hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Nó thể hiện lễ nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội-gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ.

    Hôn nhân

    Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như kết hôn, chấm dứt hôn nhân (do chết hoặc ly hôn).

    Kết hôn

    Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha mẹ (điều 314), không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thày (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339. Tuy nhiên, luật Hồng Đức không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: “Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn”, có lẽ là do đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về điều này. Luật Hồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315, 322). Lưu ý là luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn. Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng…Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước. Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.

    Chấm dứt hôn nhân

    Luật Hồng Đức quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: một trong người đã chết, ly hôn.

    Về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý là quan hệ hôn nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu là chồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang. Quy định này được đặt ra một cách gián tiếp trong các điều 2 và 320.

    Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:

    1. Buộc phải ly hôn (các điều 317, 318, 323, 324, 334) do hôn nhân đã vi phạm các quy định cấm kết hôn.
    2. Ly hôn do lỗi của người vợ: Điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khi người vợ phạm phải điều nghĩa tuyệt (đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng) như: không con, ghen tuông, ác tật (mắc các bệnh như phong, hủi), dâm đãng, không kính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp.
    3. Ly hôn do lỗi của người chồng: Các điều 308 / 333 quy định người vợ có quyền trình quan xin ly hôn khi: chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (có quan xã làm chứng), trừ khi chồng có việc phải đi xa hay nếu con rể lấy điều thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ.
    Quan hệ gia đình

    Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ).

    • Quan hệ vợ-chồng: Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ-chồng, tuy nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ nhân thân như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau (các điều 321 và 308, 309), không được ngược đãi vợ (điều 482), nghĩa vụ chung thủy (điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau (các điều 2, 7).
    • Quan hệ cha mẹ-con cái: Đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân của con cái, bao gồm: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7 điều 2), nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (điều 38), nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà-cha mẹ (điều 511), nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà, cha mẹ (các điều 9, 504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tội mưu phản, mưu đại nghịch, cha mẹ nuôi giết con đẻ hay mẹ đẻ-mẹ kế giết cha thì được phép tố cáo và nghĩa vụ để tang ông bà-cha mẹ (điều 2).
    • Quan hệ nhân thân khác: Đề cập tới quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ (các điều 309, 481, 483, 484) và nhà chồng, anh-chị-em (các điều 487, 512), nuôi con nuôi (các điều 380, 381, 506) và vai trò của người trưởng họ (điều 35).

    Trong quan hệ vợ cả-vợ lẽ thì ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ với chồng và nhà chồng thì họ cũng phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn. Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình (phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau). Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻ cũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi.

    Các quy định tố tụng

    Mặc dù không được tách bạch ra thành các chương riêng rẽ, nhưng luật Hồng Đức đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:

    • Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (điều 672)
    • Thủ tục tố tụng (phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện- đơn tố cáo (các điều 508, 513, 698), thủ tục tra khảo (các điều 546, 660, 665, 667, 668, 714, 716), thủ tục xử án (các điều 671, 709), phương pháp xử án (các điều 670, 683, 686, 708, 714, 720, 722), thủ tục bắt người (các điều 646, 658, 659, 663, 676, 680, 701-704).

    So sánh

    Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Mục tiêu hàng đầu của nó là để bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo. Tuy vậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc và tiến bộ của nó.

    Luật Trung Hoa

    Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đườngnhà Minh. Tuy vậy, nó có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục.

    Về bố cục, bộ Đường luật có 500 điều chia thành 12 chương (Danh lệ, Vệ cấm, Chức chế, Hộ hôn, Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy, Tạp luật, Bộ vong, Đoán ngục) trong 30 quyển. Có thể thấy, trong luật Hồng Đức các quy định về các nhóm tội tình dục và các vấn đề ruộng đất được quy định riêng biệt và cụ thể hơn.

    Về nội dung, các quy định về hôn nhân-gia đình, điền sản của luật Hồng Đức được chú trọng hơn so với Đường luật (quy định cụ thể về văn tự, chúc thư, chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ-chồng khi góa bụa v.v). Chính vì thế, sau này các tòa án thời Pháp thuộc hay Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa hay dựa trên các quy định này của luật Hồng Đức để phân xử các vụ kiện tụng liên quan tới tài sản vợ-chồng.

    Bộ luật nhà Nguyễn

    So với bộ Hoàng Việt luật lệ (HVLL hay luật Gia Long) (năm 1811) ra đời sau hàng thế kỷ, có thể thấy luật Hồng Đức chưa có tính khái quát hóa cao và phân ngành rõ như HVLL. Tuy nhiên, sự bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong luật Hồng Đức lại tốt hơn so với HVLL. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết khi nhận xét về HVLL “bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn. Không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng.” (Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, quyển 1, tập 1, Sài Gòn, 1973).

    Các điểm tiến bộ

    Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là nó cho thấy vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực. Nó cho thấy người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới.

    Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam.

    Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê. Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều (điều 596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác (điều 601), tự tiện giết trâu ngựa (điều 580) v.v

    Điểm thứ tư, luật Hồng Đức thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân thường. Trong bộ luật có nhiều điều trừng phạt nghiêm khắc những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu thường dân (các điều 294, 300, 302, 304, 365).

    TÌM ĐỌC THÊM:

    Cùng thời:

    • Quốc triều khám tụng điều lệ

    Thời nhà Nguyễn:

    • Hoàng Việt luật lệ
    • Hội điển toát yếu
    • Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ
    • Minh Mệnh chính yếu
    • Đại Nam điển lệ toát yếu

    VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM

    TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Giảng viên Khoa luật Trường đại học Aix-Marseille III (Trung tâm Aix-en- Provence)- Cộng hoà Pháp.

    Khi giao kết hợp đồng, các bên đều hướng tới một lợi ích nhất định thường đưa ra một thời hạn để thực hiện. Nhưng nhiều khi lợi ích hợp pháp của một trong các bên không đạt được vì hợp đồng không được thực hiện như dự tính. Trước hoàn cảnh này, bên không được thực hiện có thể yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại, huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng hay không? Bài viết dưới đây xin được đề cập đến việc huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng sau và trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng

    1. Huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng sau khi hết thời hạn thực hiện

    Nguyên tắc về huỷ bỏ, đình chỉ: Theo khoản 1, Điều 419 và khoản 1, Điều 420 của Bộ luật Dân sự (BLDS) Việt Nam, “một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” (1) ; “một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện đình chỉ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” (2). Như vậy, khi hợp đồng không được thực hiện, bên không được thực hiện có quyền huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng nếu điều đó đã được thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Thực tế lại có nhiều hợp đồng không có điều khoản cho phép một bên huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng khi bên kia có vi phạm. Bài viết xin chỉ đề cập đến các trường hợp này.

    Nghiên cứu BLDS chúng ta thấy phần chung về hợp đồng không có điều khoản cho phép một bên huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng khi bên kia có vi phạm3, nhưng lại có thể tìm thấy quy định này trong phần của Bộ luật về một số hợp đồng thông dụng (tức là phần chuyên biệt về một số hợp đồng cụ thể) (Hộp 1).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 1.

    · Điều 553, khoản 3 về hợp đồng gia công, “trong trường hợp sản phẩm không đảm bảo chất lượng mà bên đặt gia công đồng ý nhận sản phẩm, nhưng yêu cầu sửa chữa mà bên nhận gia công không thể sửa chữa được trong thời hạn đã thoả thuận, thì bên đặt gia công có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

    · Điều 722 về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, “khi bên thuê chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thoả thuận, thì bên cho thuê có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ, thì bên cho thuê có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bên thuê hoàn trả đất”.

    ——————————————————————————————————————–

    Cách điều chỉnh trên đã bộc lộ một số bất cập:

    Thứ nhất, trong phần chuyên biệt về một số hợp đồng thông dụng, BLDS có quy định những trường hợp được phép huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng do không được thực hiện. Song, những quy phạm này không đầy đủ, một số vi phạm có thể dẫn đến huỷ hay đình chỉ hợp đồng lại không được quy định. Ví dụ, theo Điều 425 về hợp đồng mua bán tài sản, “bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thoả thuận”. Quy định này không rõ có cho phép bên mua được huỷ hợp đồng khi bên bán không giao hàng đúng thời hạn? Tương tự, theo Điều 480 về hợp đồng thuê tài sản, “bên thuê có quyền cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê,nếu được bên cho thuê đồng ý”. Điều này có thể hiểu rằng bên thuê không được cho thuê lại tài sản nếu bên cho thuê không đồng ý, nhưng lại không cho biết là bên cho thuê có quyền huỷ hợp đồng nếu bên thuê cho thuê lại tài sản mà không có sự đồng ý của bên cho thuê?

    Thứ hai, Bộ luật chỉ cho phép huỷ bỏ, đình chỉ đối với những hợp đồng dân sự thông dụng. Vậy, đối với hợp đồng dân sự không thông dụng, khi hợp đồng bị vi phạm mà không có quy định thì giải quyết thế nào?

    Cách điều chỉnh như trên của BLDS tạo ra “lỗ hổng hay điểm trống pháp lý”: đối với một số trường hợp vi phạm hợp đồng, không có quy định cho phép bên bị vi phạm quyền huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng. Xin trích một ví dụ (4) (Xem Hộp 2).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 2: Ngày 08 tháng12 năm X, bà H. làm giấy sang nhượng nhà và đất số KP Nội Ô thị trấn GD tỉnh TN cho ông C. Cùng ngày, bà H. làm giấy uỷ quyền giao nhà và đất trên cho ông C. Căn cứ vào giấy uỷ quyền và theo lời khai của bà U và bà H. thì bà H. bán nhà và đất nói trên với điều kiện là bà H. ở lại nhà cho đến chết và ông C. phải chăm sóc bà H. Song, ông C. không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết vì, 2 năm sau, vợ chồng ông C. đã bán lại căn nhà trên cho ông S. và ông S. bán lại cho vợ chồng ông N. Trước sự vi phạm trên, bà H. yêu cầu được huỷ hợp đồng.

    Hợp đồng tranh chấp trên là hợp đồng mua bán nhà và đất với điều kiện là người bán ở lại nhà đến chết và người mua phải nuôi người bán. Người bán muốnhuỷ hợp đồng vì người mua đã không thực hiện điều kiện này. Nhưng, hợp đồng mua bán nói trên lại không có điều khoản cho phép người bán có quyền huỷ hợp đồng khi người mua không đảm bảo cho người bán ở lại nhà đến chết. Nói một cách khác, các bên không có thoả thuận về việc huỷ hợp đồng. Quy định của BLDS về hợp đồng thông dụng không có quy phạm cụ thể nào quy định bên bán có quyền huỷ hợp đồng khi bên mua không thực hiện điều kiện của hợp đồng.

    ——————————————————————————————————————–

    Trong pháp luật nhiều nước trên thế giới, bên cạnh phần điều chỉnh hợp đồng thông dụng (phần riêng về hợp đồng) cho phép huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng, thì phần chung về hợp đồng còn chứa đựng những điều khoản quy định một cách bao quát những trường hợp được huỷ bỏ, chấm dứt hợp đồng khi không được thực hiện. Đó là những trường hợp khi các quy phạm điều chỉnh hợp đồng thông dụng không đầy đủ hoặc khi hợp đồng bị vi phạm không phải là hợp đồng thông dụng mà phần riêng có đề cập (Xem Hộp 3).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 3: Ví dụ, theo Điều 1644 BLDS Pháp (phần về hợpđồng mua bán), khi tài sản bán có khuyết tật nghiêm trọng thì bên mua có quyền trả lại vật và đòi lại tiền. Vậy, theo phần chuyên biệt về hợp đồng thông dụng của BLDS Pháp, hợp đồng mua bán có thể bị huỷ khi tài sản bán có lỗi nghiêm trọng. Tương tự, theo Điều 1722 của BLDS Pháp (phần về hợp đồng thuê tài sản), hợp đồng cho thuê bị chấm dứt khi tài sản cho thuê bị mất, bị hỏng do sự cố bất khả kháng hay do lỗi của một bên (5). Bên cạnh các quy phạm cho phép huỷ hay chấm dứt hợp đồng trong phần hợp đồng thông dụng trên, chúng ta còn thấy phần chung của luật hợp đồng Pháp (Điều 1184 ) cho phép huỷ hay chấm dứt hợp đồng khi một bên có vi phạm, nhất là khi lợi ích hợp pháp hay phần lớn lợi ích hợp pháp mà bên bị vi phạm mong đợi khi giao kết không thể đạt được (6).

    Ví dụ tương tự có thể thấy được trong Luật hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc. Luật này gồm hai phần, phần chung về hợp đồng và phần riêng về một số hợp đồng thông dụng. Điều 94 (phần chung) cho phép một bên huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng khi hợp đồng không thể thực hiện được do hiện tượng bất khả kháng; do một bên không thực hiện nghĩa vụ chủ yếu mặc dù bên kia đã cho thêm một thời hạn để thực hiện; do chậm thực hiện hợp đồng hay mọi vi phạm khác làm cho mục đích của hợp đồng không thể thực hiện được. Bên cạnh đó, một số điều khoản trong phần riêng về hợp đồng thông dụng quy định những trường hợp mà một bên có thể huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng. Ví dụ, theo Điều 227, nếu bên thuê không trả tiền thuê hoặc chậm trả tiền thuê không có lý do, bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong một khoảng thời gian hợp lý. Sau thời hạn này, bên thuê có quyền chấm dứt hợp đồng.

    Cách điều chỉnh nêu trên của Pháp và Trung Quốc có thể tham khảo để bổ sung vào BLDS ghi nhận một cách bao quát các trường hợp mà hợp đồng không được thực hiện có thể bị huỷ bỏ, đình chỉ.

    ——————————————————————————————————————–

    Mục đích xác lập hợp đồng là để đạt được lợi ích hợp pháp của các bên. Nói một cách khác, hợp đồng được thiết lập nhằm thực hiện để mang lại cho các bên lợi ích hợp pháp mong đợi khi giao kết. Vậy, cần hạn chế tối đa việc cho phép huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng. Song, cũng không nên để cho một bên bị ràng buộc bởi hợp đồng mà họ không đạt được lợi ích hợp pháp do sự vi phạm của bên kia, do đó nên cho phép huỷ, đình chỉ hợp đồng khi có vi phạm nghiêm trọng (7). Đối với vi phạm không nghiêm trọng, thì quy định bên bị vi phạm được quyền đòi bồi thường thiệt hại là đủ, mà không cần huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng (8).

    Do đó, có thể quy định thêm trong Điều 419 và 420 của BLDS như sau: Một bên có quyền huỷ bỏ (hay đơn phương đình chỉ) hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.

    Thứ ba, trong phần hợp đồng thông dụng của BLDS, một số quy phạm cho phép huỷ, đình chỉ hợp đồng một cách máy móc (Xem Hộp 4).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 4 : Theo Điều 428 về hợp đồng mua bán tài sản, “trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận, thì bên mua có một trong các quyền sau đây: Huỷ bỏ hợp đồng…”. Việc cho phép huỷ hợp đồng mỗi khi bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận như Điều 428 là không nên. Ví dụ, theo hợp đồng, A phải giao cho B 1000 chiếc ghế vào ngày 30 tháng 06. Nhưng khi giao hàng A chỉ có 999 chiếc ghế. Vậy, A đã giao ít hơn số lượng đã thoả thuận 01 ghế. áp dụng Điều 428, chúng ta sẽ cho phép B huỷ hợp đồng trong khi đó việc vi phạm trên không làm ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích mà bên B mong đợi khi xác lập hợp đồng.

    Theo Điều 710, khoản 2 về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, bên chuyển quyền sử dụng đất có quyền “huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền chuyển nhượng không đúng thời hạn hoặc không đầy đủ”. Việc cho phép huỷ hợp đồng trong trường hợp này cũng là không nên. Ví dụ, theo hợp đồng, A phải giao cho B 100 triệu ngày 30 tháng 06. Nhưng vì một lý do nào đó, A chỉ có thể giao cho B khoản tiền trên vào ngày 01 tháng 07. Nếu quy định như Điều 710, khoản 2 trên, B được quyền huỷ hợp đồng trong khi đó A chỉ trả muộn so với thoả thuận 01 ngày. Thông thường muộn một hay vài ngày giao tiền không thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích mà bên B mong muốn đạt được khi xác lập hợp đồng.

    ——————————————————————————————————————–

    Theo chúng tôi, cần sửa đổi những quy phạm tại Điều 428 về hợp đồng mua bán tài sản và Điều 710, khoản 2 về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất theo hướng trên hoặc quy định nội dung này trong phần chung về hợp đồng.

    2. Huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện

    Xét ví dụ: Theo hợp đồng ký kết ngày 01 tháng 06, A phải cung cấp cho B một lượng hàng C vào ngày 30 tháng 06. Rất có thể vào ngày 15 tháng 06, B biết chắc rằng đến ngày 30 tháng 06, A sẽ không thực hiện hợp đồng. Chẳng hạn, cho đến ngày 15 tháng 06, B được A thông báo hai lần rằng A không muốn thực hiện hợp đồng nữa hoặc, ngày 15, B được biết rằng A đã bán và giao toàn bộ luợng hàng C cho người khác. Như vậy, vào ngày 15 tháng 06, tức là trước ngày hết thời hạn thực hiện hợp đồng, thì B có quyền được huỷ hợp đồng hay không?

    Trong phần liên quan đến hợp đồng, BLDS không quy định cho phép một bên huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện khi thấy rõ bên kia sẽ vi phạm hợp đồng. Đây là sự bất cập so với pháp luật một số nước và một số văn bản quốc tế hiện đại (Xem Hộp 5).

