NGƯỜI NƯỚC NGOÀI SẮP ĐƯỢC MUA NHÀ Ở

TUẤN KHÔI

Sắp tới, người nước ngoài đầu tư, làm việc tại Việt Nam sẽ được sở hữu nhà theo quy định. Trong ảnh: Cô giáo nước ngpoài đưa các học sinh tham quan thành phố. Ảnh: HTD

Người nước ngoài được sở hữu nhà tối đa 70 năm. Hiện có 25.000 người nước ngoài đầu tư, trên 54.000 người đang làm việc… tại Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có văn bản chỉ đạo Bộ trưởng Bộ Xây dựng chuẩn bị để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về chính sách thí điểm người nước ngoài được mua nhà gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Nếu đề án được thông qua, người nước ngoài sẽ được quyền mua và sở hữu nhà tại Việt Nam thay vì chỉ được thuê như hiện nay.

Cho mua nhà: Thu hút nhiều nhà đầu tư hơn

Theo tờ trình của Bộ Xây dựng, hiện pháp luật chưa cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua nhà ở tại Việt Nam. Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở quy định tổ chức nước ngoài được quyền thuê đất để đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua. Nếu tổ chức nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì được nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở trên đất thuê, nếu xây dựng nhà ở để bán thì nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở cho người mua. Tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam từ ba tháng liên tục trở lên thì được thuê nhà ở tại Việt Nam. Riêng những người nước ngoài khác (tham gia các dự án đầu tư, nhà khoa học, người có công với cách mạng, các chuyên gia được mời vào Việt Nam làm việc…) thì Luật Nhà ở chưa cho phép họ được sở hữu nhà ở.

HTD

Bộ Xây dựng cho rằng cơ chế thí điểm cho người nước ngoài được sở hữu nhà ở nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong sinh sống và làm việc của người nước ngoài tại Việt Nam. Từ đó góp phần thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển.

Mỗi cá nhân chỉ được mua một căn nhà

Theo đề án của Bộ Xây dựng, tổ chức, cá nhân nước ngoài sẽ được mua nhà ở nếu đủ điều kiện (xem bảng). Việc mua nhà phải nhằm mục đích để bản thân và gia đình ở chứ không nhằm mục đích kinh doanh. Người nước ngoài được sở hữu nhà tối đa 70 năm. Quá thời hạn này mà không được phép gia hạn thì phải bán hoặc tặng cho nhà ở cho người khác.

Người nước ngoài được sở hữu một nhà ở trong thời gian sinh sống, làm việc tại Việt Nam và chỉ được bán sau một năm kể từ khi được cấp “giấy hồng”. Họ cũng sẽ được ủy quyền cho người khác quản lý nhà, được thế chấp nhà ở, được để thừa kế và được bồi thường khi giải tỏa nhà. Người nước ngoài không được sở hữu nhiều nhà ở trong thời gian cư trú tại Việt Nam. Trường hợp đang sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà được thừa kế hoặc tặng cho nhà ở khác thì họ chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

Cũng theo đề án này, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam được mua và sở hữu một hoặc một số nhà ở để cho những người nước ngoài đang làm việc tại doanh nghiệp đó thuê để ở. Các doanh nghiệp này không được mua nhà ở để bán lại hoặc cho những người nước ngoài khác ngoài doanh nghiệp thuê.

Bộ Xây dựng kiến nghị chỉ áp dụng cơ chế thí điểm này tại TP.HCM và Hà Nội, nơi có nhiều người nước ngoài sinh sống và làm việc. Sau khi cơ quan có thẩm quyền thông qua đề án, Thủ tướng có thể quyết định một số địa phương có nhiều dự án đầu tư nước ngoài được thực hiện cơ chế này. Sau 3-5 năm thí điểm, Chính phủ sẽ tổng kết, đánh giá và đề nghị cho phép áp dụng rộng hơn. Trường hợp không tiếp tục thực hiện chính sách này nữa thì người đã mua nhà ở vẫn được thực hiện các quyền chủ sở hữu đến hết thời hạn được sở hữu nhà ở theo quy định.

Sáu đối tượng dự kiến được sở hữu nhà ở tại Việt Nam là:

– Người vào trực tiếp hoạt động đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật đầu tư.

– Người nước ngoài có công đóng góp với đất nước được tặng bằng khen từ cấp bộ trở lên.

