CỔ PHẦN HÓA

BÙI TẤT THẮNG

Kể từ khi đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: trong thời kỳ thực hiện chiến lược 10 năm 1991-2000, nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng; trong thời kỳ 5 năm đầu tiên thực hiện chiến lược 10 năm 2001-2010, nền kinh tế dường như “không chệch hướng” khỏi quỹ đạo đạt tốc độ tăng trưởng hằng năm tương đối cao. Ngoài ra còn các thành tích khá ấn tượng về ổn định kinh tế vĩ mô, về tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hằng năm, về xóa đói giảm nghèo… Chính những thành tích đạt và vượt kế hoạch ấy đôi khi đã làm dịu đi nỗi băn khoăn về một số chỉ tiêu khác của đổi mới chưa đạt kế hoạch. Một trong số những chỉ tiêu ấy là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

1. Cổ phần hóa – tiến trình và thực trạng

Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận trong tổng thể công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, điều cần khẳng định trước tiên là mục tiêu của đổi mới doanh nghiệp nhà nước phải phù hợp với mục tiêu chung của toàn bộ chương trình đổi mới nền kinh tế, trong đó điều cốt lõi là nguyên tắc thị trường sẽ thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung. Theo tinh thần này, hai mục tiêu trực tiếp nổi bật của đổi mới doanh nghiệp nhà nước là nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn và đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước góp phần cùng kinh tế nhà nước nói chung làm tốt hơn “vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế. Trong hai mục tiêu này thì mục tiêu hiệu quả có ý nghĩa quyết định, vì suy cho cùng, doanh nghiệp nhà nước có giữ được vai trò chủ đạo hay không sẽ phụ thuộc vào tính hiệu quả của nó. Nền kinh tế không thể trông cậy vào một lực lượng được gọi là chủ đạo khi nó không có hiệu quả.

Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trên nhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước” thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dung được coi là chủ yếu. Chương trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được khởi động từ đầu những năm 1990 đến nay đã làm được nhiều việc; trong đó ấn tượng nhất là số lượng doanh nghiệp nhà nước từ hơn 12 nghìn năm 1992 đã giảm xuống còn gần 2.200 (9-2006); trong đó, hơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355 doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, số còn lại là các nông, lâm trường quốc doanh, với tổng số vốn nhà nước gần 260 nghìn tỷ đồng. Một phần trong số này nằm trong 105 tập đoàn và tổng công ty (trong đó 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91; 83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – khoáng sản Việt Nam).

Đóng góp vào mức giảm số lượng gần 10 nghìn doanh nghiệp nhà nước từ năm 1992 đến nay, hình thức cổ phần hóa chỉ chiếm 1/4 (3.060 doanh nghiệp), còn 6.740 doanh nghiệp (3/4 số doanh nghiệp) giảm đi qua các hình thức chuyển đổi, sáp nhập và một phần không đáng kể bị giải thể.

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều nâng cao được hiệu quả sản xuất, kinh doanh với các mức độ khác nhau. Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên 1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%. Đặc biệt, có tới trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động kinh doanh có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11%(1).

Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại phiên họp thứ 43 của ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 21-9-2006) nhận định:

“Qua hơn 15 năm triển khai, chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã đạt được những hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, tạo sự rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ cơ chế phân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn, giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước; tạo cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thúc đẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất để người lao động xác lập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn bó máu thịt với doanh nghiệp. Kết quả nổi bật của cổ phần hoá là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước được nâng lên đáng kể. Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ động đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu. Cổ phần hoá cũng đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Dưới góc độ phân công lao động trong xã hội, cổ phần hoá đã thật sự giải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyển sang chủ động, tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy đủ hơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho xã hội, cho Nhà nước và cho người lao động”(2).

Và cũng theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhà nước(3).

Thực tiễn đó đã đủ để khẳng định, về cơ bản cổ phần hóa là một hướng đổi mới doanh nghiệp phù hợp với tiến trình đổi mới kinh tế nói chung. Nhưng, một nghịch lý đã từng tồn tại ngay từ khi công cuộc cổ phần hóa được khởi động cho đến tận nay là “Tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam còn chậm, chưa đạt yêu cầu” như nhan đề của một bài viết đăng trên website của Đảng (ngày 21-9-2006). Bản báo cáo nêu rõ: những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khai còn chậm. Số doanh nghiệp được cố phần hóa tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm 12% tổng số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; nếu trừ đi phần vốn nhà nước còn giữ lại gần 50% trong các doanh nghiệp cố phần hóa, thì thực chất tỷ lệ trên chỉ chiếm khoảng 6%. So với mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX thì còn chậm, nhất là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Tiến độ cổ phần hóa không đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương; một số bộ, ngành chưa hoàn thành theo đề án đã được phê duyệt…(4).

Như vậy, tuy số lượng doanh nghiệp có thể nhiều, nhưng xét về chỉ tiêu vốn đã được cổ phần hóa thì coi như không đáng kể, thậm chí chưa xứng với một chương trình lớn ở tầm quốc gia, bởi vì cổ phần hóa dường như ít ảnh hưởng tới nguyên tắc thị trường của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn bộ cơ chế vận hành của nền kinh tế nói chung. Điều này cũng có nghĩa là, mục tiêu chính của sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước là góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế, làm cho nguyên tắc thị trường thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung, vẫn chưa đạt được như mong đợi.

Chính vì vậy mà tại Hội nghị về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010 được tổ chức ngày 7-10-2006 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Nhiệm vụ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp trong 5 năm tới trọng tâm là cổ phần hóa. Mục tiêu đến năm 2010, chúng ta sẽ cơ bản cổ phần hóa xong doanh nghiệp nhà nước”. Phương án được lựa chọn để tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước từ nay đến 2010 là đẩy mạnh sắp xếp, cố phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Theo đó, từ nay đến hết năm 2010 sẽ cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp (riêng các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty nhà nước phải hoàn thành trong năm 2008), trong đó, năm 2007 phải cổ phần hóa 550 doanh nghiệp (có khoảng 20 tổng công ty), số còn lại sẽ thực hiện trong các năm 2008-2009, một số công ty và số ít doanh nghiệp chưa cố phần hóa được thực hiện trong năm 2010. Theo kết quả này, đến cuối năm 2010, cả nước sẽ chỉ còn 554 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn; 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu; 200 nông, lâm trường; 150 doanh nghiệp thành viên các tập đoàn, tổng công ty nhà nước(5).

Có thể nói rằng, đây là một trong những nhiệm vụ rất khó khăn trong những năm sắp tới. Bởi vì như thực tiễn nhiều năm qua đã cho thấy, không chỉ khối lượng công việc phải tiến hành rất lớn, mà còn có thể phải đối mặt với không ít trở lực. Trong 4 năm sắp tới (2007-2010) sẽ phải cổ phần hóa 1.500 doanh nghiệp (bình quân mỗi năm cổ phần hóa 375 doanh nghiệp), riêng năm 2007 đặt kế hoạch cổ phần hóa 550 doanh nghiệp. Chỉ tiêu này tuy không cao hơn nhiều so với kế hoạch của một số năm trước, nhưng so với kinh nghiệm thực hiện nhiều năm thì rất cao. Như trên đã nêu, trong khoảng 15 năm (1992-2006), cả nước cổ phần hóa được 3.060 doanh nghiệp, tức là bình quân mỗi năm cổ phần hóa được 204 doanh nghiệp. Tất nhiên, với quyết tâm cao và kinh nghiệm đã tích lũy được, hoàn toàn có cơ sở để hoàn thành mục tiêu này, dĩ nhiên là còn cần phải có những đổi mới mạnh mẽ trong phương thức tiến hành cổ phần hóa.

Thật vậy, với cách làm như từ trước đến nay, diện mạo của tình hình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là: “quy mô doanh nghiệp được sắp xếp hoặc cổ phần hóa trong thời gian qua chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong tổng số doanh nghiệp được cổ phần hóa có trên 2.600 đơn vị có quy mô dưới 10 tỉ đồng. Tuy việc cố phần hóa các doanh nghiệp quy mô trên 10 tỉ đồng đã tăng lên trong các năm 2004-2005, số doanh nghiệp dưới 10 tỉ vẫn chiếm 80% tổng số được cổ phần hóa… Đáng chú ý, trong số các đơn vị đã cổ phần hóa có tới gần 1.200 đơn vị nhà nước tiếp tục giữ trên 50% vốn điều lệ, tỷ lệ này tương đương khoảng 33% nhưng hầu hết đây là những doanh nghiệp có vốn lớn.

Nhiều doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm 100% vốn nhưng đã tránh cổ phần hóa bằng cách chuyển sang mô hình công ty mẹ – công ty con hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Số lượng doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ công ích còn lớn, nhưng không ít doanh nghiệp có số thu từ dịch vụ công ích dưới 20%.

Hiệu quả của quá trình sắp xếp, cổ phần hóa vẫn chưa được như mong đợi. Tuy Chính phủ đã hỗ trợ: loại trừ tài sản và công nợ không tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa trên 2.500 tỉ đồng; xóa nợ thuế và các khoản phải nộp Nhà nước trên 310 tỉ đồng; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trên 1.000 tỉ đồng; chi phí cho cải cách doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp sắp xếp và xử lý nợ và lỗ là 2.962 tỉ đồng; hỗ trợ lao động dôi dư 6.000 tỉ đồng; chi xử lý nợ các ngân hàng thương mại 8.317 tỉ đồng.

Tình trạng này cho thấy, cổ phần hóa chưa đạt được kết quả tương xứng với sự kỳ vọng cũng như hỗ trợ của Nhà nước”(6).

Một khía cạnh rất quan trọng khác của tình hình là bộ máy quản lý và phương thức hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần hóa. Công chúng vẫn thấy một tình hình rất phổ biến là những “Công ty cổ phần nhà nước”. Bởi vì, “Sau khi cổ phần hóa, khoảng 81,5% giám đốc, 78% chức danh phó giám đốc và kế toán trưởng không có sự thay đổi. Điều này cho thấy trên thực tế là nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn hoạt động như trước cả về tổ chức, tư duy, công nghệ, quản lý và triết lý kinh doanh vẫn mang dáng dấp của doanh nghiệp nhà nước. Nếu có thay đổi chỉ là giám đốc doanh nghiệp nhà nước cũ trở thành lãnh đạo mới của công ty cổ phần, chưa có doanh nghiệp nào sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành”(7).

Rõ ràng, để tăng tốc tiến trình cổ phần hóa trong những năm tới, cần phải xem xét lại nhiều vấn đề liên quan, trong đó đặc biệt là các chính sách thực thi cổ phần hóa đã và đang được áp dụng.

2. Cổ phần hóa – quan điểm và triển vọng

Với tình hình triển khai và những kết quả đạt được như nêu tóm tắt ở phần trên, có thể nhận xét khái quát rằng, vẫn còn tồn tại một lực cản lớn đối với cổ phần hóa, bất chấp những bằng chứng về hiệu quả thực tế có sức thuyết phục của nó ra sao. Trên các diễn đàn cũng như các sách báo đã xuất bản, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, phân tích về các loại nguyên nhân của tình hình cổ phần hóa chậm chạp. Trong số đó, phải đặc biệt kể đến một nguyên nhân mang tính lý luận sâu xa mà một trong những bài viết đã nêu là: “cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: “ách tắc” từ nhận thức”, do vậy, trước hết cần “Phải khai thông nhận thức, quan điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”(8).

Và để góp phần thảo luận thêm về vấn đề này, chúng tôi xin được trao đổi lại một lần nữa về bản chất kinh tế của chế độ cổ phần dưới góc độ của kinh tế chính trị học(9).

a) Sự phát triển và bản chất kinh tế của hình thái cổ phần(*)

So với các hình thái sở hữu khác trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, hình thái cổ phần ra đời muộn hơn cả. Điều đó tự nó hàm nghĩa rằng, sự ra đời của hình thái cổ phần phải dựa trên những tiền đề vật chất và thiết chế kinh tế nhất định. Đó là sự phát triển ở mức độ cao của sức sản xuất xã hội cũng như mức độ hoàn thiện của cơ chế của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ tương ứng với nó. Về mặt lô-gíc, có thể tóm tắt các bước phát triển của các hình thái sở hữu tiến đến hình thái cổ phần đại thể là: từ hình thái kinh doanh một chủ, phát triển lên hình thái kinh doanh chung vốn (hình thái kinh doanh hợp tác xã của những người sản xuất hàng hóa nhỏ và hình thái công ty chung vốn của các nhà tư bản), và cuối cùng là hình thái công ty cổ phần. Các bước phát triển trên cũng diễn ra một cách tuần tự về phương diện lịch sử, tuy rằng giữa các bước chuyển tiếp của các giai đoạn không hề có một ranh giới rạch ròi nào cả. Và do sự phát triển không đều giữa các nền kinh tế cũng như giữa các lĩnh vực khác nhau của mỗi nền kinh tế, ngày nay ở bất cứ quốc gia nào cũng có một kết cấu đa sở hữu với sự có mặt của tất cả mọi loại hình thức sở hữu nói trên. Song điều đặc biệt đáng chú ý là, càng ở những nền kinh tế có trình độ phát triển cao thì vai trò của hình thái cổ phần càng lớn. Ở những nền kinh tế này, tuy số lượng những công ty cổ phần nhỏ hơn rất nhiều so với các loại hình công ty khác, nhưng nó lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư và quy mô kinh tế mà nó chi phối trong toàn bộ nền kinh tế.

Ngay từ thế kỷ trước, Ph.Ăng-ghen (năm 1895) – trong phần bổ sung cho tập III bộ Tư bản của C.Mác – đã đánh giá về vai trò và triển vọng của hình thái cổ phần như sau: “Hãng cá thể thông thường ngày càng chỉ là một giai đoạn chuẩn bị nhằm đưa xí nghiệp tới một trình độ đủ lớn để trên cơ sở xí nghiệp đó mà “thành lập” công ty cổ phần”(10). Hơn nữa, điều đó không chỉ đúng với các ngành công nghiệp mà còn diễn ra ở khắp mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế: thương nghiệp, ngân hàng và các cơ quan tín dụng, nông nghiệp và “hết thảy mọi khoản đầu tư tư bản ra nước ngoài đều tiến hành dưới hình thức cổ phần”(11).

Mức độ phổ biến của hình thái cổ phần trong điều kiện của nền kinh tế thị trường không phải chỉ là do nó có ưu thế tuyệt đối trong việc tập trung vốn của xã hội cho những mục tiêu kinh doanh, mà còn bao hàm trong đó những điểm nổi bật sau:

– Dưới hình thức cổ phần những người đồng sở hữu công ty (những cổ đông) chỉ được hưởng lợi và chỉ phải chịu trách nhiệm có giới hạn ở khuôn khổ số tiền mà họ đã bỏ ra để mua cổ phiếu của công ty. Như vậy, một mặt về pháp lý, họ chỉ có quyền nhân danh cá nhân mình chịu trách nhiệm về phần tài sản của mình đã góp vào công ty theo luật định. Mặt khác, qua thị trường chứng khoán, sự di chuyển của các cổ phiếu với tư cách là hàng hóa vốn đầu tư, công chúng (các cổ đông) đã “bỏ phiếu tín nhiệm” có sự bảo đảm “bằng vàng” của mình cho những ngành, những lĩnh vực, những công ty mà họ cho là có triển vọng nhất. Đồng thời, cơ chế này còn giúp mỗi người đầu tư phân tán được nguồn vốn có hạn của mình vào nhiều lĩnh vực để tránh những rủi ro khó tránh trong kinh doanh. Vậy là sự tham gia có tính chất xã hội của công chúng vào các quan hệ sở hữu và quá trình quản lý, lựa chọn cơ cấu ngành… đã trở thành những gợi ý thực tiễn thiết thực đối với những nhà hoạch định chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô.

– Hình thái cổ phần đã thực hiện việc tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nên đã tận dụng được một cách tốt nhất nguồn tài nguyên kinh doanh khan hiếm của xã hội thông qua chế độ “thuê” các nhà quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp, do các cổ đông, tức các chủ nhân thật sự của vốn đầu tư tiến hành lựa chọn. Do vậy, tính chất vô danh hay nặc danh của hình thái cổ phần hoàn toàn khác với tính chất vô chủ ở một trong những điểm quan trọng là nó gắn với cơ chế sử dụng được triệt để nguồn tài nguyên kinh doanh của xã hội thay vì để lãng phí chúng, và do đó mà đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn.

– Việc đầu tư tư bản ra nước ngoài dưới hình thái cổ phần đã trực tiếp mở rộng tính chất xã hội hóa của nền sản xuất xã hội vượt ra khỏi phạm vi mỗi quốc gia, khiến cho xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế mở rộng ngay từ trong bản thân quá trình sản xuất.

Như vậy, trong mối tương quan với các hình thức kinh tế khác trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, hoàn toàn có thể coi hình thái cổ phần là loại hình tổ chức đạt trình độ xã hội hóa cao nhất, thích ứng với trình độ phát triển rất cao của sức sản xuất xã hội. Về điều này, C.Mác đã từng nhận xét rằng, với việc thành lập những công ty cổ phần “có những xí nghiệp trước kia là của chính phủ, nay trở thành những xí nghiệp xã hội” và các công ty cổ phần “trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội (tư bản của những cá nhân trực tiếp liên hiệp lại với nhau) đối lập với tư bản tư nhân; còn những xí nghiệp của nó biểu hiện ra là những xí nghiệp xã hội đối lập với những xí nghiệp tư nhân”(12). Thêm nữa, đây “là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại trở thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp. Mặt khác, các công ty cổ phần cũng là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng trong quá trình tái sản xuất cho đến nay còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản, đơn thuần thành những chức năng của những người sản xuất xã hội”(13). Điều này có nghĩa là, theo cách tiếp cận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác thì “chế độ cổ phần… là sự thủ tiêu công nghiệp tư nhân trên cơ sở chính ngay bản thân chế độ tư bản chủ nghĩa; nó càng lan rộng ra và càng bao trùm những ngành sản xuất mới, thì càng thủ tiêu công nghiệp tư nhân”(14). Nhân khi biên tập để xuất bản bản thảo tập thứ III bộ Tư bản của C.Mác, đến vấn đề này, ngay từ năm 1894, Ph.Ăng-ghen đã viết thêm vào: “Từ khi Mác viết những dòng này cho đến nay, người ta đều biết rằng nhiều hình thái mới về xí nghiệp công nghiệp đã phát triển, đấy là công ty cổ phần ở bậc 2 và bậc 3. Tốc độ mỗi ngày một lớn mà ngày nay, người ta có thể đẩy nhanh sản xuất ở trong tất cả các ngành của nền đại công nghiệp…”(15).

Với lô-gíc ấy, thật không khó khăn gì khi thấy rằng, trong các sách báo kinh tế hiện đại, nhiều khi người ta bắt gặp các phân tích, đánh giá về một thứ “chủ nghĩa tư bản nhân dân” như là một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế thị trường hiện đại. Vì nhiều lý do, không nhất thiết phải sẻ chia với uyển ngữ này, nhưng lại không phải vì thế mà phủ nhận được một thực tế là, việc đầu tư ở quy mô quảng đại công chúng thông qua thể thức của loại hình “công ty vô danh có cổ phần” là rất có ý nghĩa đối với thu nhập và cuộc sống của bản thân những người tham gia đầu tư vào công ty này.

Tóm lại, trong khuôn khổ của cơ chế kinh tế thị trường, hình thái cổ phần mang trong mình nó tính chất xã hội hóa sản xuất sâu sắc, là kiểu tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ phát triển rất cao của lực lượng sản xuất và chiếm vị trí ưu thế, phổ biến trong các nền kinh tế thị trường hiện đại. Theo nghĩa này, bất kỳ kiểu tổ chức nào nhân danh sự xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đều cần phải xem hình thái cổ phần như một trong những hình thái tổ chức sản xuất quan trọng chủ yếu của chế độ kinh doanh.

b) Triển vọng cổ phần hóa ở Việt Nam

Như trên đã trình bày, hình thái cổ phần là một hình thái tổ chức sản xuất chứa đựng tính chất xã hội hóa rất cao trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, nên việc cổ phần hóa ở nước ta hiện nay với nội dung chủ yếu là chuyển một phần các doanh nghiệp nhà nước (hay còn gọi là các doanh nghiệp quốc doanh) sang hình thức công ty cổ phần về thực chất là sự chuyển đổi hình thức xã hội hóa quá trình sản xuất từ dạng doanh nghiệp quốc doanh sang dạng công ty cổ phần. Sự thay đổi ở đây không phải là bản chất xã hội hóa của sản xuất mà là phương cách tổ chức sản xuất kinh doanh, phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Vì thế, sự trì trệ của tiến trình cổ phần hóa ở nước ta sẽ là không có lý do chính đáng nếu cho rằng nguyên nhân của tình hình chủ yếu do sự “ách tắc” về phương diện quan điểm tư duy lý luận. Thật vậy, tuy chưa phải là mọi vấn đề cơ bản về cổ phần hóa đã được giải quyết, song đã bước đầu có được một số kết luận quan trọng từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn để làm cơ sở cho việc đẩy nhanh quá trình thực hiện cổ phần hóa. Hai trong số những vấn đề có ý nghĩa then chốt nhất là:

– Dưới góc độ của kinh tế thị trường, cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa. Về điều này, sự phân tích về tính chất xã hội hóa của hình thái cổ phần so với các hình thái công ty khác ở phần trên đã rất rõ. Điều còn “chưa hoàn toàn rõ” ở đây chỉ là tương quan giữa hình thái cổ phần và doanh nghiệp quốc doanh, mà cụ thể là, liệu rằng việc chuyển một phần các doanh nghiệp quốc doanh sang dạng công ty cổ phần có làm cho tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị suy yếu đi không? Trong vấn đề này, ít nhất có một điều đã rõ là, không phải tỷ lệ kinh tế thuộc doanh nghiệp quốc doanh càng lớn về mặt lượng thì tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế càng cao. Đây là một sự nhầm lẫn về nhận thức đã được thực tiễn lịch sử kiểm chứng và xác nhận. Kết luận rút ra từ đây là, chưa có căn cứ xác đáng để khẳng định rằng, giảm bớt số lượng doanh nghiệp quốc doanh, trong đó có việc cổ phần hóa một số bộ phận của chúng thì tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế sẽ bị xói mòn. Song, thách thức về mặt lý luận lại là ở chỗ, cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp quốc doanh sẽ có tác động ảnh hưởng gì đến tính chất xã hội chủ nghĩa (hay chính xác hơn là tính chất định hướng xã hội chủ nghĩa), trong đó, điều đáng được kỳ vọng hơn cả là quá trình này chẳng những sẽ không làm cho tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị suy yếu đi, mà trái lại, có thể còn nâng cao hơn so với hiện trạng được không? Chúng tôi nghĩ rằng, câu trả lời sẽ tuỳ thuộc vào cách tiếp cận hay chỗ đứng để giải quyết vấn đề. Mặc dù, cùng xuất phát từ một điểm chung: tính chất xã hội hóa của sản xuất mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư nhân, nhưng ở đây có hai cách tiếp cận khác nhau, một là từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung (trước đây), và hai là từ kinh tế thị trường (hiện đại).

– Theo quan niệm “truyền thống” của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp quốc doanh được coi là hình thức mang tính chất xã hội hóa trực tiếp và cao nhất, bởi nó được nhà nước nhân danh toàn xã hội mà lập ra. Trước đây, quan niệm này không chấp nhận kinh tế thị trường nên cũng vì thế mà không chấp nhận các dạng thức xã hội hóa khác nhau của kinh tế thị trường. Thành ra, doanh nghiệp quốc doanh đã trở thành hình thái độc quyền biểu thị tính chất xã hội hóa của sản xuất, là hoàn toàn xã hội chủ nghĩa, (còn hợp tác xã thì chỉ là xã hội chủ nghĩa có một nửa). Từ đó, dẫn đến sự chỉ đạo về mặt chính sách là bằng mọi cách, làm cho kinh tế quốc doanh càng chiếm tỷ trọng cao càng tốt với điều tâm niệm rằng: doanh nghiệp quốc doanh chính là hiện thân của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nghĩa là càng nhiều doanh nghiệp quốc doanh thì càng có nhiều chủ nghĩa xã hội. Chính cách hiểu này đã khiến cho có thời kỳ quá trình quốc doanh hóa trở thành xu hướng chủ đạo trong nền kinh tế, và như đã nói, đã bị thực tiễn bác bỏ.

– Ngược lại, nếu đứng từ góc độ của kinh tế thị trường, như đã trình bày ở phần trên, cả trên phương diện lô-gíc lẫn lịch sử, hình thái cổ phần chính là một hình thái biểu hiện tính chất xã hội hóa sản xuất cao nhất, và tính hiệu quả của nó cũng đã được thử thách qua thời gian với độ dài tính bằng thế kỷ. Và theo lô-gíc, không thể chuyển sang kinh tế thị trường mà lại không chấp nhận hình thức tổ chức kinh tế chủ yếu đã tạo ra chính bản thân nó.

Vì thế, chúng ta có thể đi đến nhận xét rằng: nếu đứng từ góc độ của kinh tế kế hoạch hóa tập trung mà cho rằng, cổ phần hóa một bộ phận các doanh nghiệp quốc doanh là một quá trình tư nhân hóa, rằng vì thế mà tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị xói mòn, thì ngay cả khi đó là một kết luận hợp lô-gíc đi nữa, nó cũng đã trở nên không còn giá trị phương pháp luận, một khi bản thân cơ chế kinh tế đó đã phải thay đổi để chuyển sang một cơ chế kinh tế khác. Huống chi, theo lô-gíc của cơ chế kinh tế thị trường thay thế nó, cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa, mà là hình thái tổ chức sản xuất mang tính chất xã hội hóa cao nhất, đối lập với kinh tế tư nhân.

Rõ ràng là không thể chối bỏ được những lý do chính đáng khi đặt vấn đề xem xét lại một cách nghiêm túc vai trò của các doanh nghiệp quốc doanh, bởi tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế chỉ có thể trông cậy vào những doanh nghiệp quốc doanh có hiệu quả cao hoặc bất khả thay thế chứ không phải vào bất kỳ mọi doanh nghiệp nào mang danh doanh nghiệp quốc doanh. Vì thế, chúng tôi chia sẻ quan điểm cho rằng không nên đặt vấn đề: làm thế nào để mở rộng các doanh nghiệp quốc doanh (hay doanh nghiệp nhà nước), mà phải là: làm thế nào để tăng cường (nâng cao) sức mạnh kinh tế của Nhà nước. Sở dĩ như vậy là vì, bản thân các doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong số nhiều công cụ khác nhau trong tay Nhà nước để điều hành nền kinh tế theo ý chí của mình chứ không phải là một công cụ duy nhất hay có khả năng thay thế cho tất cả mọi loại công cụ khác. Trong điều kiện của kinh tế thị trường, để điều hành nền kinh tế, ngoài cách thông qua các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước còn dùng (và chủ yếu là dùng) các loại công cụ khác như hệ thống luật, các chính sách kinh tế vĩ mô, bộ máy quản lý hành chính về kinh tế, v.v.. Để có khả năng hướng nền kinh tế đi theo những mục tiêu đã định, Nhà nước rất cần có thực lực sức mạnh kinh tế của mình. Để tăng cường sức mạnh kinh tế của mình, việc sử dụng các công cụ với tư cách của cả hệ thống đồng bộ và nhất quán chắc chắn sẽ có kết quả tốt hơn so với việc chỉ dựa vào việc đề cao một loại công cụ nhất định. Đặc biệt là trong trường hợp sử dụng các doanh nghiệp nhà nước, khi mà việc gia tăng số lượng loại công cụ này chưa hẳn đã làm cho chính nó mạnh hơn. Ấy là chưa kể tới việc không hiếm khi những nỗ lực mở rộng khu vực kinh tế này đã lấy đi mất quá nhiều nguồn lực có hạn của quốc gia mà lẽ ra có thể dành cho việc cải thiện sức mạnh kinh tế của Nhà nước theo quan điểm hệ thống và xét từ góc độ hiệu quả.