    ——————————————————————————————————————–

    Hộp 5: ở Anh, vấn đề vi phạm hợp đồng trước khi hết hạn thực hiện được án lệ điều chỉnh từ ngay nửa đầu thế kỷ thứ 199. ở Pháp, toà án cũng cho phép một bên huỷ hợpđồng trước khi hết thời hạn thực hiện khi bên phải thực hiện cho biết sẽ không thực hiện hợp đồng (10).

    Theo khoản 1, Điều 72 của Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, “trước khi đến ngày thực hiện hợp đồng, một bên có quyền tuyên bố hợp đồng bị buỷ bỏ nếu thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng” (11). Theo Điều 7.3.3 Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, “một bên có quyền huỷ hợp đồng nếu, trước khi đến thời hạn thực hiện, thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng”(12)

    . Tương tự, theo Điều 9:304 Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, “nếu, ngay trước ngày mà hợp đồng phải thực hiện, thấy rõ là một bên sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, bên kia có quyền huỷ hợp đồng” (13).

    ——————————————————————————————————————–

    Dựa trên tham khảo nêu trên, BLDS nước ta cần đưa nội dung cho phép huỷ, đình chỉ hợp đồng trước thời hạn vì những lý do sau đây:

    – Sẽ là bất hợp lý nếu không cho phép một bên huỷ hay chấm dứt hợp đồng trong khi biết chắc bên kia sẽ không thực hiện được hợp đồng. Mặt khác, cho phép một bên huỷ hay đình chỉ hợp đồng trong trường bên kia vi phạm nghiêm trọng sẽ có lợi về kinh tế. Ví dụ, khi biết chắc là bên mua sẽ không nhận hàng và không trả tiền, cho phép người bán huỷ hợp đồng sẽ giúp họ sớm tìm được nguồn tiêu thụ mới hoặc quyết định không tiếp tục sản xuất nữa để tránh bị tồn đọng thừa hàng. Hoặc, nếu cho phép bên mua huỷ hợp đồng khi biết chắc là bên bán sẽ không thực hiện hợp đồng, chúng ta sẽ giúp người mua sớm đi tìm người bán khác để có được số lượng hàng cần mua nhằm đáp ứng được nhu cầu của mình.

    Trước năm 1999, ở Trung Quốc, vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện chỉ được đề cập trong Luật về hợp đồng kinh tế với nước ngoài (14); các văn bản khác về hợp đồng như Luật về hợp đồng kinh tế hay Luật về chuyển giao công nghệ hoàn toàn không đề cập đến vấn đề này. Với quyết tâm hoà nhập vào Tổ chức thương mại quốc tế (15), năm 1999, Trung Quốc đã bãi bỏ các Luật trên và cho ra đời Luật hợp đồng duy nhất. Trong Luật này, Trung Quốc thừa nhận quyền một bên huỷ hợp đồng khi biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng: Theo Điều 94, khoản 2, “hợp đồng có thể bị huỷ nếu, trước thời điểm thực hiện hợp đồng, một bên cho thấy sẽ không thực hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng”.

    – Khi nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, nên bổ sung vào BLDS lần này quy định cho phép một bên huỷ hợp

    đồng ngay cả khi ch-a hết thời hạn thực hiện nếu biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng. Có thể quy định như sau: Trước khi đến ngày mà hợp đồng phải thực hiện, một bên có quyền huỷ bỏ hay đình chỉ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi biết chắc rằng bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng./.

    ===============================================================

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1 “Khi hợp đồng bị huỷ bỏ, thì hợp đồng không hiệu lực từ thời điểm giao kết các bên phải hoàn trả cho nhau

    tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải trả bằng tiền “ (khoản 3, Điều 419).

    2 “Khi hợp đồng bị đơn phương đình chỉ thực hiện, thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông

    báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ quyền yêu cầu bên kia

    thanh toán” (khoản 3, Điều 420).

    3 Ngoại trừ Điều 413: “Khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia, thì có quyền yêu

    cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại “.

    4 dụ này dựa vào một vụ việc cụ thể toà án Việt Nam đã gặp phải (Toà án tối cao năm 2000, nhưng một số

    thông tin như năm xác lập hợp đồng, giá cả và tên của các bên trong tranh chấp được thay đổi (TG).

    5 Điều 1722 trên cho phép chấm dứt hợp đồng khi tài sản bị mất hay bị hỏng do sự cố bất khả kháng. Theo Toà án

    tối cao Pháp, Điều này cũng được áp dụng khi tài sản bị mất hay bị hỏng do lỗi của một bên (ví dụ, xem phòng dân

    sự số 3, ngày 22 tháng 01 năm 1997 : Tạp chí Dalloz 1997, tr. 43, bình luận Farnocchia ; Tạp chí JCP 1997, II,

    22943, bình luận Djigo ; Tạp chí RD imm. 1997, tr. 296, bình luận Collart-Dutilleul ; Tạp chí Contrats. Conc.

    Consom. 1997, phần số 58, bình luận Leveneur).

    6 Xem thêm : Đỗ Văn Đại, Vai trò của lợi ích t- nhân trong hợp đồng ở Pháp (NXB PUAM 2004, với lời giới thiệu

    của GS. TS., Hiệu tr-ởng Jacques MESTRE, đặc biệt phần số 141 và tiếp theo).

    7 Cách điều chỉnh này đã có rải rác trong BLDS. Ví dụ theo Điều 497, khoản 1, điểm c và khoản 2, điểm a về hợp

    đồng thuê nhà : “Bên cho thuê nhà quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê nhà yêu cầu bồi

    thường thiệt hại khi bên thuê cố ý làm nhà h hỏng nghiêm trọng“; “Bên thuê nhà quyền đơn phương đình chỉ

    thực hiện hợp đồng thuê nhà yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên cho thuê một trong các hành vi sau đây:

    Không sửa chữa nhà khi chất lượng nhà giảm sút nghiêm trọng“.

    8 Cách điều chỉnh này cũng đã thể hiện rải rác trong BLDS. Ví dụ theo Điều 513, khoản 2 về hợp đồng thuê khoán,

    “trong trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ, việc khai thác đối t-ợng thuê khoán nguồn sống duy nhất

    của bên thuê khoán việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê

    khoán, thì bên cho thuê khoán không được đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng; bên thuê khoán phải cam kết

    với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng”.

    9 Xem Y. M. Laithier, Nghiên cứu so sánh về các chế tài của vi phạm hợp đồng, Luận án tiến sỹ, Paris I, năm 2002.

    10 Xem Toà án thương mại Havre ngày 28 tháng 11 năm 1934: Rec. du Havre, 1935, 1, tr. 68; RTD civ. 1935, tr. 647,

    13, bình luận R. DEMOGUE.

    11 Về bản dịch sang tiếng Việt của Công -ớc này, xem thêm : Phạm Minh, Luật thương mại quốc tế, NXB Thống kê,

    2000, tr. 886 và tiếp theo.

    12 Về bản dịch sang tiếng Việt của những nguyên tắc này, xem thêm : Nết, Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc

    tế, NXB TP Hồ Chí Minh, 1999.

    13 Các văn bản trên sử dụng thuật ngữ inexécution hay contravention “essentielle”. Trong thực tiễn, thuật ngữ inexé-

    cution hay contravention “essentielle” này thể được dịch vi phạm “một phần chủ yếu” hay vi phạm “nghiêm

    trọng”.

    14 Xem Điều 17, Luật của Cộng hoà nhân dân Trung hoa về hợp đồng kinh tế với nước ngoài. Chính xác Luật

    này cho phép một bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng khi thấy bên kia có khả năng sẽ không thực hiện hợp đồng.

    15 Trung Quốc tham gia Tổ chức thương mại quốc tế năm 2001.

    ============================================

    SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 9/2004

    (Góp ý Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi – nay là Bộ luật dân sự năm 2005) QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

    TS. Nguyễn Trung Tín – Viện Nhà nước pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

    1. Khái niệm “Yếu tố nước ngoài”

    Điều 826 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định: “Trong Bộ luật này quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia hoặc các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tạinước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

    Trong khái niệm yếu tố nước ngoài, Dự thảo đã có sự bổ sung khía cạnh nơi cư trú về mặt chủ thể. Tuy nhiên, quy định “căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài” là chưa đúng. Bởi vì, đã biết quy phạm xung đột dẫn chiếu ra sao mà đã khẳng định ngay rằng các căn cứ trên theo pháp luật nước ngoài(?). Cho nên, phần này cần rút gọn và sửa lại như sau: “Trong Bộ luật này, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là quan hệ dân sự có ít nhất một trong ba yếu tố sau: 1- Bên tham gia có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài, 2- Tài sản liên quan tới quan hệ ở nước ngoài, 3-Các căn cứ làm phát sinh hoặc thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài”.

    2. ÁP dụng pháp luật

    Điều 827 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định: “1- Các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.

    2- Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Bộ luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

    3- Trong trường hợp việc áp dụng pháp luật nước ngoài được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam dẫn chiếu, thì pháp luật nước ngoài được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; nếu pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam, thì áp dụng pháp Việt Nam đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.

    Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên thoả thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài trong hợp đồng.

    4 – Trong trường hợp việc áp dụng pháp luật nước ngoài được điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập dẫn chiếu, thì pháp luật nước ngoài được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế đó.

    5- Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc hợp đồng giữa các bên điều chỉnh, thì tập quán quốc tế được áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó”.

    Theo chúng tôi, Điều luật trên là không cần thiết. Bởi vì, pháp luật dân sự Việt Nam, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và pháp luật nước ngoài có được áp dụng đối với quan hệ trên hay không là căn cứ vào sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột được quy định trong phần này (tập quán quốc tế sẽ dựa trên cơ sở luật theo ý chí các bên; trong trường hợp không có cơ sở pháp luật để điều chỉnh quan hệ, thì người ta áp dụng nguyên tắc tương tự, chứ không phải là áp dụng tập quán quốc tế). Còn về việc áp dụng điều ước quốc tế, thì trong phần cuối của Bộ luật này đã có một quy định viện dẫn chung.

    Trong khoản 3, Điều 827 có mục quy định “Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên lựa chọn pháp luật nước ngoài trong hợp đồng”. Cách quy định này không chuẩn xác và mẫu thuẫn với các khoản 1 và 2, Điều 834 của Dự thảo. Vì vậy, theo chúng tôi, nội dung này cần bỏ. Bởi vì, thứ nhất, không phải về cái gì trong hợp đồng các bên cũng được thoả thuận lựa chọn pháp luật; thứ hai, việc các bên có được phép thoả thuận chọn pháp luật trong hợp đồng hay không là do pháp luật quy định (Điều 834 của Bộ luật này đã quy định). Nếu các bên thoả thuận chọn pháp luật không trên cơ sở điều đó, thì sự thoả thuận ấy là bất hợp pháp. Còn trường hợp các bên thoả thuận chọn pháp luật phù hợp với Điều 834 thì có nghĩa là thoả thuận trên là hợp pháp và ý chí của các bên cần được tôn trọng (trừ trường hợp khi các bên chọn pháp luật nước ngoài mà hậu quả của việc áp dụng đó mâu thuẫn với trật tự công cộng của nước ta).

    Ngoài ra, Điều này còn có phần quy định về dẫn chiếu trở lại. Theo chúng tôi, cách giải quyết vấn đề dẫn chiếu trở lại (dẫn chiếu ngược) và dẫn chiếu tới nước thứ ba là một trong các vấn đề thuộc chính sách tư pháp quốc tế của các quốc gia mà các nhà lập pháp phải giải quyết nếu như không muốn giao phó điều này cho thực tiễn xét xử. Song một vấn đề khác trong thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là dẫn chiếu tới nước thứ ba thì lại chưa được quy định trong phần Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Ví dụ: pháp luật Việt Nam dẫn chiếu tới pháp luật nước ngoài, song pháp luật nước ngoài không dẫn chiếu tới chính nó và cũng không dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam, mà lại dẫn chiếu tới pháp luật nước thứ ba thì sao? Và ở đây chính sách dẫn chiếu tới nước thứ ba của Việt Nam được quy định như thế nào? Đây rõ ràng là lỗ hổng pháp luật. Điều này sẽ gây khó khăn không chỉ cho các nhà hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật mà còn cho các bên trong việc xác định hành vi của mình. Bởi trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng, cũng như trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói chung, nhiều trường hợp các bên cần xác định hành vi hợp pháp của mình ngay từ khi chuẩn bị bước vào quan hệ (ví dụ, quan hệ hợp đồng, quan hệ hôn nhân…), chứ không phải chỉ khi phát sinh tranh chấp.Điều này là cần thiết đối với các bên, trong một số trường hợp, để đi tới quyết định có thiết lập quan hệ hay không (ví dụ, ký kết hợp đồng).

    ở các quốc gia trên thế giới về chính sách dẫn chiếu trở lại và dẫn chiếu tới nước thứ ba, có ba cách thức thực hiện: thứ nhất là không chấp nhận hoàn toàn dẫn chiếu trở lại và dẫn chiếu tới nước thứ ba; thứ hai là chấp nhận hoàn toàn cả dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu tới nước thứ ba; thứ ba là chấp nhận cả dẫn chiếu trở lại và dẫn chiếu tới nước thứ ba trừ một số trường hợp đặc biệt (ví dụ, khi cho phép các bên thoả thuận chọn pháp luật). Ngoài ra, có quốc gia chỉ chấp nhận dẫn chiếu trở lại, mà không chấp nhận dẫn chiếu tới nước thứ ba. Song điều đó phải được quy định rõ trong pháp luật (1).

    Do vậy, cần có một Điều riêng nói về chính sách này và nên quy định như sau:

    “Điều 827. Dẫn chiếu trở lại và dẫn chiếu tới nước thứ ba

    1- Trong trường hợp áp dụng quy phạm xung đột mà nó dẫn chiếu áp dụng pháp luật nước ngoài và pháp luật nước ngoài đó lại dẫn chiếu trở lại áp dụng pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam.

    2- Trong trường hợp áp dụng quy phạm xung đột mà quy phạm đó dẫn chiếu áp dụng pháp luật nước thứ ba thì áp dụng pháp luật nước đó trừ trường hợp quan hệ về nội dung hợp đồng mà quy phạm xung đột dựa trên dấu hiệu theo ý chí các bên và thực tế các bên đã thoả thuận chọn pháp luật áp dụng”.

    3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật

    Điều 828 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định:

    “Việc áp dụng pháp luật nước ngoài quy định tại khoản 3, Điều 827 hoặc việc áp dụng tập quán quốc tế quy định tại khoản 5, Điều 827 của Bộ luật này trái với các nguyên tắc Bộ luật này hoặc các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì không áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc tập quán quốc tế đó mà áp dụng pháp luật Việt Nam”.

    Đây là quy định về điều bảo lưu trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế. Theo chúng tôi, cách quy định này chưa phù hợp. Bởi trong khoa học tư pháp quốc tế cũng như thực tiễn điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực tư pháp quốc tế của các quốc gia, điều bảo lưu trật tự công cộng được quy định theo cách pháp luật nước ngoài sẽ không được áp dụng nếu hậu quả của việc áp dụng trái với trật tự công cộng (thường được hiểu là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật một quốc gia). Còn cách quy định như trên đã đề cập tới đối tượng áp dụng không chỉ pháp luật nước ngoài mà còn cả tập quán quốc tế (chúng tôi đã nêu ở trên) và việc trái với trật tự công cộng là bản thân việc áp dụng pháp luật nước ngoài chứ không phải là hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài (như cách quy định của Bộ luật hiện hành). Đây phải chăng là bước thụt lùi?

    Về nguyên tắc, khi áp dụng pháp luật nước ngoài bao giờ cũng có hậu quả của nó. Hậu quả đó có thể là trái hoặc không trái với trật tự công cộng. Thực tiễn điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực tư pháp quốc tế ở một số quốc gia cho thấy, điều quan tâm của các quốc gia là hậu quả của việc áp dụng chứ không phải việc áp dụng (2).

    Theo chúng tôi, Điều này cần được quy định như sau: “pháp luật nước ngoài sẽ không được áp dụng mặc dù có quy phạm xung đột dẫn chiếu áp dụng nếu như hậu quả của việc áp dụng đó mâu thuẫn với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.

    4. Một số quy định khác

    Năng lực pháp luật dân sự

    – Cá nhân:

    Điều 830 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo luật nhân thân của người đó”.

    Cách quy định như Ban soạn thảo đưa ra là không rõ và không chính xác. Bởi vì, “luật nhân thân của người đó” là luật của quốc gia nào? Trong khoa học tư pháp quốc tế, luật nhân thân có hai nhánh: luật quốc tịch và luật nơi cư trú.

    Điều 832 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định: “1- Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập, trừ trường hợp quy định tại khoản 2, Điều này.

    2– Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện, thay

    đổi, chấm dứt các giao dịch dân sự tại Việt Nam, thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam”.

    – Pháp nhân nước ngoài:

    Cách quy định như vậy là không phù hợp3. Do đó, theo chúng tôi, Điều 832 cần sửa đổi như sau: “Quy chế riêng của pháp nhân được xác định theo pháp luật của quốc gia mà pháp nhân có quốc tịch”.

    Thừa kế theo pháp luật

    Điều 833a của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định: “1- Quyền thừa kế theo pháp luật được xác định theo pháp luật của nước có người để lại tài sản thừa kế là công dân

    trước khi chết.

    2– Việc mở thừa kế phải tuân theo pháp luật của nước nơi có tài sản thừa kế.

    3– Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

    4– Di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản đó.

    5– Di sản không người thừa kế là động sản thuộc về Nhànước thừa kế mà người để lại di sản thừa kế là công dân trước khi chết”.