– Nhà văn hóa, nhà khoa học.

– Người kết hôn với công dân Việt Nam và hiện đang sinh sống tại Việt Nam.

– Người được Chủ tịch nước công nhận là công dân danh dự.

– Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không có chức năng kinh doanh bất động sản đang hoạt động tại Việt Nam (doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp có người nước ngoài làm việc trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh).

Những tổ chức, cá nhân trên phải được phép cư trú, hoạt động tại Việt Nam từ một năm liên tục trở lên.

——————————-

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỘT SẢN PHỤ BỊ XÉT NGHIỆM NHẦM HIV

H.THÂN – T.TÙNG

Chị Nguyễn Thị Thanh, người bị bác sĩ “tuyên án HIV” đang trình bày sự việc.

Án tòa tuyên buộc bệnh viện bồi thường đã có hiệu lực pháp luật nhưng bệnh viện vẫn dây dưa không chịu chấp hành…

Sau hai năm kể từ ngày bị bác sĩ ở Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh “phán nhầm” nhiễm HIV, chị Nguyễn Thị Thanh, ngụ phường Tân Giang (TP Hà Tĩnh) đã phải sống trong cảnh dằn vặt, mệt mỏi. Sự nhầm lẫn đáng trách ấy gây ra biết bao sóng gió, đau khổ cho gia đình chị nhưng đến nay, bản án tòa tuyên buộc bệnh viện bồi thường đã có hiệu lực pháp luật mà bệnh viện vẫn không chịu chấp hành.

Xét nghiệm ẩu, lọt thông tin

Chị Thanh kể, ngày 19-8-2005, chị vào khoa Sản Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh sinh con. Vì thai nhi lớn nên bệnh viện quyết định cho chị sinh mổ. Theo nguyên tắc, trước khi sinh mổ chị phải làm xét nghiệm máu. Thật bất ngờ, sau ba lần xét nghiệm, các bác sĩ ở đây kết luận chị bị dương tính với virus HIV.

Sau đó, ca sinh mổ của chị Thanh thành công nhưng thông tin chị bị nhiễm HIV không hiểu sao lại nhanh chóng lọt ra ngoài, truyền đi khắp nơi (theo quy định, thông tin về người bị nhiễm HIV phải được bệnh viện giữ kín). Chưa hết choáng váng vì hung tin, chị Thanh đã phải đối mặt với lời xầm xì của dư luận. Cả khu phố soi mói, xa lánh khiến chị ăn không ngon, ngủ không yên. Hai bên gia đình thì hoang mang đủ đường, vợ chồng chị thì nghi kỵ lẫn nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Không những thế, chị còn không dám cho con bú sữa mẹ vì sợ cháu bị lây nhiễm.

Một thời gian sau, bệnh viện mới lập danh sách chị Thanh bị nhiễm HIV và gửi sang Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh xét nghiệm tiếp. Khi chị đến đây đòi kết quả xét nghiệm của mình thì hỡi ôi, chị hoàn toàn khỏe mạnh! Quá vui mừng nhưng để chắc ăn, gia đình đưa chị ra Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Nghệ An xét nghiệm lại. Lần này, các bác sĩ đều khẳng định chị hoàn toàn không bị nhiễm HIV!

Phải bồi thường!

Bức xúc, chị Thanh khởi kiện Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh ra TAND TP này đòi bồi thường thiệt hại hơn 53 triệu đồng vì đã xét nghiệm sai và tiết lộ thông tin bệnh nhân bị nhiễm HIV. Theo chị Thanh trình bày, trước đó gia đình chị đã nhiều lần yêu cầu bệnh viện cải chính thông tin nhưng không được đáp ứng.

Ngày 31-5-2007, TAND TP Hà Tĩnh đã xử sơ thẩm, nhận định Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh có lỗi trong việc tuyên truyền thông tin sai lệch ra ngoài và thiếu trách nhiệm trong việc khắc phục hậu quả xét nghiệm sai. Bệnh viện chậm gửi mẫu máu sang Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh theo quy định, thiếu sự đốc thúc Trung tâm trả lời nhanh kết quả xét nghiệm của sản phụ… Các sơ sót trên đã dẫn tới việc chị Thanh bị khủng hoảng tinh thần, làm gia đình chị xảy ra mâu thuẫn, con chị bị mất sức vì không được bú sữa mẹ.