Tóm lại, cần phân biệt sự khác nhau giữa doanh nghiệp nhà nước với sức mạnh kinh tế của Nhà nước. Trong đó, cái cần tăng cường để bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế là sức mạnh kinh tế của Nhà nước được nhìn nhận một cách tổng thể chứ không phải chỉ là bộ phận công cụ các doanh nghiệp nhà nước được nhìn nhận một cách cục bộ. Nói cách khác, trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước tự bản thân nó chỉ là công cụ (phương tiện) chứ không phải là mục đích. Do vậy, sự thể hiện trong hành động chính sách sẽ là không hợp lý khi lấy cái này thay thế cho cái kia.

– Với tư cách đặt vấn đề như vậy, rõ ràng việc tinh gọn hơn về số lượng và nâng cao hiệu quả kinh doanh trở thành nội dung chính của cuộc cải cách các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Cổ phần hóa là một trong số nhiều biện pháp để thực hiện mục tiêu này. Đây cũng là điều đã được khẳng định trong các Nghị quyết Đại hội của Đảng.

Như vậy, về phương diện học thuật, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, trên quan điểm của kinh tế thị trường, việc cổ phần hóa ở nước ta hiện nay có ý nghĩa như là một trong những biểu hiện bằng hành động thực tiễn của sự nhận thức lại về bản chất của tính chất xã hội hóa của sản xuất; rằng đó là quá trình chuyển đổi hình thức xã hội hóa sản xuất từ dạng doanh nghiệp quốc doanh trong khuôn khổ của cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang dạng công ty cổ phần (trong đó có loại tuyệt đối 100% cổ phần của Nhà nước) thích hợp với khuôn khổ của kinh tế thị trường.

Vậy thì vấn đề còn lại của việc tiến hành cổ phần hóa chủ yếu sẽ là những biện pháp mang tính chất kinh tế – kỹ thuật, và với những kinh nghiệm đã có, với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Chính phủ, tiến trình cổ phần hóa trong những năm sắp tới nhất định sẽ đạt được kết quả như mong đợi, đặc biệt là khi có sự hỗ trợ không thể thiếu của một số giải pháp cụ thể sau:

– Cần phải làm cho đông đảo công chúng hiểu rõ rằng, vì hình thái cổ phần là một hình thái tổ chức sản xuất phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nên trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, vấn đề cổ phần hóa không nên chỉ bó hẹp trong quan niệm như là “một trong những phương tiện quan trọng để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước”. Không phải là chia các doanh nghiệp nhà nước hiện có ra làm mấy loại, trong đó loại thì bị đem ra “cổ phần hóa”, loại thì được giữ lại là doanh nghiệp nhà nước như cũ. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi chế độ kinh doanh của nền sản xuất được xã hội hóa từ dạng thức doanh nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) hiểu theo nghĩa của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang dạng thức công ty cổ phần thích hợp với cơ chế thị trường. Cổ phần hóa không phải là một phong trào hay chiến dịch làm một lần là xong. Có lẽ chỉ trừ một số rất ít trường hợp, còn lại nói chung có thể có rất nhiều doanh nghiệp nhà nước (hiểu theo nghĩa 100% cổ phần do nhà nước nắm giữ) vẫn có thể thực hiện “cổ phần hóa” rộng rãi trong công chúng trong tương lai khi có điều kiện thích hợp. Đồng thời ngược lại, cũng có thể có những công ty cổ phần được nhà nước mua lại toàn bộ số cổ phần trong những trường hợp cần thiết phải làm như vậy.

– Vì các doanh nghiệp nhà nước vốn từ đầu đã thuộc sở hữu toàn dân nên rất cần công khai hóa các thông tin kinh tế cần thiết về các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, không những chỉ với những người làm việc trong các doanh nghiệp đó mà với toàn xã hội.

– Đứng trước thách thức và cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế, sự vận hành của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải theo kịp tiến trình hội nhập. Do vậy, cần phải quy định bắt buộc tất cả các doanh nghiệp nhà nước (kể cả cổ phần hóa lẫn không cổ phần hóa) phải tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tính cần thiết của quy định này dựa trên các ưu điểm cụ thể của thị trường chứng khoán, mà đại thể là:

+ Thị trường chứng khoán là một kênh thu hút vốn quan trọng từ xã hội để đầu tư phát triển. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng hiện đang rất thiếu vốn, đặc biệt là đứng trước nhu cầu đầu tư để hiện đại hóa công nghệ sản xuất, cần phải và không nên bỏ qua kênh tạo vốn ngày càng có ý nghĩa quan trọng này.

+ Thị trường chứng khoán là loại hình thị trường phổ biến và có ý nghĩa như một trong những chỉ số quan trọng biểu thị mức độ phát triển của bất kỳ nền kinh tế thị trường nào. Vì vậy, cùng với quá trình hội nhập, hình thái buôn bán trên thị trường chứng khoán cũng sẽ trở nên phổ cập ở Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước với tư cách là bộ phận giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, không thể không trở thành lực lượng đi tiên phong trong việc góp phần tạo ra thị trường chứng khoán bằng cách trực tiếp tham gia vào hoạt động của thị trường này. Tính chất chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước không phải là ở chỗ chiếm tỷ trọng lớn, mà quan trọng nhất là ở tính hiệu quả, ở khả năng dẫn dắt đổi mới công nghệ và cách thức hoạt động, ở khả năng ổn định và trong bối cảnh của đổi mới, là ở khả năng đóng góp vào việc tạo ra “sự đồng bộ của cơ chế thị trường” ở Việt Nam.

+ Về phía mình, thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển và hoàn thành tốt vai trò kênh thu hút vốn, là nơi kinh doanh, giao dịch vốn (chứng khoán) khi các công ty lớn của quốc gia thật sự là những người tham gia chính.

Với các lý do trên, thiết nghĩ, đã đến lúc phải coi đây như một giải pháp mang tính đột phá mạnh, và vì vậy, cần có một quy định pháp lý đủ mạnh, bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước (cả doanh nghiệp cổ phần hóa lẫn không cổ phần hóa) phải niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, vì việc tham gia thị trường chứng khoán cần một khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị chu đáo, nên thời gian từ lúc ban hành quy định đến thời hiệu quy định bắt đầu có hiệu lực nên kéo dài hơn so với các quy định khác: có thể là 1 năm, thậm chí là 3 năm. Nhưng vấn đề cấp thiết hiện nay là cần khẳng định nguyên tắc các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán và công bố công khai lịch trình thực hiện.

Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị số 1-2/2007




* Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.(1),(3),(5) Năm 2010: Mục tiêu sẽ cổ phần hóa hơn 1.500 doanh nghiệp. Nguồn: http://www.dangcongsan.vn/; ngày 10-10-2006.
(2),(4) Tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam còn chậm, chưa đạt yêu cầu. http://www.dangcongsan.vn/details; ngày 21-9-2006.
(6) Chính sách mới về cổ phần hóa: Đột phá. VietNamNet ngày 7-10-2006.
(7) Doanh nghiệp nhà nước: Không thể chủ đạo bằng cách giữ nhiều vốn. VietNamNet, ngày 22-9-2006.
(8) VietNamNet ngày 20-8-2004.
(9) Xin xem thêm về vấn đề này qua các bài viết sau của tác giả:
– Bùi Tất Thắng: Khía cạnh Kinh tế chính trị của vấn đề cổ phần hóa. Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 1 (21), tháng 1-1993.

– Bùi Tất Thắng: Hình thái cổ phần và vấn đề cổ phần hóa ở nước ta hiện nay. Tạp chí Thông tin lý luận, số 12 (238), tháng 12-1997.

– Kiều Anh: Liệu có nên buộc các doanh nghiệp nhà nước niêm yết trên thị trường chứng khoán? Nhà quản lý, số 22 (tháng 4-2005).

(10), (11) C.Mác: Tư bản, tập 3, q.3. Phần 2. Nxb Tiến bộ Matxcơva., – Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987; tr.547.

(12),(13),(14),(15) C.Mác: Tư bản, tập 3, q.3. Phần 1. Nxb Tiến bộ Matxcơva., – Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986; tr.534, 535, 537, 536.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 6 NĂM 2007

GIA ĐÌNH HÀN QUỐC: TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI

TRẦN VĂN THẮNG – Ths, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Từng là một nước nông nghiệp nghèo, nhưng sau chưa đầy bốn thập kỷ, đất nước Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “kỳ tích trên sông Hàn”. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã kéo theo sự di chuyển liên tục của những người dân từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp; phá vỡ cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống, trong đó có gia đình.

Từ truyền thống …

Trong xã hội Hàn Quốc truyền thống, một gia đình điển hình thường bao gồm các thành viên thuộc ba, bốn thế hệ sống cùng trong một mái nhà; một gia đình lớn đông thành viên thường được xem như có nhiều phúc lộc.

Do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng, nên gia đình truyền thống Hàn Quốc theo chế độ gia trưởng. Sau khi người cha qua đời, người con trai cả sẽ là người điều hành và là trụ cột trong gia đình; đương nhiên sẽ hưởng kế thừa phần lớn các tài sản có giá trị như đất đai, nhà cửa… do người cha để lại. Những người con trai thứ cũng được hưởng thừa kế nhưng chỉ là một phần so với người con trai cả. Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Hàn Quốc tin vào cuộc sống ở thế giới bên kia sau khi chết. Theo quan niệm của người Hàn Quốc, con người sau khi chết sẽ không đoạn tuyệt, rời bỏ thế giới này mà sẽ đầu thai trở lại nơi nào đó, sẽ sống cùng con cháu, hậu duệ. Do đó, các thế hệ con cháu, nhất là những người có nhiều may mắn trong cuộc sống càng cần phải làm tròn bổn phận với những người đã mất, thực hiện những nghi lễ giỗ tết hằng năm.

Mục đích lớn nhất, nhiệm vụ quan trọng của hôn nhân trong gia đình Hàn Quốc là duy trì hậu duệ và thờ cúng tổ tiên với biểu hiện cụ thể là sinh ra những người con trai để nối dõi, thừa kế gia sản, chăm sóc cha mẹ lúc già yếu. Chính vì thế mới có chuyện bao nhiêu thế hệ phụ nữ phải chịu đau khổ vì không thực hiện được “nghĩa vụ” của mình là sinh được con trai cho nhà chồng. Hôn nhân thường do cha mẹ hoặc thông qua mối lái sắp đặt. Cô dâu chỉ biết mặt chú rể vào ngày cưới là chuyện bình thường theo luật tục hôn nhân thời trước.

Hệ thống dòng họ, thân tộc truyền thống của người Hàn Quốc được xác định chủ yếu trong mối quan hệ thờ cúng tổ tiên rất phức tạp. Theo đánh giá của các nhà dân tộc học Hàn Quốc, tục thờ cúng tổ tiên có bốn cấp độ, bắt đầu từ phạm vi hộ gia đình và cao nhất là phạm vi thị tộc.

Trong xã hội Hàn Quốc truyền thống, một gia đình điển hình thường bao gồm các thành viên thuộc ba, bốn thế hệ sống cùng trong một mái nhà; một gia đình lớn đông thành viên thường được xem như có nhiều phúc lộc.

Hộ gia đình, chỉ bao gồm vợ, chồng và con cái của họ. Trong trường hợp hộ gia đình đó là của người con trai cả, thì bao gồm cả cha, mẹ của người con trai cả. Hộ gia đình người con trai cả được người Hàn Quốc gọi là hộ gia đình lớn, đó là hộ gia đình gốc, còn những hộ gia đình của những người con trai thứ gọi là gia đình nhỏ, gia đình nhánh. Thông qua hộ gia đình người con trai cả, sự kế thừa về quyền lợi và trách nhiệm thờ cúng tổ tiên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Cấp độ thứ hai trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc là nhóm những người để tang nhau, bao gồm tất cả những con cháu của ông bà tổ tiên tính theo dòng cha trong phạm vi bốn đời. Vai trò của nhóm những người để tang nhau được thể hiện rõ nhất trong việc tổ chức và thực hiện những nghi lễ ở “khu vực chôn cất” hoặc ở các nhà thờ của dòng họ. Người đàn ông đứng đầu của từng nhóm sẽ thay mặt tất cả các thành viên đọc những lời khấn và thỉnh cầu đối với ông bà, tổ tiên.

Cấp độ thứ ba trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc cũng giống cấp độ thứ hai, những nghi lễ thờ cúng tổ tiên cũng được con cháu trong cấp độ thứ ba thực hiện nhưng trong phạm vi năm đời. Chi phí trong việc thờ cúng tổ tiên dòng họ được thực hiện dựa trên những khoản thu hoạch mùa màng trên mảnh đất chung. Ngoài ra, những người trong quan hệ thân tộc ở cấp độ thứ ba còn giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp nghèo khó, túng thiếu và giám sát các thành viên về mặt đạo đức.

Cấp độ thứ tư trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc đó là thị tộc, nó bao trùm tất cả các cấp độ quan hệ họ hàng, gồm họ của những nhóm người có chung nguồn gốc (những người có chung dòng họ và nguồn gốc từ thời xa xưa). Lẽ đương nhiên, tính cố kết của các thành viên ở cấp độ thứ tư không chặt chẽ so với các thành viên của cấp độ thứ ba. Do những quy định luật lệ cứng nhắc về hôn nhân được thiết lập theo chế độ hôn nhân ngoại tộc, những người trong một thị tộc không được phép lấy nhau. Do đó, một chức năng quan trọng của thị tộc trong hệ thống thân tộc ở cấp độ thứ tư này là xác định rõ các nhóm tộc người để cho phép họ có thể thiết lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không. Những quy định này mãi tới tận những năm đầu của thế kỷ XX mới được sửa đổi. Luật Hôn nhân và Gia đình Hàn Quốc chỉ cấm nam, nữ trong cùng dòng họ lấy nhau trong phạm vi ba đời.

Sự phát triển kinh tế Hàn Quốc do quá trình công nghiệp hóa đất nước khiến cho đời sống gia đình của người Hàn Quốc trở nên sôi động, phức tạp hơn. Cơ cấu xã hội truyền thống của người Hàn Quốc, trong đó có cơ cấu gia đình Hàn Quốc đã có sự thay đổi và bị phá vỡ. Những đôi vợ chồng trẻ mới thành hôn tách khỏi đại gia đình và bắt đầu cuộc sống riêng. Ngày nay, mô hình gia đình hạt nhân với trung tâm là một cặp vợ chồng đang là phổ biến ở Hàn Quốc.

“Tình yêu In-tơ-nét”, lấy vợ, lấy chồng qua In-tơ-nét đã được sử dụng nhiều trong xã hội hiện đại. Thay vì phải ra khỏi nhà tìm kiếm cơ hội gặp gỡ, In-tơ-nét đã có thể giúp cho việc tìm hiểu, làm quen với nhau, thậm chí sắp xếp, “tác thành” những cuộc hôn nhân.

… Đến hiện đại

Giai đoạn chuyển đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại ở Hàn Quốc được thực hiện trong đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Nguyên nhân sâu xa của sự chuyển đổi này bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế, là quá trình đô thị hóa và theo đó là sự gia tăng dân cư ở đô thị. Biểu hiện đầu tiên dễ nhận thấy của sự chuyển đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đó là: các mối quan hệ dòng họ phức tạp trong gia đình truyền thống bị suy yếu và bị thay thế bằng một cấu trúc gia đình giản đơn. Gia đình hiện nay ở Hàn Quốc là gia đình hạt nhân một thế hệ (gia đình không có con cái hoặc gia đình độc thân) và gia đình hai thế hệ (bố mẹ và con cái). Đây là mô hình gia đình chủ yếu hiện nay trong xã hội Hàn Quốc, trong đó vợ chồng là trung tâm của gia đình. Một biểu hiện khác trong gia đình hiện đại đó là sự đấu tranh mạnh mẽ cho quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Một nét đặc biệt có liên quan đến quan hệ gia đình ở Hàn Quốc đó là việc kết hôn. Theo các nhà nghiên cứu, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX, những cuộc hôn nhân do nam, nữ tự tìm hiểu, tự lựa chọn mới bắt đầu gia tăng. Trước đó, các cuộc hôn nhân ở Hàn Quốc phần lớn là do mai mối. Các quán cà phê ở Xơ-un và các thành phố khác là nơi hò hẹn, gặp nhau của các chú rể, cô dâu tương lai trong những ngày nghỉ cuối tuần. Trong giai đoạn chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang hiện đại, nhiều đôi nam nữ thông qua các công ty mai mối đã trở thành vợ chồng.

Quan niệm hôn nhân cũng có sự thay đổi, biểu hiện là sự gia tăng các cuộc hôn nhân giữa những người đàn ông trẻ tuổi với phụ nữ đã có tuổi hoặc giữa những người đàn ông mới lấy vợ lần đầu với những người phụ nữ đã từng lấy chồng trước đó. Giải thích hiện tượng này, nhiều nhà nghiên cứu lý giải bởi nguyên nhân kinh tế, do sức mạnh về kinh tế cũng như địa vị xã hội từ người phụ nữ mà người đàn ông có được sau khi kết hôn. Những hiện tượng này đã loại bỏ quan niệm cũ cho rằng người đàn ông phải lấy vợ trẻ tuổi hơn hoặc vợ hai phải là người lấy chồng lần đầu.

Một nguyên nhân được đưa ra cho sự biến đổi trong quan hệ hôn nhân ở gia đình Hàn Quốc hiện đại đó chính là tập tục sinh con trai để nối dõi tông đường. Việc mỗi gia đình Hàn Quốc phải cố gắng có con trai đã làm mất cân bằng giới tính, số lượng nam giới nhiều hơn nữ giới, đặc biệt là những người trong độ tuổi kết hôn. Chính vì lý do này, các cuộc hôn nhân giữa cô dâu đã lấy chồng một lần trước đó với các chú rể mới lấy vợ lần đầu là điều không tránh khỏi và đang có xu hướng tiếp tục tăng.

Đặc biệt, với sự phát triển của In-tơ-nét, quan hệ hôn nhân trong gia đình các nước nói chung và gia đình hiện đại Hàn Quốc nói riêng đã có sự thay đổi. “Tình yêu In-tơ-nét”, lấy vợ, lấy chồng qua In-tơ-nét đã được sử dụng nhiều trong xã hội hiện đại. Thay vì phải ra khỏi nhà tìm kiếm cơ hội gặp gỡ, In-tơ-nét đã có thể giúp cho việc tìm hiểu, làm quen với nhau, thậm chí sắp xếp, “tác thành” những cuộc hôn nhân. Ngày nay, những người trẻ tuổi Hàn Quốc không chỉ sử dụng In-tơ-nét để kinh doanh, học tập, giải trí… mà còn sử dụng In-tơ-nét trong việc tìm kiếm bạn đời, cho việc hình thành gia đình.

Tất cả những tác động trên đã làm cho gia đình Hàn Quốc hiện nay thực sự thay đổi về quy mô và cơ cấu. Hầu hết các gia đình Hàn Quốc là gia đình hạt nhân, phần còn lại là gia đình mở rộng. Gia đình ba, bốn thế hệ chiếm tỷ lệ không đáng kể trong xã hội Hàn Quốc hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa đất nước, với việc xây dựng nhà máy, xí nghiệp ở khắp nơi, đặc biệt là ở các khu đô thị đã làm gia tăng dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm công ăn việc làm. Những người di cư này chủ yếu là thanh niên và trung niên. Như vậy, gia đình nông thôn bị xé lẻ, những thành viên trẻ ở thành thị sẽ tìm kiếm việc làm và định cư tại đó, sau khi lấy vợ, lấy chồng sẽ tạo nên những gia đình hạt nhân. Các cặp vợ chồng ở các khu đô thị thời kỳ công nghiệp hóa do nhiều nguyên nhânkhác nhau chỉ sinh một hoặc hai con. Do vậy, số gia đình hạt nhân ở Hàn Quốc gia tăng nhưng quy mô thành viên trong gia đình hiện đại lại giảm. Hiện nay, quy mô gia đình Hàn Quốc ngày càng thu nhỏ, 3,2 người/gia đình.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 18 NĂM 2007

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TRẦN NGỌC HIÊN

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước. Sau 15 năm thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về quá trình này. Nhiều vấn đề lý luận và tư duy kinh tế đang đặt ra cần giải quyết để nâng cao hiệu quả của quá trình cổ phần hóa trong thời gian tới.

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một trong những vấn đề đang được đẩy mạnh ở nước ta, nhưng việc thực hiện một cách có hiệu quả không đơn giản. Vì vậy, sau 15 năm thực hiện cổ phần hóa, rất cần có sự nhìn lại thực trạng, đánh giá triển vọng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong những năm tới.

1. Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 15 năm qua

Theo báo cáo gần đây của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (tháng 5-2006), trong 15 năm qua, nước ta đã thực hiện cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước, trong đó có 80% số doanh nghiệp mới thực hiện cổ phần hóa từ năm 2001 đến nay. Từ số liệu trong Báo cáo này, bước đầu có thể phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp ở một số khía cạnh sau:

– Đối tượng cổ phần hóa. Nói đến đối tượng cổ phần hóa là nói đến việc lựa chọn doanh nghiệp nhà nước nào để thực hiện cổ phần hóa. So với quy định ban đầu, chúng ta đã bổ sung đối tượng cổ phần hóa là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước. Tuy vậy cho đến nay, 77% số doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng. Riêng đối với loại doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước không giữ tỷ lệ nào trong vốn điều lệ thì đều là doanh nghiệp nhỏ có vốn nhà nước dưới 1 tỉ đồng và kinh doanh kém hiệu quả. Loại doanh nghiệp nhỏ này chiếm gần 30% số doanh nghiệp mà Nhà nước thực hiện cổ phần hóa.

Sự lựa chọn các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa như vậy đã làm chậm tiến độ thực hiện chủ trương cổ phần hóa; các doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được rõ những ưu thế của doanh nghiệp đã cổ phần hóa với những doanh nghiệp chưa cổ phần hóa, chưa thực hiện được các mục tiêu cổ phần hóa đề ra.

– Cơ cấu vốn điều lệ. Tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp đã cổ phần hóa như sau: nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới 50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ % vốn nào ở gần 30% số doanh nghiệp.

Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhà nước đã được cổ phần hóa chỉ mới chiếm 12%, và ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm khoảng 40%, vì thế số vốn mà Nhà nước cổ phần hóa được bán ra ngoài mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%).

Với cơ cấu vốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên có thể thấy bức tranh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn khái niệm cổ phần “chi phối” của nhà nước.

– Cơ cấu cổ đông. Cổ đông trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa là cán bộ, công nhân viên nắm 29,6% cổ phần; cổ đông là người ngoài doanh nghiệp nắm 24,1% cổ phần; cổ đông là Nhà nước nắm 46,3% cổ phần.

Nét đáng chú ý về cơ cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trong nước khó mua được lượng cổ phần đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, còn nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ được mua số lượng cổ phần hạn chế. Điều này làm cho các doanh nghiệp đã cổ phần hóa rất khó hoạt động có hiệu quả, nhất là trước sức ép cạnh tranh ở cấp độ quốc tế, khi nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Phân tích một số bài viết nghiên cứu về quá trình cổ phần hóa trên báo chí, chẳng hạn bài “Cổ phần hóa – quỹ đạo nào để bảo toàn, phát triển thị trường vốn?” đăng trên báo Tài chính; qua những thông tin từ Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp, có thể nhận thấy việc đánh giá về hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có những ý kiến không giống nhau. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, sau khi cổ phần hóa, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm. Chỉ có 10% số doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động kém hiệu quả vì trước khi cổ phần hóa các doanh nghiệp này đã hoạt động rất kém, nội bộ mất đoàn kết, khôgn thống nhất; mặt khác còn do sự can thiệp không đúng của chính quyền địa phương…

Thứ hai, theo kết quả nghiên cứu, đến thời điểm này chưa có doanh nghiệp nhà nước nào sau khi cổ phần hóa biến thành tư nhân hóa. Tuy nhiên, trong đánh giá của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội Đặng Văn Thanh – người tham gia đoàn giám sát của Quốc hội – bên cạnh việc công nhận một số kết quả do cổ phần hóa mang lại, cũng đã chỉ rõ: có tình trạng, một số doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đang dần chuyển hóa thành doanh nghiệp tư nhân do một số cổ đông đã bán, chuyển nhượng số cổ phần của mình, hoặc làm trung gian thu gom cổ phần cho tư nhân ngoài doanh nghiệp nắm giữ, có trường hợp đã nắm hơn 50% tổng giá trị cổ phần danh nghĩa để trở thành chủ nhân đích thực của doanh nghiệp. Theo ông Thanh, đây là điều trái với chủ trương cổ phần hóa của Đảng và Nhà nước.

2. Những vấn đề đặt ra của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta nói trên đang đặt ra nhiều vấn đề cả về mặt lý luận, tư duy kinh tế lẫn thực tiễn quản lý, tổ chức hoạt động doanh nghiệp.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung ở các nước, bởi:

– Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hình thành trong quá trình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây. Điều này khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát triển: là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu.

– Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu năm trong cơ chế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chế thị trường, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là đã tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, cạnh tranh.

– Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân và tuân theo quy luật thị trường.

– Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với lý do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh.

Từ những sự khác biệt đó cho thấy:

– Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Tình hình đó không giống với yêu cầu có tính quy luật là cổ phần hóa doanh nghiệp là một bước tiến của quá trình xã hội hóa, tuân theo quy luật khách quan: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

– Đối tượng cổ phần hóa ở nước ta khác hẳn với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trong nền kinh tế thị trường phát triển cao. Ở nước ta, một bộ phận doanh nghiệp nhà nước sau khi được cổ phần hóa vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý, tức là, chưa hẳn là một tổ chức hoạt động tuân theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường.

– Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế, vẫn dựa trên tư duy cũ. Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề. Việc giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất cập như:

Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa. Việc xác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn chưa có Nghị định 187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hội đồng hoặc doanh nghiệp tự đảm nhận. Điều đó dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó, phần lớn cổ phần rơi vào tay một nhóm người. Trong giai đoạn sau khi có Nghị định 187: sự thất thoát tài sản nhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu.

Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn. Tính đến ngày 31-12-2005, dư nợ cho vay đối với các công ty cổ phần vào khoảng 51.603 tỉ đồng. Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính.

Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trị có độ tin cậy thấp. Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần.

Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa. Bình quân thời gian để thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày, tổng công ty mất 554 ngày. Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%.

Thực tiễn 15 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở nước ta cho thấy: chúng ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển sang kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng.

Như vậy, doanh nghiệp nhà nước do chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩa trước đây để lại đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường. Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tư duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân.

3. Để nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Sau 20 năm chuyển đổi nền kinh tế, nước ta đã đạt được một số thành tựu về tăng trưởng kinh tế, nhưng hiệu quả, chất lượng tăng trưởng còn chưa cao. Trên nền chung đó lại diễn ra quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, triển vọng của quá trình cổ phần hóa sẽ như thế nào có quan hệ chặt chẽ với chất lượng đổi mới nền kinh tế từ nay trở về sau.

Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ có hiệu quả khi đồng thời tạo được các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều chỉnh phương hướng đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, khai thác những lợi thế của đất nước và các nguồn đầu tư bên ngoài để đưa đến một mô hình kinh tế hợp lý.

Theo dõi quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, giáo sư Đa-vít Đa-pi (David Dapice đại học Ha-vớt) nêu rõ: thực tế mỗi năm Chính phủ Việt Nam đầu tư khoảng 30% GDP, nhưng chỉ tăng trưởng 7%-8%. Nếu biết đầu tư đúng thì tăng trưởng phải đạt ở mức 9%-10% như Trung Quốc. Theo cách tính toán trên, do đầu tư không phù hợp, chúng ta đã làm tổn thất 2% GDP của đất nước (khoảng 1 tỉ USD mỗi năm). Vì thế, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải dựa trên quan điểm tiết kiệm ngân sách, đầu tư khôn ngoan, chứ không phải chỉ là giải pháp cho những yếu kém trong kinh tế nhà nước. Trên thế giới, đã có những nước sử dụng rất hiệu quả ngân sách nhà nước. Ví dụ, Đài Loan vào thập kỷ 1960-1970 chỉ có mức thu nhập bình quân đầu người như Việt Nam hiện nay, nhưng họ đã đạt được tăng trưởng kinh tế ở mức 11% trong suốt 10 năm liền, tuy lượng đầu tư chỉ chiếm 25% ngân sách.