    Điều này chỉ nên quy định thừa kế theo pháp luật mà không quy định phần di sản không có người thừa kế (phần này nên quy định vào một Điều riêng sau phần thừa kế theo di chúc). Phần thừa kế theo pháp luật cần quy định như khoản 1 là được, bởi tài sản ở đây có thể hiểu là cả bất động sản và động sản. Cách quy định này phù hợp với điều kiện nước ta (có công dân ở nước ngoài nhiều). Bởi theo cách đó, khi quy phạm xung đột pháp luật nước ngoài dẫn chiếu tới pháp luật Việt Nam đối với di sản của công dân Việt Nam thì khi đó pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng (kể cả trường hợp các quốc gia áp dụng chính sách dẫn chiếu trở lại và dẫn chiếu tới nước thứ ba).

    Về Điều 833b của Dự thảo BLDS (sửa đổi), chúng tôi xin có ý kiến như sau:

    Thứ nhất, Điều này cần đặt tên lại, bởi đây là điều quy định về thừa kế theo di chúc chứ không phải thừa kế theo pháp luật (trùng với tên Điều 833a). Thứ hai, việc quy định như khoản 2 là thừa và thiếu khách quan, bởi dấu hiệu mà quy phạm xung đột dựa vào không nên có sự phân biệt là người nước ngoài hay công dân Việt Nam (vì đây là quan hệ dân sự cho nên các chủ thể phải được bình đẳng với nhau, trừ một số ngoại lệ cần thiết). Thứ ba, khoản 3 và khoản 4 là trùng lặp, bởi khoản 4 chỉ là một trường hợp đã được xác định trong khoản 3 (nơi lập di chúc).

    Điều 833b của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định: “1- Năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc phải tuâ theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân vào thời điểm lập di chúc. Đối với di chúc định đoạt tài sản thừa kế là bất động sản, thì năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

    2- Năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc của người nước ngoài th-ờng trú tại Việt Nam được xác định theo pháp luật Việt Nam.

    3– Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

    4– Di chúc được lập tại Việt Nam, thì hình thức của nó phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam”.

    Đối với phần về di sản không có người thừa kế (đã nói ở trên), theo chúng tôi cần quy định như sau: “Điều 833c – Di sản không người thừa kế – Di sản không người thừa kế thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản có quốc tịch”.

    Bởi nếu theo cách quy định tại Điều 833a của Ban soạn thảo sẽ dẫn đến nguy cơ là Nhà nước ta không nhận được di sản của công dân Việt Nam không có người thừa kế ở nước ngoài cả trong trường hợp pháp luật nước ngoài quy định nhà nước được nhận di sản đó là nhà nước mà công dân trên có quốc tịch (nếu như nước ngoài đã nêu áp dụng chính sách có đi có lại hoặc áp dụng dẫn chiếu ngược hoặc dẫn chiếu tới nước thứ ba).

    Hợp đồng dân sự

    Điều 834 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định: 1- Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng được xác định theo phápluật của nước do các bên thoả thuận lựa chọn.Trong trường hợp các bên không thoả thuận lựa chọn, thì quyền nghĩa vụ của các bên được xácđịnh theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợpđồng, trừ trường hợp Bộ luật này và pháp luật ViệtNam có quy định khác.

    2- Các bên có quyền thoả thuận lựa chọn phápluật để xác định quyền và nghĩa vụ đối với toàn bộ hợp đồng hoặc đối với từng phần của hợp đồng.

    3– Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp hợpđồng dân sự không ghi nơi thực hiện hợp đồng, thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam.

    4– Hợp đồng dân sự liên quan đến bất động sảnở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam”.

    Theo chúng tôi, cần thay “quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng” bằng “nội dung hợp đồng”, bởi nội dung hợp đồng còn có nhiều vấn đề khác ngoài quyền và nghĩa vụ của các bên (ví dụ, đối tượng hợp đồng). Ngoài ra, trong điều này cần quy định năng lực hành vi ký kết hợp đồng của cá nhân (cần xác định theo nguyên tắc quốc tịch)./.

    —————————————————–

    1 Xem: Ma-r–sev N. I., TƯ pháp quốc tế, NXB “INFA.M”, Matưxcơ-va – 2000, Tiếng Nga, tr. 75-77.

    2 Xem: Ba-gu-slav- skii M. M., Giáo trình TƯ pháp quốc tế, NXB “LAW”, Mátưxcơ-va – 1994, Tiếng Nga, tr. 468.

    3 Xem: Nguyễn Trung Tín, “Một số ý kiến về các quy phạm xung đột của Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu

    Lập pháp, Số 7/2004, tr. 28-30.

    ——————————————————————

    SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 9/2004

    VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

    Trần Văn Biên – Phòng Nghiên cứu Tư pháp Dân sự, Viện Nhà nước và pháp luật

    Sau gần 10 năm thi hành, các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý cho các ứng xử của các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự, góp phần lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó, BLDS 1995 cũng đã bộc lộ nhiều bất cập đòi hỏi cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung. Bài viết dưới đây xin đóng góp một số ý kiến về chế định hợp đồng vay tài sản (HĐVTS) trong Dự thảo BLDS (sửa đổi), dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua tại kỳ họp đầu tiên của năm 2005

    Trong BLDS 1995, chế định HĐVTS được quy định tại Phần thứ ba, chương II, Mục 4, từ Điều 467 đến Điều 475. So với BLDS hiện hành, các quy định về HĐVTS trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) có sự sửa đổi, bổ sung như sau:

    – Sửa đổi các điều: Điều 467- Hợp đồng vay tài sản, Điều 470- Nghĩa vụ của bên cho vay, Điều 471- Nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Điều 472- Sử dụng tài sản vay, Điều 473- Lãi suất, Điều 474- Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn, Điều 475- Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn;

    – Huỷ bỏ hai điều: Điều 468- Hình thức của hợp đồng vay tài sản, Điều 469- Quyền sở hữu đối với tài sản vay;

    – Bổ sung mới một điều: Điều 475a- Chơi hụi, họ.

    1. Hợp đồng vay tài sản

    Đối chiếu với BLDS hiện hành, Điều 467 Dự thảo BLDS (sửa đổi) đã thay câu “chỉ phải trả lãi, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” bằng “trả lãi theo thoả thuận”.

    ———————————————————————————————————

    Điều 467 của Dự thảo BLDS (sửa đổi) quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả tiền lãi hoặc vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và trả lãi theo thoả thuận”.

    ———————————————————————————————————

    Trong HĐVTS, điều khoản về đối tượng là một trong những điều khoản chủ yếu, nó là căn cứ để thực hiện các điều khoản khác. Theo Điều 476, đối tượng của HĐVTS có thể là tiền hoặc vật (thực tiễn xét xử thường là tiền). Theo định nghĩa tiền tệ của Luật Ngân hàng nhà nước thì  tiền bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá trị như tiền (1). Như vậy, bên cạnh đối tượng vay phổ biến là đồng nội tệ (VND) thì ngân phiếu, cổ phiếu, trái phiếu… cũng có thể là đối tượng của HĐVTS. Và có một vấn đề đặt ra, ngoại tệ có được xem là đối tượng của HĐVTS?

    Khoản 2, Điều 1, Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối quy định: “Tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi hoạt động ngoại hối của tổ chức, cá nhân phải tuân theo các quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật. Ngoại hối chỉ được lưu hành qua hệ thống ngân hàng, tổ chức và cá nhân được phép hoạt động ngoại hối”. Và tại Thông tư số 01/1999/TT- NHNN, ngày 16/04/1999 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn thi hành Nghị định 63 nêu rõ: “Trên lãnh thổ Việt Nam, nghiêm cấm người cư trú, người không cư trú là tổ chức, cá nhân mua bán, thanh toán, cho vay với nhau bằng ngoại tệ và niêm yết giá hàng hoá, dịch vụ bằng ngoại tệ trừ trường hợp được phép quy định trong Thông tư này”.

    Theo Nghị định về quản lý ngoại hối, cá nhân, tổ chức không được tự do mua bán, thanh toán, cho vay với nhau bằng ngoại tệ trừ trường hợp… đến khi các bên có tranh chấp và kiện nhau ra Toà án, lúc đó hợp đồng mới bị tuyên là vô hiệu. Theo chúng tôi, việc Nhà nước ban hành những quy định nhằm hạn chế việc sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch, nhưng thực tế nó vẫn diễn ra và diễn ra khá phổ biến, thì chúng ta nên thừa nhận việc sử dụng đó. Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, việc quy định khá chặt chẽ như vậy sẽ làm giảm phần nào sức mua bán, tiêu dùng và các giao dịch khác trong đời sống xã hội. Còn nếu vì một lý do nào đó (đảm bảo quản lý nhà nước về ngoại hối, ổn định thị trường tiền tệ, tránh tình trạng đôla hay euro hoá thị trường tiền tệ…) mà vẫn cần giữ quy định này, thì chúng ta cần cụ thể hoá vào trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) để nó phát huy hơn nữa hiệu quả điều chỉnh. Bởi ở nước ta, người dân ít tiếp xúc với văn bản luật, nếu có tiếp xúc thì thường là các bộ luật, luật, còn các văn bản dưới luật (văn bản hướng dẫn thi hành luật) thì ít ai biết đến.

    Mặt khác, yêu cầu của việc sửa đổi, bổ sung BLDS lần này theo hướng là Bộ luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Do vậy, BLDS cần quy định các nguyên tắc chung nhất về hợp đồng. Các quy định về HĐVTS cần phải bao quát cả đến các quan hệ cho vay giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng, mà theo pháp luật ngân hàng, tổ chức tín dụng là tổ chức được phép hoạt động ngoại hối. Vì thế, việc bổ sung thêm đối tượng là ngoại tệ vào Điều 467 là cần thiết.

    Bên cạnh đó, Điều 467 của Dự thảo BLDS (sửa đổi) cũng cần quy định cụ thể và tách bạch các đối tượng là vàng, kim khí quý, đá quý, không nên để nó bao gồm trong đối tượng là vật. Bởi vàng, kim khí quý, đá quý là những tài sản có giá trị đặc biệt, đối với vàng tiêu chuẩn quốc tế theo quy định của pháp luật ngân hàng nó còn là ngoại hối và được quản lý theo quy chế giống như là ngoại tệ mà chúng tôi đã đề cập ở trên. Việc quy định tách bạch như vậy còn nhằm giải quyết vấn đề lãi suất trong các HĐVTS có đối tượng là vàng – một vấn đề mà BLDS và pháp luật hiện hành vẫn còn bỏ ngỏ (2), nhưng cũng chưa được Dự thảo BLDS (sửa đổi) quy định.

    Từ những phân tích trên, chúng tôi đề nghị Điều 467 của Dự thảo BLDS (sửa đổi) nên được viết lại như sau:

    1. Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền là nội tệ hoặc ngoại tệ, các giấy tờ có giá như tiền, vàng, kim khí quý, đá quý hoặc vật; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả tiền lãi hoặc vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và trả lãi theo thoả thuận;

    2. Đối với những hợp đồng vay tài sản có đối tượng là ngoại tệ khi giao kết phải tuân theo quy định pháp luật của nhà nước về quản lý ngoại hối3.

    2. Hình thức của hợp đồng vay tài sản

    Thực tế xét xử cho thấy, các HĐVTS giao kết bằng lời nói nhiều hơn các hợp đồng giao kết bằng văn bản. Đối với những HĐVTS giao kết bằng lời nói nếu không có bên thứ ba làm chứng, đã tạo rất nhiều khó khăn cho thẩm phán trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp.

    —————————————————————————————————–

    Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát giải quyết án về HĐVTS năm 1998 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao: “Về nội dung của bản kết luận cần phân tích, đánh giá tình tiết của vụ án, đặc biệt là chú ý đến nội dung bản hợp đồng vay tài sản (nếu có bản hợp đồng). Nếu chỉ là hợp đồng miệng cần chú ý các lời khai của các bên liên quan đến việc vay tài sản, từ đó đánh giá những nội dung mà hai bên thống nhất (tài sản gốc, lãi). Những trường hợp chỉ một bên khai hoặc tuy hai bên có khai nhưng có mâu thuẫn, thì thông thường lời khai của bị đơn (bên vay) là có cơ sở. Trường hợp bên cho vay có khai cho bên vay nhiều khoản tài sản, nhưng có những khoản tài sản Toà án chưa hỏi bên cho vay thì yêu cầu làm rõ trước khi kết luận vụ án. Trường hợp đối tượng tài sản mà nhà nước cấm giao dịch thì trong kết luận cần căn cứ Điều 137 BLDS để yêu cầu Toà án xử huỷ bỏ hợp đồng vì vô hiệu và tịch thu tài sản giao dịch sung quỹ nhà nước hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết”.

    ———————————————————————————————

    Nhìn ra một số nước, pháp luật về hợp đồng của họ quy định với tài sản vay có giá trị là bao nhiêu thì hợp đồng vay phải giao kết dưới hình thức văn bản. Ví dụ, Điều 653, Bộ Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định nếu vay quá 50 bạt thì phải thành lập văn bản. Còn ở Trung Quốc, theo Điều 197 Luật Hợp đồng, thì việc vay tiền dùng hình thức văn bản, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, thường là đối với những hợp đồng có giá trị tiền vay nhỏ.

    Vì vậy, chúng tôi cho rằng, Dự thảo BLDS (sửa đổi) không nên huỷ bỏ điều này, mà cần quy định chi tiết hơn về hình thức của HĐVTS để tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐVTS; đồng thời đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các bên, bên vay không còn lý do để từ chối việc vay mượn của mình, còn bên cho vay không thể ép buộc bên vay hoặc lợi dụng giấy tờ vay nợ không rõ ràng để đi đòi nợ; theo hướng: với giá trị tài sản bao nhiêu thì HĐVTS phải được lập thành văn bản, chẳng hạn như:

    Điều 468- Hình thức hợp đồng vay tài sản

    1. Hợp đồng vay tài sản có thể được giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản;

    2. Nếu tài sản trong hợp đồng vay có giá trị từ 1.000.000 đồng trở lên thì hợp đồng phải được lập thành văn bản.

    3. Nghĩa vụ của bên cho vay

    So với BLDS hiện hành, Điều 470 trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) không quy định nghĩa vụ của bên cho vay một cách chung chung mà quy định nghĩa vụ của bên cho vay đối với từng trường hợp tài sản trong hợp đồng vay là tiền hay vật, vay vật có lãi và vay vật không có lãi. Tuy nhiên, trong điều luật này cần bổ sung thêm một khoản quy định nghĩa vụ của bên cho vay không được nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi vào thời gian tiếp theo nhằm bảo vệ người vay- bên yếu thế về kinh tế. Trong dân luật truyền thống, việc chủ nợ lợi dụng sự khó khăn của con nợ bắt con nợ làm lại văn tự và “đập lãi thành vốn” để tăng thêm số tiền cho vốn vay mà vẫn có thể tiếp tục thu lãi được gọi là hình thức cho vay phúc lợi. ở nước ta, dưới triều Lê, hình thức cho vay này bị nghiêm cấm. Nếu chủ nợ tính gồm lãi vào gốc, rồi bắt làm văn tự lại, thì họ phải chịu hình phạt nặng hơn sự lạm thu tiền lãi trái phép một bậc4. Thiết nghĩ, đây là một giá trị của cổ luật mà chúng ta nên kế thừa khi sửa đổi BLDS lần này. Việc Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/06/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viên kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính về hướng dẫn xét xử và thi hành án về tài sản đã chấp nhận để các bên có thể nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi vào thời gian tiếp theo là không phù hợp với tinh thần của Điều 4, Điều 135 của BLDS hiện hành, cũng như không phù hợp với truyền thống và bản chất nhân đạo trong pháp luật của Nhà nước ta.

    Do đó, Điều 470 của Dự thảo BLDS (sửa đổi) nên quy định như sau:

    Điều 470- Nghĩa vụ của bên cho vay

    Bên cho vay có các nghĩa vụ sau đây:

    1. Trong trường hợp cho vay tài sản là tiền hoặc các giấy tờ có giá như tiền, thì phải giao tiền cho bên vay đầy đủ, đúng thời hạn đã thoả thuận;

    2. Trong trường hợp tài sản cho vay là vàng, kim khí quý, đá quý hoặc vật, thì phải giao tài sản đúng số lượng, chất lượng, thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận, nếu:

    a. Vay không có lãi mà tài sản vay không bảo đảm chất lượng do có khuyết tật, nếu bên cho vay ngay tình không biết về khuyết tật của tài sản, thì bên cho vay không có nghĩa vụ đổi lại tài sản vay; trong trường hợp bên cho vay biết tài sản có khuyết tật mà vẫn cho vay, thì phải đổi lại tài sản;

    b. Vay có lãi mà tài sản không đảm bảo chất lượng, thì bên cho vay có nghĩa vụ đổi lại tài sản vay và bồi thường thiệt hại.

    3. Đối với hợp đồng vay tài sản có lãi, khi đến hạn trả nợ mà bên vay không thực hiện nghĩa vụ, thì bên cho vay không được thoả thuận với bên vay nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi vào thời gian tiếp theo.

    4. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 475 của Bộ luật này.

    4. Nghĩa vụ của bên vay

    Dự thảo BLDS (sửa đổi) cũng quy định tách bạch nghĩa vụ của người vay trong trường hợp vay tài sản là tiền và vật.