Từ đó, TAND TP Hà Tĩnh đã tuyên buộc bệnh viện phải bồi thường 14,5 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần và tiền mua sữa ngoài nuôi con cho chị Thanh. Ngoài ra, tòa cũng yêu cầu lãnh đạo bệnh viện phải trực tiếp đến nhà chị Thanh xin lỗi gia đình với sự chứng kiến của cán bộ khu phố và chính quyền địa phương.

Sau phiên xử, bệnh viện làm đơn kháng cáo lên TAND tỉnh, cho rằng tòa sơ thẩm xử như thế là chưa khách quan. Tuy nhiên ngay sau đó, bệnh viện đã rút đơn kháng cáo và chấp nhận bản án sơ thẩm.

Không chịu thi hành án

Án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, tháng Chín, chị Thanh làm đơn gửi Thi hành án dân sự (THA) TP Hà Tĩnh yêu cầu bệnh viện bồi thường như phán quyết của tòa.

Bà Nguyễn Thị Bích Lợi, Trưởng THA TP Hà Tĩnh, cho biết THA TP đã gửi hai công văn qua đường bưu điện nhưng bệnh viện trả lời là không nhận được. Sau đó, chấp hành viên hai lần trực tiếp đến làm việc với giám đốc bệnh viện nhưng chỉ nhận được lời hứa là… sẽ THA. Nguyên nhân của sự dây dưa, chậm trễ là Ban giám đốc bệnh viện quyết định chỉ “chịu” một nửa số tiền tòa xử, số còn lại sẽ do khoa sản trả, chừng nào gom đủ tiền từ khoa sản mới nộp THA.

Theo Phó Giám đốc bệnh viện Lê Quế, các bác sĩ của khoa Sản đưa ra nhận định sai nên phải bỏ tiền túi ra cùng với bệnh viện đền cho bệnh nhân. Khi chúng tôi hỏi khoa Sản cũng thuộc chính bệnh viện, ông Quế tỉnh queo: “Lấy tiền ở đâu thì kệ anh em trong khoa, bệnh viện không biết!”. Trong khi đó, một số cán bộ khoa Sản lại không đồng ý với cách giải quyết này.

Chính sự thờ ơ, đá qua đổ lại trách nhiệm từ phía Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh mà đến nay chị Thanh vẫn chưa nhận được một đồng bồi thường nào. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc.

Bệnh viện phải đứng ra bồi thường!

Nhiều chuyên gia cho biết việc Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh lấy lý do đợi khoa Sản nộp tiền để chây ỳ THA là thiếu thiện chí và hoàn toàn sai pháp luật.

Theo Chánh án TAND quận 2 (TP.HCM) Phạm Thao, trong bản án tòa đã ghi rõ bệnh viện phải bồi thường cho chị T. thì nhất định bệnh viện phải làm theo, không thể đổ lỗi là chờ đợi người này người kia. Chuyện liên đới bồi thường với cơ quan, cá nhân nào đó trong nội bộ là việc của bệnh viện sau này. Nếu khoa sản không chịu nộp tiền thì sau này bệnh viện có thể kiện khoa sản.

Đồng tình, luật sư Cao Minh Triết (Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang) cũng cho rằng trách nhiệm THA dứt khoát thuộc bệnh viện vì bản án đã ghi rõ bệnh viện phải bồi thường chứ không phải là khoa sản. Thậm chí theo luật, ngay cả trong trường hợp tòa tuyên nhiều bên liên đới bồi thường thì THA cũng có quyền chọn bên nào có khả năng nhất để buộc bồi thường nhằm đảm bảo quyền lợi cho người được THA. Chẳng hạn, tòa tuyên chủ xe và tài xế liên đới bồi thường cho người bị tai nạn giao thông, THA có thể “xiết” chủ xe lấy tiền bồi thường cho nạn nhân trước, còn phần chủ xe, phần tài xế thì tự tính với nhau.

====================================

HÀ TĨNH : “Sản phụ HIV” đã được bồi thường

H.KHA – T.TÙNG – K.GỖ

Báo Pháp luật TP.HCM ngày 30-11 đã đăng bài “Một sản phụ bị xét nghiệm nhầm HIV” phản ánh việc tháng 8-2005, do phải sinh mổ nên chị NTT bị các bác sĩ ở khoa Sản Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh xét nghiệm nhầm HIV rồi để lộ thông tin ra ngoài.