Thứ hai, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước phải hướng tới sự thu hút và tập trung các nguồn vốn xã hội vào phát triển kinh tế, tạo ra hình ảnh nhân dân xây dựng và làm chủ nền kinh tế. Khi điều này được thực hiện thì các khâu của quy trình cổ phần hóa sẽ thay đổi, từ việc định giá doanh nghiệp, cơ cấu vốn điều lệ doanh nghiệp cổ phần, cơ cấu cổ đông, tổ chức bộ máy, đến những vấn đề nhân sự khác… sẽ không như hiện nay, mà sẽ bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn trước, có lợi cho người lao động, nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế.

Thứ ba, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải tính tới những yêu cầu đặt ra khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO để sau khi cổ phần hóa thì các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Tác động của việc gia nhập WTO tốt hay xấu đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm và định hướng quy trình cổ phần hóa. Ở đây xin nêu lên hai vấn đề quan trọng:

– Cần xác định rõ: ai là chủ sở hữu thực tế của công ty cổ phần và chủ sở hữu phải gắn liền với trách nhiệm đối với công ty như thế nào?. Trong vấn đề này có một nội dung phải làm rõ: ai đại diện chủ sở hữu số vốn nhà nước trong công ty cổ phần nhằm chấm dứt quan hệ sở hữu nhà nước chung chung và không có trách nhiệm, kéo dài nhiều năm nay.

– Cần vận dụng: “Quy chế quản trị công ty” nhằm tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, lành mạnh. Yêu cầu này chỉ thực hiện được khi có sự lựa chọn những giám đốc phù hợp với quy chế quản trị công ty, nhất là phải sớm đào tạo và bố trí các giám đốc tài chính của công ty (có vai trò và phạm vi hoàn toàn khác với kế toán trưởng trong doanh nghiệp kiểu cũ).

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 6 NĂM 2007

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN – Phó viện trưởng Viện Kinh tế học

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một sự đổi mới tư duy đúng đắn của Đảng dựa trên cơ sở lý luận khoa học trong tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bài viết góp phần phân tích và khẳng định điều đó; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN, những yếu tố quyết định định hướng XHCN, nêu rõ các điều kiện để thực hiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Sau gần 20 năm xây dựng CNXH dựa vào và thông qua cơ chế thị trường, cuộc tranh luận thế nào là kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn tiếp tục. Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông và Trung Âu đồng nghĩa với sự sụp đổ của mô hình CNXH dựa trên nền tảng chế độ sở hữu – công hữu đơn nhất và cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Khi mô hình hiện thực sụp đổ, sự hoài nghi cơ sở lý luận chính thống của nó, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là không thể tránh khỏi. Sự hoài nghi càng rõ khi thực tiễn chọn một cách thức dường như trái ngược, đã từng bị phủ nhận để thực thi CNXH: cách thức thị trường. Đây là lý do nảy sinh một khoảng trống lý luận trong việc giải thích xu hướng thực tiễn trái với tư duy thông thường. Điều này tạo ra một rào cản vô hình nhưng rất khó vượt qua đối với các ý định xây dựng một lý luận mới giải thích và dự báo thực tiễn đổi mới, cái đã và đang vượt qua lý luận cũ.

1 – Tuy nhiên, việc vượt qua rào cản lý luận này, về nguyên tắc, không có gì phức tạp. Vì cơ sở lý luận đó đã có sẵn, lại có sẵn trong chính chủ nghĩa Mác. Việc không thay được một phần vì thiếu một điều kiện tiên quyết: thái độ lý luận rõ ràng đối với 2 cách lập luận của Mác và của Lê-nin về mô thức chuyển biến sang CNXH và xây dựng CNXH.

Trong khuôn khổ lý luận về CNXH về mặt kinh tế, việc nhập các luận điểm khoa học của Mác và Lê-nin thành chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách đơn giản đôi khi gây ra sự ngộ nhận. Có hai điểm cần được thừa nhận:

– Mác và Lê-nin chưa xây dựng được một hệ thống lý luận về nền kinh tế XHCN theo đúng nghĩa hệ thống. Cái có được chỉ mới là những lập luận, suy luận lô-gic, những dự đoán khoa học và một số đường nét phác họa cụ thể, chưa đầy đủ về triển vọng của nền kinh tế và chế độ xã hội mới. Trong sự tiếp tục phát triển lý luận về CNXH ở các thế hệ mác-xít sau này, việc “đóng đinh” niềm tin vào một trạng thái lý luận chưa đầy đủ như vậy, tưởng tượng nó thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, giống như hệ thống lý luận về CNTB mà Mác đã xây dựng, trên cơ sở đó, biến nó thành một hệ thống giáo điều, bao gồm các nguyên lý mang tính chân lý hầu như bất biến chứa đựng những nguy cơ lớn trong nhận thức và hành động.

– Về con đường đi lên CNXH, Mác và Lê-nin đưa ra hai phương án khác nhau. Về nguyên tắc, Mác cho rằng chỉ khi nền kinh tế thị trường phát triển đến tột bậc (với Mác, điều đó cũng có nghĩa là khi CNTB phát triển đến tận cùng[1] thì quá trình chuyển biến sang CNCS (CNXH) mới diễn ra như một tất yếu. Lê-nin lại không nghĩ như vậy. Ông cho rằng quá trình chuyển biến sang CNXH và CNCS có thể thành công cả ở những, thậm chí một nước lạc hậu; rằng mô hình kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ công hữu thuần nhất – đơn nhất về tư liệu sản xuất là cái có thể áp dụng hiệu quả ở một nền kinh tế kém phát triển, chưa trải qua thị trường trong giai đoạn quá độ lên CNXH[2].

Giữa Mác và Lê-nin rõ ràng có một sự khác biệt nhất định trong việc nhận thức về tính tất yếu, về phương thức (con đường) và nội dung kinh tế của quá trình đi lên CNXH. Và đây là một điều bình thường trong khoa học, trong việc nhận thức thế giới khách quan trong trạng thái vận động liên tục của nó.

Tuy có hai quan điểm khác nhau như vậy nhưng từ Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay, hầu như chỉ ngự trị quan điểm của Lê-nin với tư cách là quan điểm chính thống duy nhất và là quan điểm chung cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Trong khuôn cảnh như vậy, việc nêu lại quan điểm của Mác có hàm ý rằng đối với những nền kinh tế chưa từng trải qua thị trường hoặc thị trường chưa phát triển hết mức, để đi lên nấc thang cao hơn của lịch sử, việc “trở lại”, “xuyên qua” thị trường là bắt buộc; rằng trong quan hệ lý luận, điều đó không có gì mới so với chủ nghĩa Mác. Đó chỉ là sự trở lại Mác đích thực chứ không phải mác xít một cách trừu tượng, chung chung.

Sự phân biệt Mác và Lê-nin trong quan niệm về cách thức đi lên CNXH hàm nghĩa sự thừa nhận rằng căn gốc lý luận của công thức phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay đã có sẵn trong chính học thuyết Mác, trong các luận điểm cụ thể, rất xác định của ông chứ không phải của một ai khác, của một cái gì chung chung khác. Nhưng cũng phải nói rõ rằng đây chỉ là gốc rễ lý luận sâu xa. Mác chưa hề trực tiếp viết và nói như vậy. Còn đối với Lê-nin, với “Bàn về thuế lương thực”, Ông cũng cho rằng phải thay đổi cách thức xây dựng CNXH, phải phát triển các quan hệ thị trường như một tất yếu. Ông đã đề cập trực diện đến vấn đề này trong Chính sách kinh tế mới (NEP) nổi tiếng cũng như ẩn ý đằng sau luận điểm “thay đổi hoàn toàn nhận thức về CNXH” được nêu lúc cuối đời[3].

Theo lập luận đó, có cơ sở để khẳng định việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hay xây dựng CNXH thông qua kinh tế thị trường không hề là việc đi ngược lại học thuyết Mác, là sự phá sản của chủ nghĩa Mác. Trái lại, nó đơn giản chỉ là thực hiện đúng logic phát triển tự nhiên mà Mác đã phát hiện và lịch sử loài người đã trải qua. Tất nhiên, đây không phải là sự trở lại Mác và Lê-nin nguyên xi, bất biến. Lịch sử đã vượt xa các điều kiện phát triển thời Mác và Lê-nin[4].

2 – Về mối quan hệ giữa thị trường và định hướng XHCN, có hai vấn đề cần lưu ý:

– Mục đích của CNXH là phát triển, bao hàm phát triển con người. Kinh tế thị trường là phương thức có hiệu quả để đạt được phát triển. Theo nghĩa đó, thị trường và định hướng XHCN là đồng hướng (cùng véc-tơ) lịch sử chứ không phải là nghịch lý.

– Nói phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nghĩa là thừa nhận kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của quá trình chuyển biến lên CNXH. Do vậy, nó là “bản nguyên” thứ nhất của quá trình xây dựng CNXH về mặt kinh tế.

Khi thừa nhận như vậy, để định hướng quá trình phát triển theo hướng XHCN, trước hết phải bảo đảm cho thị trường phát huy hiệu quả tối đa. Phát triển mạnh kinh tế thị trường trong giai đoạn xây dựng CNXH chính là thực hiện định hướng XHCN một cách thực chất nhất.

Có nghĩa là mọi sự bàn luận về phát triển trong giai đoạn quá độ lên CNXH, trong thời kỳ xây dựng CNXH, trước hết phải là bàn luận để phát triển kinh tế thị trường, trên cơ sở đó, mới bàn đến cái khác (định hướng XHCN là một trong những cái khác này). Nếu trật tự bàn luận khác đi, nghĩa là lộn ngược lô-gic của sự vật.

3 – Song, định hướng XHCN có những nội dung vượt ra ngoài thị trường. Một số đặc trưng phát triển XHCN vượt ra bên ngoài, lên cao hơn những kết quả do thị trường mang lại, kể cả những kết quả tích cực. Chúng không hoàn toàn và không tự động tương hợp với thị trường. Công bằng và bình đẳng trong phát triển, quyền của người dân, tức là dân chủ, vượt lên trên quyền dân chủ đo bằng đồng đô la (bỏ phiếu bằng tiền) là những thứ như vậy. Do đó, trong quá trình xây dựng CNXH, tức là quá trình phát triển theo định hướng XHCN, ngoài việc phát triển kinh tế thị trường và trên cơ sở thị trường, còn phải nỗ lực khắc phục những thất bại của thị trường (khuyết tật) và đạt tới một số mục tiêu mà tự thị trường không định hướng tới (phúc lợi xã hội, phục vụ người nghèo, v.v., nghĩa là bảo đảm phát triển bền vững).

Từ các lập luận đó, có thể tóm tắt mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đơn giản và rõ ràng như thế này được chăng: hiệu quả kinh tế, dân chủ và công bằng (hàm ý phúc lợi xã hội và phục vụ người nghèo[5]?

4 – Những yếu tố nào quyết định tiến trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN? Hai yếu tố chủ yếu là thị trường và nhà nước. Đây là hai cơ cấu quyền lực lớn nhất (bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình), có vai trò dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy, trọng tâm của việc bàn luận về quá trình chuyển đổi kinh tế, về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bàn về mối quan hệ nhà nước – thị trường, bàn về cơ chế phối hợp các hoạt động chức năng của hai lực lượng cơ chế này sao cho quá trình thực tiễn đạt được các mục tiêu hiệu quả, dân chủ và công bằng.

Nếu tiến sâu hơn nữa, có thể nói hạt nhân của sự bàn luận đó là vấn đề nhận thức và hành động của nhà nước – lực lượng chủ thể, quyền lực và có ý thức của cơ chế, của sự phối hợp nhà nước – thị trường[6].

Trong giai đoạn chuyển đổi, việc thị trường có phát triển được không, có thực hiện định hướng phát triển một xã hội dân chủ và công bằng hay không tùy thuộc quyết định vào cách nhà nước giải quyết mối quan hệ chức năng nhà nước – thị trường.

Cụ thể cần làm rõ nhà nước phải: i) Xây dựng hệ thống thể chế thị trường (hệ thống thị trường yếu tố); ii) Đổi mới cơ cấu sở hữu, hình thành cấu trúc chủ thể của nền kinh tế thị trường; iii) Xây dựng cơ chế kinh tế thị trường, trong đó, khâu trọng tâm là phân định chức năng nhà nước và thị trường;

5 – Quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam gần 20 năm qua cho thấy:

– Xu hướng tổng quát nhất – chuyển sang cơ chế thị trường và phát triển kinh tế thị trường – đã được khẳng định.

– Hầu như mọi nội dung cải cách cụ thể đều đã được “đụng” tới. Nhiều thành tích đạt được là ngoạn mục. Nhưng dở dang, kém hiệu quả còn rất nhiều. Kết quả phát triển thu được nhiều nhưng tổn thất cũng rất lớn; chất lượng tăng trưởng và phát triển thấp, năng lực cạnh tranh – yếu tố sống còn của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế – rất yếu kém và chậm được cải thiện;…

Có thể thấy đây là hậu quả của cách làm nửa vời, ra thật nhiều quyết định, muốn đồng thời đạt được thật nhiều mục tiêu, trong khi thiếu điều kiện thực thi, không tính kỹ đến điều kiện bảo đảm thực thi, nhất là điều kiện bộ máy và con người (năng lực thực thi) khi ra quyết định và chọn mục tiêu. Nền kinh tế nhiều khi lâm vào tình trạng “đánh trống bỏ dùi”. Vốn ít nhưng bày ra nhiều công trình, mỗi công trình lại rất tốn vốn. Kết cục là dở dang hầu như ở tất cả những việc đặt ra để làm và hậu quả để lại rất lớn. Như vậy rõ ràng nền kinh tế thị trường không vận hành tốt, hiệu quả thấp nên định hướng XHCN cũng khó thực hiện.

Nguyên nhân lý luận của thực tế này là do chủ thuyết (chứ không chỉ là ý đồ và quyết tâm) phát triển kinh tế thị trường chưa được định; do bản chất và logic phát triển kinh tế thị trường chưa thông ở nhiều tầm, nhiều cấp và do cách hiểu về mối quan hệ giữa bản nguyên thứ nhất (phát triển kinh tế thị trường) với bản nguyên thứ hai (định hướng XHCN) trong chiến lược phát triển kinh tế không thật hợp lý. Vì vậy, sau 20 năm phát triển kinh tế thị trường, chúng ta vẫn chưa thể nói thật tự tin rằng chức năng nhà nước – thị trường đã được phân định rõ, hệ thống thị trường đã phát triển đồng bộ, còn cơ cấu sở hữu đã phát triển đúng trên nền tảng thị trường bình đẳng, không phân biệt đối xử.

6 – Về vấn đề xây dựng hệ thống thể chế thị trường. Đại hội IX của Đảng đề ra mục tiêu hình thành và phát triển đồng bộ hệ thống thể chế thị trường với tư cách là sự đột phá chiến lược. Đây là một định hướng chiến lược đúng, đáp ứng đòi hỏi đang ngày càng gay gắt của thực tế.

Tuy nhiên, bước tiến theo hướng này thực sự là rất chậm. Hệ thống thể chế thị trường hình thành và phát triển lệch pha và lệch nhịp nhau. Bằng chứng: thị trường bậc cao nhất (thị trường chứng khoán) ra đời trong khi thị trường các yếu tố đầu vào cơ bản nhất (thị trường đất đai, thị trường lao động) hãy còn chưa được thừa nhận chính thức;… Kết cục là thị trường không thể vận hành hiệu quả, trong khi nước ta là nước đi sau rất lâu trong phát triển kinh tế thị trường so với các nước khác. Có hai nguyên nhân lớn:

Thứ nhất, chưa nhận thức đúng và đầy đủ bản chất, nguyên tắc và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường, do vậy, chưa hiểu rõ thực chất và vai trò của tính đồng bộ hệ thống và trật tự bước đi của quá trình hình thành các thể chế kinh tế thị trường.

Thứ hai, thái độ hoài nghi thị trường vẫn còn nặng, cách tiếp cận đến kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn bị chi phối quá mạnh bởi thiên kiến tư tưởng (ví dụ đặt vấn đề bản chất TBCN của thị trường chứng khoán).

Không vượt qua được những điểm yếu căn bản đó trong tư duy, trong nhận thức thì quá trình chuyển sang thị trường và phát triển kinh tế thị trường chắc chắn còn gặp nhiều ách tắc.

7 – Về cấu trúc sở hữu, vấn đề mấu chốt của một chế độ kinh tế. Việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần rõ ràng là một bước tiến căn bản. Song không đủ và đang ngày càng trở nên rất không đủ để có thể giải thích đúng thực tiễn kinh tế Việt Nam hiện nay và tạo thành cơ sở lý luận cho sự phát triển của nền kinh tế hiện thực. Các biểu hiện quan trọng là:

– Sự kỳ thị thực tiễn đối với các thành phần còn rất nặng, thể hiện ở môi trường kinh doanh, ở điều kiện tiếp cận đến các nguồn lực và điều kiện phát triển.

– Dành phần “cấm địa” cho khu vực kinh tế nhà nước bằng hàng loạt ưu đãi, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng – kích cầu. Từ đó tạo thành những nhóm lợi ích mạnh có khả năng thao túng chính sách và hành động của nhà nước. Cơ chế cạnh tranh bình đẳng – nguyên lý tối cao của kinh tế thị trường, vì thế, bị vi phạm, bị coi thường.

Kết quả là tăng trưởng thấp xa mức tiềm năng, sự gia tăng nạn tham nhũng, mức độ nhất quán thấp, nghiêng mạnh về đối phó tình huống thay vì tầm nhìn dài hạn trong định hướng chính sách vĩ mô. Căn gốc vấn đề là ở đâu?

– Đầu tiên là từ quan niệm “thành phần” vẫn còn quá nặng; không hiểu một cách triệt để và thực tiễn bản chất bình đẳng, tự do của tất cả các chủ thể thị trường khi tham gia cuộc chơi phát triển trong môi trường thị trường. Đặc biệt, thái độ không triệt để trong việc nhìn nhận vai trò then chốt của chế độ sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường.

– Từ việc giữ nguyên mong muốn đơn giản xây dựng một nền kinh tế có hệ thống sở hữu XHCN thuần khiết ngay cả trong thời kỳ quá độ, kể cả quá độ được thực hiện thông qua kinh tế thị trường.

– Từ cách hiểu cứng nhắc, đơn giản và trừu tượng về cái gọi là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (của khu vực DNNN hay của nhà nước vẫn còn chưa rõ, thường bị lẫn lộn).

8 – Trong khuôn khổ vấn đề về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, một vấn đề lý luận then chốt đặt ra là liệu có sự nhất quán giữa nguyên tắc sở hữu XHCN đối với tư liệu sản xuất, trong đó kinh tế nhà nước (hay DNNN) phải đóng vai trò chủ đạo với hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường hay không.

Về mặt thực tiễn, cần lưu ý rằng: khu vực kinh tế chủ đạo hiện đang chỉ bảo đảm việc làm cho 2/40 triệu người lao động và hầu như không tạo việc làm mới nào. Trong khi đó, khu vực tư nhân đang là lực lượng bảo đảm việc làm và tạo việc làm mới cho người lao động[7]. Khu vực nhà nước có tỷ trọng nhỏ bé trong nông nghiệp; trong công nghiệp, tỷ trọng của khu vực nhà nước cũng chỉ khoảng 40% nhưng tốc độ tăng trưởng không cao hơn khu vực tư nhân và FDI. Đối với lĩnh vực dịch vụ, khu vực tư nhân nói chung chiếm tỷ trọng áp đảo, nhất là trong các ngành giao thông – vận tải, xây dựng, thương mại, du lịch. Ngoài ra, cùng với quá trình cổ phần hóa, tỷ trọng của khu vực DNNN càng thu hẹp lại nhanh chóng. Vậy nếu vai trò của DNNN là nhỏ và ngày càng thu hẹp về phạm vi thì vai trò chủ đạo có ý nghĩa thực tiễn gì? Câu trả lời chứa đựng trong những luận cứ sau:

– Phải chăng chủ đạo có nghĩa là gia tăng sở hữu nhà nước trong một số ngành công nghiệp “nặng”, “then chốt” như mía đường, xi-măng, thép và hóa dầu? Cho tới nay, những đầu tư này thường có nghĩa là giá trong nước cao hơn giá trên thị trường thế giới. Trong khi đó, khả năng giảm được chi phí của các DNNN trong các ngành công nghiệp nặng này là rất thấp. Để duy trì sự tồn tại thị trường của các DNNN, nhất là trong môi trường hội nhập, Nhà nước buộc phải gia tăng bảo hộ. Nhưng trên quan điểm thị trường, áp lực thường xuyên của việc bảo hộ các ngành này sẽ làm giảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước xuống một phạm vi rất hẹp… Việc khăng khăng giữ một vai trò chủ đạo trong ngành công nghiệp nặng tốn kém sẽ dẫn tới một cơ sở công nghiệp nhỏ hẹp, chi phí cao và ít triển vọng. Theo cách đó, sau một thập niên, kinh tế nhà nước sẽ có vai trò nổi trội trong những ngành công nghiệp “hoàng hôn”.

– Nhà nước có thể nắm giữ phần khống chế trong một số ngành quan trọng như tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, hàng không, v.v., coi đây như một bằng chứng quan trọng của vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Điều này là đúng. Song nên lưu ý rằng ngoại trừ một số hàng hóa và dịch vụ công cộng mà Nhà nước cần và có thể nắm giữ như điện, nước, bưu chính, các lĩnh vực khác như hàng không và ngân hàng cần được mở ra cho cạnh tranh để đạt hiệu quả cao hơn.

9 – Với các lập luận trên, phải chăng “vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” của một lực lượng nào đó không có ý nghĩa gì trong nền kinh tế thị trường? Câu trả lời là: Đặc biệt có ý nghĩa, nhưng không phải theo cách chúng ta nghĩ, chúng ta muốn và chúng ta xử sự với nền kinh tế nói chung, khu vực kinh tế nhà nước nói riêng từ trước đến nay – là cách kế hoạch hóa tập trung, độc tôn thống trị của một hình thức sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường, các lực lượng, chủ thể kinh tế phải bình đẳng trên cùng một sân chơi. Nhưng “vai trò chủ đạo” vẫn là một khái niệm quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó càng quan trọng hơn trong một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Với nghĩa dẫn dắt trò chơi, định hướng phát triển, khái niệm chủ đạo trước hết và chủ yếu gắn với việc đưa ra “luật chơi” và giám sát “cuộc chơi”. Chức năng chủ đạo, do vậy, bao hàm nhiệm vụ tạo lập môi trường vĩ mô hiệu quả (ổn định và mang tính khuyến khích)[8] xét từ quan điểm nền kinh tế thị trường.

Với nội dung đó, vai trò chủ đạo trong nền kinh tế phải do Nhà nước nắm, phải thuộc về Nhà nước chứ không thể thuộc về một lực lượng kinh tế riêng biệt nào. Phù hợp với lập luận này, định hướng XHCN sẽ được bảo đảm bằng nhà nước XHCN (hay nhà nước định hướng XHCN). Thông qua hoạt động đưa ra luật chơi, giám sát trò chơi, Nhà nước buộc tất cả các chủ thể phải tuân thủ trò chơi theo cách và theo hướng Nhà nước định. Tất nhiên, cách và hướng mà Nhà nước định phải phù hợp với xu thế tất yếu mà trước hết là phải tôn trọng các nguyên lý thị trường.

Nội hàm của “vai trò chủ đạo”, khi gắn với Nhà nước, được mở rộng thêm ra cả chức năng cung cấp hàng hóa công cộng. Còn đối với một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nội hàm còn được đẩy xa hơn nữa, bao gồm cả vai trò bảo đảm công bằng xã hội, hỗ trợ người nghèo, triển khai mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp và hiệu quả.

10 – Với nội dung như trên, khái niệm “vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” gắn kết lô-gic với tuyến vấn đề quan trọng thứ ba: phân định chức năng nhà nước – thị trường, nhà nước – doanh nghiệp.

Về nguyên tắc, chức năng nhà nước – thị trường, Nhà nước – doanh nghiệp được phân định một cách khách quan. Sự phân định đó không diễn ra theo cách, cái gì Nhà nước không làm được thì thị trường và doanh nghiệp mới được làm. Cũng không phải theo cách Nhà nước cố gắng làm mọi thứ tối đa có thể, phần còn lại mới là của thị trường, của doanh nghiệp[9].

Hiện nay Nhà nước ta đang tham gia quá sâu, quá rộng vào các chức năng của thị trường và doanh nghiệp trong khi nhiều lĩnh vực thuộc chức năng của mình lại chưa được hoàn thành tốt. Đó là tình trạng “nắm những cái không cần nắm; buông những cái không được buông”. Do đó Nhà nước phải trả cho thị trường và doanh nghiệp những chức năng vốn có của nó. Sức lực của Nhà nước cần được chuyển từ việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của các DNNN sang các lĩnh vực thuộc về chức năng của nó là tạo lập môi trường, cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công cộng, giám sát quá trình vận hành của nền kinh tế và của doanh nghiệp thông qua các quy định rõ ràng, minh bạch của hệ thống pháp luật.

11 – Một điểm then chốt khác của mối quan hệ chức năng nhà nước – thị trường gắn với yêu cầu phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại – một nền kinh tế có khả năng hội nhập và cạnh tranh quốc tế cao. Để đáp ứng yêu cầu này, Nhà nước phải đảm đương hàng loạt chức năng trước đây chưa hề có hoặc có nhưng chỉ ở trạng thái manh nha: hỗ trợ quá trình hội nhập quốc tế và phối hợp quản lý phát triển toàn cầu.

Đối với nước ta, hội nhập quốc tế đang trở thành một điều kiện tiên quyết, sống còn của việc thực thi chiến lược thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. Tuy nhiên, như thực tế mấy năm qua cho thấy, quá trình hội nhập diễn ra trong thế bị động nhiều hơn là chủ động; chúng ta lo đối phó với các vấn đề tình thế hơn là chú tâm cho các vấn đề chiến lược. Cội nguồn của vấn đề chắc chắn vẫn là ở chỗ chức năng nhà nước – thị trường không được phân định rõ, chưa được tôn trọng.

Áp lực phát triển do hội nhập gây ra hiện đang gia tăng rất nhanh. Định hướng XHCN sẽ trở thành một hoài niệm nếu nó không thực sự hội nhập được vào nền kinh tế thế giới và khu vực trong giai đoạn trung hạn tới. Song, cách xử lý vấn đề hiện nay chưa đặt trên lợi ích phát triển nền kinh tế thị trường như một tổng thể. Nó đang bị chi phối bởi tầm nhìn và lợi ích cục bộ bộ, ngành. Đó là cách làm phi thị trường, không trên quan điểm chức năng nhà nước – thị trường theo đúng nghĩa của nó. Do vậy, nó sẽ có tác dụng cản trở, thậm chí phá hoại định hướng XHCN của sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.