    Khoản 5, Điều 471 của Dự thảo BLDS (sửa đổi) tương ứng với khoản 4, Điều 471 của BLDS hiện hành quy định: “Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả t-ơng ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

    ở đây, Dự thảo BLDS (sửa đổi) không quy định lãi suất đối với khoản nợ chậm trả đó là bao nhiêu, trong BLDS hiện hành lãi suất đối với khoản nợ chậm trả này được tính theo lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn của Ngân hàng nhà nước. Nếu quy định không rõ ràng như thế, khi các bên có tranh chấp, Toà án sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết. Tôi cho rằng, Dự thảo BLDS (sửa đổi) cần quy định lãi suất trong trường hợp này được tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố. Do đó, Điều 471 Dự thảo BLDS (sửa đổi) nên viết lại là:

    Điều 471- Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

    1. Bên vay tài sản là tiền hoặc các giấy tờ có giá như tiền, thì phải trả đủ tiền hoặc các giấy tờ có giá như tiền khi đến hạn;

    2. Trong trường hợp vay tài sản là vàng, kim khí quý, đá quý hoặc vật, thì phải trả tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác;

    3. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật hoặc các tài sản khác không phải là tiền, thì có thể trả bằng tiền theo theo giá trị của vật hoặc tài sản đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý;

    4. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác;

    5. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác;

    6. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc tương đương với thời hạn vay và thời hạn chậm trả (5) tại thời điểm trả nợ, trừ trường hợp thoả thuận khác.

    5. Lãi suất

    Lãi suất trong HĐVTS là tỷ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tài sản đã vay trên một đơn vị thời gian, nếu các bên có thoả thuận về việc trả lãi hoặc pháp luật quy định về việc trả lãi. Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định. Căn cứ vào lãi suất, số lượng tài sản vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một khoản lãi thường là bằng tiền, nhưng cũng có trường hợp các bên thoả thuận với nhau trả lãi bằng tài sản quy đổi, ví dụ như vay gỗ trả lãi bằng phân đạm.

    Quy định về lãi suất tại Điều 473 của BLDS hiện hành có nhiều điểm không phù hợp, vừa thiếu, vừa mâu thuẫn với các quy định khác trong hệ thống pháp luật, gây nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp (6).

    Thứ nhất, mức lãi suất: nếu quy định cách tính lãi suất theo lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng th-ơng mại đối với loại cho vay t-ơng ứng và lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn trung bình do các ngân hàng thương mại ấn định, sẽ làm mất nhiều thời gian của Toà án khi giải quyết các tranh chấp về HĐVTS. Hiện nay ở nước ta, nếu kể tên tất cả các ngân hàng thương mại thuộc hai loại hình: ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng th-ơng mại cổ phần, thì con số này lên tới trên 40. Khoản 1, Điều 473 của Dự thảo BLDS (sửa đổi) chỉ quy định chung chung như vậy, khi xét xử, Toà án sẽ không biết chọn mức lãi suất của ngân hàng thương mại nào và tất nhiên dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất. Theo khoản 2, nếu các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất, thẩm phán sẽ mất rất nhiều thời gian tìm hiểu lãi suất tiền gửi tiết kiệm của từng ngân hàng thương mại rồi cộng lại chia trung bình ra mức lãi suất áp dụng cho vụ án. Hiện nay đối với từng thời điểm nhất định, Ngân hàng nhà nước thường công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay th-ơng mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng được lựa chọn, để các tổ chức tín dụng tham khảo và định hướng lãi suất thị trường. Dự thảo BLDS (sửa đổi) nên lấy mức lãi suất cơ bản này làm tiêu chuẩn để quy định cách tính lãi suất tại Điều 473.

    Thứ hai, việc tính lãi đối với hợp đồng vay tài sản là vàng vẫn đang bị bỏ ngỏ. Theo điểm 5, mục I, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/06/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính Vè việc hướng dẫn xét xử và thi hành án về tài sản: “Trong trường hợp đối tượng HĐVTS là vàng, thì lãi suất chỉ được chấp nhận khi Ngân hàng nhà nước quy định”. Tuy nhiên, thực tế chưa có văn bản nào của Ngân hàng nhà nước quy định về vấn đề này dẫn đến việc xét xử tranh chấp về hợp đồng vay vàng có lãi suất gặp nhiều vướng mắc, mặc dù các bên có thoả thuận trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện. Đề nghị Ban soạn thảo phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để có quy định cụ thể về vấn đề này.

    Thứ ba, giới hạn thu lãi: trong cổ luật nước ta, để bảo vệ bên vay, ngoài việc quy định chủ nợ không được thu quá lãi suất tối đa do luật định, nhà làm luật còn ấn định một giới hạn tối đa về tiền lãi: “…bất luận thời hạn vay dài bao nhiêu năm, cũng không được tính tiền lãi quá một gốc mỗi lãi”(7) hay “…chủ nợ chỉ có thể đòi tiền vốn và một số tiền lãi ngang với tiền vốn”(8). Dự thảo BLDS (sửa đổi) nên tham khảo kế thừa giá trị của cổ luật vào Điều 473.

    6. Hợp đồng vay không kỳ hạn và có kỳ hạn

    Để thống nhất về mặt khái niệm, Dự thảo BLDS (sửa đổi) cần sửa đổi các cụm từ “hợp đồng vay không kỳ hạn” “hợp đồng vay có kỳ hạn” thành “hợp đồng vay không xác định thời hạn” “hợp đồng vay có xác định thời hạn”. Liên hệ với pháp luật ngân hàng khi quy định về hợp đồng cho vay tín dụng – một hợp đồng gần gũi vớiHĐVTS trong BLDS ta sẽ thấy rõ điều này.

    “Thời hạn cho vay khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng”(9). Còn “kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ vốn vay cho tổ chức tín dụng” (10).

    Như vậy, theo cách định nghĩa trên, thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ có điểm giống nhau: đều là căn cứ xác định thời điểm để bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Tuy nhiên, giữa chúng có điểm khác nhau:

    – Nếu thời hạn cho vay là một khoảng thời gian, thì kỳ hạn là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay;

    – Hết thời hạn cho vay, bên vay có nghĩa vụ trả hết nợ gốc và lãi cho bên cho vay; còn đến kỳ hạn bên vay chỉ có nghĩa vụ trả một phần trong toàn bộ tài sản vay.

    Tuy nhiên, có trường hợp các bên không có thoả thuận về kỳ hạn trả nợ, khi hết thời hạn cho vay thì đồng thời cũng đến kỳ hạn trả nợ. Trong trường hợp này, thời hạn cho vay trùng với kỳ hạn trả nợ bên vay có nghĩa vụ phải trả hết nợ gốc và lãi. Nếu hiểu theo cách này, thì việc đồng nhất khái niệm thời hạn cho vay và kỳ hạn như trong BLDS hiện hành cũng như trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) là không chính xác./.

    =================================================================

    1. Khoản 1, Điều 9 của Luật Ngân hàng nhà nước năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003)

    2 .Xem Trần Văn Biên, Một số vuớng mắc trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng vay tài sản liên quan đến
    trả lãi và lãi suất, Tạp chí Nhà n-ớc và Pháp luật, số 11/2001.
    3. Nếu việc hạn chế sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch đ-ợc sửa đổi theo h-ớng thông thoáng, thì có thể bỏ đoạn
    này.

    4. Đoạn cuối của Điều 587, Bộ luật Hồng Đức.

    5. Khoản 6 Điều 471 Dự thảo BLDS (sửa đổi) cần bổ sung thêm đoạn được kẻ dưới thời hạn chậm trả để đảm

    bảo quyền lợi của bên cho vay, cũng như nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

    6. Cụ thể hơn xem: Trần Văn Biên, Một số vướng mắc trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

    liên quan đến trả lãi và lãi suất, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2001.

    7. Điều 587 Bộ luật Hồng Đức.

    8. Điều 134 Bộ luật Gia Long.

    9. Khoản 2, Điều 3 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số

    1627/2001/QĐ-NHNN, ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước).

    10.  Khoản 3, Điều 3 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số

    1627/2001/QĐ-NHNN, ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước).

    ————————————————————————————————————

    SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 9/2004

    BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ 

    THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN (Bài viết theo qui định của BLDS năm 1995)

    THS. Lê Minh Hùng Khoa Luật dân sự – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

    Quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện thừa kế còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, chưa hợp lý. Thực tiễn áp dụng các quyđịnh này vẫn còn khá lúng túng, chưa nhất quán. Để góp thêm ý kiến trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, bài viết sau đây phân tích một số điểm bất cập trong các quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện thừa kế và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.

    1. Điều 648 không quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ từ di sản do người chết để lại

    Đây là sự thiếu sót cả về nội dung và cơ cấu của điều luật dẫn đến sự thiếu nhất quán trong các quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự (1). Theo hướng dẫn tại điểm 1-b mục III, TTLN 03/1996, đối với các trường hợp thừa kế mở từ ngày 01-7-1996 thì người có quyền khởi kiện đòi nợ do người chết để lại không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước toà án. Hướng dẫn này tạo cơ sở pháp lý để toà án thụ lý giải quyết các đơn kiện đòi nợ từ di sản thừa kế, nhưng cũng dẫn đến sự bất cập về hai phương diện sau:

    (i) Về đường lối giải quyết là thiếu nhất quán đối với hai trường hợp đòi nợ tương tự.

    Trước khi BLDS được ban hành, thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đã từng được quy định trong các văn bản pháp luật trước đó (xem Hộp 1).

    ———————————————————————————————————

    Hộp 1: Điều 56 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (PLHĐDS) quy định thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là 3 năm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ dân sự và Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là 3 năm tính từ thời điểm mở thừa kế.

    ———————————————————————————————————

    Do BLDS không quy định về thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và đòi thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, vì vậy, đối với khoản nợ mà ngày đáo hạn hoặc ngày người mắc nợ chết sau khi BLDS có hiệu lực, thì chủ nợ có quyền khởi kiện đòi nợ vào bất kỳ lúc nào (2). Tuỳ thuộc vào việc người mắc nợ chết trước hay chết sau (dù chỉ một ngày) ngày BLDS có hiệu lực, mà thời hiệu khởi kiện sẽ khác nhau. Quy định này không có tính kế thừa từ Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế nên đã thiếu nhất quán trong đường lối giải quyết đối với cùng một loại việc đòi nợ do người chết để lại làm xáo trộn các quan hệ xã hội và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người thừa kế của người mắc nợ.

    (ii) Về chứng cứ trong tố tụng

    Việc không hạn chế thời hiệu gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động chứng minh và việc lưu giữ bằng chứng về việc đã trả nợ, không bảo đảm an toàn pháp lý cho người đã trả xong nợ từ rất lâu nhưng không lưu giữ được bằng chứng trả nợ.

    Thông thường, nếu người chủ nợ trong một thời gian dài không khởi kiện đòi nợ, thì pháp luật suy đoán là món nợ đó đã được thực hiện xong hoặc chủ nợ đã tự nguyện xoá nợ cho người mắc nợ. Không ai lại tự nguyện để cho người khác thiếu nợ quá lâu mà không yêu cầu trả nợ. Bởi thế, pháp luật của Việt Nam và nhiều nước quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ từ các hợp đồng dân sự thông thường là 3 năm, tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ và thời hiệu khởi kiện đòi thực

    hiện nghĩa vụ ngoài hợp đồng là 4 năm, tính từ ngày gây thiệt hại3. BLDS không quy định thời hiệu trong trường hợp này và được “chữa cháy” bằng các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, cách qui định như hiện nay về thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để chưa bảo đảm an toàn pháp lý cho người thừa kế của người mắc nợ. Bất cứ lúc nào, họ cũng có thể bị khởi kiện về nghĩa vụ mà có thể họ đã thực hiện xong từ rất lâu, nhưng không thể lưu giữ bằng chứng. Trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thì việc chứng minh đã trả nợ lại càng khó khăn hơn vì người mắc nợ đã chết, không thể đối chứng hay khai báo về việc đã trả nợ.

    Từ những phân tích trên cho thấy, việc bổ sung quy định về thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nói riêng, là yêu cầu cấp thiết. Cũng có ý kiến cho rằng sở dĩ BLDS không quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại vì tranh chấp loại này sẽ được áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nghĩa vụ dân sự (nói chung). Theo chúng tôi, ý kiến này không phù hợp.

    Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn thì thời hiệu khởi kiện đòi nợ người có nghĩa vụ còn sống và thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là hai loại thời hiệu khác nhau do có tính chất khác nhau. Về mặt lý luận, thể hiện ở 4 điểm sau đây: (i) trong việc thực hiện nghĩa vụ thông thường thì bị đơn chính là bản thân người có nghĩa vụ, còn trong việc đòi nợ của người chết thì bị đơn là những người thừa kế của người chết; (ii) đối tượng của nghĩa vụ thường là bất kỳ những nghĩa vụ tài sản nào (kể cả các nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân, các nghĩa vụ không chuyển dịch được do thoả thuận hoặc do pháp luật quy định…), còn đối tượng của nghĩa vụ do người chết để lại chỉ có thể là các nghĩa vụ tài sản chuyển dịch từ người chết sang cho người thừa kế, mang tính tài sản thuần tuý; (iii) mức trách nhiệm của nghĩa vụ đối với cá nhân thiếu nợ là vô hạn, còn mức trả nợ của người thừa kế là có giới hạn trong phạm vi di sản được hưởng; (iv) thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ của người mắc nợ tính từ ngày nghĩa vụ bị vi phạm, còn thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại tính từ ngày mở thừa kế…

    Về mặt thực tiễn, cũng có sự khác biệt giữa người mắc nợ tự mình thực hiện nghĩa vụ và thực hiện nghĩa vụ thông qua người thừa kế. Trong trường hợp thừa kế, người chủ nợ có thể phải khởi kiện nhiều người thừa kế; di sản do người chết để lại có thể bị biến động theo chiều hướng xấu tới mức di sản để lại không đủ để trả nợ; việc thi hành án đối với nợ do người chết để lại khó khăn hơn so với món nợ do chính người mắc nợ thực hiện khi còn sống…

    Đề xuất

    Với phân tích trên, chúng tôi kiến nghị bổ sung vào BLDS hai quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự do người chết để lại như sau:

    Một , bổ sung khoản 2 của Điều 648 của BLDS như sau: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại là 3 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế”. Quy định này kế thừa nội dung của Khoản 2, Điều 36, Pháp lệnh Thừa kế, phân biệt được sự khác nhau giữa thời hiệu khởi kiện yêu cầu người có nghĩa vụ còn sống tự mình thực hiện nghĩa vụ so với thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại.

    Hai là, đồng thời với việc quy định như trên nên bổ sung trong BLDS điều khoản quy định về các điều kiện cần thiết làm cơ sở cho người chủ nợ thực hiện quyền khởi kiện chỉ trong những trường hợp sau đây:

    (i) đó phải là nghĩa vụ tài sản;

    (ii) nghĩa vụ đó được phép chuyển dịch thông qua giao dịch dân sự hoặc để lại thừa kế;

    (iii) nghĩa vụ đó chưa được người chết thực hiện khi còn sống và vào thời điểm người có nghĩa vụ chết, thời hiệu khởi kiện đòi nợ vẫn còn;

    (iv) người thừa kế chỉ phải trả nợ trong phạm vi phần di sản mà mình được thừa kế, theo tỷ lệ tương ứng so với các đồng thừa kế khác (nếu có).

    Vì thế, kiến nghị bổ sung Điều 640b quy định về điều kiện để được khởi kiện đòi nợ từ di sản của người chết (xem Hộp 2)

    ———————————————————————————————————

    Hộp 2: “Điều 640b Các trường hợp không được khởi kiện đòi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại:

    1- Các nghĩa vụ dân sự đã hết thời hiệu khởi kiện vào thời điểm mở thừa kế;

    2- Các nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân, nghĩa vụ phải do người chết tự mình thực hiện;

    3- Các nghĩa vụ mà các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định không được phép chuyển giao;

    4- Các nghĩa vụ tài sản khác pháp luật quy định là đã chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết.

    Trong trường hợp các nghĩa vụ nói ở khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này là một nghĩa vụ có thể được chuyển thành một loại nghĩa vụ tài sản khác, chuyển giao được hoặc tính được bằng tiền khi người có nghĩa vụ chết, thì người có quyền vẫn được khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện theo quy định tại Điều 640 Bộ luật này. Đối với những nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ đã nhận thù lao nhưng chưa được thực hiện xong nghĩa vụ, thì người có quyền được khởi kiện yêu cầu người thừa kế hoàn trả khoản tiền tương ứng với khoảng thời gian chưa thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 640, trừ trường hợp nói tại khoản 1 Điều này”.

    ———————————————————————————————————Quy định này nhằm giới hạn những nghĩa vụ mà người chủ nợ được khởi kiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền trong các trường hợp họ đã trả toàn bộ tiền thù lao, nhưng người có nghĩa vụ đã chết mà chưa hoàn thành nghĩa vụ, thì người có quyền vẫn được đòi lại một phần tiền thù lao đã trả, tương ứng với phần công việc chưa được thực hiện. Ví dụ: thân chủ đã trả đủ tiềnđể được luật sư bảo vệ trước tòa hoặc để được bác sỹ khám bệnh và điều trị, nhưng mới làm được một phần công việc thì luật sư hoặc bác sỹ đó qua đời. Do nghĩa vụ cung cấp dịch vụ pháp lý hay dịch vụ khám chữa bệnh không thể chuyển giao cho những người thừa kế thực hiện. Vì vậy, người cóquyền vẫn được quyền đòi người thừa kế hoàn lại số tiền, tương ứng với phần công việc chưa được thực hiện.