Vì chuyện này, suốt một thời gian dài gia đình chị T. đã phải lục đục, mâu thuẫn, gánh chịu bao lo lắng, khổ sở cùng sự kỳ thị của lối xóm. Sau khi có kết quả xét nghiệm lại là bệnh viện tỉnh đã “phán nhầm”, chị T. đã gửi đơn kiện và được tòa tuyên buộc bệnh viện bồi thường thiệt hại 14,5 triệu đồng. Tuy nhiên sau đó, bệnh viện dây dưa không chịu thi hành án.

Mới đây, bà Nguyễn Thị Bích Lợi, Trưởng THA TP Hà Tĩnh, cho biết đại diện Bệnh viện đa khoa tỉnh vừa tự nguyện mang 14,5 triệu đồng nộp cho cơ quan THA. Ngay sau đó, THA TP Hà Tĩnh đã giao lại số tiền này cho chị T. Được biết, bệnh viện cũng đã cử đoàn bác sĩ đến nhà trực tiếp xin lỗi chị T. và gia đình.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬT BỎ NGỎ VIỆC CÔNG NHẬN CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH "CHUI"

ĐỨC MINH

ĐỌC DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH TẠI ĐÂY

Hà Vy (tạm gọi tên này) vừa chi 7.000 USD phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Việc xác định lại giới tính trong gấy tờ hộ tịch của Hà Vy tùy thuộc vào việc được tổ chức y tế xác định có lệch lạc giới tính hay không.

Nếu có khuyết tật về giới tính, được tổ chức y tế chứng nhận thì giải phẫu trong hay ngoài nước, trước hay sau Nghị định 158 vẫn được cải chính hộ tịch.

Sở Tư pháp TP.HCM vừa có Công văn hướng dẫn Phòng tư pháp quận Gò Vấp thực hiện việc xác định lại giới tính từ nữ sang nam theo đơn yêu cầu của một công dân. Đây là trường hợp hy hữu được phép cải chính giới tính. Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính – Tư pháp (Bộ Tư pháp).

. Thưa ông, theo pháp luật hiện nay trường hợp nào được cải chính về giới tính?

+ Vấn đề xác định lại giới tính được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 và được cụ thể hóa tại Nghị định 158. Xác định lại giới tính, bản chất là cải chính, có hai góc độ. Một là xác định lại giới tính cho một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Thứ hai, giới tính của đứa trẻ là nam thật hoặc nữ thật, không có gì bất bình thường nhưng khi đăng ký, do tắc trách của cán bộ tư pháp, của bố mẹ… mà đăng ký nhầm giới tính của đứa trẻ.

. Trong trường hợp đầu tiên, điều kiện để được xác định lại giới tính là gì, thưa ông?

+ Việc thay đổi không phải là miễn cưỡng mà là hết sức tự nhiên, do sự phát triển không bình thường, nay trả lại “giá trị đích thực” cho họ bằng một tác động y học. Nghị định 158 quy định rõ, trường hợp xác định lại giới tính, thì phải có văn bản kết luận của tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính làm căn cứ cho việc xác định lại giới tính.

. Kết luận đó là của cơ quan, tổ chức y tế nước ngoài thì có được chấp nhận không?

+ Nghị định 158 chỉ quy định chung, không nói rõ là trong nước hay nước ngoài, như vậy về nguyên tắc là không có sự phân biệt. Trường hợp này sẽ quay lại nguyên tắc chung là đương sự phải chứng minh được tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính cho họ có chức năng làm việc này hay không. Các giấy tờ có liên quan phải được hợp pháp hóa lãnh sự, được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

. Trường hợp đương sự đã thực hiện việc can thiệp xác định lại giới tính trước khi Nghị định 158 có hiệu lực thì có được pháp luật thừa nhận hay không?

+ Không có ảnh hưởng gì cả. Nếu họ có những giấy tờ chứng minh được họ đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Nghị định 158 thì đều có thể làm thủ tục xác định lại giới tính.

. Thưa ông, với trường hợp không có cơ sở xác định việc lệch lạc giới tính nhưng họ đã đi nước ngoài chuyển đổi giới tính do nhu cầu tâm lý, họ có được làm thủ tục xác định lại giới tính hay không?