[1] Nhưng C.Mác không chỉ thật rõ, thật xác định thế nào là CNTB phát triển tột bậc. Trên thực tế, ông đã có dự đoán không thật chính xác về thời điểm chuyển từ CNTB lên CNXH, trước hết là ở Tây Âu. Vào cuối đời, Ph.Ăng-ghen đã đính chính lại điều này và nói hai ông phải chịu trách nhiệm về dự báo đó. Tuy nhiên, về mặt khoa học, phải thấy rằng cả C.Mác và Ph.Ăng-ghen không thể chỉ ra được trạng thái chín muồi đó của CNTB, không thể xác định chính xác thời điểm chuyển biến cách mạng đó vì thiếu các điều kiện khách quan (trạng thái hiện thực của CNTB) và vì ông là một nhà biện chứng duy vật triệt để

[2] Về cuối đời, V.ILê-nin nhận thấy “cần phải thay đổi hoàn toàn nhận thức (của chúng ta) về CNXH”. Rất tiếc là trên thực tế, mô hình cần được thay đổi đó đã không được thay đổi. Nó vẫn được Xta-lin triển khai ở Liên Xô và được áp dụng ở tất cả các nước XHCN khác. Hơn thế, nó còn được coi là di sản chung Mác – Lê-nin (cho dù C.Mác không có ý tưởng như vậy) và trở thành chính thống

[3] Tuy nhiên, quan niệm chính thống về xây dựng CNXH sau V.I.Lê-nin dường như đã bỏ qua sự tự phê phán quan trọng này của V.I.Lê-nin, vẫn sử dụng cách hiểu cũ của ông để tiếp tục phủ nhận vai trò của các quan hệ thị trường và nền kinh tế thị trường trong công cuộc xây dựng CNXH. Như vậy là trên thực tế, quan niệm chính thống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng CNXH lại không hề phản ánh cách hiểu thực sự của hai người sáng lập ra nó

[4] Tôi đồng tình với nhận định của GS.TS. Đỗ Hoài Nam đã nêu trong Báo cáo đề dẫn Hội thảo lần I cho rằng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN “là sự trở lại với tư tưởng sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ để xây dựng CNXH mà V.I.Lê-nin đã đề ra trong Chính sách kinh tế mới (NEP) nhưng ở một tầm khái quát cao hơn và mang tính sáng tạo – cụ thể…

Trong quan niệm mới về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, vấn đề đặt ra không đơn thuần là sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ với tính cách là những công cụ cụ thể do lịch sử tạo ra (trong các hình thái kinh tế tiền XHCN) mà nhà nước vô sản cần và có thể sử dụng để xây dựng CNXH như Lê-nin quan niệm. ở cấp độ khái quát hơn, kinh tế thị trường với tư cách là một cơ chế, một hệ thống, một nền kinh tế (chứ không chỉ là những quan hệ – công cụ riêng biệt cụ thể), được quan niệm là thành tố cấu trúc bên trong, có tính nền tảng của hệ thống kinh tế – xã hội đang phát triển theo hướng đi lên CNXH, đồng thời cũng là cấu trúc thực hiện các mục tiêu XHCN trong quá trình đó”

[5] Tổng thống Kim Dae Jung của Hàn Quốc ví “dân chủ và kinh tế thị trường là hai bánh của một cỗ xe ngựa” (cỗ xe phát triển)

[6] Khi bàn luận về chiến lược phát triển 2001 – 2010 của Việt Nam, một số học giả nước ngoài cho rằng đối với Việt Nam, “trong 10 năm tới, không có vấn đề nào quan trọng hơn vấn đề vai trò của nhà nước trong nền kinh tế”. (MPI – UNDP. 2001)

[7] Do khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo việc làm nên trên quan điểm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, tăng cường lực lượng cho đội ngũ giai cấp công nhân, phát triển khu vực tư nhân là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ nhất định hướng XHCN. Theo lô-gic này, việc chuyển bớt lượng vốn dành cho đầu tư công nghiệp hiện nay cho khu vực tư nhân là phương thức bảo đảm phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hiệu quả nhất (cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả chính trị – xã hội)

[8] Tác dụng khuyến khích phát triển của môi trường vĩ mô có giá trị định hướng phát triển rất rõ (khuyến khích cái gì phát triển, theo hướng nào)

[9] Vậy thì chức năng đích thực của thị trường, của khu vực doanh nghiệp là gì. Về điểm này, kinh nghiệm lịch sử thế giới đều xác nhận chức năng của khu vực doanh nghiệp là trực tiếp đầu tư và tiến hành sản xuất, kinh doanh với tư cách là những chủ thể độc lập và bình đẳng, không phân biệt chúng thuộc “thành phần”, “khu vực” nào. Tư cách chủ thể độc lập và sự bình đẳng trong kinh doanh của các doanh nghiệp được bảo đảm tự động thông qua nguyên tắc cạnh tranh tự do. Điều chỉnh thông qua cạnh tranh tự do là chức năng “bàn tay vô hình” của thị trường.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 17 NĂM 2007

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN – Phó viện trưởng Viện Kinh tế học

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một sự đổi mới tư duy đúng đắn của Đảng dựa trên cơ sở lý luận khoa học trong tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bài viết góp phần phân tích và khẳng định điều đó; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN, những yếu tố quyết định định hướng XHCN, nêu rõ các điều kiện để thực hiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Sau gần 20 năm xây dựng CNXH dựa vào và thông qua cơ chế thị trường, cuộc tranh luận thế nào là kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn tiếp tục. Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông và Trung Âu đồng nghĩa với sự sụp đổ của mô hình CNXH dựa trên nền tảng chế độ sở hữu – công hữu đơn nhất và cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Khi mô hình hiện thực sụp đổ, sự hoài nghi cơ sở lý luận chính thống của nó, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là không thể tránh khỏi. Sự hoài nghi càng rõ khi thực tiễn chọn một cách thức dường như trái ngược, đã từng bị phủ nhận để thực thi CNXH: cách thức thị trường. Đây là lý do nảy sinh một khoảng trống lý luận trong việc giải thích xu hướng thực tiễn trái với tư duy thông thường. Điều này tạo ra một rào cản vô hình nhưng rất khó vượt qua đối với các ý định xây dựng một lý luận mới giải thích và dự báo thực tiễn đổi mới, cái đã và đang vượt qua lý luận cũ.

1 – Tuy nhiên, việc vượt qua rào cản lý luận này, về nguyên tắc, không có gì phức tạp. Vì cơ sở lý luận đó đã có sẵn, lại có sẵn trong chính chủ nghĩa Mác. Việc không thay được một phần vì thiếu một điều kiện tiên quyết: thái độ lý luận rõ ràng đối với 2 cách lập luận của Mác và của Lê-nin về mô thức chuyển biến sang CNXH và xây dựng CNXH.

Trong khuôn khổ lý luận về CNXH về mặt kinh tế, việc nhập các luận điểm khoa học của Mác và Lê-nin thành chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách đơn giản đôi khi gây ra sự ngộ nhận. Có hai điểm cần được thừa nhận:

– Mác và Lê-nin chưa xây dựng được một hệ thống lý luận về nền kinh tế XHCN theo đúng nghĩa hệ thống. Cái có được chỉ mới là những lập luận, suy luận lô-gic, những dự đoán khoa học và một số đường nét phác họa cụ thể, chưa đầy đủ về triển vọng của nền kinh tế và chế độ xã hội mới. Trong sự tiếp tục phát triển lý luận về CNXH ở các thế hệ mác-xít sau này, việc “đóng đinh” niềm tin vào một trạng thái lý luận chưa đầy đủ như vậy, tưởng tượng nó thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, giống như hệ thống lý luận về CNTB mà Mác đã xây dựng, trên cơ sở đó, biến nó thành một hệ thống giáo điều, bao gồm các nguyên lý mang tính chân lý hầu như bất biến chứa đựng những nguy cơ lớn trong nhận thức và hành động.

– Về con đường đi lên CNXH, Mác và Lê-nin đưa ra hai phương án khác nhau. Về nguyên tắc, Mác cho rằng chỉ khi nền kinh tế thị trường phát triển đến tột bậc (với Mác, điều đó cũng có nghĩa là khi CNTB phát triển đến tận cùng[1] thì quá trình chuyển biến sang CNCS (CNXH) mới diễn ra như một tất yếu. Lê-nin lại không nghĩ như vậy. Ông cho rằng quá trình chuyển biến sang CNXH và CNCS có thể thành công cả ở những, thậm chí một nước lạc hậu; rằng mô hình kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ công hữu thuần nhất – đơn nhất về tư liệu sản xuất là cái có thể áp dụng hiệu quả ở một nền kinh tế kém phát triển, chưa trải qua thị trường trong giai đoạn quá độ lên CNXH[2].

Giữa Mác và Lê-nin rõ ràng có một sự khác biệt nhất định trong việc nhận thức về tính tất yếu, về phương thức (con đường) và nội dung kinh tế của quá trình đi lên CNXH. Và đây là một điều bình thường trong khoa học, trong việc nhận thức thế giới khách quan trong trạng thái vận động liên tục của nó.

Tuy có hai quan điểm khác nhau như vậy nhưng từ Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay, hầu như chỉ ngự trị quan điểm của Lê-nin với tư cách là quan điểm chính thống duy nhất và là quan điểm chung cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Trong khuôn cảnh như vậy, việc nêu lại quan điểm của Mác có hàm ý rằng đối với những nền kinh tế chưa từng trải qua thị trường hoặc thị trường chưa phát triển hết mức, để đi lên nấc thang cao hơn của lịch sử, việc “trở lại”, “xuyên qua” thị trường là bắt buộc; rằng trong quan hệ lý luận, điều đó không có gì mới so với chủ nghĩa Mác. Đó chỉ là sự trở lại Mác đích thực chứ không phải mác xít một cách trừu tượng, chung chung.

Sự phân biệt Mác và Lê-nin trong quan niệm về cách thức đi lên CNXH hàm nghĩa sự thừa nhận rằng căn gốc lý luận của công thức phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay đã có sẵn trong chính học thuyết Mác, trong các luận điểm cụ thể, rất xác định của ông chứ không phải của một ai khác, của một cái gì chung chung khác. Nhưng cũng phải nói rõ rằng đây chỉ là gốc rễ lý luận sâu xa. Mác chưa hề trực tiếp viết và nói như vậy. Còn đối với Lê-nin, với “Bàn về thuế lương thực”, Ông cũng cho rằng phải thay đổi cách thức xây dựng CNXH, phải phát triển các quan hệ thị trường như một tất yếu. Ông đã đề cập trực diện đến vấn đề này trong Chính sách kinh tế mới (NEP) nổi tiếng cũng như ẩn ý đằng sau luận điểm “thay đổi hoàn toàn nhận thức về CNXH” được nêu lúc cuối đời[3].

Theo lập luận đó, có cơ sở để khẳng định việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hay xây dựng CNXH thông qua kinh tế thị trường không hề là việc đi ngược lại học thuyết Mác, là sự phá sản của chủ nghĩa Mác. Trái lại, nó đơn giản chỉ là thực hiện đúng logic phát triển tự nhiên mà Mác đã phát hiện và lịch sử loài người đã trải qua. Tất nhiên, đây không phải là sự trở lại Mác và Lê-nin nguyên xi, bất biến. Lịch sử đã vượt xa các điều kiện phát triển thời Mác và Lê-nin[4].

2 – Về mối quan hệ giữa thị trường và định hướng XHCN, có hai vấn đề cần lưu ý:

– Mục đích của CNXH là phát triển, bao hàm phát triển con người. Kinh tế thị trường là phương thức có hiệu quả để đạt được phát triển. Theo nghĩa đó, thị trường và định hướng XHCN là đồng hướng (cùng véc-tơ) lịch sử chứ không phải là nghịch lý.

– Nói phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nghĩa là thừa nhận kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của quá trình chuyển biến lên CNXH. Do vậy, nó là “bản nguyên” thứ nhất của quá trình xây dựng CNXH về mặt kinh tế.

Khi thừa nhận như vậy, để định hướng quá trình phát triển theo hướng XHCN, trước hết phải bảo đảm cho thị trường phát huy hiệu quả tối đa. Phát triển mạnh kinh tế thị trường trong giai đoạn xây dựng CNXH chính là thực hiện định hướng XHCN một cách thực chất nhất.

Có nghĩa là mọi sự bàn luận về phát triển trong giai đoạn quá độ lên CNXH, trong thời kỳ xây dựng CNXH, trước hết phải là bàn luận để phát triển kinh tế thị trường, trên cơ sở đó, mới bàn đến cái khác (định hướng XHCN là một trong những cái khác này). Nếu trật tự bàn luận khác đi, nghĩa là lộn ngược lô-gic của sự vật.

3 – Song, định hướng XHCN có những nội dung vượt ra ngoài thị trường. Một số đặc trưng phát triển XHCN vượt ra bên ngoài, lên cao hơn những kết quả do thị trường mang lại, kể cả những kết quả tích cực. Chúng không hoàn toàn và không tự động tương hợp với thị trường. Công bằng và bình đẳng trong phát triển, quyền của người dân, tức là dân chủ, vượt lên trên quyền dân chủ đo bằng đồng đô la (bỏ phiếu bằng tiền) là những thứ như vậy. Do đó, trong quá trình xây dựng CNXH, tức là quá trình phát triển theo định hướng XHCN, ngoài việc phát triển kinh tế thị trường và trên cơ sở thị trường, còn phải nỗ lực khắc phục những thất bại của thị trường (khuyết tật) và đạt tới một số mục tiêu mà tự thị trường không định hướng tới (phúc lợi xã hội, phục vụ người nghèo, v.v., nghĩa là bảo đảm phát triển bền vững).

Từ các lập luận đó, có thể tóm tắt mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đơn giản và rõ ràng như thế này được chăng: hiệu quả kinh tế, dân chủ và công bằng (hàm ý phúc lợi xã hội và phục vụ người nghèo[5]?

4 – Những yếu tố nào quyết định tiến trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN? Hai yếu tố chủ yếu là thị trường và nhà nước. Đây là hai cơ cấu quyền lực lớn nhất (bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình), có vai trò dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy, trọng tâm của việc bàn luận về quá trình chuyển đổi kinh tế, về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bàn về mối quan hệ nhà nước – thị trường, bàn về cơ chế phối hợp các hoạt động chức năng của hai lực lượng cơ chế này sao cho quá trình thực tiễn đạt được các mục tiêu hiệu quả, dân chủ và công bằng.

Nếu tiến sâu hơn nữa, có thể nói hạt nhân của sự bàn luận đó là vấn đề nhận thức và hành động của nhà nước – lực lượng chủ thể, quyền lực và có ý thức của cơ chế, của sự phối hợp nhà nước – thị trường[6].

Trong giai đoạn chuyển đổi, việc thị trường có phát triển được không, có thực hiện định hướng phát triển một xã hội dân chủ và công bằng hay không tùy thuộc quyết định vào cách nhà nước giải quyết mối quan hệ chức năng nhà nước – thị trường.

Cụ thể cần làm rõ nhà nước phải: i) Xây dựng hệ thống thể chế thị trường (hệ thống thị trường yếu tố); ii) Đổi mới cơ cấu sở hữu, hình thành cấu trúc chủ thể của nền kinh tế thị trường; iii) Xây dựng cơ chế kinh tế thị trường, trong đó, khâu trọng tâm là phân định chức năng nhà nước và thị trường;

5 – Quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam gần 20 năm qua cho thấy:

– Xu hướng tổng quát nhất – chuyển sang cơ chế thị trường và phát triển kinh tế thị trường – đã được khẳng định.

– Hầu như mọi nội dung cải cách cụ thể đều đã được “đụng” tới. Nhiều thành tích đạt được là ngoạn mục. Nhưng dở dang, kém hiệu quả còn rất nhiều. Kết quả phát triển thu được nhiều nhưng tổn thất cũng rất lớn; chất lượng tăng trưởng và phát triển thấp, năng lực cạnh tranh – yếu tố sống còn của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế – rất yếu kém và chậm được cải thiện;…

Có thể thấy đây là hậu quả của cách làm nửa vời, ra thật nhiều quyết định, muốn đồng thời đạt được thật nhiều mục tiêu, trong khi thiếu điều kiện thực thi, không tính kỹ đến điều kiện bảo đảm thực thi, nhất là điều kiện bộ máy và con người (năng lực thực thi) khi ra quyết định và chọn mục tiêu. Nền kinh tế nhiều khi lâm vào tình trạng “đánh trống bỏ dùi”. Vốn ít nhưng bày ra nhiều công trình, mỗi công trình lại rất tốn vốn. Kết cục là dở dang hầu như ở tất cả những việc đặt ra để làm và hậu quả để lại rất lớn. Như vậy rõ ràng nền kinh tế thị trường không vận hành tốt, hiệu quả thấp nên định hướng XHCN cũng khó thực hiện.

Nguyên nhân lý luận của thực tế này là do chủ thuyết (chứ không chỉ là ý đồ và quyết tâm) phát triển kinh tế thị trường chưa được định; do bản chất và logic phát triển kinh tế thị trường chưa thông ở nhiều tầm, nhiều cấp và do cách hiểu về mối quan hệ giữa bản nguyên thứ nhất (phát triển kinh tế thị trường) với bản nguyên thứ hai (định hướng XHCN) trong chiến lược phát triển kinh tế không thật hợp lý. Vì vậy, sau 20 năm phát triển kinh tế thị trường, chúng ta vẫn chưa thể nói thật tự tin rằng chức năng nhà nước – thị trường đã được phân định rõ, hệ thống thị trường đã phát triển đồng bộ, còn cơ cấu sở hữu đã phát triển đúng trên nền tảng thị trường bình đẳng, không phân biệt đối xử.

6 – Về vấn đề xây dựng hệ thống thể chế thị trường. Đại hội IX của Đảng đề ra mục tiêu hình thành và phát triển đồng bộ hệ thống thể chế thị trường với tư cách là sự đột phá chiến lược. Đây là một định hướng chiến lược đúng, đáp ứng đòi hỏi đang ngày càng gay gắt của thực tế.

Tuy nhiên, bước tiến theo hướng này thực sự là rất chậm. Hệ thống thể chế thị trường hình thành và phát triển lệch pha và lệch nhịp nhau. Bằng chứng: thị trường bậc cao nhất (thị trường chứng khoán) ra đời trong khi thị trường các yếu tố đầu vào cơ bản nhất (thị trường đất đai, thị trường lao động) hãy còn chưa được thừa nhận chính thức;… Kết cục là thị trường không thể vận hành hiệu quả, trong khi nước ta là nước đi sau rất lâu trong phát triển kinh tế thị trường so với các nước khác. Có hai nguyên nhân lớn:

Thứ nhất, chưa nhận thức đúng và đầy đủ bản chất, nguyên tắc và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường, do vậy, chưa hiểu rõ thực chất và vai trò của tính đồng bộ hệ thống và trật tự bước đi của quá trình hình thành các thể chế kinh tế thị trường.

Thứ hai, thái độ hoài nghi thị trường vẫn còn nặng, cách tiếp cận đến kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn bị chi phối quá mạnh bởi thiên kiến tư tưởng (ví dụ đặt vấn đề bản chất TBCN của thị trường chứng khoán).

Không vượt qua được những điểm yếu căn bản đó trong tư duy, trong nhận thức thì quá trình chuyển sang thị trường và phát triển kinh tế thị trường chắc chắn còn gặp nhiều ách tắc.

7 – Về cấu trúc sở hữu, vấn đề mấu chốt của một chế độ kinh tế. Việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần rõ ràng là một bước tiến căn bản. Song không đủ và đang ngày càng trở nên rất không đủ để có thể giải thích đúng thực tiễn kinh tế Việt Nam hiện nay và tạo thành cơ sở lý luận cho sự phát triển của nền kinh tế hiện thực. Các biểu hiện quan trọng là:

– Sự kỳ thị thực tiễn đối với các thành phần còn rất nặng, thể hiện ở môi trường kinh doanh, ở điều kiện tiếp cận đến các nguồn lực và điều kiện phát triển.

– Dành phần “cấm địa” cho khu vực kinh tế nhà nước bằng hàng loạt ưu đãi, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng – kích cầu. Từ đó tạo thành những nhóm lợi ích mạnh có khả năng thao túng chính sách và hành động của nhà nước. Cơ chế cạnh tranh bình đẳng – nguyên lý tối cao của kinh tế thị trường, vì thế, bị vi phạm, bị coi thường.

Kết quả là tăng trưởng thấp xa mức tiềm năng, sự gia tăng nạn tham nhũng, mức độ nhất quán thấp, nghiêng mạnh về đối phó tình huống thay vì tầm nhìn dài hạn trong định hướng chính sách vĩ mô. Căn gốc vấn đề là ở đâu?

– Đầu tiên là từ quan niệm “thành phần” vẫn còn quá nặng; không hiểu một cách triệt để và thực tiễn bản chất bình đẳng, tự do của tất cả các chủ thể thị trường khi tham gia cuộc chơi phát triển trong môi trường thị trường. Đặc biệt, thái độ không triệt để trong việc nhìn nhận vai trò then chốt của chế độ sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường.

– Từ việc giữ nguyên mong muốn đơn giản xây dựng một nền kinh tế có hệ thống sở hữu XHCN thuần khiết ngay cả trong thời kỳ quá độ, kể cả quá độ được thực hiện thông qua kinh tế thị trường.

– Từ cách hiểu cứng nhắc, đơn giản và trừu tượng về cái gọi là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (của khu vực DNNN hay của nhà nước vẫn còn chưa rõ, thường bị lẫn lộn).

8 – Trong khuôn khổ vấn đề về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, một vấn đề lý luận then chốt đặt ra là liệu có sự nhất quán giữa nguyên tắc sở hữu XHCN đối với tư liệu sản xuất, trong đó kinh tế nhà nước (hay DNNN) phải đóng vai trò chủ đạo với hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường hay không.

Về mặt thực tiễn, cần lưu ý rằng: khu vực kinh tế chủ đạo hiện đang chỉ bảo đảm việc làm cho 2/40 triệu người lao động và hầu như không tạo việc làm mới nào. Trong khi đó, khu vực tư nhân đang là lực lượng bảo đảm việc làm và tạo việc làm mới cho người lao động[7]. Khu vực nhà nước có tỷ trọng nhỏ bé trong nông nghiệp; trong công nghiệp, tỷ trọng của khu vực nhà nước cũng chỉ khoảng 40% nhưng tốc độ tăng trưởng không cao hơn khu vực tư nhân và FDI. Đối với lĩnh vực dịch vụ, khu vực tư nhân nói chung chiếm tỷ trọng áp đảo, nhất là trong các ngành giao thông – vận tải, xây dựng, thương mại, du lịch. Ngoài ra, cùng với quá trình cổ phần hóa, tỷ trọng của khu vực DNNN càng thu hẹp lại nhanh chóng. Vậy nếu vai trò của DNNN là nhỏ và ngày càng thu hẹp về phạm vi thì vai trò chủ đạo có ý nghĩa thực tiễn gì? Câu trả lời chứa đựng trong những luận cứ sau:

– Phải chăng chủ đạo có nghĩa là gia tăng sở hữu nhà nước trong một số ngành công nghiệp “nặng”, “then chốt” như mía đường, xi-măng, thép và hóa dầu? Cho tới nay, những đầu tư này thường có nghĩa là giá trong nước cao hơn giá trên thị trường thế giới. Trong khi đó, khả năng giảm được chi phí của các DNNN trong các ngành công nghiệp nặng này là rất thấp. Để duy trì sự tồn tại thị trường của các DNNN, nhất là trong môi trường hội nhập, Nhà nước buộc phải gia tăng bảo hộ. Nhưng trên quan điểm thị trường, áp lực thường xuyên của việc bảo hộ các ngành này sẽ làm giảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước xuống một phạm vi rất hẹp… Việc khăng khăng giữ một vai trò chủ đạo trong ngành công nghiệp nặng tốn kém sẽ dẫn tới một cơ sở công nghiệp nhỏ hẹp, chi phí cao và ít triển vọng. Theo cách đó, sau một thập niên, kinh tế nhà nước sẽ có vai trò nổi trội trong những ngành công nghiệp “hoàng hôn”.

– Nhà nước có thể nắm giữ phần khống chế trong một số ngành quan trọng như tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, hàng không, v.v., coi đây như một bằng chứng quan trọng của vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Điều này là đúng. Song nên lưu ý rằng ngoại trừ một số hàng hóa và dịch vụ công cộng mà Nhà nước cần và có thể nắm giữ như điện, nước, bưu chính, các lĩnh vực khác như hàng không và ngân hàng cần được mở ra cho cạnh tranh để đạt hiệu quả cao hơn.

9 – Với các lập luận trên, phải chăng “vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” của một lực lượng nào đó không có ý nghĩa gì trong nền kinh tế thị trường? Câu trả lời là: Đặc biệt có ý nghĩa, nhưng không phải theo cách chúng ta nghĩ, chúng ta muốn và chúng ta xử sự với nền kinh tế nói chung, khu vực kinh tế nhà nước nói riêng từ trước đến nay – là cách kế hoạch hóa tập trung, độc tôn thống trị của một hình thức sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường, các lực lượng, chủ thể kinh tế phải bình đẳng trên cùng một sân chơi. Nhưng “vai trò chủ đạo” vẫn là một khái niệm quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó càng quan trọng hơn trong một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Với nghĩa dẫn dắt trò chơi, định hướng phát triển, khái niệm chủ đạo trước hết và chủ yếu gắn với việc đưa ra “luật chơi” và giám sát “cuộc chơi”. Chức năng chủ đạo, do vậy, bao hàm nhiệm vụ tạo lập môi trường vĩ mô hiệu quả (ổn định và mang tính khuyến khích)[8] xét từ quan điểm nền kinh tế thị trường.

Với nội dung đó, vai trò chủ đạo trong nền kinh tế phải do Nhà nước nắm, phải thuộc về Nhà nước chứ không thể thuộc về một lực lượng kinh tế riêng biệt nào. Phù hợp với lập luận này, định hướng XHCN sẽ được bảo đảm bằng nhà nước XHCN (hay nhà nước định hướng XHCN). Thông qua hoạt động đưa ra luật chơi, giám sát trò chơi, Nhà nước buộc tất cả các chủ thể phải tuân thủ trò chơi theo cách và theo hướng Nhà nước định. Tất nhiên, cách và hướng mà Nhà nước định phải phù hợp với xu thế tất yếu mà trước hết là phải tôn trọng các nguyên lý thị trường.

Nội hàm của “vai trò chủ đạo”, khi gắn với Nhà nước, được mở rộng thêm ra cả chức năng cung cấp hàng hóa công cộng. Còn đối với một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nội hàm còn được đẩy xa hơn nữa, bao gồm cả vai trò bảo đảm công bằng xã hội, hỗ trợ người nghèo, triển khai mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp và hiệu quả.

10 – Với nội dung như trên, khái niệm “vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” gắn kết lô-gic với tuyến vấn đề quan trọng thứ ba: phân định chức năng nhà nước – thị trường, nhà nước – doanh nghiệp.

Về nguyên tắc, chức năng nhà nước – thị trường, Nhà nước – doanh nghiệp được phân định một cách khách quan. Sự phân định đó không diễn ra theo cách, cái gì Nhà nước không làm được thì thị trường và doanh nghiệp mới được làm. Cũng không phải theo cách Nhà nước cố gắng làm mọi thứ tối đa có thể, phần còn lại mới là của thị trường, của doanh nghiệp[9].

Hiện nay Nhà nước ta đang tham gia quá sâu, quá rộng vào các chức năng của thị trường và doanh nghiệp trong khi nhiều lĩnh vực thuộc chức năng của mình lại chưa được hoàn thành tốt. Đó là tình trạng “nắm những cái không cần nắm; buông những cái không được buông”. Do đó Nhà nước phải trả cho thị trường và doanh nghiệp những chức năng vốn có của nó. Sức lực của Nhà nước cần được chuyển từ việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của các DNNN sang các lĩnh vực thuộc về chức năng của nó là tạo lập môi trường, cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công cộng, giám sát quá trình vận hành của nền kinh tế và của doanh nghiệp thông qua các quy định rõ ràng, minh bạch của hệ thống pháp luật.

11 – Một điểm then chốt khác của mối quan hệ chức năng nhà nước – thị trường gắn với yêu cầu phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại – một nền kinh tế có khả năng hội nhập và cạnh tranh quốc tế cao. Để đáp ứng yêu cầu này, Nhà nước phải đảm đương hàng loạt chức năng trước đây chưa hề có hoặc có nhưng chỉ ở trạng thái manh nha: hỗ trợ quá trình hội nhập quốc tế và phối hợp quản lý phát triển toàn cầu.

Đối với nước ta, hội nhập quốc tế đang trở thành một điều kiện tiên quyết, sống còn của việc thực thi chiến lược thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. Tuy nhiên, như thực tế mấy năm qua cho thấy, quá trình hội nhập diễn ra trong thế bị động nhiều hơn là chủ động; chúng ta lo đối phó với các vấn đề tình thế hơn là chú tâm cho các vấn đề chiến lược. Cội nguồn của vấn đề chắc chắn vẫn là ở chỗ chức năng nhà nước – thị trường không được phân định rõ, chưa được tôn trọng.