    2. Điều 648 chưa tính đến việc điều chỉnh quan hệ thừa kế có đối tượng là di sản dùng vào việc thờ cúng

    Quy định thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế là chưa phù hợp với tập quán thờ cúng tổ tiên và thực tiễn xét xử về tranh chấp loại việc này. Theo tập tục thờ cúng tổ tiên tại các vùng đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ, thì thời hạn thực hiện việc cúng giỗ người chết không tính theo năm mà tính theo “đời người”. Dân gian có câu tục ngôn là “ngũ đại mai thần chủ” (người chết qua năm đời, thì chôn bài vị vào trong góc sau nhà), nghĩa bóng là con cháu cúng giỗ người chết đến đời thứ năm (4) thì không cúng giỗ riêng mà cúng chung cùng với các ông tổ của dòng họ. Vì vậy, sự bất hợp lý trong Điều 648 là theo quy định này thì thời hiệu khởi kiện là 10 năm, trong khi việc lưu truyền di sản thờ cúng thường qua nhiều thế hệ. Hơn nữa, di sản hương hoả được giao cho người thừa kế thực hiện nghĩa vụ thờ cúng, nếu quy định sau 10 năm những người thừa kế khác không được khởi kiện nữa, thì đã mặc nhiên thừa nhận rằng nghĩa vụ thờ cúng sau 10 năm coi như đã được thực hiện xong. Những người thừa kế hợp pháp khác của người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng không thể khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ thờ cúng. Đó là một điều bất hợp lý. Vì thế, đối với di sản dùng vào việc thờ cúng phải có một quy định về thời hạn lưu truyền di sản dùng vào việc thờ cúng và thời hiệu khởi kiện riêng cho việc tranh chấp liên quan đến di sản dùng vào việc thời cúng. Thời hạn lưu truyền di sản dùng vào việc thờ cúng là thời hạn mà nghĩa vụ thờ cúng được thực hiện, nên được tính theo đời người hay theo thế hệ (thứ bậc trong tông – chi). Trong trường hợp nghĩa vụ thờ cúng đã được thực hiện xong thì di sản dùng vào việc thờ cúng (nếu còn) sẽ thuộc quyền sở hữu của người sau cùng hoàn thành nghĩa vụ thờ cúng.

    Người thừa kế hợp pháp của người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng có quyền khởi kiện trong hai trường hợp: Thứ nhất, yêu cầu toà án xác định hiệu lực pháp luật của di chúc được lập để định đoạt di sản dùng vào việc thờ cúng (như kiện huỷ bỏ di chúc vô hiệu do có nội dung trái pháp luật và đạo đức, do bị giả mạo, do bị lừa dối, do không còn minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc); Thứ hai, là khi nghĩa vụ thờ cúng bị vi phạm thì người thừa kế có quyền yêu cầu toà án giải quyết hậu quả của việc vi phạm đó (hoặc chỉ định người khác tiếp tục thực hiện việc thờ cúng hoặc di sản được chia theo pháp luật).

    Từ phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung hai quy định có liên quan trực tiếp đến thời hiệu khởi kiện đối với di sản dùng vào việc thờ cúng như sau:

    (i) Một là, cần được bổ sung thêm một mục quy định riêng về di sản dùng vào việc thờ cúng tại Phần thứ tư, Chương II; trong đó, phải có một điều luật riêng quy định các trường hợp làm căn cứ chấm dứt nghĩa vụ thờ cúng;

    (ii) Hai là, bổ sung quy định tại Điều 648 khoản 3 với nội dung như sau:

    “Khoản 3- Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến di sản thờ cúng:

    a) Thời hiệu khởi kiện yêu cầu toàn án huỷ bỏ di chúc liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng, do vô hiệu, là 10 năm tính từ thời điểm mở thừa kế.

    b) Trong trường hợp người hưởng di sản thờ cúng vi phạm nghĩa vụ thờ cúng, thì thời hiệu khởi kiện là 10 năm tính từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ thờ cúng”.

    Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu không giống như tuyên bố giao dịch dân sự thông thường, do người lập di chúc đã không còn sống để có thể đối chứng hay cung cấp chứng cứ chứng minh về sự vô hiệu của di chúc, mà người thừa kế có thể là người ở xa, hoặc là người chưa thành niên hoặc là con (bị bỏ rơi, thất lạc…) chưa có điều kiện để xin xác định cha, mẹ ruột. Do đó, quy định như trên vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế khi có sự giả mạo di chúc hoặc di chúc vô hiệu, vừa bảo đảm sự trong sáng và nghiêm túc trong việc thực hiện nghĩa vụ thờ cúng của người được chỉ định trong di chúc để lo việc thờ cúng.

    3. Quy định tại Điều 648 chưa tính đến quy định của điều 671 về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung

    Vợ, chồng có quyền lập di chúc chung và xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung (Xem Hộp 3).

    ———————————————————————————————————

    Hộp 3: Điều 671 của BLDS quy định: “…nếu vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc về thời

    điểm hiệu lực của di chúc thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó”.

    ———————————————————————————————————

    Nếu người vợ (hay người chồng) vẫn còn sống sau 10 năm từ thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của người chồng (hay người vợ) đã chết trước, thì những người thừa kế của người chết trước không còn quyền khởi kiện để đòi quyền thừa kế. Việc không khởi kiện được không phải do sự kiện bất khả kháng, cũng không do trở ngại khách quan, mà do di chúc chưa có hiệu lực thi hành. Do đó, quy định tại Điều 648 về thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm, nếu áp dụng cho trường hợp di chúc chung quy định tại Điều 671 thì thời hiệu khởi kiện thừa kế sẽ bị rút ngắn, thậm chí bị triệt tiêu, nếu người còn lại vẫn sống đến hơn 10 năm sau khi mở thừa kế của người chết trước. Khi điều này xảy ra mà thời hiệu khởi kiện không được cộng thêm tương ứng, thì quyền khởi kiện của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước sẽ không được đảm bảo.

    Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị bổ sung nội dung quy định về các trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và thiết kế thành một điểm mới trong một khoản mới của Điều 648 (Xem Hộp 4).

    ———————————————————————————————————

    Hộp 4: Đề xuất khoản mới, Điều 648 “Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 170 của Bộ luật này, những trường hợp sau đây cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa kế:

    a). Khoảng thời gian từ thời điểm mở thừa kế của người chết trước cho đến thời điểm mở thừa kế của người chết sau, nếu vợ, chồng thoả thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết theo quy định tại Điều 671 của Bộ luật này… ”

    ———————————————————————————————————

    4. Quy định tại Điều 648 cũng chưa tính đến các trường hợp làm gián đoạn thời hiệu do hạn chế phân chia di sản theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế

    Điều 689 quy định việc phân chia di sản bị giới hạn trong hai trường hợp: khi người để lại di sản nói rõ trong di chúc hoặc khi tất cả những người thừa kế thoả thuận hạn chế phân chia di sản trong một thời hạn nhất định, thì trong khoảng thời gian đó, di sản không được chia thừa kế.

    Như vậy, việc hạn chế phân chia di sản trong những trường hợp nói trên sẽ làm cho thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế bị gián đoạn. Nếu thời gian này không được trừ ra thì thời hiệu khởi kiện đòi quyền thừa kế trên thực tế sẽ bị rút ngắn, thậm chí triệt tiêu. Ví dụ: ông A và bà B có tài sản chung là một căn nhà. Ông A lập di chúc để lại ngôi nhà cho vợ và các con là C, D, E nhưng lại nói rõ trong di chúc là các con C, D, E chỉ được chia thừa kế ngôi nhà khi mẹ của C, D, E (bà B) qua đời. Giả sử sau khi ông A chết, bà B còn sống thêm hơn 20 năm nữa, thì thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di chúc của ông A sẽ không còn.

    Theo chúng tôi, việc hạn chế phân chia di sản trong các trường hợp này cũng không phải là do sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan vì thời hạn không khởi kiện chia di sản nói ở đây là dựa trên ý chí chủ quan của người lập di chúc, của những người thừa kế. Trong khi đó, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 1 Điều 170 của BLDS thì phải do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, tức những sự kiện mang tính khách quan, ngoài ý muốn của các bên chủ thể tham gia quan hệ, chứ không do ý chí chủ quan của người có quyền khởi kiện. Mặt khác, thời hiệu là thời hạn do luật định mà không ai có thể thoả thuận để kéo dài hay rút ngắn. Trên thực tế, việc người lập di chúc hoặc tất cả những người thừa kế thoả thuận về việc phân chia di sản đã làm cho thời hiệu khởi kiện bị rút ngắn, thay vì 10 năm như quy định của Điều 648. Do vậy, nếu khoảng thời gian hạn chế phân chia di sản không được cộng thêm vào thời hiệu, thì sẽ làm cho quyền khởi kiện của người thừa kế bị xâm phạm. Để khắc phục bất cập này, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm nội dung này vào khoản 4 Điều 648 giống như trường hợp nói tại mục 2.3 trên đây và thiết kế thành điểm b.

    Tương tự như trên, thời gian hạn chế phân chia di sản do Toà án tuyên bố theo quy định tại Điều 31 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000 (LHN&GĐ) cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện 5.

    Khoản 4 Điều 648 (bổ sung) sẽ có thêm các nội dung sau: “Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 170 Bộ luật này, những trường hợp sau đây cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa kế:

    a) Khoảng thời gian từ thời điểm mở thừa kế của người chết trước cho đến thời điểm mở thừa kế của người chết sau, nếu vợ, chồng thoả thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết theo quy định tại Điều 671 Bộ luật này;

    b) Khoảng thời gian hạn chế phân chia di sản theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế theo quy định tại Điều 689 của Bộ luật này;

    c) Khoảng thời gian hạn chế phân chia di sản khi toà án tuyên bố hạn chế phân chia di sản theo yêu cầu của một bên vợ, chồng còn sống theo quy định tại Điều 31 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn của Luật này”

    5. Đối chiếu với quy định tại Điều 171 thì Điều 648 chưa quy định rõ các trường hợp mà thời hiệu khởi kiện thừa kế phải được tính lại từ đầu

    Theo quy định tại Điều 171, khoản 1, điểm c, thì thời hiệu khởi kiện được tính lại từ đầu khi các bên tự hoà giải với nhau. Như vậy, nếu những người thừa kế có thoả thuận được với nhau thì thời hiệu khởi kiện thừa kế 10 năm sẽ được tính từ ngày thoả thuận giữa những người được xác lập, chứ không tính từ ngày mở thừa kế như quy định tại Điều 648. Tuy nhiên, quy định này cũng có nhiều ý kiến chưa thống nhất.

    ý kiến thứ nhất cho rằng, trong quá trình giải quyết tranh chấp di sản, nếu những người thừa kế hoà giải, thoả thuận được với nhau thì thời hiệu khởi kiện thừa kế sẽ bắt đầu lại theo quy định tại Điều 171, khoản 1, điểm c như vừa trình bày.

    ý kiến thứ hai cho rằng, căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện quy định ở Điều 171 khoản 1, điểm c chỉ có thể áp dụng với giao dịch dân sự chứ không áp dụng đối với mọi loại thời hiệu khởi kiện, nên không áp dụng đối với thời hiệu khởi kiện về thừa kế.

    Quan điểm thứ nhất không hoàn toàn thuyết phục, vì trong trường hợp hoà giải của đương sự đã được toà án công nhận bằng một quyết định hay bản án có hiệu lực pháp luật, thì người tham gia tố tụng không được khởi kiện lại vì vụ án đã được giải quyết, trừ trường hợp hoà giải và rút đơn kiện. Còn hoà giải sau khi thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết thì cũng không bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vì người thừa kế không còn quyền khởi kiện. Quan điểm thứ hai rõ ràng là suy đoán chủ quan, vì quy định tại Điều 171 của BLDS không quy định điều luật này chỉ áp dụng cho thời hiệu khởi kiện đối với các giao dịch dân sự mà không áp dụng cho thời hiệu khởi kiện thừa kế. Vì thế, khi những người thừa kế thoả thuận, hoà giải được với nhau thì sự kiện đó cũng làm cho thời hiệu khởi kiện thừa kế được bắt đầu lại, nếu hội đủ các điều kiện pháp luật quy định.

    6. Thừa kế di sản là tài sản chung của vợ, chồng trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đòi chia thừa kế đối với di sản của người chết trước đã hết, nhưng thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản của người chết sau vẫn còn trong hạn luật định

    Thực tế có nhiều trường hợp người vợ và người chồng chết cách nhau quá 10 năm Nay các thừa kế tranh chấp di sản là tài sản chung của họ, thì giải quyết như thế nào?

    dụ: ông A và bà B có 3 người con là C, D, E. Tài sản chung của ông và bà B là ngôi nhà trị giá 600 triệu đồng. Ông A chết năm 1991, bà B và anh C vẫn ở trong ngôi nhà. Bà B chết năm 2002, anh C tiếp tục quản lý và sử dụng ngôi nhà chung của bố, mẹ. Năm 2003, E đã khởi kiện yêu cầu Toà án chia thừa kế ngôi nhà của bố, mẹ mà anh C đang quản lý, hưởng dụng. Vậy có nên Về trường hợp này, có 3 ý kiến khác nhau:

    ý kiến thứ nhất cho rằng: từ khi ông A chết (năm 1991) đến khi E khởi kiện (năm 2003) là 12 năm, theo quy định tại Điều 36 PLTK thì thời hiệu khởi kiện đòi chia thừa kế của ông A đã hết. Yêu cầu của E chỉ được Toà án xem xét đối với phần di sản của bà B. Toà án không giải quyết yêu cầu của E liên quan đến phần di sản của ông A.

    ý kiến thứ hai cho rằng: nhà ở là bất động sản, có thời hiệu xác lập quyền sở hữu là 30 năm, nên tuy thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với ông A không còn, nhưng người thừa kế vẫn có quyền khởi kiện đòi nhà theo quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản. Bởi lẽ, thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết chỉ làm chấm dứt quyền khởi kiện của người thừa kế chứ không phải là căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với di sản.

    ý kiến thứ ba cho rằng phần di sản của ông A do bà B quản lý, hưởng dụng từ khi ông A chết với tư cách là đồng sở hữu chủ. Trong thời gian bà B quản lý, nếu không có ai khởi kiện đòi chia thừa kế, thì phần di sản của ông A để lại cũng đã thuộc về bà B. Bà B được xác lập quyền sở hữu trên toàn bộ tài sản chung của vợ, chồng. Khi bà B chết, toàn bộ tài sản chung của bà với ông A phải được xem là tài sản riêng của bà B. Do đó, anh E có quyền đòi chia thừa kế đối với toàn bộ di sản.

    Thực tế có Toà án đã đưa toàn bộ di sản của vợ, chồng ra chia thừa kế, có Toà án chỉ chia phần di sản của người chết sau, có Toà án không thụ lý giải quyết6. Toà Dân sự- TAND Tối cao đã hướng dẫn các Toà án địa phương giải quyết vấn đề này theo theo hướng chấp nhận một phần các ý kiến nêu trên và “tuỳ trường hợp mà xử lý…”7.

    Theo quan điểm của chúng tôi, ý kiến của Toà dân sự – TAND tối cao như vừa trình bày cũng như cả ba ý kiến trên đều chưa có sự thuyết phục.

    ý kiến thứ nhất trong nhiều trường hợp cũng chưa phù hợp, vì nếu con cái mà đi kiện người cha hay người mẹ còn sống, người đã sinh thành và nuôi dạy mình nên người, đuổi họ ra khỏi ngôi nhà là tài sản chung của họ với người quá cố, để chia thừa kế thì có đúng luật, nhưng không phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ngược lại, nếu người thừa kế đã không khởi kiện trong thời hiệu, chờ đến khi người cha hoặc mẹ còn lại qua đời mới khởi kiện, thì việc ấy tuy có phù hợp với đạo đức, nhưng không được pháp luật công nhận. Căn cứ Điều 648 mà tuyên bố hết thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp này thì tuy hợp lý, nhưng không hợp tình.

    ý kiến thứ hai cũng không thuyết phục vì còn vướng hai yêu cầu pháp lý: Một là, người thừa kế đã không có quyền khởi kiện về thừa kế do thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết; Hai là, trên thực tế, người thừa kế vẫn chưa có tư cách của sở hữu chủ (hoặc người chiếm hữu hợp pháp), nên họ không có tư cách pháp lý để khởi kiện người đang thực tế chiếm hữu di sản phải hoàn trả tài sản đó được.

    ý kiến thứ ba cũng chưa hợp lý vì trên thực tế, thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản thừa kế của người chết trước đã hết. Sau 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà không có căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện hoặc không được kéo dài thời hiệu, thì thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết, người có quyền khởi kiện đã mất quyền khởi kiện. Mặt khác, sau

    10 năm kể từ ngày mở thừa kế, di sản do người chết để lại cũng không đương nhiên thuộc quyền sở hữu của người vợ hay người chồng còn sống. Do vậy, khi người còn lại chết, phần tài sản của người vợ hay người chồng chết trước chưa phải là tài sản riêng của người chết sau, nên không phải là di sản của người chết sau. Công nhận tài sản chung của vợ, chồng là tài sản riêng của người chết sau để chia thừa kế là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế của người chết trước.