+ Thực tế, có nhiều người đã ra nước ngoài thực hiện việc phẫu thuật, chuyển đổi giới tính và có nguyện vọng cải chính lại giới tính. Những trường hợp đó hiện nay pháp luật chưa cho phép. Cá nhân tôi cho rằng, về một mặt nào đó, đây là quyền của cá nhân.

Cần có một nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, thực tế diễn ra như vậy thì hướng xử lý như thế nào, có chấp nhận hay không chấp nhận? Tôi chưa được tham dự cuộc hội thảo nào về vấn đề này, nhưng đúng là hiện nay có một nhu cầu thực sự như thế. Có không ít trường hợp chúng ta vẫn quen gọi là pêđê, họ là nam nhưng để tóc dài, nói năng như con gái… và muốn chuyển thành nữ thì như thế nào? Hay hiện nay cũng có không ít trường hợp dở khóc dở cười, họ đã thực hiện việc chuyển đổi giới tính, hình thức là nữ đấy nhưng giấy tờ hộ tịch vẫn là nam… Đây là vấn đề pháp luật còn “bỏ ngỏ” nhưng tương lai cũng sẽ phải tính đến…

. Thủ tục xác định lại giới tính ra sao, thưa ông?

+ Theo Nghị định 158, người yêu cầu xác định lại giới tính phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính giấy khai sinh của người cần xác định lại giới tính và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho xác định lại giới tính. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc xác định lại giới tính có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, cán bộ Tư pháp hộ tịch cấp xã hoặc cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp cấp huyện ghi vào sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và quyết định cho phép xác định lại giới tính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định cho phép xác định lại giới tính. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá năm ngày.

. Xin cảm ơn ông!

Xác định giới tính ngay sau khi sinh

Bác sĩ Ngô Minh Xuân, Trưởng khoa Sơ sinh Bệnh viện Từ Dũ, cho biết như sau: Sau khi sản phụ sinh, các bác sĩ tiếp nhận em bé và khám kỹ về phần sinh dục ngoài và xác định giới tính của em bé để ghi vào bệnh án. Khi có bất thường về bộ phận sinh dục ngoài sẽ siêu âm để xác định em bé là trai hay gái. Nếu là bé trai thường thì có tinh hoàn, còn em bé gái thì thấy tử cung, buồng trứng bên trong. Tuy nhiên cần phải lấy máu của em bé để xem nhiễm sắc thể đồ của bé là trai hay gái. Khi nhiễm sắc đồ của đứa bé có bệnh rối loạn như về gen và di truyền thì phát hiện được. Các bác sĩ sẽ xem mức độ của em bé như thế nào để giúp đỡ, giới thiệu để khám chuyên khoa. Xác suất của việc này không cao, một năm chỉ khoảng vài ca.

DUY TÍNH

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VỤ ÁN: BỖNG NHIÊN CHỒNG CŨ ĐÒI CHIA ĐẤT

VĂN ĐOÀN

Sau 16 năm bỏ đi sống với những người phụ nữ khác, ông chồng lù lù quay về, đòi bà vợ chia tài sản…

TAND quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ) vừa hoãn phiên xử sơ thẩm lần hai vụ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T. và bà Đ. theo yêu cầu của phía ông T.

Đòi chia đất sau 16 năm xa cách

Năm 1976, vợ ông T. mất, để lại cho ông năm người con. Trong cảnh gà trống nuôi con vất vả, ông T. tìm được người ý hợp tâm đầu là bà Đ. và hai bên kết hôn với nhau.

Trước đó, bà Đ. có một căn nhà riêng. Lấy ông T., bà đã để cho ông và các con ông về ở cùng, cho ông cùng đứng tên chung trên giấy tờ căn nhà này. Thế rồi, sau vài năm chăm chỉ làm lụng, tích cóp, hai vợ chồng mua thêm được một mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2 tại quận Ninh Kiều.

Năm 1987, sau khi đã có với bà Đ. ba mặt con, ông T. cương quyết dứt áo bỏ bà, ra đi theo “tiếng gọi con tim” và xuống Bạc Liêu sống với “bà ba”. Khi đi, ông làm giấy ủy quyền cho bà Đ. được toàn quyền sử dụng, mua bán ngôi nhà và mảnh vườn mà không cần có chữ ký của ông. Năm 1999, sau khi có thêm hai người con với “bà ba” ở Bạc Liêu, lại một lần nữa ông T. dứt áo bỏ “bà ba” mà ra đi về chung sống với “bà tư”.