Áp lực phát triển do hội nhập gây ra hiện đang gia tăng rất nhanh. Định hướng XHCN sẽ trở thành một hoài niệm nếu nó không thực sự hội nhập được vào nền kinh tế thế giới và khu vực trong giai đoạn trung hạn tới. Song, cách xử lý vấn đề hiện nay chưa đặt trên lợi ích phát triển nền kinh tế thị trường như một tổng thể. Nó đang bị chi phối bởi tầm nhìn và lợi ích cục bộ bộ, ngành. Đó là cách làm phi thị trường, không trên quan điểm chức năng nhà nước – thị trường theo đúng nghĩa của nó. Do vậy, nó sẽ có tác dụng cản trở, thậm chí phá hoại định hướng XHCN của sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.


[1] Nhưng C.Mác không chỉ thật rõ, thật xác định thế nào là CNTB phát triển tột bậc. Trên thực tế, ông đã có dự đoán không thật chính xác về thời điểm chuyển từ CNTB lên CNXH, trước hết là ở Tây Âu. Vào cuối đời, Ph.Ăng-ghen đã đính chính lại điều này và nói hai ông phải chịu trách nhiệm về dự báo đó. Tuy nhiên, về mặt khoa học, phải thấy rằng cả C.Mác và Ph.Ăng-ghen không thể chỉ ra được trạng thái chín muồi đó của CNTB, không thể xác định chính xác thời điểm chuyển biến cách mạng đó vì thiếu các điều kiện khách quan (trạng thái hiện thực của CNTB) và vì ông là một nhà biện chứng duy vật triệt để

[2] Về cuối đời, V.ILê-nin nhận thấy “cần phải thay đổi hoàn toàn nhận thức (của chúng ta) về CNXH”. Rất tiếc là trên thực tế, mô hình cần được thay đổi đó đã không được thay đổi. Nó vẫn được Xta-lin triển khai ở Liên Xô và được áp dụng ở tất cả các nước XHCN khác. Hơn thế, nó còn được coi là di sản chung Mác – Lê-nin (cho dù C.Mác không có ý tưởng như vậy) và trở thành chính thống

[3] Tuy nhiên, quan niệm chính thống về xây dựng CNXH sau V.I.Lê-nin dường như đã bỏ qua sự tự phê phán quan trọng này của V.I.Lê-nin, vẫn sử dụng cách hiểu cũ của ông để tiếp tục phủ nhận vai trò của các quan hệ thị trường và nền kinh tế thị trường trong công cuộc xây dựng CNXH. Như vậy là trên thực tế, quan niệm chính thống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng CNXH lại không hề phản ánh cách hiểu thực sự của hai người sáng lập ra nó

[4] Tôi đồng tình với nhận định của GS.TS. Đỗ Hoài Nam đã nêu trong Báo cáo đề dẫn Hội thảo lần I cho rằng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN “là sự trở lại với tư tưởng sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ để xây dựng CNXH mà V.I.Lê-nin đã đề ra trong Chính sách kinh tế mới (NEP) nhưng ở một tầm khái quát cao hơn và mang tính sáng tạo – cụ thể…

Trong quan niệm mới về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, vấn đề đặt ra không đơn thuần là sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ với tính cách là những công cụ cụ thể do lịch sử tạo ra (trong các hình thái kinh tế tiền XHCN) mà nhà nước vô sản cần và có thể sử dụng để xây dựng CNXH như Lê-nin quan niệm. ở cấp độ khái quát hơn, kinh tế thị trường với tư cách là một cơ chế, một hệ thống, một nền kinh tế (chứ không chỉ là những quan hệ – công cụ riêng biệt cụ thể), được quan niệm là thành tố cấu trúc bên trong, có tính nền tảng của hệ thống kinh tế – xã hội đang phát triển theo hướng đi lên CNXH, đồng thời cũng là cấu trúc thực hiện các mục tiêu XHCN trong quá trình đó”

[5] Tổng thống Kim Dae Jung của Hàn Quốc ví “dân chủ và kinh tế thị trường là hai bánh của một cỗ xe ngựa” (cỗ xe phát triển)

[6] Khi bàn luận về chiến lược phát triển 2001 – 2010 của Việt Nam, một số học giả nước ngoài cho rằng đối với Việt Nam, “trong 10 năm tới, không có vấn đề nào quan trọng hơn vấn đề vai trò của nhà nước trong nền kinh tế”. (MPI – UNDP. 2001)

[7] Do khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo việc làm nên trên quan điểm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, tăng cường lực lượng cho đội ngũ giai cấp công nhân, phát triển khu vực tư nhân là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ nhất định hướng XHCN. Theo lô-gic này, việc chuyển bớt lượng vốn dành cho đầu tư công nghiệp hiện nay cho khu vực tư nhân là phương thức bảo đảm phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hiệu quả nhất (cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả chính trị – xã hội)

[8] Tác dụng khuyến khích phát triển của môi trường vĩ mô có giá trị định hướng phát triển rất rõ (khuyến khích cái gì phát triển, theo hướng nào)

[9] Vậy thì chức năng đích thực của thị trường, của khu vực doanh nghiệp là gì. Về điểm này, kinh nghiệm lịch sử thế giới đều xác nhận chức năng của khu vực doanh nghiệp là trực tiếp đầu tư và tiến hành sản xuất, kinh doanh với tư cách là những chủ thể độc lập và bình đẳng, không phân biệt chúng thuộc “thành phần”, “khu vực” nào. Tư cách chủ thể độc lập và sự bình đẳng trong kinh doanh của các doanh nghiệp được bảo đảm tự động thông qua nguyên tắc cạnh tranh tự do. Điều chỉnh thông qua cạnh tranh tự do là chức năng “bàn tay vô hình” của thị trường.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 17 NĂM 2007

CÔNG VIỆC VÀ TRÁCH NHIỆM TRONG CHÍNH SÁCH GIA ĐÌNH Ở CHÂU ÂU

Nguyễn Thu Phương

TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 22 NĂM 2007

Thực hiện chính sách gia đình, các nước châu Âu hướng tới xây dựng gia đình phát triển toàn diện, chú trọng tới vai trò của gia đình trong việc nuôi dạy con cái nhằm bảo đảm cho xã hội tương lai. Đây là trọng trách đòi hỏi nỗ lực từ những bậc cha mẹ, nhất là khi xã hội ngày càng phát triển, việc dung hòa giữa công việc và trách nhiệm gia đình càng trở nên khó khăn.

1. Mục tiêu của chính sách gia đình

Những nhà hoạch định chính sách gia đình ở châu Âu đã nhìn nhận các quyền cơ bản trong cuộc sống gia đình đồng nghĩa với quyền được tôn trọng cuộc sống riêng, quyền kết hôn và bảo vệ gia đình, quyền dung hòa giữa trách nhiệm gia đình và công việc, quyền của con cái. Những “giá trị gia đình” được khẳng định thông qua những mục tiêu cụ thể:

Một là, củng cố vai trò của cha mẹ trong chức năng giáo dục, nuôi dạy con trẻ nhằm tránh những hành vi đáng tiếc xảy ra, dẫn đến sự đổ vỡ trong gia đình.

Hai là, tăng cường hỗ trợ chính sách nhà ở, chính sách tài chính đối với những gia đình gặp khó khăn khi số lượng thành viên tăng, sinh con hay có nhu cầu đặc biệt khi có con ở lứa tuổi vị thành niên.

Ba là, kết hợp hài hòa giữa cuộc sống gia đình với nghề nghiệp thông qua việc tăng quỹ thời gian nghỉ phép cho các bậc cha mẹ và thành viên gia đình, đồng thời cải thiện chế độ sinh đẻ, chế độ nhận trông trẻ.

Bốn là, phát triển chính sách gia đình về quỹ thời gian rảnh rỗi thực sự dành cho trẻ em và cha mẹ.

Trong những mục tiêu trên, chính sách gia đình đặc biệt chú ý tới mục tiêu thứ 3 vì đây đang là vấn đề bức xúc đối với đa số gia đình châu Âu khi áp lực công việc ngày càng nhiều, thời gian dành cho gia đình bị thu hẹp. Điều này dẫn đến tình trạng kết hôn muộn phổ biến ở giới trẻ châu Âu. Ngoài ra, các bậc cha mẹ khó có thể làm tròn trách nhiệm với con cái; các thành viên trong gia đình ít điều kiện gần gũi nhau. Như vậy, sự liên kết gia đình trở nên lỏng lẻo, dẫn tới xã hội phát triển không bền vững. Không những thế, các quốc gia châu Âu đứng trước nguy cơ lão hóa dân số do tỷ lệ sinh những năm gần đây giảm mà nguyên nhân chính là do vấn đề bất bình đẳng giới trong cơ hội việc làm cùng những khó khăn mà các gia đình gặp phải trong công việc khi quyết định sinh con.

2. Bối cảnh thực tế

Đại bộ phận giới trẻ châu Âu hiện nay vừa muốn lập gia đình, vừa muốn thành công trong nghề nghiệp. Tuy nhiên, những kế hoạch, dự định đã khiến giới trẻ bị cuốn theo nhịp sống hối hả mà quên đi hạnh phúc cá nhân. Những khóa học kéo dài cùng lối sống hiện đại đã khiến tình trạng kết hôn muộn trở thành xu hướng điển hình ở châu Âu.

Tình trạng sinh con muộn hoặc không muốn có con của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay ở châu Âu đã gây hậu quả nghiêm trọng đối với phát triển xã hội. Tại châu Âu, số lượng người trẻ tuổi ít đi, số người già tăng lên do tuổi thọ ngày càng cao. Sự lão hóa dân số trở thành mối quan ngại về khả năng cạnh tranh của thị trường lao động trong khu vực.

Xã hội hiện đại đòi hỏi chất lượng công việc cao, quy luật đào thải trở nên khắc nghiệt khiến người lao động ở cả hai giới phải nỗ lực, phấn đấu. Số lượng nam giới theo đuổi sự nghiệp, không có con cái cao hơn nữ giới. Nhóm người này sống theo phong cách thỏa mãn những nhu cầu cá nhân và vai trò của họ trong gia đình cũng dần mất đi. Tuy nhiên, theo một số liệu điều tra xã hội học, hơn một nửa nam giới độ tuổi dưới 44 mong muốn có một mái ấm và vai trò trụ cột trong gia đình. Song, những người đàn ông này phải đối mặt với thực tế trớ trêu khi họ biết rằng thực hiện mong muốn này bao giờ cũng đi liền với những khó khăn gặp phải trong công việc.

Việc phân chia quỹ thời gian, trách nhiệm gia đình giữa hai giới còn thiếu công bằng. Điều này dễ nhận thấy khi chủ yếu vẫn là phụ nữ phải hy sinh công việc và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp vì gia đình. Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh tới sự tham gia của nữ giới vào thị trường lao động và việc thực hiện các chính sách, dự án về gia đình.

Trên thực tế, mặc dù tại châu Âu cũng như các châu lục khác, vai trò của người phụ nữ vẫn là “nội tướng”, là cầu nối giữa các thành viên trong gia đình, nhưng, nếu như 30 năm trước, ở châu Âu chỉ có 1/4 số phụ nữ đăng ký tham gia các khóa học cao đẳng hay đại học, thì ngày nay, trong xã hội hiện đại, hơn một nửa số sinh viên trong các trường đại học là nữ giới. Số phụ nữ tham gia thị trường lao động hay công tác xã hội ở độ tuổi từ 25 đến 45 chiếm tới 80%. Độ tuổi trung bình hiện nay của nữ giới khi có con đầu lòng là 30. Ở tuổi này, phần lớn họ đều đã có công việc ổn định. Do vậy, việc đảm nhiệm công việc xã hội và trách nhiệm trong gia đình lúc này trở thành gánh nặng khiến người phụ nữ buộc phải lựa chọn hoặc một trong hai, hoặc phải kết hợp giữa việc nhà và công việc, và khi đó con đường sự nghiệp sẽ bị gián đoạn. Song, điều mà người phụ nữ mong muốn nhất là có thể đảm nhiệm cả hai trọng trách trên.

3. Những giải pháp thiết thực

Bàn về việc phân quỹ thời gian dành cho công việc và gia đình, chính sách gia đình châu Âu xem xét đến hai khía cạnh: Thứ nhất, vấn đề bình đẳng giới trong cơ hội tìm kiếm việc làm. Thứ hai, hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích, nâng cao tỷ lệ sinh đẻ trong các gia đình.

Chính sách gia đình chú trọng tới việc đáp ứng nguyện vọng về quỹ thời gian cho người lao động, đặc biệt là nữ giới. Ngày nay, vấn đề không còn là nữ giới có tham gia hoạt động xã hội hay không, mà là thay đổi cách nhìn nhận khi họ là thành phần đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế. Chính sự bấp bênh trong công việc và nguy cơ thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng gia đình mất ổn định. Yếu tố tự chủ và việc làm của nữ giới góp phần ổn định tổng thu nhập của gia đình, khắc phục được tình trạng khó khăn, nhất là đối với các gia đình mà cuộc sống phụ thuộc chủ yếu vào một lương do nạn thất nghiệp. Do tỷ lệ ly hôn ở châu Âu ngày càng cao (cứ 3 cặp thì có 1 cặp ly hôn) và 70% gánh nặng gia đình rơi vào đôi vai người phụ nữ, nên người phụ nữ càng cần tự chủ trong công việc cũng như về tài chính. Giải pháp được đưa ra đó là cơ hội làm việc bán thời gian hay thời gian linh hoạt đặc biệt dành cho các bà mẹ có con nhỏ. Ngoài ra, chính phủ các nước châu Âu cũng kêu gọi nam giới đảm nhiệm tốt hơn chức năng làm cha nhằm giảm thiểu gánh nặng cho nữ giới.

Chế độ nghỉ sau khi sinh con đối với cả 2 vợ chồng là giải pháp điển hình trong chính sách hỗ trợ bình đẳng giới, phân chia trách nhiệm gia đình. Chính phủ Đan Mạch cho phép thời gian nghỉ sau khi sinh con là một năm; ở Đức, luật nghỉ sau khi sinh con được áp dụng linh hoạt đối với cả hai vợ chồng (nghỉ phép cùng một lúc, hoặc có thể luân phiên nghỉ..). Hà Lan, Lúc-xăm-bua áp dụng chính sách lao động tính đến yếu tố trợ giúp, nhất là với nữ giới, những khả năng tối ưu về thời gian để chăm sóc con cái, nhất là trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, trẻ vị thành niên. Các nước Ai-len, Anh, Đức và Hy Lạp thực hiện chính sách hỗ trợ lương trong thời gian nghỉ đẻ của cả vợ và chồng nhằm tránh tình trạng bấp bênh về tài chính gia đình.

Việc lập gia đình và sinh con là quyền hợp pháp của mỗi cá nhân nên chính phủ các nước châu Âu không thể hoặc không muốn đưa ra những chính sách can thiệp. Mỗi quốc gia châu Âu đều có cách nhìn nhận về vấn đề khuyến khích xây dựng gia đình và sinh đẻ tùy theo bối cảnh của từng nước. Tuy nhiên, định hướng chung vẫn là tạo môi trường thuận lợi, ổn định cho việc xây dựng gia đình, trong đó mọi cá nhân có thể sắp xếp quỹ thời gian hợp lý giữa sự nghiệp và hạnh phúc gia đình để đầu tư hiệu quả cho các thế hệ tương lai.

Phần đông các cặp vợ chồng trẻ trì hoãn thời gian sinh con với lý do công việc. Nhưng theo các chuyên gia nghiên cứu vấn đề gia đình, những quốc gia nào ở châu Âu tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng có cơ hội kết hợp giữa công việc và gia đình hợp lý thì ở đó tỷ lệ sinh đẻ sẽ cao hơn so với các quốc gia khác.

Ngoài công việc ổn định, điều kiện nhà ở, hệ thống cung cấp dịch vụ ưu đãi như trông trẻ, hệ thống trường học có chất lượng cũng là những yếu tố hỗ trợ thiết thực. Trợ giúp của chính phủ đối với nhu cầu tối thiểu của các gia đình không chỉ là trợ cấp tài chính trước mắt mà là cả quá trình lâu dài nhằm đầu tư cho xã hội tương lai.

HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÍNH NĂNG ĐỘNG , SÁNG TẠO, ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA HỌC VIÊN

TS. TRẦN NGUYỄN NGỌC ANH THƯ

Trên hết, là cách làm việc rất nghiêm túc và hết sức nhiệt tình của các giảng viên và trợ giảng. Họ luôn khuyến khích học viên tìm tòi và nghiên cứu, cũng luôn sẵn sàng giải đáp thắc mắc cho học viên khi cần thiết. Các giảng viên cũng không ngần ngại cho thấy họ đang không ngừng học tập và nghiên cứu, là tấm gương điển hình cho các học viên.

Trở về từ chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) và chương trình đào tạo MBA của Đại học Houston Le Clerk (Texas, USA), điều làm chúng tôi ấn tượng nhất là phương pháp giảng dạy năng động và tích cực. 

Kinh nghiệm nước ngoài 

Trước hết, ở tất cả các môn học, học viên đều được phát đề cương và giáo trình ngay từ ngày đầu tiên của môn học. Trong đề cương ghi rõ chương trình giảng dạy của môn học theo từng tuần, cũng dặn dò những bài đọc mà học viên cần chuẩn bị đọc trước và soạn tóm tắt. Những bài đọc này có thể ở trong giáo trình, cũng có thể là trong các sách báo tham khảo mà học viên có thể tìm thấy trong thư viện. Bài đọc có thể là một chương trong giáo trình, hoặc các bài viết theo chuyên đề, hoặc các bài báo của các học giả. Vì có đề cương nên học viên có thể chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Ở mỗi bài giảng, học viên thường phải đọc trước tài liệu rất nhiều. Các giảng viên dùng biện pháp kiểm tra đột xuất để kiểm tra việc chuẩn bị bài của các học viên. Mỗi bài kiểm tra chiếm 2% điểm trong tổng số điểm của môn học. Mỗi môn học có thể có từ 3 đến 5 bài kiểm tra. Tùy theo các nhóm giảng viên. 

Trên lớp, ở mỗi môn học, các học viên sẽ được làm quen với nhóm giảng viên, gồm nhiều giảng viên, đến từ các trường đại học danh tiếng trong và ngoài nước. Nhóm giảng viên sẽ giúp các học viên tìm hiểu nội dung bài giảng bằng những phương pháp tiên tiến. Nội dung bài giảng được chuẩn bị sẵn trên phần mềm Power Point và chiếu trên lớp. Để có thể giảng theo phương pháp này, ngoài việc học viên phải chuẩn bị bài trước, nội dung bài giảng cũng được photo và phát cho học viên. Do có nội dung bài giảng và đã đọc trước tài liệu nên trên giảng đường, học viên không phải ghi chép nhiều, mà tập trung vào việc nghe giảng và trao đổi, thảo luận, làm rõ nội dung bài giảng. Nếu trong giờ học chính thức học viên vẫn chưa hiểu hết nội dung bài giảng, học viên có thể tìm đến giờ trực văn phòng của các nhóm giảng viên. Giờ trực văn phòng của các nhóm giảng viên được sắp xếp hợp lý, xen kẽ lẫn nhau để các học viên có thể làm việc.  

Để học viên có thể nắm vững nội dung môn học. Sau mỗi chương ở mỗi môn học đều có bài tập. Bài tập không chỉ được soạn theo phương pháp thông thường, mà còn là những bài tập tình huống được soạn từ những tình huống thực tế. Học viên phải hoàn tất tất cả các bài tập được giao, và trình bày trên máy vi tính, không được viết tay. Các bài tập thường chiếm 25% – 30% tổng số điểm của môn học. Với một bài tập không hoàn thành, học viên sẽ bị nhận điểm 0 cho bài tập đó. Với những bài tập tình huống, học viên sẽ được tổ chức thảo luận và làm việc theo nhóm. Học viên được các nhóm giảng viên giúp đỡ trong việc học cách trình bày đề tài theo nhóm. Từ cách trình bày trên phim đèn chiếu, máy vi tính đến cách trình bày trên Power Point, sử dụng Power Point, máy chiếu … để trình bày ý tưởng của nhóm. Các thành viên trong nhóm sẽ có cơ hội trình bày và trả lời chất vấn của nhóm giảng viên và các nhóm khác. Các chương trình đào tạo này luôn khuyến khích các học viên làm việc theo nhóm (team work). Việc sử dụng các phương tiện hiện đại trong việc dạy và học được xem là điều kiện bắt buộc để theo kịp chương trình. Trong thời gian đầu, khoảng một đến hai tuần, các nhóm giảng viên đã phải mất rất nhiều công sức để tổ chức và hướng dẫn cho các học viên làm quen, sử dụng các loại máy móc thiết bị phục vụ cho việc dạy và học . 

Ngoài ra, để phục vụ cho việc học tập trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hoá, các học viên còn được hướng dẫn sử dụng Internet. Một số bài tập cũng đòi hỏi học viên phải truy cập thông tin từ các website của WB, IMF, hoặc của các hiệp hội doanh nhân thế giới v.v… Có rất nhiều bài tập mở, cho phép các học viên tự suy nghĩ và quyết định chủ đề, nội dung trình bày cũng như cách trình bày để hoàn thành bài tập. Những bài tập như vậy đã góp phần hình thành và phát triển tính năng động, sáng tạo, độc lập, tự chủ của học viên.  

Một điều đặc biệt là tất cả các bài tập đều có hạn nộp rất rõ ràng. Học viên nào nộp bài tập trễ hạn đều phải chịu trừ điểm, tùy theo mức độ trễ mà có thể bị trừ từ 10% đến 90% điểm số của bài tập đó. Quy định này vừa tạo nên sự công bằng giữa các học viên, đồng thời, tập tính kỷ luật, chủ động kiểm soát thời gian của các học viên, để thực hiện đúng hạn (on time). Không chỉ vậy, quy định này còn giúp cho học viên nhận thức được ý nghĩa của cụm từ “nguồn lực luôn luôn có giới hạn”. 

Cách tính điểm cũng rất phong phú, thường do mỗi nhóm giảng viên tự quyết định ở môn học của mình, nhưng rất rõ ràng và được thông báo từ buổi học đầu tiên của môn học. Thông thường, điểm số của môn học là tổng điểm của các bài tập cá nhân, các bài tập nhóm, bài kiểm tra giữa kỳ và bài kiểm tra cuối kỳ, tính theo hệ số. Cách tính điểm này có hai ưu điểm: thứ nhất, điểm phản ảnh toàn bộ quá trình học tập của học viên, chứ không dồn vào một kỳ thi cuối kỳ, nên giảm thiểu rủi ro cho học viên; thứ hai, khuyến khích học viên học tập tích cực trong suốt chương trình học, chứ không thể học theo cách đối phó, tức đợi đến khi thi mới học. 

Trên hết, là cách làm việc rất nghiêm túc và hết sức nhiệt tình của các giảng viên và trợ giảng. Họ luôn khuyến khích học viên tìm tòi và nghiên cứu, cũng luôn sẵn sàng giải đáp thắc mắc cho học viên khi cần thiết. Các giảng viên cũng không ngần ngại cho thấy họ đang không ngừng học tập và nghiên cứu, là tấm gương điển hình cho các học viên. 

Áp dụng vào VN 

Vấn đề mà tác giả vẫn luôn day dứt sau khi tham gia khoá học của FETP và Houston Le Clerk là: Có thể áp dụng được phương pháp giảng dạy này vào chương trình giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam hay không? Tác giả tin là có thể. Và tác giả đã cố gắng thử nghiệm trong quá trình giảng dạy ở trường, đặc biệt với khối sinh viên chuyên ngành và sau đại học. Qua thử nghiệm, tác giả có một số kinh nghiệm xin được đơn cử sau đây: 

Trước hết, để chuẩn bị tài liệu tham khảo cho học viên chuyên ngành và sau đại học, tác giả đã vào thư viện của trường. Thư viện của trường đã được nâng cấp, rất khang trang, và được trang bị khá hiện đại. Đó là kết quả của sự nỗ lực của Ban giám hiệu, cũng như toàn thể anh chị em công tác ở bộ phận thư viện. Nhưng, có thể nói rằng, nguồn tài liệu ở đây vẫn rất hiếm về cả số lượng và chất lượng cho học viên tham khảo, đặc biệt là giáo trình chuyên khảo. Có một số giáo trình bằng tiếng Anh, nhưng đã xuất bản quá lâu, thường là quà tặng của các chương trình dự án. Các giáo trình này học viên có thể tham khảo nhưng không cập nhật, và ít học viên sử dụng được. Các giáo trình biên soạn bằng tiếng Việt, hoặc dịch ra tiếng Việt thì quá ít về số lượng, có bản dịch lại kém về chất lượng (có thể do người dịch không chuyên). Vì thế, để bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho học viên, tác giả phải soạn đề cương bài giảng trên Word để phát cho học viên, trên Power Point để giảng, đồng thời photo trích đoạn các giáo trình chọn lọc theo từng chuyên đề nghiên cứu cho học viên (phải photo trích đoạn vì sợ vi phạm bản quyền). Nhưng với bối cảnh toàn cầu hoá thông tin như hiện nay, phải nhìn nhận rằng tác giả đã mất rất nhiều công sức cho việc này, vì phải soạn bài giảng liên tục và thường xuyên để cập nhật thông tin mới cho học viên. 

Bên cạnh việc chuẩn bị tài liệu tham khảo, tác giả phải lên mạng truy cập, tìm trước một số địa chỉ trang web có uy tín liên quan đến nội dung nghiên cứu của môn học để giới thiệu cho học viên, hướng dẫn họ cách sử dụng. Đồng thời, khuyến khích họ tìm tòi thêm và cung cấp cho cả lớp. Qua đó, tác giả kiểm tra nội dung các trang web này và bổ sung cho danh mục địa chỉ trang web tham khảo chuyên ngành của mình . Đây là biện pháp rất tốt để thầy và trò học lẫn nhau. 

Khi đã chuẩn bị được một phần nguồn tài liệu tham khảo và đề cương môn học, tác giả lại chuẩn bị những bài tập cho từng chuyên đề. Vì để kiểm tra học viên có nắm vững kiến thức của mỗi chuyên đề hay không, học viên cần được làm bài tập cá nhân sau bài tập nhóm. Cho học viên làm bài tập, cũng có nghĩa là tác giả phải chấm bài, và phải chấm nhanh, chính xác. Vì tất cả những bài tập này đều được trả lại cho học viên, kèm với bài giải (hay đáp án) sau khi đã nhập điểm. Hơn thế, khi trả điểm, tác giả luôn khuyến khích học viên cho ý kiến nếu học viên không bằng lòng với cách chấm, để làm sáng tỏ vấn đề. Làm việc như vậy, tất nhiên, giảng viên mất rất nhiều thời gian cho việc giảng dạy. Nhưng, chỉ như vậy, học viên mới học một cách năng động, tích cực.  

Với mỗi lớp, tác giả đều thảo luận về phương pháp học của môn học và cách tính điểm một cách công khai ngay từ buổi học đầu tiên. Vì điểm số công bằng và công khai mới có thể khuyến khích học viên nỗ lực học tập. Hơn nữa, theo tác giả, đó cũng là cách để học viên được thể hiện quyền dân chủ. Học viên được thảo luận và quyết định về những việc có liên quan đến quyền lợi của mình thì ý thức làm chủ được nâng cao, và họ sẽ cố gắng hơn, trong nghiên cứu, học tập khi đi học và trong công tác khi đã tốt nghiệp. 

Trên đây chỉ là một vài ý kiến nhỏ của tác giả về việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở bậc đại học và sau đại học.  

Qua một thời gian áp dụng phương pháp giảng dạy này, tác giả có thể nói rằng, các học viên đều cảm thấy thích thú với môn học, mặc dù, lúc đầu, có những học viên rất ngại, thậm chí phản đối vì phải đọc sách, lên mạng, thu thập thông tin và làm bài tập nhiều . Nhưng, hầu hết học viên đều công nhận rằng với cách học này họ đã học được nhiều, và nhớ lâu hơn, vì kiến thức họ có chủ yếu là do tự nghiên cứu mà có, chứ không chỉ học thuộc lòng những điều được nghe giảng. 