    ý kiến của Toà dân sự -TAND tối cao, cũng còn nhiều sơ hở. Thứ nhất, đối với bất động sản như nhà, quyền sử dụng đất, công trình kiến trúc, v-ờn cây lâu năm… thì thời hiệu xác lập quyền sở hữu trong trường hợp tương ứng là 30 năm. Vì thế, chỉ với những di sản là bất động sản của người chết đã được người vợ hoặc chồng còn sống tiếp tục quản lý, hưởng dụng liên tục sau 30 năm kể từ ngày mở thừa kế, thì phần di sản đó mới được coi là tài sản riêng của của người vợ hoặc chồng còn sống. Lẽ tất nhiên, phần di sản của người vợ hay chồng chết trước để lại không thể trở thành di sản của người chết sau, nên không thể chia thừa kế cho người thừa kế của chết sau. Thứ hai, hướng dẫn của Toà Dân sự-TAND Tối cao chưa nhất quán trong hai trường hợp: người chết sau chỉ có thể để lại thừa kế đối với toàn bộ tài sản chung với người vợ hay người chồng chết

    trước, nếu họ là người thừa kế duy nhất ở hàng thứ nhất của người chết trước và đang thực tế quản di sản; còn nếu người vợ hay chồng chết trước có nhiều người thừa kế ở hàng thứ nhất (bao gồm vợ hoặc chồng còn sống, cha, mẹ, các con) mà nay những người thừa kế ở hàng thứ nhất đó khởi kiện đòi thừa kế di sản của cả hai vợ chồng hoặc người chết sau không trực tiếp quản lý phần di sản do người chết trước để lại, thì Toà án chỉ có thể giải quyết đối với phần di sản của người chết sau (còn thời hiệu), còn đối phần di sản của người vợ hay người chồng chết trước thì tách ra không giải quyết. Chúng tôi không đồng ý với ý kiến này của Toà dân sự. Vì thật ra, hai trường hợp này không có gì khác nhau. Một câu hỏi mà chúng tôi rất lấy làm băn khoăn là nếu giải quyết theo hướng này, phần di sản của người vợ hay chồng chết trước không được chia thừa kế cho ai cả thì sẽ do ai hưởng, hưởng theo cơ sở pháp lý nào? Cần lưu ý là phần di sản đó cũng không thuộc về người vợ hay chồng chết sau vì nếu phần di sản đó thuộc quyền sở hữu của người chết sau thì đã được chia thừa kế cho những người thừa kế của họ. Nếu câu hỏi này không được phúc đáp, thì việc tranh chấp sẽ càng trở nên phức tạp hơn, do phần di sản của người chết trước được tách ra, không được toà án giải quyết nhưng chúng cũng chẳng thuộc quyền sở hữu của ai cả. Về pháp lý, người thực tế đang quản lý di sản cũng không thể xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản của người chết trước để lại, do thủ tục hành chính đòi hỏi phải có bằng chứng về việc được hưởng thừa kế hợp pháp (di chúc hợp pháp chỉ định họ được hưởng thừa kế phần đó) hoặc có sự thoả thuận, cam kết của các đồng thừa kế giao tài sản đó cho họ hưởng (mà điều này thì không xảy ra, vì phần di sản đó đang bị tranh chấp). Còn nếu di sản thừa kế là một bất động sản không người thừa kế, thì Nhà nước xác lập quyền sở hữu theo quy chế hưởng tài sản vô chủ, mà như vậy thì thật vô lý và không phù hợp với tập quán.

    Thực tiễn khá phổ biến trong xã hội ta hiện nay đối trường hợp một bên vợ hay chồng đã chết mà các con chung của họ chưa thành niên, thì người vợ hay chồng còn sống vẫn sẽ tiếp tục quản lý tài sản chung của vợ chồng và nuôi dạy các con. Trường hợp này, pháp luật quy định một bên còn sống đại diện cho con chưa thành niên và có quyền quản lý tài sản của các con để thực hiện việc chăm sóc và nuôi day chúng. Những người con chưa thành niên sẽ rất khó tự mình khởi kiện để đòi chia thừa kế di sản của người cha, mẹ đã chết để lại. Nếu sau này, những người con đó trưởng thành và muốn khởi kiện đòi chia thừa kế, nhưng thời hiệu khởi kiện chỉ được trừ ra có một năm như quy định tại Điều 170 của BLDS, thì quyền lợi hợp pháp của họ không được đảm bảo. Tình trạng không yêu cầu phân chia di sản là tài sản chung của vợ chồng khi một bên còn sống là hết sức phổ biến, vì không ai nỡ đuổi ông, bà hay cha, mẹ còn sống ra khởi nơi nương náu của gia đình để giành chia nhau tài sản.

    Vì thế theo chúng tôi, không nên áp dụng máy móc Điều 648 để từ chối giải quyết yêu cầu chia thừa kế trong trường hợp trên. Cơ quan thực thi pháp luật nên giải quyết vấn đề này theo hướng cho phép con (hoặc cháu hay chắt được thừa kế thế vị) được hưởng quyền khởi kiện thừa kế, bắt đầu tính từ thời điểm người sau cùng chết, giống như trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện hoặc không tính vào thời hiệu khởi kiện7.

    Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan theo một trong ba phương án sau đây:

    Phương án 1: Đối với phần di sản của người vợ hay người chồng đã chết mà người còn sống vẫn quản lý, hưởng dụng đến sau

    10 năm tính từ ngày mở thừa kế, mà không có ai khởi kiện đòi chia thừa kế, thì người vợ hay người chồng còn sống được xác lập quyền sở hữu. Phương án này cho phép những người thừa kế của người chết sau (có thể họ đồng thời cũng là người thừa kế hợp pháp của người chết trước như con đẻ, con nuôi…) được quyền khởi kiện đòi chia thừa kế không chỉ đối với một phần di sản của người chết sau mà còn có thể đòi thừa kế trên toàn bộ di sản. Tuy vậy, phương án này có những điều khó khăn sau đây:

    (i) Thứ nhất, để có thể áp dụng các quy định này, trước hết, phải sửa đổi, bổ sung thêm quy định tại Điều 176 của BLDS về căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu: “Người vợ hay chồng còn sống trực tiếp quản lý, hưởng dụng đối với phần di sản của người đã chết trong khối tài sản chung của vợ, chồng cho đến khi hết thời hiệu khởi kiện thì được xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản đó”; đồng thời bổ sung khoản 5 Điều 648 về căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện: “Khi thời hiệu khởi kiện đã hết thì người thừa kế đang trực tiếp quản lý di sản được xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản đó”.

    (ii) Thứ hai, phương án này tạo ra bất hợp lý là những người thừa kế hợp pháp của người chết sau không đồng thời là người thừa kế của người chết trước (như cha, mẹ, con riêng, con nuôi, vợ, chồng, con với đời vợ hay đời chồng sau…) cũng được hưởng toàn bộ tài sản chung của vợ, chồng người chết sau và người chết trước, trong khi những người thừa kế khác ở hàng thứ nhất của người chết trước (con riêng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi…) lại bị mất quyền khởi kiện.

    Phương án 2: kéo dài thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với bất động sản sao cho có thời hiệu tương ứng với thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản quy định tại khoản 1, Điều 255 của BLDS. Do đó, sửa đổi Điều 640 theo hướng quy định về hai thời hiệu khởi kiện khác nhau: “thời hiệu khởi kiện thừa kế di sản đối với động sản là 10 năm và đối với bất động sản là 30 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế”. Phương án cũng sẽ có những vấn đề phức tạp như sau:

    (i) Quy định không nhất quán về thời hiệu khởi kiện thừa kế sẽ làm cho việc xét xử loại việc này trở nên rắc rối và phức tạp;

    (ii) Thời hiệu khởi kiện 30 năm là đồng nhất với thời hiệu xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu và thực tế chứng minh, thời hiệu như thế là quá dài, nhiều trường hợp di sản hoặc không còn tồn tại hoặc do sự biến thiên lớn về giá trị khiến cho việc xác định giá trị di sản để chia thừa kế là rất khó khăn;

    (iii) Vẫn không khuyến khích việc duy trì đạo hiếu của người Việt Nam đối với ông, bà, cha, mẹ vì nếu người thừa kế không kiện trong thời hiệu luật định thì họ vẫn lại mất quyền khởi kiện…

    Phương án 3: bổ sung thêm một căn cứ làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện là trường hợp: người thừa kế là con, cháu của người chết đã không kiện để tranh giành di sản thừa kế do một bên chết để lại, khi một bên vợ hoặc chồng của người để lại di sản đang còn sống. Phương án này cũng có những điểm khó khăn do khoảng thời gian không tính vào thời hiệu là khá dài, nên những biến đổi trong quá trình tôn tạo, tu bổ hoặc quá trình hao mòn, tiêu huỷ của khối di sản dẫn đến việc xác định giá trị ban đầu của di sản là rất khó khăn. Tuy vậy, theo chúng tôi, phương án 3 là phương án tối ưu hơn cả so với hai phương án 1 và 2. Chỉ lưu ý rằng, phương án này chỉ áp dụng hạn chế trong một trường hợp duy nhất đối với con, cháu có quyền khởi kiện đòi chia thừa kế của cha, mẹ hoặc ông bà, nhưng đã không khởi kiện vì một bên vợ hay chồng còn sống và đang quản lý tải sản là cha-mẹ hoặc ông bà của mình, tránh làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người đang thực tế quản lý tài sản (ví dụ: người quản lý, hưởng dụng đang bệnh nặng, hoặc là người già yếu, hoặc đang mang thai, đang nuôi con nhỏ hoặc nuôi cả gia đình…).

    Bởi thế, chúng tôi chọn phương án ba để kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế, cụ thể là thiết kế thành điểm d, khoản 4 (bổ sung) Điều 648 như sau:

    “Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 170 Bộ luật này, những trường hợp sau đây cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa kế:

    d). Khoảng thời gian từ khi mở thừa kế di sản của người chết trước cho đến khi mở thừa kế của người chết sau, trong trường hợp di sản là tài sản chung của vợ, chồng chết vào hai thời điểm khác nhau và người có quyền khởi kiện là các con hoặc cháu hay chắt của họ”.

    =======================================================

    1 Báo cáo tham luận của Toà dân sự TAND tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành toà án năm 2003 có đưa ra hai phương án như sau:

    – Phương án 1: áp dụng quy định tại Điều 648, BLDS để hướng dẫn thời hiệu khởi kiện là 10 năm.

    – Phương án 2: Do BLDS không quy định thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp nói trên, nên thời hiệu khởi kiện loại việc này không bị hạn chế về thời gian.

    2 Xem Nghị quyết ngày 28-10-1995 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự Thông t– liên ngành số 03 ngày 10/8/1996 của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    3 Xem Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam 2000: Điều 30 (thời hiệu 3 năm), Luật Th-ơng mại Việt Nam 1997: Điều 242 (2 năm), Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam 1991: Điều 81 (1 năm), Bộ luật Dân sự Sài Gòn 1972:

    các Điều 1475-1478, Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp: Điều 91, Bộ luật Dân sự CHLB Đức: Điều 196, Những nguyên tắc chung của Luật Dân sự CHND Trung Hoa 1986: Điều 135- 136, Bộ luật Dân sự Nhật Bản: Điều 173- 174 cũng quy định thời hiệu khởi kiện từ 1-4 năm đối với các loại nghĩa vụ trên.

    4 Đời thứ nhất từ thời bố mẹ của cụ (gọi cao tổ); các cụ ( tăng tổ) là đời thứ hai; ông – bà là đời thứ ba, cha mẹ đời thứ , con cháu đời thứ năm. Do đó, từ đời cao tổ trở về trước thì không cúng giỗ riêng cúng giỗ chung một lần vào đầu năm.

    5 Điều 31 LHN&GĐ cũng quy định trường hợp việc phân chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một bên vợ hoặc chồng còn sống, thì bên còn sống quyền yêu cầu toà án chưa chia di sản trong một thời hạn nhất định. Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định này tại điểm b, mục 4 Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 23 – 12 – 2000 xác định thời gian chưa chia di sản trong trường hợp nói trên là 3 năm.

    6 Xem báo cáo tham luận của Toà án Dân sự –TAND tối cao tại hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 2003, tr.5.

    6 Báo cáo tham luận của Toà án dân sự- TAND tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 2003, tr.5 hướng dẫn về vấn đề này như sau: “…đối với loại việc này, tuỳ từng trường hợp mà xử lý như sau:

    +Nếu người vợ hoặc người chồng chết trước chỉ một người thừa kế hàng thứ nhất chính người vợ hoặc người chồng còn sống, họ đã thực hiện trên thực tế việc hưởng quyền thừa kế của người chết trước thì khối tài sản của họ đã bao gồm phần di sản của người chết trước. Do đó không cần tách bạch phần di sản của người chết trước với phần di sản của người chết sau. Hay nói cách khác, thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản của người vợ hay người chồng chết trước đã hết không ảnh hưởng đến việc những người thừa kế của người chết sau xin chia toàn bộ khối di sản đó. Còn nếu người thừa kế hàng thứ 2, thứ 3 của người chết trước xin hưởng di sản của người chết trước thì toà án không chấp nhận đơn của họ.

    + Nếu phần di sản của người vợ hoặc người chồng chết trước chưa chuyển hoá sang người khác, nay thời hiệu khởi kiện không còn, các thừa kế kiện yêu cầu chia di sản của người này thì toà án không thụ lý giải quyết nếu họ xin chia thừa kế của người vợ hoặc người chồng chết sau (còn thời hiệu) thì thụ giải quyết, toà án cần tách bạch phần di sản của người chết trước người chết sau toà án chỉ cần giải quyết phần di sản của người chết sau còn thời hiệu khởi kiện theo thủ tục chung”. (Phần di sản hết thời hiệu khởi kiện thì áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để trả lại đơn khởi kiện, nếu chưa thụ lý (Khoản 2, Điều 36) hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu đã thụ lý (khoản 4, Điều 46).

    7 Trong tình huống này thì cả hai trường hợp trên đều tương tự như nhau khoảng thời gian từ khi mở thừa kế di sản của người chết trước cho đến khi mở thừa kế của người chết sau khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện. Điều này đồng nghĩa với việc chưa từng áp dụng thời hiệu, nên thời hiệu vẫn tính lại từ đầu 10 năm từ ngày người sau cùng chết.

    ========================================

    SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 9/2004

    KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 48-NQ/TƯ NGÀY 24 THÁNG 5 NĂM 2005 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020 – Giai đoạn 2007 – 2012

    A. MỤC TIÊU
    Cụ thể hoá các định hướng trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (sau đây gọi là Chiến lược xây dựng pháp luật) thành những nhiệm vụ, đề án cần ưu tiên tập trung thực hiện trong giai đoạn 2007-2012 nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch với trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

    B. YÊU CẦU

    Kế hoạch thực hiện Chiến lược xây dựng pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:   
    1. Xác định rõ các nhiệm vụ, đề án với thứ tự ưu tiên hợp lý và lộ trình cụ thể, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trong giai đoạn từ nay đến năm 2012; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, đồng bộ giữa nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật;
    2. Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ quá trình thực hiện Chiến lược xây dựng pháp luật với thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế 2 – xã hội, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước và Chiến lược cải cách tư pháp;
    3. Dự tính đầy đủ các điều kiện bảo đảm về nhân lực, vật lực, thời gian cho việc triển khai một cách hiệu quả các nội dung của Chiến lược xây dựng pháp luật.

    C. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN 2012


    I. VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT


    1. Xây dựng và tổ chức triển khai Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh giai đoạn 2007-2012 phù hợp với yêu cầu trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Xây dựng và triển khai Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007-2012). Chương trình phải đáp ứng yêu cầu thể chế hoá đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Chiến lược xây dựng pháp luật, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, Chiến lược cải cách tư pháp; bảo đảm ưu tiên xây dựng những dự án luật, pháp lệnh trọng tâm, có tính khả thi cao, phù hợp yêu cầu thực hiện các cam kết của Việt Nam và thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh giai đoạn 2007-2012 cần tập trung vào các ưu tiên sau:


    1.1. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân:


    a) Trong lĩnh vực lập pháp
    ,ưu tiên hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội; đổi mới quy trình xây dựng và chuẩn mực thể thức văn bản quy phạm pháp luật.
    Đổi mới chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ theo hướng bảo đảm tính khoa học, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm của hoạt động lập pháp, lập quy. Các chương trình, kế hoạch lập pháp, lập quy phải bao gồm cả cơ chế, biện pháp bảo đảm thực hiện ngân sách dành cho hoạt động lập pháp, lập quy và ngân sách dành cho việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành.
    Mục tiêu đến năm 2012 là hệ thống pháp luật phải thực sự đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi, trong đó luật giữ vai trò chủ đạo. Luật phải quy định cụ thể, bảo đảm thi hành được ngay khi có hiệu lực (trừ các điều luật được quy định là phải có văn bản hướng dẫn chi tiết); giảm tối đa việc ban hành pháp lệnh, nghị định độc lập, văn bản hướng dẫn thi hành.
    Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới một số luật quan trọng như Luật tổ chức Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (trên cơ sở hai luật hiện hành về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương), luật về công báo, về quyền tiếp cận thông tin và phổ biến pháp luật…

    b) Trong lĩnh vực thực thi pháp luật
    , ưu tiên hoàn thiện pháp luật về tổ chức, cán bộ và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước phù hợp với mục tiêu, yêu cầu cải cách hành chính nhà nước; tập trung vào việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tăng cường chức năng hành pháp của Chính phủ, gọn nhẹ về tổ chức, bảo đảm hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại, phục vụ nhân dân. Luật hoá cơ cấu tổ chức của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với trung ương. Hoàn thiện thể chế pháp lý trong một số lĩnh vực trọng điểm, liên quan trực tiếp đến người dân như công chức, công vụ, cải cách thủ tục hành chính, khiếu nại, tố cáo, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán….; xã hội hoá một số dịch vụ công.
    Ưu tiên sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật quản lý và sử dụng tài sản nhà nước, Luật công vụ, Luật bồi thường nhà nước, Luật thủ tục hành chính, Bộ luật xử lý vi phạm hành chính, Luật khiếu nại và giải quyết khiếu nại, Luật tố cáo và giải quyết tố cáo….
    Rà soát, ban hành mới các văn bản pháp luật nhằm khắc phục những sơ hở về thể chế, phục vụ việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực trọng điểm như xây dựng cơ bản, quản lý tài chính, y tế, giáo dục, đất đai…. 

    c) Trong lĩnh vực tư pháp
    ,ưu tiên hoàn thiện một số văn bản pháp luật phù hợp với mục tiêu, nội dung và Chương trình hành động triển khai Chiến lược cải cách tư pháp.
    Tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức các cơ quan tư pháp, bảo đảm tổ chức hệ thống Toà án theo cấp xét xử; mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án hành chính, hoàn thiện chính sách hình sự, cải cách thủ tục tố tụng tư pháp; bảo đảm sự tham gia của nhân dân, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Cụ thể, cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho hoạt động cải cách tư pháp trong thời gian tới, như các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức Toà án nhân dân, tổ chức Viện công tố, tổ chức điều tra hình sự, Bộ luật thi hành án, Bộ luật tố tụng hành chính, Luật đặc xá, Luật tương trợ tư pháp, Luật lý lịch tư pháp, Luật giám định tư pháp, sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự; nghiên cứu xây dựng các văn bản pháp luật về chống khủng bố quốc tế, tội phạm rửa tiền, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia….
    d) Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế khác trong hệ thống chính trịphù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới và không ngừng hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm để mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Về tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật công đoàn, ban hành Luật nông dân, Luật cựu chiến binh, Luật người cao tuổi…. phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay.
    1.2.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Củng cố sơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước; hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức. Sửa đổi, bổ sung Luật báo chí, ban hành Luật về hội, Luật trưng cầu ý dân, luật biểu tình, luật hoặc pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở cơ sở …

    1.3. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
    tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm sau:
    a) Các thể chế pháp lý bảo đảm sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, bảo đảm sự bình đẳng trong phát triển các loại hình doanh nghiệp. Mọi công dân đều có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, trong tiếp cận thông tin, cơ hội và nguồn lực kinh doanh. Cải thiện môi trường đầu tư, đa dạng hoá các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng;

    b)
    Các thể chế pháp lý bảo đảm phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh (thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường sức lao động, thị trường khoa học và công nghệ…). Ưu tiên ban hành Luật sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào kinh doanh, Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, Luật đầu tư công, Luật ngân hàng nhà nước (sửa đổi), Luật thuế sử dụng đất, Luật thuế tài sản, Bộ luật lao động (sửa đổi)..;
    c) Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên và môi trường theo nguyên tắc quản lý chặt chẽ, bảo đảm phát triển bền vững, kết hợp hài hoà giữa việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

    1.4. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, y tế, văn hoá – thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình và trẻ em.


    Xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhằm thể chế hoá chủ trương xã hội hoá trong các lĩnh vực văn hóa – xã hội; khuyến khích phát triển các ngành khoa học mới, công nghệ cao; xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo; hoàn thiện pháp luật về báo chí, xuất bản, dược, khám bệnh, chữa bệnh, dân số, bảo vệ gia đình và trẻ em, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, người tàn tật, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống các bệnh truyền nhiễm, phòng chống bạo lực trong gia đình….; bảo đảm gắn kết mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.

    1.5. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh
    .
    Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh nhằm xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Hoàn thiện pháp luật về biên giới quốc gia, vùng biển, vùng trời, tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật an ninh nhân dân, Luật cảnh sát nhân dân, Luật các vùng biển Việt Nam…

    1.6. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật phục vụ hội nhập quốc tế

    Thực hiện nội luật hoá các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế, bảo đảm hệ thống pháp luật hài hoà với các chuẩn mực quốc tế và khu vực. Ưu tiên rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các cam kết, chuẩn mực trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; chú trọng đến các lĩnh vực như pháp luật về các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp khác trong thương mại, đầu tư, vay vốn, sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường, thuế quan, thanh toán quốc tế,… Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật trọng tài thương mại, Luật tương trợ tư pháp, Luật bưu chính, viễn thông…
    1.7. Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giám sát tối cao của Quốc hội và cơ chế bảo vệ hiến pháp. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền; có cơ chế phán quyết và xử lý những hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
    Việc phân công cơ quan chủ trì, cơ quan thực hiện, thời gian thực hiện đối với các điểm từ 1.1 đến 1.7 như sau:

    Cơ quan chủ trì:                     
    Uỷ ban thường vụ Quốc hội
    Cơ quan thực hiện chính:         Chính phủ (Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan), Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Thời gian thực hiện:                
    Giai đoạn 2007-2012

    1.8. Xây dựng và triển khai kế hoạch ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh phù hợp với tiến độ của Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007-2012)


    Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình và theo quy định của luật, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tập trung giải quyết dứt điểm tình trạng nợ nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI; đồng thời chủ động xây dựng và triển khai kịp thời kế hoạch ban hành văn bản hướng dẫn luật, pháp lệnh của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XII, tiến tới chấm dứt tình trạng luật đã có hiệu lực nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thi hành theo yêu cầu của Chiến lược.

    Cơ quan chủ trì:            
    Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    Cơ quan thực hiện:       
    Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan.

    Thời gian thực hiện:        
    Năm 2007 và các năm tiếp theo

    2. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992

    Trong trường hợp việc đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước có những nội dung liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 thì xúc tiến việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    Cơ quan chủ trì: Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp 1992 do Quốc hội quyết định thành lập

    Cơ quan thực hiện:       
    Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007-2010

    3. Tổng rà soát hệ thống pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật sai trái.

    3.1.Xây dựng và thực hiện Chương trình tổng rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam,thường xuyên rà soát, hệ thống hoá và pháp điển hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực theo các tiêu chí khoa học, dễ cập nhật, dễ tra cứu và dễ sử dụng; định kỳ công bố các tập hệ thống hoá văn bản pháp luật nhằm đáp ứng các yêu cầu về phổ biến, giáo dục pháp luật và nhu cầu tìm hiểu, thực hiện pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    Cơ quan chủ trì: Chính phủ

    Cơ quan thực hiện:
    Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

    Cơ quan phối hợp:        
    Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 –2012

    3.2. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật,
    bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch của hệ thống pháp luật.

    Cơ quan chủ trì:            
    Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Cơ quan thực hiện:       
    Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 –2012

    4. Nghiên cứu, xây dựng các tập án lệ
    Nghiên cứu xây dựng các tập án lệ và khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế), quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật. 

    Cơ quan chủ trì:            
    Toà án nhân dân tối cao

    Cơ quan phối hợp:        
    Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan, Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam và các tổ chức thành viên

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 -2012

    II. TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA CÁC THIẾT CHẾ XÂY DỰNG VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT


    1.
    Thực hiện các giải pháp tăng cường năng lực hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội.
    Tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc hội phù hợp với tình hình thực tế; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội. Tăng cường bộ máy giúp việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật, sớm nghiên cứu xây dựng Viện nghiên cứu lập pháp và Thư viện Quốc hội phục vụ cho công tác lập pháp.

    Cơ quan chủ trì:            
    Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Cơ quan thực hiện:       
    Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2010  
    2. Xây dựng cơ chế huy động hiệu quả trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và thi hành pháp luật; hình thành một số cơ chế cụ thể thu hút các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học, các hội khoa học – kỹ thuật và các chuyên gia giỏi tham gia xây dựng pháp luật.  

    Cơ quan chủ trì:            
    Chính phủ

    Cơ quan thực hiện:       
    Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan

    Cơ quan phối hợp:        
    Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2012

    3. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành pháp luật
    phù hợp với nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, Chiến lược xây dựng pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp.
    Trước mắt tập trung vào các vấn đề trọng tâm là hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ X, hoàn thiện cơ cấu Chính phủ, tiếp tục sắp xếp các cơ quan thuộc Chính phủ phù hợp với các luật mới về tổ chức của Chính phủ, bảo đảm sự minh bạch, rành mạch, rõ ràng, không chồng chéo về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ trách nhiệm.

    Cơ quan chủ trì:            
    Chính phủ

    Cơ quan thực hiện:        
    Các bộ, ngành hữu quan, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2010

    III. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN VÀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT, TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT


    1. Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến mọi cơ quan, tổ chức, tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp, các đối tác nước ngoài
    về nội dung và kế hoạch, lộ trình triển khai Chiến lược xây dựng pháp luật.

    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá – Thông tin, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên

    Cơ quan thực hiện:       
    Các bộ, ban ngành liên quan, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các phương tiện thông tin đại chúng trung ương và địa phương

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 -2012

    2. Tăng cường chất lượng công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật
    theo nội dung của Chiến lược xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao văn hóa pháp luật trong nhân dân.

    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá – Thông tin

    Cơ quan phối hợp:        
    Bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các cơ quan thông tin đại chúng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007-2012

    3. Phát triển đội ngũ luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu về trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật của người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.


    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp

    Cơ quan phối hợp:        
    Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội luật gia Việt Nam, các Đoàn luật sư (tổ chức Luật sư toàn quốc)

    Thời gian thực hiện:       Giai đoạn 2007-2012

    4. Củng cố, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông tin pháp luật hiện có; phát triển các kênh thông tin, diễn đàn để tiếp nhận, trao đổi, xử lý, phản hồi ý kiến của người dân trong việc hoạch định chính sách, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

    Cơ quan chủ trì:            
    Chính phủ (các bộ, ngành)

    Cơ quan phối hợp:        
    Hội luật gia Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội khác.

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2012
    5. Tăng cường năng lực của Công báo, bảo đảm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính có hiệu lực áp dụng chung của các cơ quan trung ương, địa phương được đưa vào công báo và phổ biến đến người dân.

    Cơ quan chủ trì:            
    Văn phòng Chính phủ

    Cơ quan phối hợp:        
    Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các bộ, ngành hữu quan

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2012

    6. Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về văn bản điều ước quốc tế và bổ sung cho nguồn thông tin của Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia.


    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp

    Cơ quan phối hợp:        
    Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hoá – Thông tin, Bộ Bưu chính, Viễn thông

    Thời gian thực hiện:      
    Năm 2007 – 2008
    7. Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển các hình thức tổ chức dịch vụ thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên, hoà giải viên ở cơ sở, luật sư, trợ giúp viên pháp lý làm công tác tư vấn pháp luật; hoàn chỉnh chương trình, nội dung giáo dục pháp luật cho các cấp học và bậc học (chương trình dưới đại học); củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động hoà giải ở cơ sở; áp dụng rộng rãi việc giải đáp pháp luật thông qua điện thoại miễn phí; tiếp tục hoàn thiện các tài liệu, chương trình và tổ chức thực hiện trên diện rộng chương trình quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật; các tài liệu nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật dành cho các nhóm đối tượng.

    Cơ quan chủ trì:            
    Chính phủ

    Cơ quan thực hiện:       
    Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá – Thông tin, Bộ Bưu chính, Viễn thông

    Cơ quan phối hợp:        
    Các bộ, ngành hữu quan, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2010

    IV. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC LÀM CÔNG TÁC PHÁP LUẬT


    1. Tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo luật và đào tạo nghề luật
    nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực thực sự có trình độ cho công cuộc cải cách kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật; tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở đào tạo pháp luật; kiện toàn tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ sở đào tạo pháp luật cơ bản theo hướng tập trung đầu mối quản lý nhà nước, phân bổ hợp lý về địa lý, phát huy thế mạnh của từng cơ sở đào tạo. Kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ sở đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ, công chức và các chức danh tư pháp theo hướng thu gọn đầu mối và bảo đảm gắn kết giữa đào tạo và bồi dưỡng. Ưu tiên xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Tư pháp trở thành các trung tâm đào tạo luật và đào tạo các chức danh tư pháp ngang tầm với các trung tâm lớn trong khu vực ASEAN.     

    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp

    Cơ quan phối hợp:        
    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức hữu quan

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2010

    2. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên và học viên dưới nhiều hình thức khác nhau,
    bảo đảm để khi trở thành thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, các chức danh tư pháp khác họ là người có đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp

    Cơ quan phối hợp:        
    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các hiệp hội nghề nghiệp liên quan

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2012

    V. ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP


    1. Đẩy mạnh công tác ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.
    Ưu tiên ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ môi trường, giải quyết tranh chấp thương mại, chống khủng bố, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng, chống buôn bán người…

    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp

    Cơ quan phối hợp:        
    Các bộ, ngành hữu quan

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007-2012

    2. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác ký kết, thẩm định và thực hiện các điều ước quốc tế.


    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Ngoại giao

    Cơ quan phối hợp:        
    Bộ Tư pháp và các bộ, ngành hữu quan

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007-2012

    3. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.


    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp

    Cơ quan phối hợp:        
    Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,  Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành hữu quan, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007-2012

    4. Mở rộng liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo luật và nghề luật với các cơ sở đào tạo nước ngoài
    thông qua các dự án hợp tác quốc tế, đặc biệt là đối với cơ cở đào tạo có uy tín trên thế giới và khu vực. Kết hợp ngân sách nhà nước và các nguồn lực huy động được để mở rộng và hiện đại hoá cơ sở vật chất – kỹ thuật cho hoạt động đào tạo luật và đào tạo các chức danh tư pháp.

    Cơ quan chủ trì:            
    Bộ Tư pháp

    Cơ quan phối hợp:        
    Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức hữu quan

    Thời gian thực hiện:      
    Giai đoạn 2007 – 2012

    D. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1. Căn cứ vào Nghị quyết số 48-NQ/TW và Kế hoạch này, các cơ quan hữu quan khẩn trương xây dựng kế hoạch của bộ, ngành, cơ quan mình, trong đó xác định rõ các nội dung, hoạt động cụ thể, lộ trình và kế hoạch ban hành các văn bản pháp luật trong lĩnh được giao phụ trách, các điều kiện đảm bảo xây dựng pháp luật, tổ chức thực thi, phổ biến, tuyên truyền pháp luật.
    2. Căn cứ vào nội dung của Nghị quyết số 48-NQ/TW và Kế hoạch này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan theo dõi, giám sát việc xây dựng Chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật trên các lĩnh vực.

    Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    ===========================================

    SOURCE: WWW.VCCI.COM.VN

    MỘT SỐ BÀI VIẾT VỀ HỢP ĐỒNG TRÊN CÁC TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH

    1 Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đến nguyên tắc công bằng
    Phạm Hoàng Giang / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 10 . 28-31

    2. Ký hợp đồng bảo đảm trên cơ sở vi phạm hợp đồng tín dụng có được công nhận?
    Phan Văn / Thị trường Tài chính Tiền tệ ; 2006/Số 14 . 26-27, 35

    3. Sửa đổi Bộ luật Dân sự Việt Nam và vấn đề hoàn thiện chế định hợp đồng
    Hà Thị Mai Hiên / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 3 . 10-19

    4. Hợp đồng hoán đổi lãi suất và ứng dụng của nó trong quản trị tài chính doanh nghiệp
    Nguyễn Văn Thanh ;  Lê Huy Trọng / Tài chính ; 2005/Số 2 . 43-44

    5. Một số ý kiến về chế định hợp đồng vay tài sản trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)
    Trần Văn Biên / Nhà nước và pháp luật ; 2004/Số 09 . 50-57

    6. Hợp đồng EPC và tổng thầu Việt Nam
    Bỳ Văn Tứ / TC Nhà quản lý ; 2006/Số 39 . 32-33, 64

    7. Một số vấn đề về chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế theo Công ước Rome 19/6/1980 về Luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng
    Bùi Thị Thu / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 11 . 70-74

    8. Hợp đồng tương lai, giao dịch hợp đồng tương lai
    Bùi Thanh Lam / Tài chính ; 2007/Số 3 . 45-47, 53

    9. Hợp đồng quyền chọn và phương pháp hạch toán
    Nguyễn Trung Lập / TC Kế toán ; 2007/Số 65 . 34-35

    10. Ảnh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng đến hiệu lực hợp đồng
    Phạm Hoàng Giang / Nhà nước và pháp luật ; 2007/Số 3 . 47-51

    11. Về điều chỉnh nguy cơ không thực hiện hợp đồng trong Bộ luật dân sự
    Đỗ Văn Đại / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 1 . 21-24

    12. Hợp đồng lao động vô hiệu và giải pháp xử lý
    Lê Thị Hoài Thu / TC Lao động và xã hội ; 2007/Số 313 . 32-34,45

    13. Chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế theo công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng
    Bùi Thị Thu / TC Luật học ; 2005/Số 1 . 53-58

    14. Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh, hợp đồng xây dựng – chuyển giao
    / Kinh tế và dự báo ; 2007/Số 6 . 52-53

    15. Hợp đồng thương mại điện tử và thực trạng sử dụng trong doanh nghiệp Việt Nam
    Phạm Duy Liên / Nghiên cứu kinh tế ; 2004/Số 317 . 63-71

    16. Hội đồng mua bán tài sản
    Vũ Thị Lan Anh / Pháp lý ; 2005/Số 4 . 11-12

    17. Dùng hợp đồng kỳ hạn để bảo vệ giá cà phê
    / Khoa học-Kỹ thuật -Kinh tế ; 2004/Số 25/Kinh tế .

    18. Sẽ có thêm hai sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mới
    / Khoa học-Kỹ thuật -Kinh tế ; 2004/Số 37/Kinh tế .

    19. Ban hành nghị định về chuyển giao công nghệ
    / Khoa học Công nghệ Môi trường ; 2005/Số 4/Sự kiện .

    20. Ký bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước đóng tàu 53.000 DWT sang Anh
    / Khoa học-Kỹ thuật -Kinh tế ; 2004/Số 41/Kinh tế .

    21. Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm
    Nguyễn Ngọc Khánh / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 8 . 38-43

    22. Nghĩa vụ thuế đối với hợp đồng giao sau
    Trọng Bảo / TC Thuế Nhà nước ; 2006/Số 30 . 6-7,9

    23. Tính chất đền bù của hợp đồng dân sự
    Bùi Đăng Hiếu / TC Luật học ; 2006/Số 11 . 19-23

    24. Về hợp đồng mẫu trong cung ứng thương mại dịch vụ
    Phan Thảo Nguyên / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 4 . 54-56

    25. Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế
    Nguyễn Ngọc Khánh / Nghiên cứu Lập pháp ; 2007/Số 2 . 40-44

    26. Những bất cập của điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong luật kinh doanh bảo hiểm
    Phí Thị Quỳnh Nga / Nghiên cứu Lập pháp ; 2006/Số 10 . 51-52

    27. Những công cụ mới để nâng cao năng lực hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp
    / Tri thức và phát triển ; 2007/Số 4/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: .