Suốt thời gian này, một mình bà Đ. cặm cụi làm ăn, nuôi dưỡng tám người con nên người (ba con ruột và năm con riêng của ông T.). 16 năm xa cách biền biệt, mẹ con bà những tưởng ông T. đã an phận với các “bà ba” và “bà tư”, nào ngờ đầu năm 2003, ông T. từ đâu lù lù xuất hiện, gửi đơn lên tòa kiện đòi bà phải chia cho ông 1/3 mảnh vườn (1.000 m2) với lý do đây là tài sản chung của hai người.

Mỗi tòa một nhận định

Tháng 4-2006, TAND quận Ninh Kiều đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm, nhận định ông T. không có công sức đóng góp gì trong khối tài sản chung với bà Đ. Cụ thể là ông đã bỏ mặc vợ con để đi chung sống với người khác. Vì thế, công sức tạo lập duy trì, phát triển khối tài sản chung này do bà Đ. bỏ ra, ông T. chỉ có tên trên cơ sở pháp lý nguồn gốc đất mà thôi. Vì thế, tòa quyết định chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của ông T. là buộc bà Đ. phải chia lại cho ông hơn 300 m2 đất.

Sau phiên sơ thẩm, cả ông T. lẫn bà Đ. đều không hài lòng và làm đơn kháng cáo. Ông T. thì muốn bà Đ. chia cho ông 1/3 mảnh vườn để có tiền dưỡng già (năm nay ông đã 77 tuổi). Ngược lại, bà Đ. bảo ông T. bỏ bà lao đao, cực khổ để đi tìm hạnh phúc mới bao năm trời nay thì làm gì có chuyện chia đất. Hơn nữa, theo bà trước khi bỏ đi, ông có làm giấy cho bà toàn quyền định đoạt nhà đất nên bây giờ xem như ông đã mất quyền đòi được chia gia sản.

Tháng 7-2006, TAND TP Cần Thơ đã xử phúc thẩm vụ án. Theo tòa, cấp sơ thẩm đã giải quyết chưa chuẩn xác, chưa triệt để việc chia tài sản chung của vợ chồng ông T. trong thời kỳ hôn nhân.

Trước hết, về mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2, nếu cấp sơ thẩm đã xác định đây là tài sản chung thì giả sử bà Đ. đã “bán” xong theo ủy quyền của ông T., số tiền “bán” đất đó cũng vẫn là tài sản chung của hai người. Cạnh đó, khi giải quyết quan hệ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cấp sơ thẩm cũng cần phải tính toán dứt điểm những tài sản khác của họ. Cụ thể là với căn nhà, theo tòa phúc thẩm, trong giấy tờ chủ quyền có cả tên ông T. nên nó cũng phải được coi là tài sản chung. Ngoài ra, còn những tài sản khác như xe cộ, giường tủ… cũng chưa được cấp sơ thẩm xét đến.

Từ các phân tích trên, TAND TP Cần Thơ đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của quận Ninh Kiều để xét xử lại. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc khi có diễn tiến mới.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MƯỜI NĂM LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

PHẠM XUÂN THỌ – Chánh Tòa Kinh tế – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Luật phá sản doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 1994. Luật phá sản doanh nghiệp có 52 điều, bao gồm một số điều khoản về nội dung, một số điều khoản về thủ tục tố tụng tại Tòa án và một số điều khoản về thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Qua gần 10 năm thi hành Luật phá sản doanh nghiệp cho thấy đạo luật này đã đóng một vai trò nhất định trong đời sống kinh tế của đất nước.

Theo số liệu đã được công bố thì đến cuối năm 2003, toàn ngành Tòa án thụ lý 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong số đó tuyên bố được 46 doanh nghiệp bị phá sản.

Việc thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp có một kết quả bước đầu, tuy nhiên không được như mong đợi. Số liệu này rõ ràng không phải nói lên rằng doanh nghiệp tại Việt Nam lâm vào tình trạng phá sản ít. Thực tế cho thấy số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, mất cân đối tài chính nghiêm trọng, thực sự lâm vào tình trạng phá sản lớn gấp nhiều lần con số này.

I. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ

PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn. Hàng ngàn doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã được thành lập và tập trung hoạt động tại đây. Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, hiện tượng một số doanh nghiệp tại thành phố không đứng vững, gặp khó khăn về tài chính, làm ăn thua lỗ, lâm vào tình trạng phá sản, dẫn đến vi phạm pháp luật là quy luật tất yếu.

Tính đến nay, đã có 23 doanh nghiệp có yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Danh sách cụ thể như sau:

1. Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ Tân Bình (TAMEXCO)

2. Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương

3. Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga

4. Xí nghiệp Nấm

5. Công ty Sài Gòn kỹ nghệ nông cơ (SAKYNO)

6. Công ty thương mại Bình Tây

7. Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ

8. Công ty xuất nhập khẩu quận 3 (TRILIMEX)

9. Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO)

10. Công ty vật tư thương mại quận 3 (TPHCM)

11. Công ty liên doanh tổng hợp Lâm Hà

12. Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp TPHCM

13. Công ty Lam Sơn (quận Phú Nhuận TPHCM)

14. Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong

15. Công ty TNHH thương mại Đức Thắng

16. Công ty TNHH may mặc và chế biến nông sản Ngọc Thảo

17. Công ty TNHH thương mại Bảo Sơn

18. Công ty TNHH Đông Á

19. Công ty Marixon

20. Công ty Compunet

21. Công ty KOENV

22. Công ty KASVINA

23. Hợp tác xã Thành Công (Quận 6 TPHCM)

So với các địa phương khác, số lượng như trên là tương đối nhiều. Tuy nhiên, so với số doanh nghiệp của thành phố đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, không thể tiếp tục hoạt động thì có lẽ lại là quá ít. Hiện tượng này là tình trạng chung ở nhiều địa phương khác.

Về phân loại số doanh nghiệp nói trên, theo thứ tự ơ trên thì như sau:

– 13 công ty và xí nghiệp là doanh nghiệp nhà nước (từ 1 đến 13 theo thứ tự danh sách nói trên).

– 5 công ty trách nhiệm hữu hạn (từ 14- 19).

– 4 công ty 100% vốn nước ngoài được thành lập và đăng ký hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (từ 20 đến 22).

– 1 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp.

Trong số nói trên, sau khi xem xét, đã và đang xử lý:

– Hoàn trả 5 hồ sơ vì không hội đủ các thủ tục theo quy định (như không có báo cáo quyết toán tài chính, hoặc có báo cáo nhưng chưa có ý kiến cơ quan kiểm toán. Trong số hồ sơ hoàn trả có 1 công ty TNHH và 4 công ty 100% vốn nước ngoài.

– Ra quyết định không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 1 hồ sơ vì không cung cấp đủ hồ sơ báo cáo và các tài liệu theo quy định (hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Thành Công).

– Đã ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 14 hồ sơ, gồm 10 doanh nghiệp nhà nước, 4 công ty TNHH.

– Đang hoàn thiện và bổ túc 3 hồ sơ (doanh nghiệp nhà nước)

So với các địa phương khác, số lượng như trên là tương đối nhiều. Tuy nhiên, so với số doanh nghiệp của thành phố đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, không thể tiếp tục hoạt động thì có lẽ lại là quá ít.

Trong số 14 doanh nghiệp đã ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh, đến nay đãõ giải quyết xong 11 vụ. Theo thứ tự thời gian, có thể liệt kê các vụ việc cụ thể như sau:

1. Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong

Thành lập với 4 thành viên, đăng ký kinh doanh tháng 3/1993, vốn điều lệ 600.000.000 đồng, ngành nghề chính là kinh doanh thương mại tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vật liệu xây dựng, lương thực thực phẩm… mới hơn 1 năm sau, tháng 11/1994 Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Đúng 30 ngày sau khi nhận đơn, ngày 12/12/1994 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong.

Tổng số nợ phải trả là 4.377.773.596 đồng

Tổng số nợ phải thu 173.692.334 đồng

Tổng giá trị tài sản 238.138.781 đồng

Mất khả năng thanh toán 3.965.942.481 đồng

Tuy nhiên, hội nghị chủ nợ họp ngày 17/01/1996 đã nhất trí 100% thông qua phương án hòa giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngày 01/2/1996 Tòa án đã ra quyết định công nhận biên bản hòa giải thành và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong, tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Đến nay việc tạm đình chỉ đã trôi qua hơn 5 năm. Không có thông tin gì về kết quả tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong.