Một số đề xuất 

Tuy nhiên, để có thể đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập một cách có hiệu quả, tác giả cũng xin được đề xuất một vài biện pháp sau đây: 

Thứ nhất, cần có sự hỗ trợ về tài chính. Việc soạn trước đề cương, thông báo tài liệu tham khảo, chuẩn bị bài giảng trên Power Point và cả bài giảng sẽ phát cho sinh viên, học viên, chuẩn bị các bài tập và bài tập tình huống, . . . tác giả tin là các giảng viên Việt Nam đều có thể thực hiện được. Tuy nhiên, để các giảng viên có thể làm tất cả các công việc đó, phải có kinh phí, hay nói cách khác, cần có sự quan tâm đãi ngộ về tài chính.  

Thứ hai, tiến tới áp dụng chính sách có trợ giảng khi giảng cho các lớp chuyên ngành và cao học. Trợ giảng là các giảng viên trẻ, mới ra trường, đang tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao học hay nghiên cứu sinh. Trợ giảng sẽ giúp giảng viên trong việc chuẩn bị tài liệu tham khảo, giảng dạy, soạn đề bài tập, chấm bài để giảng cho các lớp chuyên ngành và các lớp cao học. Có như vậy, giảng viên ở giai đoạn chuyên ngành và bậc cao học mới có đủ thời gian để nghiên cứu thêm. Áp dụng trợ giảng, nhà trường có thể tốn thêm khoảng 1,5 triệu cho mỗi môn học. Nhưng bù lại, vừa tạo điều kiện cho các giảng viên mạnh dạn đổi mới phương pháp giảng dạy ở giai đoạn chuyên ngành và sau đại học; vừa giúp các giảng viên trẻ có điều kiện nghiên cứu, học tập, đồng thời có thêm thu nhập . 

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất. Để đổi mới phương pháp giảng dạy, các giảng đường phải được trang bị đầy đủ máy vi tính và máy chiếu. Hiện nay, do trường còn phải thuê một số cơ sở để dùng trong việc giảng dạy, nên việc trang bị máy móc vẫn rất khó khăn. Hơn nữa, máy chiếu ở các cơ sở vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu.  

Còn về phía người học, để giúp sinh viên, học viên đổi mới phương pháp học tập, có thể chuẩn bị bài, làm và làm tốt các bài tập cá nhân, các bài tập tình huống thì cần phải có phòng Lab, với rất nhiều máy tính tốc độ cao, đủ để cho sinh viên, học viên có điều kiện hoàn thành bài vở của mình.  

Bên cạnh đó, nguồn tài liệu tham khảo ở thư viện phải phong phú, cập nhật hơn nữa. Các khoa có thể gởi danh mục sách chuyên khảo yêu cầu về thư viện trường để thư viện trường cập nhật nguồn sách .  

Hơn nữa, thư viện phải được mở cửa ít nhất đến 18 hoặc 19 giờ mỗi ngày, kể cả thứ bảy, chủ nhật mới có thể đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên . Nếu thiếu người trực, có thể tuyển các sinh viên thích nghiên cứu, trung thực làm thêm giờ ở các thư viện, phụ giúp các nhân viên quản thư. 

Thứ tư, để đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, cần có sự thay đổi về cách tính điểm. Điểm của mỗi môn học không thể chỉ được quyết định bởi bài thi cuối khoá, mà phải phản ảnh kết quả tổng hợp của quá trình học tập của sinh viên, học viên. Cách tính điểm phải minh bạch, rõ ràng. Muốn thế, Ban giám hiệu phải đồng ý thay đổi cách tính điểm mỗi môn học, và tất nhiên, phải đãi ngộ xứng đáng công sức chấm bài của các giảng viên. 

Thứ năm, quy mô lớp phải nhỏ. Với phương pháp học tập mới, học viên làm chủ, là trung tâm của lớp học, không thể áp dụng quy mô lớp lớn, mà phải chia nhỏ lớp. Quy mô lớp chuyên ngành cũng như cao học chỉ nên tối đa là 50 học viên. Lớp càng đông thì việc thảo luận nhóm, thảo luận trước lớp càng kém hiệu quả.  

Để thực hiện tất cả những điều này, khó khăn lớn nhất là giảng đường và kinh phí. 

Giảng đường có thể thuê ngoài, hoặc khi đưa dãy nhà mới ở cơ sở B vào sử dụng thì sẽ không thiếu nhiều.  

Như vậy, vấn đề là kinh phí. Để giải quyết vấn đề này, cần phải tiết kiệm tối đa các chi phí ở bộ phận quản lý; đồng thời có thể đề xuất tăng học phí ở giai đoạn chuyên ngành. Hơn nữa, không nhất thiết phải chia nhỏ quy mô lớp ở mọi môn học, mà cần căn cứ vào đặc điểm của từng môn học. Tăng học phí ở giai đoạn chuyên ngành cũng là cách mà hầu hết các trường đại học ở nước ngoài áp dụng. Ap dụng cách này thì học phí ở giai đoạn chuyên ngành sẽ cao hơn khoảng 30 – 40% so với giai đoạn đại cương. Hoặc tăng học phí cho toàn chương trình đại học.  

Như vậy, để đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập cần một hệ thống các giải pháp đồng bộ và toàn diện.  

Đất nước đang trong quá trình hội nhập. Hơn bao giờ hết, áp lực cạnh tranh của quá trình toàn cầu hoá đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập để Việt Nam có thể sánh vai với các nước khác. Trên đây chỉ là những suy nghĩ của tác giả trước vấn đề bức xúc đặt ra cho ngành giáo dục đại học của đất nước ª 

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 8/2005

CẢI TIẾN PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC

THS. ĐINH TIẾN MINH

Một khi sinh viên bị chất đầy những kiến thức, những khái niệm và công thức… được nhồi nhét từ đống sách giáo khoa thì “cái đầu” của sinh viên sẽ trở nên bệnh hoạn, thậm chí lú lẫn, nghĩ sai nhiều thứ…

I. Đặt vấn đề

Từ lâu nay ít có thầy giáo chú tâm dạy cho sinh viên về cách học, nhất là cách tự học. Người học đến lớp cốt để học khoa học, thay vì học cách làm khoa học. Một thông tin trên mạng Internet (tháng 3 năm 2001) cho hay: Thực trạng non yếu về độ nhạy bén của năng lực nhận thức nơi sinh viên đang đe dọa nhiều trường học, kể cả những trường danh tiếng. Tại đó, người ta đua nhau nhồi nhét kiến thức mà không làm sắc sảo kiến thức, đua nhau đi học mà không màng đến tự học, đua nhau học mọi thứ khoa học mà không học cách làm khoa học, đua nhau dạy chữ nghĩa và con số mà không dạy cách tự học và sáng tạo. 

Thông tin đó còn nhấn mạnh: Một khi sinh viên bị chất đầy những kiến thức, những khái niệm và công thức… được nhồi nhét từ đống sách giáo khoa thì “cái đầu” của sinh viên sẽ trở nên bệnh hoạn, thậm chí lú lẫn, nghĩ sai nhiều thứ… Bên cạnh đó, sinh viên còn có thói quen học và tiếp thu bài trên lớp rất thụ động. Có rất ít hoặc gần như không bao giờ xảy ra việc một sinh viên đứng lên hỏi bài hoặc thắc mắc về bài đang học ở lớp. Hiện tại, chúng ta có thể nhận ra một sự thật đáng buồn là bản thân sinh viên hiện nay, dù ở hệ đào tạo nào, luôn có những lỗ hổng về kiến thức căn bản, yếu kém về chính tả, và không tự biết diễn giải một vấn đề như thế nào. 

Riêng đối với bản thân các thầy giáo, cải tiến trong phương pháp giảng dạy là rất quan trọng. Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế tri thức đang phát triển và được kích thích để phát triển. Chúng ta có thể sơ lược qua một số phương pháp dạy mà thời gian qua chúng ta đã và cũng đang áp dụng. Mỗi một phương pháp đều đòi hỏi ở giáo viên một trình độ và khả năng (kỹ năng) nhất định. Chúng ta có thể nói rằng tất cả mọi biện pháp đều có các ưu và nhược điểm của nó và đặc biệt hơn nữa là không phải tất cả các môn học giảng dạy ở bậc đại học đều có thể áp dụng phương pháp giảng dạy tiến tiến được. 

Phương pháp giảng dạy độc thoại (one way conversation) đòi hỏi giáo viên phải có: 

– Kiến thức về môn giảng. 

– Kỹ năng trình bày và nói chuyện trước công chúng tốt. 

– Uyên bác nhiều vấn đề liên quan đến môn học của mình. 

Phương pháp giảng dạy bằng phim (transparency) có các ưu và nhược điểm như sau: 

° Ưu điểm: 

– Không mất thời gian đọc hay chép bảng. 

– Có khả năng minh họa bằng hình ảnh rất tốt. 

– Trực quan, sinh động, hiện đại. 

– Đòi hỏi giáo viên phải biết vi tính và các chương trình bổ trợ. 

° Nhược điểm: 

– Phải xách cùng một lúc nhiều phim (slides), nặng nề trong quá trình di chuyển đến lớp. 

– Máy đèn chiếu (Overhead) bẩn, cũ, không được duy tu bảo trì thường xuyên nên làm cho hình ảnh, chữ nghĩa không rõ ràng. 

Phương pháp giảng dạy bằng máy tính (P/C, Laptop) có các ưu và nhược điểm như sau: 

° Ưu điểm: 

– Có thể thể hiện được màu sắc nên làm bài giảng được rõ ràng, sinh động. 

– Có thể thực hiện hình ảnh động nên làm bài giảng thêm phong phú và lôi cuốn. 

– Hành trang đi giảng dạy gọn nhẹ, có thể chỉ là một máy tính xách tay hoặc một đĩa mềm. 

° Nhược điểm: 

– Đầu tư chi phí cao nếu giáo viên muốn tự trang bị máy tính cho mình. 

– Máy đèn chiếu (projector) không đủ cho giáo viên. 

– Phải biết sử dụng thành thạo chương trình vi tính, đặc biệt Power Point. 

Như vậy, để đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên cũng như sự phát triển của một xã hội hiện đại thì chúng ta phải làm gì với tư cách giáo viên như là một chủ thể và sinh viên là một đối tượng ? 

II. Thực trạng chương trình dạy và học hiện nay

– Chúng ta có thể nói rằng các môn học tự bản thân nó không có tội nhưng chính cách dạy làm sinh viên ngao ngán và chán nản. Giáo viên lên lớp chỉ đọc cho sinh viên chép hoặc ngồi trên ghế để giảng từ đầu đến cuối buổi học. 

– Giờ học cho các môn chuyên ngành ít, trong khi giờ cho các môn ngoại ngữ, tin học lại quá nhiều. 

– Thời gian học không hợp lý, dồn dập, đặc biệt là các lớp buổi tối. Từ đó dẫn đến tình trạng là sinh viên đi học không đều. 

– Sinh viên hiện nay không tự tin trong khi học và khi đi làm, không có phương pháp học cụ thể, khoa học. Phần lớn họ chỉ xem lại bài học khi đến gần ngày kiểm tra. 

III. Một số ý kiến phản hồi trong giáo viên

– Giáo dục là một ngành dịch vụ nên cần cải tiến về chất lượng. Chúng ta có thể thu học phí cao để có được chất lượng giảng dạy tốt. 

– Chất lượng giảng dạy của giáo viên phải được đánh giá trên hai mặt: động lực giảng dạy và kỷ luật giảng dạy. Đảm bảo cuộc sống cơ bản cho giáo viên với chính sức lao động bằng con đường giảng dạy của mình. 

– Giáo viên là người tạo ra sản phẩm cho xã hội. Do vậy, phương pháp làm việc và dạy học, nội dung chuyển tải trong khi giảng của giáo viên là rất quan trọng. Chúng ta cần tiến đến chuẩn mực hoá các tài liệu học cho sinh viên, cần tiến đến chuẩn mực hoá trong cách ra đề thi và chấm thi. 

– Vì thời gian phân bổ cho môn học không nhiều nên giáo viên đôi lúc phải bắt buộc sàng lọc nội dung trình bày trên lớp để có thể đưa vào các bài tập mang tính ứng dụng cho sinh viên. 

– Tạo điều kiện cho giáo viên được tôn trọng, ưu ái, môi trường làm việc tốt. Tinh thần giáo viên trong giảng dạy phải được chú trọng. Các đồ dụng dạy học phải tốt, được duy tu bảo dưỡng thường xuyên, định kỳ để tránh tình trạng đến lớp phải mất nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị hoặc thậm tệ hơn là phải vệ sinh các máy đèn chiếu trước khi bắt đầu giảng. 

– Đến một lúc nào đó thì chúng ta cũng phải công nhận rằng giáo viên như là một ca sĩ, và nhà trường như là một ông bầu. Nếu ông bầu dở thì tự khắc giáo viên sẽ ra đi. 

– Sáng tạo trong phương pháp giảng dạy vô hình chung có thể làm chúng ta vi phạm qui chế nhà trường. Điểm thi hết môn vẫn là điểm cuối cùng. Muốn hợp thức hoá các phương pháp giảng dạy hiện đại đòi hỏi trường, khoa, bộ môn phải thay đổi qui chế. 

– Nhà trường phải tin tưởng vào giáo viên và giao cho giáo viên quyền quản lý sinh viên nhất định trong giảng dạy nghiên cứu.  

IV. Một số biện pháp cần được áp dụng đối với giáo viên

– Thầy giáo ngày nay đòi hỏi phải có đủ kiến thức và trình độ. 

– Giáo viên có thể sử dụng trợ giảng để chuyển tải những vấn đề thực tế. 

– Chủ động tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học như viết sách mang tính chuẩn mực cao về nội dung, bền vững, không thay đổi thường xuyên và có trách nhiệm lẫn nhau nếu có cùng nhiều tác giả. 

– Động viên các giáo viên cùng tham gia viết các giáo trình tài liệu tham khảo. 

– Lao động hay học tập là bắt buộc. Nếu chính bản thân giáo viên không trao cho sinh viên được kiến thức thì trao cho sinh viên sự bắt buộc lao động bằng cách làm bài tập, điểm danh hằng ngày, kiểm tra, thi. Nếu không tự làm được thì giáo viên lại vô tình tiếp tay cho những sinh viên sau này có bằng cấp thật nhưng kiến thức dỏm. 

– Giáo viên phải tự làm việc liên tục và tự bồi bổ kiến thức liên tục. 

– Dạy cho sinh viên phương pháp học là chính. Giới thiệu nhiều tài liệu mang tính chất tham khảo đối với môn học của mình. 

– Giáo viên cần phải yêu nghề, đặc biệt là các giáo viên trẻ. Chấp nhận những khó khăn và thách thức ban đầu. 

– Giáo viên cũng nên phải có một chút tính nghệ sĩ như tính nhạy cảm. Họ sẽ cảm thấy tự chán vì cách dạy của chính bản thân họ không được thay đổi, vì cách học của sinh viên quá thụ động và ỷ lại. Họ cũng phải có tính nhạy bén với thời cuộc như chịu khó tìm tòi cái mới và đáp ứng đúng nhu cầu của sinh viên. 

– Giáo viên phải có trách nhiệm trong giảng dạy với lớp, cho dù đó là lớp 5 hay 100 sinh viên thì cũng đều phải giảng như nhau. 

– Không bao giờ có tình trạng đọc chép cho sinh viên. 

– Giáo viên đôi lúc phải chấp nhận đầu tư và tạo động lực cho sinh viên tiếp thu bằng các phần mềm thực tế. 

– Thuyết giảng bằng tình cảm cũng như đe dọa cho sinh viên biết và thấy bằng các gương điển hình. 

– Thực hiện thường xuyên các chuyên đề báo cáo khoa học từ các giáo viên trẻ. 

– Tổ chức học thường xuyên chương trình Power Point cho giáo viên. 

– Mời các báo cáo viên của các công ty bên ngoài. 

– Đi tham quan thực tế. 

– Lập các tiểu ban như nghiên cứu sinh, hợp tác quốc tế và báo cáo chuyên đề trong nội bộ khoa để kích thích việc phát triển và đam mê khoa học trong giáo viên và sinh viên. 

V. Một số biện pháp cần được áp dụng đối với sinh viên

1. Phương pháp tự học trong quá trình đào tạo:

Tự học là xương sống của quá trình đạo tạo vì nó định hình cho một phong cách học tập mà tại đó người học: 

– Biết nỗ lực tự thân, nỗ lực vượt khó, lấy sức mình làm trụ cột để thúc đẩy mọi tìm tòi trong học hỏi. 

– Không ỷ lại vào nguồn đào tạo, nhưng biết triệt để khai thác những thuận lợi tích cực từ phía đào tạo. 

– Biến kỹ năng tự học thành môt thói quen “tự động hoá” trong mọi qui trình đào tạo và mọi tiến trình nhận thức. 

– Biết rõ rằng nếu không có thói quen tự học mà chỉ chờ chực “thức ăn dọn sẵn” là thất bại. 

– “Ai không tôn kính Thầy, đó là người không có trái tim. Nhưng nếu tôn kính Thầy mà cứ phải lẽo đẽo theo Thầy, đó lại là người thiếu hẳn cái đầu – một cái đầu biết làm việc” – LEONARD DE VINCI. 

– “Thói quen tự học sẽ gíup mỗi người trở thành chính mình, không là bản sao hay bóng mờ của người khác. Đó cũng là một thành phần chủ yếu của bản lĩnh cá nhân, thể hiện tinh hoa và bản chất của cá nhân đó” – GS. TẠ QUANG BỬU. 

– “Khi để những ý tưởng khoa học của người khác liên tục tràn vào đầu óc ta, chúng sẽ hạn chế và áp chế những ý tưởng của chính ta, và cuối cùng làm tê liệt năng lực tư duy của ta” – SCHOPENHAUER. 

Tự học là con đường có thể tự hoàn thiện: 

– Tự học là cách tự cứu mình trước khi được người khác giúp đỡ. 

– “Yêu cầu thực hành cơ bản nhất của học tập chính là sự tự học. Khi đó người ta biết tự đi tìm kiến thức, tự rèn luyện kỹ năng, thay vì chờ kiến thức tới từ sự dạy dỗ.” – QUÁCH MẠC NHƯỢC” 

– “Chỉ với ý thức tự học, tồn tại thường xuyên ở ai đó cũng đủ cho ta thấy sự vươn lên của người đó. Đấy là mầm mống của sự trưởng thành và sự thắng”- THOMAS EDI. 

2. Tự học theo phương pháp POWER:

Từ POWER ở đây vừa có nghĩa là “sức mạnh”, “năng lực”, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do GS. Robert Feldman (Đại học Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm một, cách học tập có hiệu quả nhất. Phương pháp POWER có 5 yếu tố cơ bản (POWER là viết tắt của năm từ chỉ năm yếu tố cơ bản này): 

° Chuẩn bị, sửa soạn – PREPARE: Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu từ giảng đường khi sinh viên nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi sinh viên chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị tư liệu này càng có hiệu quả hơn khi đi liền với nó là sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp nhận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, sinh viên có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được học trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái khung “tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống. Tóm lại: “Học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học”. 

° Tổ chức – ORGANIZE: Sự chuẩn bị phía trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi sinh viên bước vào giai đoạn hai. Giai đoạn người sinh viên biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có tổ chức và hệ thống. 

° Làm việc – WORK: Một trong những sai lầm của phương pháp học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi lao động trong khi lao động chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất. Trong giai đoạn này sinh viên phải biết cách làm việc một cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp cũng như ở phòng thí nghiệm, thực hành. Các hình thức lao động trong môi trường đại học rất đa dạng và phong phú: lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặc thảo luận… 

° Tự đánh giá – ESTIMATION: Sinh viên phải biết tự đánh giá chính bản thân mình ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường. Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực sinh viên mới biết mình đang đứng ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức để nâng cao trình độ và ý thức học tập. 

° Suy nghĩ lại – RETHINK: Khả năng suy nghĩ lại này luôn giúp cho sinh viên biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học không phải là tư duy đơn tuyến, một chiều mà đó là thứ tư duy đa tuyến, phức hợp đòi hỏi người học cũng như người dạy, nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập tới. Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (REDO) và tái tạo quá trình học tập trên căn bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đặt ra. Cuối cùng chữ R của giai đoạn thứ 5 này cũng có nghĩa là RECREATE (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so với các hoạt động học tập của sinh viên. 

VI. Kết luận

Nói tóm lại, để cải thiện cho việc dạy và học ngày càng hiệu quả và bổ ích hơn, cũng như bắt kịp phương pháp dạy và học của các nước tiên tiến trên thế giới đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực rất nhiều. Nó không chỉ là vấn đề đầu tư về tiền của, công sức mà còn là vấn đề cải tổ, cải cách trong phương pháp dạy và học từ các cấp bậc 2 và 3. Chúng ta không thể trông chờ mọi việc sẽ được cải tiến ở bậc đại học khi mà việc truyền đạt kiến thức nơi giáo viên và tiếp nhận kiến thức nơi sinh viên còn quá lạc hậu và thụ động ª 

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 8/2005

TRÌNH ĐỘ VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA GIẢNG VIÊN: NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TS. VŨ ANH TUẤN

Đành rằng chức năng chính của GV là giảng dạy nhưng có thể nói bệnh “lười nghiên cứu” đang rất phổ biến trong đội ngũ GV, số đông chỉ chú ý tới việc giảng dạy, không đầu tư nghiên cứu khoa học, những GV như vậy chỉ đơn thuần là những “thợ giảng”, thật đáng suy nghĩ khi nhiều GV thậm chí có ít giờ giảng cũng hạn chế đầu tư nghiên cứu khoa học.

Cổ nhân có câu “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”- Sự tinh thông nghề nghiệp sẽ tôn vinh người hành nghề. Ngày nay do phân công lao động xã hội phát triển, giáo dục và đào tạo là một ngành quan trọng trong hệ thống các ngành nghề.
Nghề dạy học là một nghề cao quí. Bởi đây là nghề mà sản phẩm là sự trang bị, tăng cường tri thức và giúp hình thành nhân cách cao đẹp cho con người.

Trong hoạt động của hệ thống giáo dục và đào tạo, ngoài công tác tổ chức quản lý, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật thì giảng viên (GV) giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố quan trọng nhất giữ vai trò quyết định đến chất lượng của công tác giáo dục và đào tạo. Mỗi GV với phong cách và năng lực khác nhau sẽ có sức truyền cảm, lôi kéo người học khác nhau, do vậy việc tiếp thụ tri thức và việc hình thành nhân cách của học viên cũng khác nhau.
Xã hội vận động và phát triển không ngừng, cải cách giáo dục và đào tạo đòi hỏi phải đi trước một bước để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Cải cách giáo dục và đào tạo nhằm từng bước nâng cao chất lượng của công tác giáo dục, do đó việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới phong cách và năng lực giảng dạy của GV là nhu cầu bức xúc vừa cần thiết cấp bách, vừa căn bản lâu dài.

Trên thực tế đã có rất nhiều hội thảo về chủ đề này và được giới giáo chức rất mực quan tâm. Theo đó, tác giả bài viết muốn được chia sẻ với đồng nghiệp một số suy nghĩ nhằm góp phần nâng cao trình độ và đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội, với mong muốn mỗi GV tự hình thành phong cách riêng hiệu quả, đồng thời tăng cường được năng lực giảng dạy, nhất là khả năng giao tiếp để thu hút học viên trong lớp học.

Để nâng cao trình độ và năng lực của GV, để có phong cách giảng dạy hiệu quả, người GV cần chú ý các điểm sau:

1. Trình độ khả năng và phong cách của GV. 

Khả năng và trình độ của GV luôn là yếu tố quan trọng giúp cho GV làm chủ được bài giảng, nắm vững chuyên môn môn học, có khả năng mở rộng và liên hệ với các khoa học khác và vận dụng vào đời sống xã hội. Khả năng và trình độ của GV thường thể hiện qua các mặt:

a. Về trình độ chuyên môn.

Để đáp ứng yêu cầu của công tác giáo dục hiện nay đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn cao, phải nắm vững những nguyên lý cơ bản, những nội dung chính của khoa học mình phụ trách. Ngoài việc nắm vững nội dung môn học như đòi hỏi cấp thiết, người GV còn phải hiểu biết và có khả năng liên hệ với các khoa học khác, nhất là việc ứng dụng những kiến thức của môn học vào các công trình nghiên cứu và trong hoạt động thực tiễn. Một bài giảng hay trước hết phải thể hiện tính khoa học, tính triết lý, có chiều sâu nhưng lại không xa rời thực tiễn, do đó đọng lại trong người nghe những suy nghĩ nhất định sau buổi học làm nảy sinh trong người học những mong muốn tìm tòi khám phá. Như vậy người GV giỏi không chỉ có trình độ chuyên môn môn học mà còn phải có phong cách và phương pháp tốt. Một phong cách và phương pháp tốt là phong cách và phương pháp được đông đảo người nghe chấp thuận, bất luận nếu không được người nghe chấp thuận đều là phong cách và phương pháp tồi, do đó là sự hạn chế về trình độ và khả năng chuyên môn, bởi “không có môn học dở, chỉ có thầy giáo tồi”. V. I. Lênin đã từng nói nghiên cứu chủ nghĩa Mác cái được lớn nhất là phương pháp, quả thực giáo dục ngày nay đang chuyển dần từ dạy nội dung sang dạy phương pháp.

b. Về mặt kỹ thuật hay tính logic của bài giảng.

GV phải sử dụng không gian lớp học một cách hiệu quả: sử dụng bảng, đặt đèn chiếu, màn hình hợp lý để học viên dễ dàng quan sát, tiếp thu sẽ có sự hấp dẫn khi giảng bài; sử dụng bảng, đèn chiếu, màn hình hợp lý hiệu quả, không lạm dụng, không đi qua màn hình khi đang chiếu, không sử dụng đồng thời cả bảng và đèn chiếu hay màn hình khi giảng bài.
Phim đèn chiếu hay hình ảnh qua đĩa mềm phải to, rõ ràng, phông chữ dễ đọc, không soạn quá nhiều chữ, viết đúng chính tả và ngữ pháp, kết hợp hình ảnh hợp lý. Chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp, khi vào lớp cần chào hỏi học viên để đáp lại sự chào hỏi của người học.

c. Về ngôn ngữ và sự hiện diện của GV. GV trong suốt quá trình giảng dạy cần phải:

– Thường xuyên sử dụng cử chỉ thân thiện như mỉm cười, dang tay, thay đổi tư thế đứng, ngồi, đi lại, quan sát cho phù hợp với không gian lớp học.

– Sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ có hiệu quả khi trình bày như giọng nói ấm áp dễ nghe, âm lượng phù hợp, không nên phát âm quá lớn hoặc quá nhỏ hoặc quá gay gắt, thường xuyên sử dụng ánh mắt thân ái, dí dỏm để thu hút học viên.

d. Thường xuyên giao tiếp qua lại với học viên. Người GV tốt là người thường xuyên biết:

– Thể hiện thái độ quan tâm, giúp đỡ học viên trong suốt quá trình giảng dạy, không nên tạo sự cách biệt với học viên.

– Lôi kéo học viên làm cho họ không e ngại, cư xử bình đẳng không thiên vị với học viên, không thể hiện sự quan tâm thái quá đối với học viên.

– Hài hước một cách phù hợp để giảm căng thẳng, tạo không khí vui vẻ trong lớp học.

– Chia sẻ kinh nghiệm cá nhân nhưng không nên lạm dụng nói về mình quá nhiều, nên nói về đồng nghiệp hoặc thầy cô đi trước.

– Ăn mặc nghiêm túc, vào lớp đúng giờ, giữ thái độ cư xử đúng mực, biết hoan nghênh học viên tích cực góp ý kiến hoặc hỏi bài.

e. Về việc thể hiện các kỹ năng để giảng dạy hiệu quả. GV cần thể hiện tốt các kỹ năng:

– Biết sử dụng câu hỏi nhập đề. Thông thường có hai loại câu hỏi: thứ nhất là loại câu hỏi dẫn đề để dẫn dắt học viên đi từ nội dung khoa học này sang nội dung khoa học khác; thứ hai là câu hỏi mở để thu nhận phản ứng qua các câu trả lời của học viên.