    28. Tiêu thụ nông sản theo hợp đồng sau 4 năm thực hiện (2002-2006)
    Minh Hoài / TC Cộng sản ; 2006/Số 20 . 54-59

    29. Về giao dịch mua bán thông qua các hợp đồng tương lai
    Nguyễn Văn Thành / Tài chính ; 2006/Số 9 . 32-34

    30. Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
    Trần Vũ Hải / TC Luật học ; 2006/Số 7 . 8-13

    31. Thời điểm chấp nhận chào hàng của hợp đồng mua bán trong thương mại
    Nguyễn Quý Khuyến / TC Thương mại ; 2005/Số 20 . 27,31

    32. Hợp đồng lớn – Trách nhiệm cao
    Tô Ngọc / Cơ khí Việt Nam ; 2006/Số 109 . 14-15

    33. Hợp đồng lớn trách nhiệm cao
    Tô Ngọc / Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam ; 2006/Số 24 . 6-7

    34. Vai trò của án lệ với sự phát triển của pháp luật hợp đồng
    Phạm Hoàng Giang / Nghiên cứu Lập pháp ; 2007/Số 2 . 28-31

    35. Hạch toán rủi ro thay đổi tỷ giá bằng hợp đồng quyền chọn
    Nguyễn Phi Sơn / TC Kế toán ; 2006/Số 61 . 35-36

    36. Hợp đồng EPC và tổng thầu Việt Nam
    Bỳ Văn Tứ / TC xây dựng ; 2006/Số 10 . 4-7

    37. Tìm hiểu khái niệm “Hợp đồng công ti” trong pháp luật cộng hòa Pháp
    Lê Vệ Quốc / TC Luật học ; 2007/Số 2 . 66-71

    38. Hợp đồng cầm cố hay thế chấp? Chuyển giao thực tế hay hình thức?
    Phan Lãng / TC ngân hàng ; 2006/Số 13 . 16-17

    39. Tp. Hồ Chí Minh – Nỗ lực tiêu thụ nông sản qua hợp đồng
    Hồng Phúc / Thương nghiệp – Thị trường Việt Nam ; 2005/Số 7 . 25-26

    40. Mượn tiền là hợp đồng vay tài sản không có lãi
    Từ Văn Thiết / Dân chủ & Pháp luật ; 2005/Số 9 . 34, 40

    41. Một số nội dung trong hợp đồng chuyển giao công nghệ
    Lê Văn Hà / Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam ; 2005/Số 12 . 62-63

    42. Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
    Bùi Ngọc Cường / Nhà nước và pháp luật ; 2007/Số 7 . 38-45

    43. Về thực hiện chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng
    Lã Văn Lý / Quản lý nhà nước ; 2006/Số 11 . 28-31, 39

    44. Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam
    Bùi Ngọc Cường / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 5 . 47-53, 63

    45. Một số điểm mới về hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự 2005
    Nguyễn Thị Thục / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 3 . 28-30

    46. Nguyên tắc thiện ý trong thương lượng giao kết hợp đồng lao động
    Phạm Thị Thúy Nga / Nhà nước và pháp luật ; 2007/Số 2 . 61-68

    47. Bàn về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
    Nguyễn Quang Quý / Dân chủ & Pháp luật ; 2005/Số 2 . 31-32

    48. Chuyển giao công nghệ ở Malaixia: chính sách và hướng dẫn
    / Tri thức và phát triển ; 2006/Số 33/.

    49. Ghi nhận doanh thu và phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng với hợp đồng mua lại hàng hóa
    Đoàn Vân Anh / TC Kế toán ; 2004/Số 49 . 40-42

    50. Luật cạnh tranh và những vấn đề về hợp đồng phân phối, tài trợ trong thương mại
    Lê Nết ;  Nguyễn Anh Tuấn / Nghiên cứu Lập pháp ; 2006/Số 89 . 46-52

    51. Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) với vấn đề cải cách pháp luật hợp đồng
    Phạm Hữu Nghị / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 4 . 22-27

    52. Vai trò của HTX trong hợp đồng tiêu thụ nông sản ở các tỉnh phía Nam
    / Nông thôn đổi mới ; 2006/Số 41/PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG .

    53. Bàn về trách nhiệm của người ký kết hợp đồng trước đăng ký kinh doanh
    Đỗ Thị Kiều Phương ;  Nguyễn Hằng Hà / TC Nghiên cứu tài chính – kế toán ; 2007/Số 8 . 55-56, 61

    54. Về “tính khó hiểu” của hợp đồng bảo hiểm và giải pháp để bảo hiểm nhân thọ tiếp cận người dân dễ hơn
    Nguyễn Tiến Hùng / Phát triển kinh tế (TP HCM) ; 2006/Số 189 . 47-48

    55. Cần hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)
    Phùng Trung Tập / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 4 . 28-35

    56. Tiêu thụ nông sản theo hợp đồng sau 4 năm thực hiện Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ (2002 – 2006)
    Minh Hoài / TC Nông nghiệp và phát triển nông thôn ; 2006/Số 19 . 4-8

    57. Tiêu thụ nông sản theo hợp đồng sau 3 năm thực hiện Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ (2002 – 2005)
    Nguyễn Sinh Cúc / TC Nông nghiệp và phát triển nông thôn ; 2006/Số 6 . 5-8, 41 58. Đổi mới pháp luật hợp đồng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay – những yêu cầu về mặt lý thuyết và thực tiễn
    Đinh Thị Mai Phương / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 4 . 49-53

    59. Thực trạng và giải pháp xây dựng hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông của VNPT hiện nay
    Phạm Công Dân / Thông tin Khoa học kỹ thuật và kinh tế bưu điện ; 2005/Số 8 . 38-43

    60. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vi phạm hợp đồng khí chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ
    Dương Anh Sơn / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 4 . 51-55, 69

    61. Chủ tàu Việt Nam cần khẩn trương sửa đổi điều khoản về tổn thất chung trong các hợp đồng thuê tàu và vận đơn
    Võ Nhật Thăng / Hàng hải Việt Nam ; 2005/Số 9 . 38-39

    62. Bàn về nội dung hình thức tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng (theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTG, ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ)
    Bảo Trung / TC Nông nghiệp và phát triển nông thôn ; 2005/Số 3+4 . 12-14

    63. Mô hình chuẩn trong tổ chức nghiên cứu ở khu vực công
    / Tri thức và phát triển ; 2004/Số 19/Xu thế, dự báo, chiến lược, chính sách .

    64. Thuê tư vấn nước ngoài làm xuất khẩu gỗ
    / Khoa học-Kỹ thuật -Kinh tế ; 2004/Số 33/Kinh tế .

    65. Bàn về chuẩn mực kế toán thuê tài sản
    Nguyễn Công Phương / Tài chính ; 2004/Số 11 . 24-25, 30

    66. Công trình tổ hợp đồng Sin Quyền, Lào Cai bước ngoặt phát triển của Tổng công ty khoáng sản
    Vũ Văn Lệ / Thông tin Khoa học công nghệ mỏ ; 2007/Số 1+2 . 37-38
    / Tri thức và phát triển ; 2004/Số 46/Tin ngắn .

    67. Rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính
    Hoàng Ngọc Tiến / Thị trường Tài chính Tiền tệ ; 2004/Số 18 . 27-29

    68. Nông sản Việt Nam trước ngưỡng cửa WTO
    / Nông thôn đổi mới ; 2006/Số 29/ĐƯỜNG LỐI – CHÍNH SÁCH .

    69. Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 – Những điểm mới trong lĩnh vực vận chuyển hàng không
    Lại Xuân Thanh / Hàng không Việt Nam ; 2006/Số 8 . 6-9

    MỘT SỐ BÀI VIẾT TRÊN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH VỀ THỪA KÊ

    1 Tiến trình phát triển pháp luật thừa kế Việt nam trong 60 năm qua
    Phùng Trung Tập / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 2 . 33-38

    2. Đổi mới nội dung giảng dạy chế định thừa kế trong môn học luật dân sự dưới góc độ giới
    Nguyễn Hồng Hải / TC Luật học ; 2007/Số 3 . 16-20

    3. Một số vấn đề về thừa kế tiền gửi ngân hàng
    Nguyễn Thanh / TC ngân hàng ; 2006/Số 17 . 32-34, 42

    4. Quan điểm khác nhau về vụ kiện thừa kế quyền sử dụng đất
    Trần Thế Hợi / Dân chủ & Pháp luật ; 2005/Số 11 . 40-43

    5. Cần xác định nội dung cụm từ “Những người có quyền thừa kế di sản của nhau” trong Điều 644 Bộ luật dân sự
    Phạm Văn Tuyết / TC Luật học ; 2005/Số 2 . 42-45

    6. Một số vấn đề pháp lý về giải quyết di sản thừa kế – tiền gửi của người nước ngoài
    Nguyễn Phương Linh / TC ngân hàng ; 2006/Số 11 . 44-48

    7.Các ngân hàng sẽ gặp khó khăn khi giải quyết thừa kế có yếu tố nước ngoài theo Bộ Luật dân sự 2005
    Phan Lãng / Thị trường Tài chính Tiền tệ ; 2006/Số 5 . 20-21

    8. Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự một số nước trên thế giới
    Trần Thị Huệ / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 10 . 78-83

    9. Quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc giữa con riêng với mẹ kế cần được quy định cụ thể hơn
    Nguyễn Thị Hương / Dân chủ & Pháp luật ; 2005/Số 7 . 48-49

    10. Đóng góp ý kiến về Dự thảo Bộ luật dân sự
    Đinh Văn Thanh / TC Luật học ; 2005/Số 2 . 52-60

    11. Thị trường quyền sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay – thực trạng và giải pháp
    Nguyễn Đình Bồng / TC Địa chính ; 2006/Số 1 . 13-17, 27

    12. Một số vấn đề về quyền trẻ em trong luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
    Trần Quang Tiệp / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 7 . 32-36

    13. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của toà án nhân dân theo quy định của Luật đất đai năm 2003
    Trần Quang Huy / TC Luật học ; 2006/Số 4 . 19-26

    CÁC BÀI VIẾT TRÊN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH VỀ SỞ HỮU VÀ QUYỀN SỞ HỮU (TIẾP THEO)

    46. Vai trò của hoạt động sở hữu trí tuệ trong sự phát triển của IMI
    Trương Hữu Chí / TC Hoạt động khoa học ; 2007/Số 7 . 61-62

    47.Minh bạch về sở hữu trong quản lý kinh tế đường đến đích còn dài…?
    Thanh Tinh / TC Thương mại ; 2005/Số 23 . 12-14

    48. Tìm hiểu nội dung khái niệm sở hữu trong tư tưởng C. Mác
    Trần Kim Cúc / Sinh hoạt lý luận ; 2005/Số 1 . 36-38

    49. Những thay đổi chính của Luật Sở hữu Trí tuệ

    Chris vales / TC Nhà quản lý ; 2006/Số 36 . 14-15, 41

    50. Cần có chính sách hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế

    Hồ Ngọc Minh / Phát triển kinh tế (TP HCM) ; 2004/Số 167 . 6-7

    51. Hiệp định TRIPs: Thách thức của Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO
    Nguyễn Hữu Hiếu / TC Nghiên cứu tài chính – kế toán ; 2004/Số 11 . 38-40

    52. Chế độ sở hữu ruộng đất ở Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến XIX
    Trần Thị Thu Lương / TC phát triển khoa học – công nghệ ; 2006/Số 3 . 21-30

    53. Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai
    Phạm Hữu Nghị / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 1 . 51-56

    54. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mối quan tâm chung
    Michal W. Marine / TC Thương mại ; 2007/Số 17 . 13-15

    55. Một số vấn đề về sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
    Nguyễn Cúc / TC Cộng sản ; 2005/Số 14 . 41-45

    56. Về tình hình sở hữu ruộng đất Bến Tre (1954 – 1975)
    Võ Thị Thu Nga / Nghiên cứu lịch sử ; 2005/Số 6 . 19-27

    57. Về quyền sở hữu rừng tự nhiên
    Vũ Long / TT Khoa học kỹ thuật và kinh tế lâm nghiệp ; 2004/Số 2 . 31-33

    58. Đổi mới nhận thức và quan niệm về sở hữu
    Trương Giang Long / TC Cộng sản ; 2006/Số 17 . 48-51, 67

    59. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong tình hình hiện nay
    Nguyễn Quốc Luật / Lý luận chính trị ; 2007/Số 5 . 34-36

    60. Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
    Ngô Tuấn Nghĩa / Lý luận chính trị ; 2006/Số 1 . 43-45

    61. Phòng, chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Những vấn đề đặt ra
    / TC Tài chính doanh nghiệp ; 2007/Số 4 . 12-13

    62. Hoạt động sở hữu trí tuệ phục vụ hội nhập ở thành phố Hồ Chí Minh
    Trương Thuỳ Trang / TC Hoạt động khoa học ; 2005/Số 3 . 27-28

    63. Quyền sở hữu trí tuệ từ góc độ quản lý nhà nước
    Trương Thuỳ Trang / Phát triển kinh tế (TP HCM) ; 2004/Số 167 . 13-14

    64. Việc gia nhập WTO và vấn đề sở hữu trí tuệ của Việt Nam
    Trần Thị Bích Hạnh / Sinh hoạt lý luận ; 2007/Số 3 . 35-38, 76

    65. Vấn đề sở hữu trí tuệ của Việt Nam trước ngưỡng cửa gia nhập WTO
    Ngô Tuấn Nghĩa / TC Khoa học chính trị ; 2005/Số 4 . 24-29, 59

    66. Pháp luật hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
    Đào Lệ Thu / TC Luật học ; 2007/Số 5 . 43-48

    67. Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề bảo hộ sở hữu công nghiệp
    Bảo Khánh / TC Tài chính doanh nghiệp ; 2006/Số 7 . 18-20

    68. Lý thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và vấn đề nhập khẩu song song
    Nguyễn Như Quỳnh / TC Luật học ; 2006/Số 1 . 47-53

    69. Tội phạm hình sự về sở hữu công nghiệp
    Nguyễn Triều Hoa / Phát triển kinh tế (TP HCM) ; 2004/Số 167 . 8-9

    70. Sở hữu nhà nước về tài nguyên đất đai ở Việt Nam
    Nguyễn Văn Thức / Triết học ; 2005/Số 5 . 60-63

    71.  Chiến lược quốc gia về sở hữu trí tuệ chuẩn cho thế kỷ XXI của Nhật Bản
    Ngô Tuấn Nghĩa / Những vấn đề kinh tế thế giới ; 2006/Số 4 . 32-41

    72. Đào tạo và nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ
    Nguyễn văn Bảy / TC Hoạt động khoa học ; 2007/Số 7 . 40-41

    73. Bàn thêm về đa sở hữu và vai trò của cổ đông chiến lược
    Vương Đức Hoàng Quân ;  Nguyễn Thị Ngọc Liên / Tài chính ; 2007/Số 2 . 31-33

    74. Vấn đề sở hữu Trí tuệ hiện nay
    Nguyễn Ngọc Trân / Nghiên cứu chính sách Khoa học và công nghệ ; 2002/Số 4 . 15-23

    75. Minh bạch về sở hữu – Động lực để phát triển bền vững
    Cao Bá Khoát / Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam ; 2005/Số 12 . 66-67

    76. Đa dạng hóa hình thức sở hữu công ty nhà nước năm 2005: Tất cả để đạt mục tiêu
    Lê Thị Băng Tâm / Tài chính ; 2005/Số 1 . 18-19

    77. Cổ phần hóa và cơ cấu quyền sở hữu
    Vương Đức Hoàng Quân ;  Nguyễn Thị Ngọc Liên / Tài chính ; 2006/Số 6 . 20-21

    78. Chỉ thị 18-Tăng cường thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ và quản lý chất lượng
    Lê Văn Kiều / TC Hoạt động khoa học ; 2004/Số 9 . 5-7

    79. Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới
    Cao Bá / Pháp lý ; 2005/Số 12 . 31

    80. Phương kế để doanh nghiệp chống lại sự độc quyền về sở hữu trí tuệ đối với công nghệ
    Lê Tùng / Nghiên cứu Lập pháp ; 2005/Số 06 . 22-23

    81. Pháp luật hải quan với việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
    Hoàng Anh Công / Nghiên cứu Lập pháp ; 2006/Số 89 . 40-45

    82. Mở rộng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài: Bước đi tất yếu
    Nghiêm Quý Hào / Chứng khoán Việt Nam ; 2005/Số 6 . 8-13

    83. Đào tạo nhân lực sở hữu trí tuệ trong các trường đại học
    Trần văn Hải / TC Hoạt động khoa học ; 2007/Số 7 . 46-49

    84. Quyền sở hữu công nghiệp và các đối tượng được pháp luật Việt Nam bảo hộ
    Đức Chinh / Thông tin Khoa học & Công nghệ (Bắc Kạn) ; 2004/Số 3 . 9-10

    85. Sự tồn tại đan xen các hình thức sở hữu: Một tất yếu lịch sử, một yêu cầu bức thiết trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
    Đặng Hữu / TC Khoa học xã hội ; 2005/Số 3 . 3-10

    86. Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ
    Nguyễn Bá Diến / Nhà nước và pháp luật ; 2006/Số 1 . 58-65

    87. Bảo hộ giống cây trồng theo Luật Sở hữu trí tuệ khi Việt Nam là thành viên WTO
    Trần Trung Kiên / Nghiên cứu Lập pháp ; 2007/Số 91 . 45-47, 62

    88. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp – những vấn đề đặt ra từ thực tiễn
    Lê Việt Long / Nhà nước và pháp luật ; 2005/Số 5 . 60-63

    89. Đề xuất chiến lược sở hữu trí tuệ của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ
    / Tri thức và phát triển ; 2004/Số 17/Tin ngắn .

    90. Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài
    Bạch Thanh Bình / Dân chủ & Pháp luật ; 2007/Số 178 . 31-35

    CÒN TIẾP…..

    ===============================

    SOURCE: TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ QUỐC GIA