– Trình bày bài giảng kết hợp trực quan rõ ràng một cách đầy đủ, ngắn gọn, logic, súc tích để học viên dễ tiếp thu, thường xuyên kiểm tra sự hiểu biết về chuyên môn của học viên

– Biết ghi nhận mọi câu trả lời của học viên, không ngắt lời hoặc trả lời theo kiểu trấn áp và không nên từ chối các câu hỏi của học viên, sử dụng cách giao tiếp bằng mắt một cách tự nhiên với học viên và cả lớp.

– Khi có học viên chất vấn phải bình tĩnh lắng nghe, không đối phó, phải tìm cách giải quyết vấn đề, tránh xung đột hoặc đối đầu với học viên.

– Quản lý thời gian và chương trình làm việc tốt, điều chỉnh hành vi không đúng của học viên theo qui định.

f. Về quá trình trình bày thông tin và sử dụng các phương tiện trực quan có hiệu quả.

GV cần chuẩn bị đề cương bài giảng cẩn thận, rõ ràng, chi tiết. Cần có thẻ ghi chú những vấn đề, những điểm cần thiết như câu hỏi, điểm nhấn, lộ trình tiến hành bài giảng, các bước thực hiện, những gợi ý học viên và kết luận.

Nên sử dụng chương trình Power Point để soạn bài giảng, viết chữ in, to, đúng chính tả, sử dụng một số màu, phông chữ khác nhau, kết hợp hình ảnh hợp lý, mỗi trang chỉ soạn tối đa từ 10 – 12 dòng, khi soạn không nên viết câu hoàn chỉnh, nên gạch đầu dòng các câu hoặc một mệnh đề.

Khi chiếu không nên chiếu cả trang, nếu dùng phim phải che từng phần, phải đánh số trang và đóng thành từng tập để dễ sắp sếp mà không bị lẫn lộn, còn nếu dùng Power Point nên chiếu từng đoạn, khi cần minh hoạ hoặc mô hình hoá có thể chiếu cả trang.

Nếu có điều kiện thì có thể phát tài liệu (đề cương tóm tắt cho học viên) trước mỗi buổi giảng và giao việc cho buổi học tới.

2.Kỹ năng giao tiếp bằng lời và không bằng lời khi giảng dạy 

Trong giao tiếp, truyền giảng GV cần phải kết hợp thường xuyên cả hai hình thức giao tiếp bằng lời và giao tiếp không bằng lời.

a. Giao tiếp không bằng lời:

Thứ nhất: về ngôn ngư, cử chỉ và hành vi giao tiếp:

Quá trình truyền giảng người GV phải thường xuyên đưa ra một thông điệp ấm áp, nồng nhiệt chào đón và tin tưởng vào học viên, thể hiện sự tự tin, quan tâm, và kỳ vọng vào kết quả đạt được của học viên, không nên dùng ngôn ngữ gay gắt, nặng nề, đe dọa, trấn áp học viên trong giờ giảng cũng như giờ giải lao, cần duy trì thường xuyên một thái độ đúng mức.
GV cần chú ý một số điều như: động thái đi đứng phải khoan thai, tự nhiên, không gượng gạo miễn cưỡng, luôn phải giữ tư thế đứng thẳng thoải mái, tránh sự uể oải hoặc biểu lộ sự căng thẳng nhất là đối với những GV mới.
Nên thường xuyên chú ý cử chỉ của đôi tay, nên sử dụng tay tự nhiên, vì đôi tay sẽ làm tăng sự nhiệt tình, hưng phấn của mình khi giảng, không nên để tay trong túi quần lâu, tránh đập tay xuống bàn hoặc vỗ tay khi có sử dụng phấn viết. GV đôi khi cần mỉm cười thoải mái thể hiện bạn hài lòng với kết quả và sự tin cậy vào sự nỗ lực của học viên.

Thứ hai: giao tiếp bằng mắt .

Giao tiếp bằng mắt với mọi học viên trong lớp một cách từ từ thân thiện sẽ làm tăng sự đồng cảm của học viên, do đó GV sẽ thu hút được học viên, ngược lại có thể GV đã tạo ra sự xa lánh, thiếu tin cậy của học viên vào bạn.
Trong quá trình giao tiếp bằng mắt luôn thực hiện với mọi học viên một cách bình đẳng,  GV hãy quan sát khắp phòng học, tránh chỉ quan sát một học viên hay một nhóm học viên nào đó, hoặc chỉ quan sát một vị trí nào đó trong phòng học quá lâu, tránh cúi xuống nhiều hoặc quan sát ra ngoài hoặc nhìn lên trần nhà quá lâu với cùng một tư thế .

Thứ ba: vị trí của GV trong lớp học.

Cần chủ động trong việc sử dụng không gian lớp học, nên sử dụng các vị trí khác nhau trong phòng học trong suốt khoá học, không nên đứng, ngồi cố định một chỗ, hoặc định vị quá lâu ở một vị trí nào đó, việc đi lại vừa phải quanh lớp học là cần thiết.

Khi trình bày, cung cấp thông tin GV cần đứng trước lớp. Khi muốn thu ý kiến từ học viên cần rời vị trí trước lớp để xuống lớp hoặc cuối lớp. Khi thảo luận với lớp thì nên ngồi trước lớp, có thể ở bàn đầu quay xuống cùng học viên. Nếu muốn tham gia với một nhóm nào đó nên kéo ghế ngồi cạnh bàn học viên như một học viên trong nhóm.

Thứ tư: về sự hiện diện của GV.

GV cần thể hiện khả năng khẳng định mình luôn ở cạnh và kiểm tra học viên, làm cho học viên biết rằng mình mong đợi các học viên cho nhiều ý kiến khác nhau và họ sẽ được đánh giá cao khi có nhiều ý kiến, và có ý kiến thông minh.
Điều chủ yếu là GV phải xây dựng và tạo ra hình ảnh về sự tự tin, cởi mở và khuyến khích học viên tham gia thảo luận (nếu có).

b. Giao tiếp hiệu quả bằng lời nói.

Một là: giọng nói của GV.

Giọng nói phải dễ nghe, nên sử dụng ngôn ngữ phổ thông, đôi khi hài hước bằng ngôn ngữ địa phương (tránh lạm dụng). Cần kết hợp chất liệu giọng cao, thấp, trầm, bổng để có giọng dễ nghe và thu hút.

Hai là: âm lượng.

Điều chỉnh âm thanh cho đủ nghe khắp phòng, tránh quá nhỏ hoặc quá to. Âm lượng vừa nhất là âm thanh đủ cho người ở xa nhất nghe được, nên khi nói như thể ta nói với người ở xa nhất. Truyền đạt một cách ấm áp, nhiệt tình, tránh đều đều hoặc hùng hổ quá. Nên hỏi học viên xem họ có nghe rõ không?

Ba là: tốc độ nói của GV.

Nói chậm quá sẽ rời rạc, bởi vậy nói nhanh còn hơn nói chậm. Tất nhiên nếu nói quá nhanh sẽ giảm chất lượng bài giảng vì học viên không nghe kịp, sẽ làm cho họ mất tập trung hoặc nản chí vì cho rằng có quá nhiều vấn đề vượt qua khỏi khả năng của họ.

Luôn bình tĩnh, tránh sự căng thẳng, biết chêm đúng lúc những câu hài hước dí dỏm để tăng sự hưng phấn, có thể kể những câu chuyện vui vào cuối mỗi đoạn khi thấy học viên uể oải, hoặc quá căng thẳng.

Bốn là: dừng nói có chủ ý.

Đôi khi cần dừng đột ngột (có chủ ý) để cho học viên có thời gian suy nghĩ về những điều họ vừa được nghe. Khi có học viên tự xin ý kiến đừng nghĩ rằng bạn luôn là người lấp chỗ trống, có thể nhờ một học viên khác trả lời giúp, hoặc để cho cả lớp thảo luận nhưng cần nhớ rằng ý kiến cuối cùng là của bạn.

Nhìn chung giáo dục và đào tạo ngày nay đang đặt ra yêu cầu người GV phải nỗ lực nâng cao trình độ, chuyển đổi phong cách giảng dạy cho phù hợp. Ngày nay cần thiết chuyển từ phong cách GV – người trình bày (thuyết trình) sang GV – người hướng dẫn (nhất là với các khoa học chuyên ngành, khoa học ứng dụng ).

Phương pháp giảng dạy đại học của chúng ta trước đây, người GV chủ yếu giữ vai trò thuyết giảng, tức là đưa thông tin đến lớp, đến người nghe theo kiểu một chiều, áp đặt, vì thế khi thi cử thì học viên có nghĩa vụ trả bài cho thầy một cách thụ động, theo phương pháp này thì  người thầy giữ vai trò trung tâm. Ngày nay, GV không chỉ là người đưa thông tin, thuyết trình mà còn và phải là người hướng dẫn, giúp đỡ tức một mặt vừa đưa thông tin, thuyết trình, mặt khác GV cần hướng dẫn, giúp học viên tìm hiểu và khám phá một chủ đề nào đó, đồng thời phải tập trung vào học viên với những điều họ biết, họ làm, theo đó học viên là trung tâm và là đối tượng của GV và công tác giáo dục.

3. Điều kiện cần và đủ

Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cần có đội ngũ thầy giáo có trình độ chuyên môn cao, có tâm huyết với nghề, có cơ sở vật chất phù hợp yêu cầu và cơ chế quản lý và làm việc hiệu quả.
Riêng về đội ngũ GV có thể nói cơn lốc thị trường đang cuốn hút phần lớn thời gian của GV vào việc giảng dạy, ít đầu tư nghiên cứu do đó bài giảng thiếu chiều sâu cần thiết, phương pháp chậm được cải tiến, thông tin thiếu cập nhật nên chưa đáp ứng được mong đợi của học viên.  Đành rằng chức năng chính của GV là giảng dạy nhưng có thể nói bệnh “lười nghiên cứu” đang rất phổ biến trong đội ngũ GV, số đông chỉ chú ý tới việc giảng dạy, không đầu tư nghiên cứu khoa học, những GV như vậy chỉ đơn thuần là những “thợ giảng”, thật đáng suy nghĩ khi nhiều GV thậm chí có ít giờ giảng cũng hạn chế đầu tư nghiên cứu khoa học.

Thực tế cho thấy những GV ít đầu tư nghiên cứu là những GV không có uy tín trong giảng dạy, ngược lại, những GV không ngừng nỗ lực trong nghiên cứu khoa học là những GV có uy tín cao trong giảng dạy. Có thể dễ dàng nhận thấy một bộ không nhỏ thầy cô giáo đang rất nỗ lực làm việc có hiệu quả, đang đóng góp rất lớn cho sự nghiệp giáo dục, đó là những GV vừa tích cực trong nghiên cứu khoa học, vừa lăn lộn với công việc giảng dạy và đang thu nhận được uy tín cao trong giảng dạy, họ được đông đảo học viên, người nghe đồng tình và tín nhiệm.

Như vậy, chất lượng công tác giáo dục phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nhà giáo và công tác quản lý. Trong cơ chế hiện nay có thể nó bệnh “lười nghiên cứu” thường đi liền với bệnh “thích làm lãnh đạo, quản lý” đang gây cản trở không nhỏ đến chất lượng giáo dục, thiết nghĩ ngành giáo dục cần có những giải pháp hữu hiệu, có cơ chế đánh giá khách quan để nâng cao chất lượng và trình độ đội ngũ GV. Nên mở rộng cơ chế đánh giá GV, cần thiết có cơ chế thu nhận ý kiến và sự đánh giá của người học và xã hội, đồng thời chọn đúng và đề cử được những người có năng lực và tâm huyết với ngành giáo dục vào các vị trí quản lý các cấp của ngành giáo dục, điều đó sẽ tạo tác động dây chuyền và chất lượng giáo dục sẽ được nâng cao ª

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 6/2006

GIỚI THIỆU NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CƯ TRÚ NĂM 2006

I . SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH LUẬT CƯ TRÚ
Tự do cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 (Điều 10) và đến nay, quyền cơ bản đó vẫn tiếp tục được khẳng định tại Điều 28 Hiến pháp năm 1959, Điều 71 Hiến pháp năm 1980, Điều 68 Hiến pháp năm 1992, trong Bộ luật dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Để bảo đảm cho quyền tự do cư trú của công dân được thực hiện trên thực tế và đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý cư trú, trong từng thời kỳ, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 104/CP ngày 27 tháng 6 năm 1964 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu đối với công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Nghị định số 32/CP ngày 29 tháng 2 năm 1968 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số; Nghị định số 04/HĐBT ngày 7 tháng 8 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu; Nghị định số 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 về đăng ký và quản lý hộ khẩu; Nghị định số 108/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 và Bộ Công an đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành các Nghị định nêu trên. Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tự do cư trú, lựa chọn nơi cư trú, đồng thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý cư trú, cũng như phục vụ các yêu cầu có liên quan của Nhà nước và của nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong những năm qua, mặc dù Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký, quản lý cư trú cho phù hợp với tình hình thực tiễn của mỗi giai đoạn; nhưng cho đến nay các quy định còn tản mạn, chủ yếu được ban hành dưới hình thức Nghị định của Chính phủ. Trước sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhất là yêu cầu hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, nhiều quy định của pháp luật hiện hành về cư trú và quản lý cư trú không còn phù hợp, mang nặng cơ chế xin – cho, trình tự, thủ tục rườm rà, phức tạp, chưa thật sự dân chủ, thống nhất, dẫn đến tình trạng vận dụng tuỳ tiện, gây khó khăn, phiền hà cho công dân. Bên cạnh đó, cũng có một thực tế là một bộ phận nhân dân chưa thực hiện tốt quy định của pháp luật về đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng, làm cho hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về cư trú chưa cao, tạo ra kẽ hở để các phần tử xấu lợi dụng tiến hành hoạt động xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, việc Quốc hội ban hành Luật cư trú là cần thiết, đáp ứng các đòi hỏi khách quan, để công dân Việt Nam thực hiện quyền tự do cư trú ở trong nước của mình theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và đáp ứng yêu cầu đăng ký, quản lý cư trú trong tình hình mới, trong điều kiện Việt Nam hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Đó cũng là đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phục vụ đắc lực công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
Ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI, Luật Cư trú được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT CƯ TRÚ

Luật cư trú đã quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây:
Một là, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú phù hợp với chủ trương cải cách hành chính; phù hợp với tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế; phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hai là, tạo khuôn khổ pháp lý hữu hiệu để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi tối đa cho công dân Việt Nam làm ăn, sinh sống, chống phiền hà, tiêu cực; đồng thời, bảo đảm cho công tác quản lý cư trú có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Ba là, tạo cơ sở để củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác đăng ký, quản lý cư trú; đổi mới phương pháp, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học, công nghệ trong quản lý cư trú, bảo đảm tính khoa học, dân chủ, công khai, minh bạch, thuận tiện cho đăng ký, quản lý cư trú.
Bốn là, kế thừa những quy định hợp lý và đang phát huy tác dụng tốt trong công tác đăng ký, quản lý cư trú; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quản lý cư trú của nước ngoài để vận dụng phù hợp đặc điểm, điều kiện của đất nước.
Năm là, Quy định một cách cụ thể các vấn đề liên quan đến cư trú, hạn chế đến mức thấp nhất việc phải ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật này để các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và cá nhân chấp hành Luật nghiêm chỉnh, thống nhất, kịp thời.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT CƯ TRÚ

Luật cư trú bao gồm 6 chương với 42 điều, cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung
Chương này gồm có 8 điều (từ Điều 1 đến Điều 8), quy định những vấn đề chung về cư trú, như: phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; quyền tự do cư trú của công dân; nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú; bảo đảm điều kiện thực hiện quyền tự do cư trú và hoạt động quản lý cư trú; trách nhiệm quản lý nhà nước về cư trú; hợp tác quốc tế trong quản lý cư trú; các hành vi bị nghiêm cấm.
Chương II. Quyền, trách nhiệm của công dân về cư trú
Chương này gồm có 9 điều (từ Điều 9 đến Điều 17), quy định về quyền của công dân về cư trú; các trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú; trách nhiệm của công dân về cư trú; nơi cư trú của công dân; nơi cư trú của người chưa thành niên; nơi cư trú của người giám hộ; nơi cư trú của vợ, chồng; nơi cư trú của cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nơi cư trú của người làm nghề lưu động.

Chương III. Đăng ký thường trú
Chương này gồm 12 điều (từ Điều 18 đến Điều 29), quy định về đăng ký thường trú; điều kiện để đăng ký thường trú tại tỉnh; điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương; thủ tục đăng ký thường trú; xoá đăng ký thường trú; thay đổi đăng ký thường trú trong trường hợp thay đổi chỗ ở hợp pháp; sổ hộ khẩu, sổ hộ khẩu cấp cho hộ gia đình, sổ hộ khẩu cấp cho cá nhân; tách sổ hộ khẩu; giấy chuyển hộ khẩu; điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu.
Chương IV. Đăng ký tạm trú, thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng
Chương này gồm 3 điều (từ Điều 30 đến Điều 32), quy định về đăng ký tạm trú; lưu trú và thông báo lưu trú; khai báo tạm vắng.
Chương V. Trách nhiệm quản lý cư trú
Chương này gồm 7 điều (từ Điều 33 đến Điều 39), quy định về trách nhiệm của Bộ Công an, của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý cư trú; trách nhiệm của cơ quan đăng ký, quản lý cư trú; người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú; huỷ bỏ việc đăng ký thường trú, tạm trú trái pháp luật; cơ sở dữ liệu về cư trú; khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm.
Chương VI. Điều khoản thi hành
Chương này gồm 3 điều (từ Điều 40 đến Điều 42), quy định về hiệu lực của Luật; việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quy định về hộ khẩu; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật.
IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CƯ TRÚ

1. Phạm vi điều chỉnh của Luật Cư trú

Luật cư trú quy định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú; quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú. Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật này bao gồm hai nội dung chủ yếu đó là quyền tự do cư trú của công dân và việc đăng ký, quản lý cư trú.
Điều 1 của Luật cư trú còn quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú”. Với quy định này, thì khái niệm “cư trú” được hiểu rõ hơn, phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự và phân biệt được với những trường hợp công dân không thường xuyên sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của họ (mà trước đây gọi là cư trú vãng lai, nay, theo Luật này được gọi là lưu trú) để quy định chế độ quản lý đối với từng loại đối tượng cho phù hợp.
2. Đối tượng áp dụng của Luật cư trú

Đối tượng áp dụng của Luật này, bao gồm:
a) Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, công dân Việt Nam;
b) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống.
3. Quyền tự do cư trú của công dân

Quyền tự do cư trú của công dân theo quy định của Luật cư trú là việc công dân có quyền tự mình lựa chọn, quyết định nơi thường trú, nơi tạm trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Quyền tự do cư trú của công dân còn được thể hiện bằng việc công dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú cho họ. Vì vậy, Điều 3 của Luật cư trú đã quy định:
Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú, thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú.
Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.
4. Nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú

Điều 4 Luật cư trú quy định rõ về nguyên tắc cư trú, quản lý cư trú:
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
2. Bảo đảm hài hoà quyền, lợi ích của công dân, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và xã hội; kết hợp giữa việc bảo đảm quyền tự do cư trú, các quyền cơ bản khác của công dân và trách nhiệm của Nhà nước với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
3. Trình tự, thủ tục đăng ký thường trú, tạm trú phải đơn giản, thuận tiện, kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch, không gây phiền hà; việc quản lý cư trú phải đảm bảo hiệu quả.
4. Mọi thay đổi về cư trú phải được đăng ký; mỗi người chỉ được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú một nơi”.
Nguyên tắc này là tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt cho việc cư trú của công dân cũng như công tác quản lý cư trú của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Bảo đảm điều kiện thực hiện quyền tự do cư trú và hoạt động quản lý cư trú

Điều 5 của Luật cư trú khẳng định, quyền tự do cư trú của công dân được Nhà nước bảo đảm. Mọi hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm đến quyền tự do cư trú của công dân đều bị xử lý nghiêm minh. Luật cũng đã thể hiện rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với hoạt động quản lý cư trú, bằng cách bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn lực, đầu tư phát triển công nghệ, kỹ thuật tiên tiến. Việc quan tâm về nguồn lực cũng như về vật chất của Nhà nước cho hoạt động quản lý cư trú cũng có nghĩa là phục vụ tốt cho việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân.
6. Các hành vi bị nghiêm cấm
Điều 8 của Luật cư trú quy định cụ thể 9 nhóm hành vi bị nghiêm cấm, để áp dụng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân, nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân được thực hiện nghiêm chỉnh, không bị gây phiền hà trong khi thực hiện việc đăng ký thường trú, tạm trú hoặc lưu trú; đồng thời, cũng bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả cao, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự. Cụ thể như sau:
“1. Cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú.
2. Lạm dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
3. Nhận hối lộ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà trong việc đăng ký, quản lý cư trú.
4. Thu, sử dụng lệ phí đăng ký cư trú trái với quy định của pháp luật.
5. Tự đặt ra thời gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định của pháp luật hoặc làm sai lệch sổ sách, hồ sơ về cư trú.
6. Cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ về cư trú trái với quy định của pháp luật.
7. Lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
8. Thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú; sử dụng giấy tờ giả về cư trú; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú.
9. Tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú.”
7. Quyền và trách nhiệm của công dân về cư trú

Yêu cầu cơ bản đặt ra đối với Luật cư trú là vừa phải bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân, vừa phải bảo đảm cho công tác quản lý cư trú có hiệu quả cao, vì vậy, tại Chương II của Luật này đã quy định tập trung, đầy đủ, cụ thể quyền và trách nhiệm của công dân về cư trú. Đây là điểm mới của Luật cư trú so với các quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là:
7.1.  Quyền của công dân về cư trú (Điều 9)
Theo quy định tại Điều 9, công dân có các quyền về cư trú sau đây:
“1. Lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định của pháp luật khác có liên quan;
2. Được cấp, cấp lại, đổi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú;
3. Được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền cư trú;
4. Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ quyền cư trú của mình;
5. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật.”
7.2.  Các trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú (Điều 10)
Bên cạnh quyền của công dân về cư trú, Điều 10 cũng chỉ rõ một số trường hợp công dân bị hạn chế quyền tự do cư trú, đó là:
“1. Người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
2. Người bị Toà án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế.
3. Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.”
7.3.  Trách nhiệm của công dân về cư trú (Điều 11)
Đi đôi với các quyền của công dân, Điều 11 đã quy định rõ trách nhiệm của công dân về cư trú, cụ thể là:
“1. Chấp hành các quy định của pháp luật về cư trú;
2. Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu về cư trú của mình cho cơ quan, người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu đã cung cấp.
3. Nộp lệ phí đăng ký cư trú;
4. Xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú khi cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu;
5. Báo ngay với cơ quan đã đăng ký cư trú khi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú bị mất hoặc bị hư hỏng.”
8. Nơi cư trú của công dân

Nơi cư trú của công dân có ý nghĩa quan trọng, là yếu tố không thể thiếu để được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. Điều 12 quy định về nơi cư trú của công dân như sau:
“1.Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.
Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.
Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật cư trú thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống”.
Chỗ ở hợp pháp là một trong những điều kiện cần thiết để công dân được đăng ký cư trú. So với quy định của Nghị định số 51/CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 108/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2005 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 51/CP sửa đổi) và Thông tư số 11/2005/TT-BCA-C11 ngày 7 tháng 10 năm 2005 của Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 51/CP và Nghị định số 108/2005/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Thông tư số 11), Luật cư trú có một số điểm mới là:
Thứ nhất, quy định chỗ ở hợp pháp theo hướng rộng hơn, bao gồm “nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú”; còn Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11 chỉ giới hạn là nhà ở và phương tiện.
Thứ hai, nhà ở được coi là chỗ ở hợp pháp cũng được quy định rộng hơn, có thể là nhà thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Còn theo quy định tại Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11, thì không cho đăng ký thường trú đối với trường hợp nhà ở là do mượn, ở nhờ (trừ cán bộ, công chức được điều động, tuyển dụng đến làm việc ở thành phố, thị xã).
Thực tế có nhiều trường hợp người đi thuê hoặc ở nhờ nhà của người khác nhưng lại có hành vi gây tranh chấp dân sự với chủ nhà (như đòi được chia nhà…) làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nhà, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự. Để khắc phục tình trạng này, Điều 19 và Điều 20 quy định: đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản. Điều đó có nghĩa là, nếu chủ nhà không đồng ý cho người ở nhờ, thuê nhà, mượn nhà được đăng ký thường trú, thì không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đăng ký thường trú.
Đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của Nhà nước, của các tổ chức chuyên kinh doanh nhà thì không cần phải có sự đồng ý của chủ nhà; bởi vì, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì Nhà nước, các tổ chức chuyên kinh doanh nhà, khi đã cho người khác mượn, thuê, cho ở nhờ nhà phải làm hợp đồng. Nội dung của hợp đồng này đã thể hiện sự đồng ý cho đăng ký thường trú vào ngôi nhà đó.
Quy định như trên của Luật cư trú là nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân và đơn giản hoá thủ tục đăng ký thường trú. Còn theo quy định của Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11, thì mọi trường hợp thuê, ở nhờ nhà của người khác nếu muốn đăng ký thường trú đều cần phải có văn bản đồng ý của người cho thuê, cho ở nhờ nhà đó.

9. Đăng ký thường trú

Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ (Điều 18). Điều kiện đăng ký thường trú tại tỉnh chỉ đòi hỏi công dân có chỗ ở hợp pháp thì được đăng ký thường trú (Điều 19). Còn điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương thì ngoài điều kiện có chỗ ở hợp pháp, còn phải có thêm một điều kiện khác, đó là đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ  một năm trở lên (theo quy định hiện hành là từ ba năm trở lên) hoặc thuộc một trong những trường hợp được quy định cụ thể tại các khoản 2, 3, 4 Điều 20 của Luật này. Sở dĩ có quy định này là vì: việc di dân từ vùng nông thôn đến các đô thị, đặc biệt là các thành phố lớn ngày càng gia tăng, gây áp lực lớn cho các đô thị. Trong khi đó, các điều kiện về cơ sở hạ tầng tại các thành phố trực thuộc trung ương như nhà ở, trường học, bệnh viện, điện, nước, đường phố, vệ sinh môi trường và các điều kiện khác hiện chưa thể đáp ứng được tốt nếu số lượng dân cư sinh sống tại các thành phố này quá lớn; cho nên cần có biện pháp nhằm kiềm chế sự gia tăng cơ học số lượng người nhập cư vào các thành phố trực thuộc trung ương. Tuy nhiên, so với Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư 11 thì Luật cư trú có nhiều điểm mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công dân đăng ký thường trú vào các thành phố trực thuộc trung ương, nhất là những người vào làm việc trong các doanh nghiệp. Đây cũng là đáp ứng yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi cho công dân làm việc trong các doanh nghiệp được đăng ký thường trú vào các đô thị, phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Điều kiện đăng ký thường trú tại tỉnh được quy định tại Điều 19, cụ thể như sau:
“Công dân có chỗ ở hợp pháp ở tỉnh nào thì được đăng ký thường trú tại tỉnh đó. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản”.
Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương được quy định cụ thể tại Điều 20 như sau:
“1. Có chỗ ở hợp pháp vàđã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì  phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản;
2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha,  mẹ; cha, mẹ về ở với con;
b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc chuyển về  ở với anh, chị, em ruột;
c) Người tàn tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác ruột, người giám hộ;
d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu  ruột, người giám hộ;
đ) Người  thành niên độc thân về sống với ông, bà nội, ngoại;
3. Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.
4. Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản”.
10. Thủ tục đăng ký thường trú
So với quy định của pháp luật hiện hành, Điều 21 Luật cư trú quy định rất rõ nơi nộp hồ sơ, những giấy tờ cần thiết để đăng ký thường trú. Trong thời hạn tối đa là 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan Công an có thẩm quyền phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp sổ hộ khẩu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đã nộp hồ sơ biết. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thời hạn cấp sổ hộ khẩu có thể kéo dài thêm 10 ngày làm việc (tức là 14 ngày, kể cả ngày nghỉ) đối với trường hợp phức tạp; nay, Luật cư trú bỏ quy định này nên những trường hợp phức tạp đã rút ngắn được nửa thời gian làm thủ tục đăng ký thường trú.
Thủ tục đăng ký thường trú được quy định tại Điều 21, cụ thể như sau:
“1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:
a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;
b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:
a)Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;bản khai nhân khẩu;
b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;
c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.
3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”.
11. Về mô hình quản lý cư trú
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc giữ mô hình quản lý cư trú bằng việc cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú cho công dân vẫn cần thiết, nhằm góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đồng thời, còn phục vụ cho các chính sách quan trọng khác của Nhà nước như: thống kê, điều tra dân số; quy hoạch, bố trí dân cư; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; đăng ký nghĩa vụ quân sự; thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trả lương hưu cho người về hưu; thực hiện ưu tiên tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng đối với một số đối tượng nhất định thuộc vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc ít người; giải quyết tình trạng trẻ em lang thang; quản lý vốn cho vay, kể cả vốn cho vay của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm; thi hành một số hình phạt và các biện pháp xử lý hành chính tại địa phương; lập, quản lý hồ sơ địa chính; quản lý người nghiện ma tuý và cơ sở cai nghiện ma tuý. Mặt khác, trong điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, bộ máy quản lý thiếu về nhân lực và yếu về chất lượng, chưa thể đáp ứng yêu cầu quản lý bằng phương pháp mới, thì vẫn cần phải duy trì quản lý cư trú bằng hình thức cấp sổ hộ khẩu đối với trường hợp đăng ký thường trú, cấp sổ tạm trú đối với trường hợp đăng ký tạm trú. Việc giữ mô hình quản lý cư trú này với những quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện đơn giản, thuận lợi hơn, cùng với việc chấn chỉnh khâu tổ chức thực hiện sẽ góp phần bảo đảm cho công dân thực hiện quyền tự do cư trú; đồng thời, vẫn giúp cho công tác quản lý của Nhà nước về cư trú được hiệu quả.
12. Đăng ký tạm trú

Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ. Luật cư trú quy định: Ng­ười đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến, phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn. Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều nàyphải cấp sổ tạm trú theo mẫu quy định của Bộ Công an. Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn. Trường hợp có căn cứ để xác định thời hạn tạm trú thì ghi rõ thời hạn trong sổ tạm trú.
Thủ tục đăng ký tạm trú được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 30 Luật cư trú như sau:
– Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn.
– Hồ sơ đăng ký tạm trú bao gồm:
+ Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.
+ Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; nếu nhà đi thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải có ý kiến đồng ý của chủ hộ hoặc chủ nhà. Riêng đối với học sinh, sinh viên, học viên học tại các trường phổ thông nội trú, học viện, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, thì có xác nhận là người của địa phương đi học của Công an xã, phường, thị trấn vào Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.
+ Bản khai nhân khẩu (đối với người từ 15 tuổi trở lên)
Ngoài ra, người đến đăng ký tạm trú phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân; trường hợp không có giấy chứng minh nhân dân thì phải có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó đăng ký thường trú.
– Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ trong hồ sơ nêu trên phải cấp sổ tạm trú cho người đăng ký tạm trú theo mẫu quy định của Bộ Công an.
13. Xoá đăng ký thường trú và tạm trú
13.1.  Xoá đăng ký thường trú (Điều 22)
Khoản 1 Điều 22 của Luật cư trú quy định cụ thể những người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú:
“a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết;
b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại;
c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này;
d) Ra nước ngoài để định cư;
đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ”.
Điểm đ khoản 1 Điều 22 là một trong những điểm mới của Luật cư trú. Nghị định 51 sửa đổi và Thông tư số 11 quy định: ngay sau khi cấp giấy chứng nhận chuyển đi, cơ quan có thẩm quyền đăng ký thường trú xoá tên người được cấp giấy chứng nhận chuyển đi mặc dù người đó chưa được đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới. Theo quy định của pháp luật hiện hành nêu trên thì đó là một điều bất cập, bởi vì người dân chưa đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới, mà nơi cư trú cũ của họ đã xoá tên họ trong sổ hộ khẩu. Để khắc phục bất cập nêu trên, điểm đ khoản 1 Điều 22 của Luật cư trú quy định: cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ. Quy định mới này bảo đảm chắc chắn cho công dân thường xuyên có một nơi thường trú nhất định và mọi quyền lợi của họ liên quan đến nơi thường trú vẫn được bảo đảm cho đến khi công dân có nơi thường trú mới.
13.2.  Xoá đăng ký tạm trú (khoản 5 Điều 30)
Khoản 5 Điều 30 Luật cư trú quy định: trường hợp người đã đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống, làm việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xoá tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú.
14. Lưu trú và thông báo lưu trú
Để phù hợp với thực tiễn và phù hợp với quy định về nơi cư trú theo Điều 52 của Bộ luật dân sự, việc thay đổi khái niệm “tạm trú không xác định thời hạn” hiện hành (hay còn gọi là tạm trú vãng lai) bằng khái niệm “lưu trú” là cần thiết, nhằm phân biệt rõ với khái niệm “cư trú” là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.
Lưu trú là việc công dân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình và không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú. Quy định này là nhằm đơn giản thủ tục đối với việc quản lý khách vãng lai đi thăm người thân, đi du lịch, chữa bệnh… và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân. Theo đó, người dân không phải làm thủ tục đăng ký quá chặt chẽ như đăng ký thường trú, tạm trú, mà chỉ cần thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn bằng hình thức đến trực tiếp hoặc gọi điện thoại. Việc thông báo lưu trú do gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác thực hiện khi có người từ đủ 14 tuổi trở lên đến lưu trú. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ, nếu người đến lưu trú sau 23 giờ thì thông báo lưu trú vào sáng ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần. Đây là bước cải tiến mới, đơn giản, thuận tiện hơn nên sẽ có tính khả thi cao.
15. Khai báo tạm vắng

Theo pháp luật hiện hành, tất cả mọi công dân từ 15 tuổi trở lên đi vắng qua đêm khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú về việc riêng đều phải khai báo tạm vắng. Điều 32 của Luật cư trú đã thu hẹp tối đa diện đối tượng phải khai báo tạm vắng, chỉ còn một số người dưới đây:
“1. Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng.
2. Người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên có trách nhiệmkhai báo tạm vắng.
3. Người quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 32 nêu trên của Luật cư trú phải khai báo tạm vắng tại Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú. Khi đến khai báo tạm vắng phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân”.
16. Trách nhiệm của Bộ Công an về quản lý cư trú

Khoản 2 Điều 6 quy định Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cư trú; Điều 33 quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Công an về quản lý cư trú.
Từ năm 1955 đến nay, thông qua công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu và cấp giấy chứng minh nhân dân, ngành Công an đã hình thành hệ cơ sở dữ liệu công dân. Các hệ cơ sở dữ liệu này đã và đang tích cực phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; đồng thời, phục vụ việc bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, các hệ cơ sở dữ liệu này hiện đang còn dưới dạng thủ công nên chưa đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin kịp thời, chính xác. Do vậy, Điều 38 Luật cư trú quy định cơ quan quản lý cư trú phải ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ công tác quản lý cư trú. Đây là tiền đề để tiến tới thay đổi mô hình quản lý cư trú hiện nay bằng mô hình quản lý cư trú hiện đại hơn với phương pháp sử dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, thuận tiện cho công dân và đáp ứng ngày càng tốt hơn công tác bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
17. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quy định về hộ khẩu
Thực tế cho thấy, quy định về hộ khẩu đang bị lạm dụng làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây nên bức xúc trong nhân dân, từ đó có những nhận thức sai lệch về hộ khẩu. Vì vậy, Điều 41 quy định: “Chính phủ chỉ đạo cơ quan, tổ chức hữu quan rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quy định về hộ khẩu để tự mình hoặc kiến nghị, chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định lạm dụng hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân”.
18. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật
Luật đã quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến cư trú, hạn chế đến mức thấp nhất việc phải ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, để các cơ quan nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân chấp hành Luật nghiêm chỉnh, thống nhất, kịp thời, tránh tình trạng phải chờ văn bản hướng dẫn thì Luật mới được thực hiện. Tuy nhiên, còn một số vấn đề trong Luật, Quốc hội giao cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để bảo đảm sát hợp với thực tiễn, như khoản 4 Điều 38 (Cơ sở dữ liệu về cư trú); khoản 2 Điều 5 (Nhà nước bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, đầu tư phát triển công nghệ, kỹ thuật tiên tiến cho hoạt động đăng ký, quản lý cư trú); khoản 2 Điều 8 (Lạm dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân); Điều 12 (Nơi cư trú của công dân); khoản 1 Điều 20 (Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương).
Luật cư trú đã bảo đảm yêu cầu cụ thể hoá quyền tự do cư trú của công dân; đồng thời, bảo đảm được yêu cầu của công tác quản lý về cư trú, với những trình tự, thủ tục đăng ký cư trú đơn giản, thuận tiện, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà cho nhân dân; tạo cơ sở để củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác đăng ký, quản lý cư trú; đổi mới phương pháp, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ trong quản lý cư trú, bảo đảm tính khoa học, dân chủ, công khai, minh bạch và thuận tiện cho đăng ký, quản lý cư trú, bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

V. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT CƯ TRÚ
Ngày 01 tháng 7 năm 2007, Luật cư trú sẽ có hiệu lực thi hành. Vì vậy, ngày 12 tháng 2 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Kế hoạch số 10/BCA-V19 về triển khai thi hành Luật cư trú trong Công an nhân dân. Tại Kế hoạch số 10/BCA-V19, Bộ Công an đã xác định rõ những công việc phải khẩn trương thực hiện trong thời gian tới như sau:
1. Tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về tổ chức triển khai thi hành Luật cư trú;
2. Trước mắt, xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật cư trú; Nghị định quy định cụ thể về bảo đảm điều kiện cho hoạt động quản lý cư trú và cơ sở dữ liệu về cư trú trình Chính phủ ban hành và một số văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công an hướng dẫn thi hành các Nghị định nêu trên của Chính phủ; đồng thời, ban hành các biểu mẫu về đăng ký, quản lý cư trú, sổ tiếp nhận lưu trú, các giấy tờ khác về cư trú theo quy định mới của Luật cư trú; quy trình đăng ký thường trú, tạm trú, tiếp nhận lưu trú.
3. Xây dựng kế hoạch, biên soạn, in ấn tài liệu tập huấn và tổ chức tập huấn Luật cư trú;
4. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy đăng ký, quản lý cư trú ở các cấp, nhất là cơ quan Công an cấp huyện, cấp xã; cải tiến lề lối làm việc của cán bộ làm công tác đăng ký, quản lý cư trú;
5. Bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cho hoạt động đăng ký, quản lý cư trú và xây dựng cơ sở dữ liệu về cư trú;
6. Sửa đổi, bổ sung hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy pháp luật về đăng ký, quản lý cư trú của các Học viện, các trường Công an nhân dân;
7. Hướng dẫn, chỉ đạo các báo, tạp chí của Công an nhân dân; chương trình phát thanh, truyền hình “Vì an ninh Tổ quốc”, các đơn vị làm công tác tuyên truyền trong Công an nhân dân để tuyên truyền sâu rộng về nội dung Luật cư trú.
8. Bộ Công an phối hợp với các Bộ, ngành chức năng tuyên truyền, phổ biến Luật cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng và bằng nhiều hình thức khác đến nhân dân;
9. Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hộ khẩu để đề xuất các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bãi bỏ những quy định lạm dụng hộ khẩu làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

———————————————————————–

SOURCE: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/PreLawDetail.aspx?PreLawID=32

MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ – CÔNG TY CON: ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ĐỔI MỚI CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ DNNN

TS. VÕ TẤN PHONG

 Mô hình công ty mẹ – công ty con

Cho đến nay, khái niệm về công ty mẹ, công ty con ở các nước cũng đã thay đổi theo thời gian và không gian.

Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International Accounting Standard), công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc – công ty con (Subsidiary). Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ. Kiểm soát ở đây được hiểu là: (1) sở hữu trực hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc (2) sở hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số phiều bầu theo sự thỏa thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh đạo, điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh doanh của công ty và được qui định tại điều lệ, theo sự thỏa thuận hay hợp đồng; hoặc có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của HĐQT, ban lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến phần lớn số phiếu bầu tại các cuộc họp HĐQT, ban lãnh đạo.

Theo Luật công ty của Anh năm 1985, công ty mẹ được hiểu là công ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) ở công ty khác (công ty con). Tuy nhiên, theo tu chính năm 1989 để phù hợp với “Hướng dẫn chính thức lần thứ 7 về Luật công ty” (Seventh Company Law Directive) của Cộng đồng châu Âu (EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi: (1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B; (2) A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành viên HĐQT của B; (3) A có quyền quyết định về chính sách tài chính và sản xuất kinh doanh của B bằng sự thỏa thuận chính thức, hợp đồng; (4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu một cách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác; hoặc (5) A có quyền lợi tham gia điều hành (participating interest – được hiểu là nắm giữ từ 20% cổ phần) và trên thực tế thực hiện quyền chi phối đối với B hoặc A và B có cùng một cơ chế quản lý thống nhất. Ngoài ra, nếu giữa B và C có quan hệ tương tự như A và B thì giữa A và C có quan hệ như mô hình trên (công ty mẹ – công ty con).

Theo Luật công ty của Liên bang Nga năm 1995, một công ty được gọi là công ty con (tiếng Nga gọi là Dotchernie) nếu do một công ty khác – công ty mẹ (Osnovnoe) nắm giữ cổ phần khống chế trong vốn điều lệ hoặc bị công ty khác chi phối các quyết định của mình hoặc bằng một thoả thuận chính thức hay dưới hình thức nào đó. Luật không qui định một cách cụ thể thế nào là cổ phần khống chế và không nêu cụ thể hình thức hợp đồng, thỏa thuận như thế nào liên quan đến việc chi phối các quyết định của công ty con.

Tuy cách diễn giải có khác nhau, có thể rút ra những đặc trưng của quan hệ công ty mẹ – công ty con là: thứ nhất, công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ); thứ hai, công ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của công ty con; thứ ba, công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm HĐQT, ban lãnh đạo hoặc quyền tham gia quản lý, điều hành; thứ tư, vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính tương đối, tức công ty con này có thể là công ty mẹ của một công ty khác (tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau, thí dụ như theo mô hình của các tập đoàn của Nhật); thứ năm, trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con nói chung là trách nhiệm hữu hạn; thứ sáu, về mặt lý thuyết, mô hình quan hệ này sẽ tạo cho cơ cấu tổ chức của các công ty trong nhóm có chiều sâu không hạn chế; tức công ty mẹ, con công ty con, công ty cháu…

Một vấn đề cần lưu ý là, mặc dù công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, và nếu công ty con là công ty có trách nhiệm hữu hạn thì công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm đối với phần vốn góp hay cổ phần của mình mà thôi, nhưng do mối quan hệ có tính chất chi phối các quyết định của công ty con, nên luật pháp nhiều nước bắt buộc công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con. Thí dụ, Luật công ty của Cộng hoà Liên bang Nga qui định nếu công ty mẹ đưa ra chỉ thị buộc công ty con phải thực hiện theo một cam kết nào đó giữa công ty mẹ và công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới.

Ngoài ra, theo luật pháp của nhiều nước và theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì công ty mẹ phải có trách nhiệm trình báo cáo tài chính tập trung hay hợp nhất (Consolidated financial statement) tại đại hội cổ đông của công ty mẹ, trừ trường hợp công ty mẹ là công ty con của một công ty khác hoặc hoạt động của công ty con quá khác biệt với công ty mẹ; bởi lẽ, dù là hai thực thể pháp lý độc lập nhưng trên thực tế chúng là những công ty liên kết (affiliated), một thực thể kinh tế hợp nhất (xem hình).

clip_image002

Mô hình công ty mẹ – công ty con có nhiều ưu điểm cả về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đặc biệt là đối với những nhóm doanh nghiệp có qui mô lớn như các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia và đa quốc gia. Thứ nhất, theo mô hình này, khi một đơn vị kinh doanh chiến lược của một doanh nghiệp phát triển đến mức yêu cầu phải có sự tự chủ trong hoạt động, thì các doanh nghiệp có xu hướng tách đơn vị kinh doanh chiến lược này thành một thực thể pháp lý độc lập, và về mặt pháp lý không chịu trách nhiệm liên quan đến hoạt động của nó. Chính với trách nhiệm hữu hạn này của chủ sở hữu là điều kiện cần để chủ sở hữu có thể xác lập một cơ chế quản lý phân cấp triệt để hơn khi nó còn là một bộ phận trực thuộc của công ty mẹ. Thứ hai, với mối quan hệ theo mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ còn có thể thực hiện được chiến lược chuyển giá (price transferring), nhất là trong những trường hợp các doanh nghiệp lập cơ sở kinh doanh ở nước ngoài. Thứ ba, với mô hình này, các doanh nghiệp có thể thực hiện được sự liên kết với các doanh nghiệp khác nhằm giảm cạnh tranh, tăng độc quyền của thiểu số, cùng phối hợp hay chia sẻ các nguồn lực, tận dụng các thế mạnh của các cổ đông… bằng cách cùng nhau đầu tư lập các công ty con. Thứ tư, mô hình công ty mẹ – công ty con cho phép các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc bố trí và tái bố trí lại cơ cấu đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau theo chiến lược phát triển của doanh nghiệp bằng việc mua hoặc bán cổ phần của mình trong các công ty con. Cuối cùng, mô hình công ty mẹ – công ty con cho phép một doanh nghiệp huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh bằng cách thành lập công ty con mới trong điều kiện vừa có thể kiểm soát được doanh nghiệp mới thành lập một cách hữu hiệu thông qua cổ phần khống chế, vừa không bị các nhà đầu tư chi phối đối với doanh nghiệp cũ.

Chính vì những ưu điểm nêu trên, hiện nay ở nhiều nước, mô hình công ty mẹ – công ty con gần như là mô hình duy nhất được sử dụng để xác lập mối quan hệ giữa các công ty trong cùng một nhóm, một tập đoàn.

Mô hình tổ chức hệ thống doanh nghiệp nhà nước VN hiện nay

Hiện nay, mô hình cơ cấu tổ chức và quan hệ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới các hình thức như sau:

Thứ nhất, quan hệ giữa các tổng công ty và các công ty hạch toán độc lập

-Về vốn, vốn của các công ty là một phần vốn của tổng công ty; công ty được tổng công ty giao vốn và có thể điều hòa vốn giữa các đơn vị thành viên; việc sử dụng vốn phải tuân thủ những qui chế, qui định về phân cấp quản lý và sử dụng vốn của tổng công ty;

-Về mặt hạch toán, công ty là một đơn vị hạch toán tài chính, kinh tế độc lập, báo cáo tài chính sẽ được hợp nhất với tổng công ty vào cuối niên độ;

– Về mặt pháp lý, công ty do Bộ quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật (nếu là tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập) và Bộ trưởng bộ chủ quản hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố (nếu là tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ủy quyền bộ hoặc UBND tỉnh, thành phố) ký quyết định thành lập, là một pháp nhân độc lập, đăng ký hoạt động theo luật;

-Về quyền tổ chức quản lý và tổ chức kinh doanh, như tổ chức bộ máy, lĩnh vực kinh doanh, thị trường, giá cả; về đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị; về lao động… phải phù hợp với sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;

– Về mặt tổ chức cán bộ, việc bổ nhiệm và miễn nhiệm ban lãnh đạo sẽ do HĐQT tổng công ty quyết định;

-Công ty hoạt động, quản lý theo điều lệ riêng do HĐQT tổng công ty phê chuẩn;

-Công ty có thể thành lập và quyết định bộ máy của các đơn vị trực thuộc;

-Về nguyên tắc tổng công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với công ty thành viên.

Thứ hai, quan hệ giữa các tổng công ty và các công ty hạch toán phụ thuộc

-Về vốn, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc thì không được giao vốn, không được huy động vốn;

-Về mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty hạch toán phụ thuộc chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế, chủ động thực hiện hoạt động kinh doanh theo sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;

-Về hạch toán kinh tế, công ty hạch toán phụ thuộc vào tổng công ty, báo cáo tài chính hàng năm được hợp nhất với báo cáo tài chính tổng công ty;

-Về mặt tài chính, theo sự phân cấp hoặc ủy quyền của tổng công ty;

-Về tổ chức và nhân sự, theo sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;

-Về mặt pháp lý, do HĐQT của tổng công ty quyết định thành lập, có con dấu và có tài khoản tại ngân hàng;

-Công ty hạch toán phụ thuộc không có quyền thành lập các đơn vị thành viên;

-Về nguyên tắc tổng công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với công ty thành viên.

Thứ ba, quan hệ giữa công ty hạch toán độc lập và đơn vị phụ thuộc của công ty hạch toán độc lập

-Về vốn, đơn vị phụ thuộc không được giao vốn, không được huy động vốn;

-Về mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, đơn vị phụ thuộc chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế, thực hiện hoạt động kinh doanh theo sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;

-Về hạch toán kinh tế, đơn vị phụ thuộc hạch toán phụ thuộc vào công ty, báo cáo tài chính hàng năm được hợp nhất với báo cáo tài chính công ty;

-Về mặt tài chính, theo sự phân cấp hoặc ủy quyền của công ty;

-Về tổ chức và nhân sự, theo sự phân cấp và ủy quyền của công ty;

-Về mặt pháp lý, do công ty quyết định thành lập, có con dấu và có tài khoản riêng;

-Về nguyên tắc, công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với đơn vị phụ thuộc.

Sự khác biệt giữa hai mô hình

Mô hình tổng công ty và đơn vị thành viên hiện nay có một số điểm tương đồng với mô hình công ty mẹ – công ty con là: (1) tổng công ty là cổ đông; (2) có quyền quyết định đến hoạt động của công ty thành viên bằng nhiều cơ chế khác nhau.

Tuy nhiên, giữa hai mô hình có những khác biệt quan trọng. Thứ nhất, với mô hình tổng công ty thì cơ cấu tổ chức của tổng công ty (một nhóm các công ty) bị giới hạn có 3 cấp – tổng công ty, công ty và xí nghiệp hạch toán phụ thuộc (hoặc tương đương). Trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì tầng nấc trong cơ cấu tổ chức, về mặt lý thuyết, là không giới hạn – công ty mẹ, công ty con, công ty cháu… Thứ hai, về nguyên tắc, quan hệ công ty mẹ đối với công ty con là trách nhiệm hữu hạn, còn quan hệ giữa tổng công ty và đơn vị thành viên là trách nhiệm vô hạn. Thứ ba, về mặt pháp lý, các đơn vị thành viên của tổng công ty và công ty là những pháp nhân độc lập chưa đầy đủ, vì đối với một số hoạt động của đơn vị thành viên, luật pháp yêu cầu phải có ủy quyền chính thức của doanh nghiệp chủ quản như lĩnh vực đầu tư, tài chính, tổ chức cán bộ…; trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ – công ty con, các doanh nghiệp là những pháp nhân đầy đủ. Thứ tư, các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trong mô hình tổng công ty không phải do tổng công ty quyết định thành lập (xem phần phân tích ở trên), mặc dù về mặt pháp lý tổng công ty là chủ sở hữu. Trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ là người sáng lập (hoặc tham gia sáng lập). Thứ năm, trong mô hình tổng công ty, phần lớn bộ máy của tổng công ty chỉ thực hiện chức năng quản lý hành chính, trong khi đó ở mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ là một doanh nghiệp có sản phẩm, có khách hàng, có thị trường. Thứ sáu, những qui chế, qui định đối với một số lĩnh vực hoạt động của các thành viên trong tổng công ty thường có tính pháp qui; trong khi đó, những qui chế, qui định của các thành viên trong mô hình công ty mẹ – công ty con hoàn toàn mang tính chất quản lý. Thứ bảy, quá trình hình thành tổng công ty cho thấy, theo mô hình tổng công ty thì ít nhất phải có hai công ty thành viên tồn tại trước khi có tổng công ty (con đẻ ra bố), trong khi đó theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ thường phải tồn tại trước, sáng lập hoặc tham gia sáng lập ra công ty con (trừ trường hợp mua lại). Thứ tám, trong mô hình hiện hữu, tổng công ty (công ty) là chủ sở hữu của cả sản nghiệp (cả tài sản có và tài sản nợ) của công ty thành viên, tức vừa sở hữu vốn vừa sở hữu tài sản (về thực chất) và tài sản (vốn) công ty con là tài sản (vốn) của công ty mẹ; trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ chỉ sở hữu phần vốn đầu tư trong công ty con mà thôi, và vốn của công ty con là tài sản của công ty mẹ (đầu tư dài hạn). Cuối cùng, mô hình tổng công ty – công ty thành viên không cho phép huy động vốn một các có hiệu quả; không cho phép tổng công ty (công ty) thay đổi cơ cấu vốn đầu tư trong các doanh nghiệp thành viên một cách linh hoạt.

Vấn đề chuyển đổi mô hình

Những khác biệt giữa mô hình công ty mẹ – công ty con và mô hình tổng công ty được nêu ở trên cũng là những điểm bất cập của mô hình liên kết hiện tại giữa các doanh nghiệp thành viên trong cùng một nhóm. Để đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước một cách cơ bản theo hướng phát triển thành những tập đoàn kinh tế mạnh, điều kiện tiên quyết là Nhà nước cần chuyển đổi các quan hệ của các thành viên trong một nhóm (tổng công ty) theo mô hình công ty mẹ – công ty con.

Để chuyển từ mô hình hiện tại sang mô hình mới cần giải quyết một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, Nhà nước cần có những bước đánh giá, phân tích một cách khoa học chuỗi giá trị (value chain) của nhóm (các thành viên tổng công ty) để xác định những công ty nòng cốt, nắm giữ khâu then chốt trong chuỗi giá trị tổng công ty để chuyển đơn vị thành viên này trở thành công ty mẹ, nắm giữ vốn cổ phần trong các công ty con. Công ty mẹ có thể là công ty sản xuất, thương mại – dịch vụ, nghiên cứu và phát triển hoặc là công ty tài chính – ngân hàng. Việc chọn công ty mẹ này đồng nghĩa với việc giải thể bộ máy quản lý hành chính của các tổng công ty hiện nay.

Thứ hai, tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, chuyển các doanh nghiệp thành viên thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật doanh nghiệp. Thực hiện bước này đồng nghĩa với việc xóa bỏ cơ chế chủ quản đối với các doanh nghiệp thành viên (các công ty con); công ty mẹ chỉ còn là chủ sở hữu phần vốn cổ phần tại các công ty con, thay vì là chủ của toàn bộ sản nghiệp.

Thứ ba, xác lập một cơ chế quản lý mới, chỉ giao trách nhiệm quản lý và sử dụng vốn nhà nước ở các công ty mẹ cho HĐQT hoặc chủ tịch công ty nếu doanh nghiệp không có HĐQT, và dưới hình thức “hợp đồng quản lý” (như một số nước áp dụng Management hoặc Performance Contract). Điều này có nghĩa là sẽ không còn những qui định về quản lý mang tính pháp qui (luật, nghị định, thông tư…) cho riêng đối với việc quản lý doanh nghiệp nhà nước như hiện nay, mà nó được xác lập theo hợp đồng quản lý – quan hệ dân sự, lao động.

Thứ tư, cho quyền HĐQT, chủ tịch công ty được chủ động quyết định việc thuê giám đốc nếu xét cần thiết, và theo cơ chế thị trường lao động.

Tóm lại, mô hình công ty mẹ – công ty con về cơ bản sẽ giúp chúng ta giải quyết một số vướng mắc mang tính nguyên tắc trong quản lý hiện nay. Nó là điều kiện cần để đổi mới cơ chế quản lý hệ thống DNNN và chuyển mô hình tổng công ty nhà nước sang mô hình tập đoàn kinh tế như các nước, nên cần được sớm áp dụng rộng rãi ª

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 8/2003