2. Công ty TNHH thương mại Đức Thắng

Thành lập với 4 thành viên, đăng ký kinh doanh tháng 3/1993, vốn điều lệ 555.000.000 đồng, ngành nghề chính là may công nghiệp và dân dụng… Đến tháng 11/1996 Công ty TNHH thương mại Đức Thắng nộp đơn và ngày 11/10/1996 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Tổng số nợ phải trả là 1.888.706.209 đồng

Tổng số nợ phải thu 1.176.431.003 đồng

Tổng giá trị tài sản 12.550.000 đồng

Mất khả năng thanh toán 712.275.205 đồng

Tuy mất cân đối không nhiều, nhưng hội nghị chủ nợ họp ngày 16/7/1997 vẫn quyết định tuyên bố phá sản công ty và thông qua phương án phân chia tài sản

Ngày 16/7/1997 Tòa án đã ra quyết định tuyên bố phá sản Công ty TNHH thương mại Đức Thắng.

3. Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ Tân Bình (Tamexco)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 12/1993, Tamexco là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ nhưng được giao cho Quận uỷ quận Tân Bình trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch và xuất nhập khẩu.

Tháng 10/1995 giám đốc công ty bị bắt trong một vụ án hình sự và bị truy tố trước pháp luật. Tháng 3/1997 đại diện Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản.

Tuy nhiên, phải đến ngày 30/8/1997 sau khi có ý kiến của cơ quan kiểm toán và có kết quả xét xử vụ án hình sự đối với giám đốc công ty, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh mới ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tamexco.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 368.321.392.108 đồng

Tổng số nợ phải thu 253.541.520.213 đồng

Tổng giá trị tài sản 9.463.842.880 đồng

Mất khả năng thanh toán 105.316.029.015 đồng

Tuy nhiên, mất cân đối của công ty là nghiêm trọng vì nợ có khả năng thu hồi rất thấp.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên Hội nghị chủ nợ họp ngày 30/12/1997 đã quyết định tuyên bố phá sản công ty và thông qua phương án phân chia tài sản.

Tuy nhiên, do vụ việc phức tạp nên đến ngày 31.3.1999 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mới công bố quyết định tuyên bố phá sản Tamexco.

Do hai trong số các chủ nợ có đơn khiếu nại nên hồ sơ đã được chuyển lên Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM xem xét.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM đã ra quyết định bác đơn khiếu nại và công nhận quyết định tuyên bố phá sản Tamexco của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật thi hành.

Ngày 28/7/ 2001 Tổ Quản lý tài sản Công ty Tamexco đã thực hiện việc bàn giao hồ sơ tài liệu cho Tổ thanh toán tài sản Tamexco do Sở Tư pháp thành lập, kết thúc việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tamexco tại Tòa án.

4. Công ty TNHH may mặc và chế biến nông sản Ngọc Thảo

Thành lập với 6 thành viên là các chị em ruột trong một gia đình nguyên là tư sản cũ, đăng ký kinh doanh tháng 3/1992 theo Luật công ty, vốn điều lệ … 600.000.000 đồng, ngành nghề chính là may mặc xuất khẩu, kinh doanh thương mại vật tư nông nghiệp và nông sản.

Tháng 7/1997 Công ty Ngọc Thảo nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Ngày 08/8/1997 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty.

Tổng số nợ phải trả là 324.257.263.422 đồng

Tổng số nợ phải thu 169.898.000 đồng

Tổng giá trị tài sản 199.315.757.543 đồng

Mất khả năng thanh toán 124.771.607.879 đồng

Trong khi Tòa Kinh tế đang xác minh công nợ thì các cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố vụ án hình sự tại Công ty TNHH Ngọc Thảo, bắt tạm giam giám đốc công ty. Tuy nhiên, tiến trình giải quyết phá sản vẫn tiến hành.

Hội nghị chủ nợ họp ngày 29/6/1997 đã phải hoãn do không đủ thành phần tham dự.

Mặc dù đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, nhưng Hội nghị lần hai ngày 17/7/1998 cũng không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm nên hội nghị chủ nợ không thành. Theo quy định tại Điều 31 Luật phá sản doanh nghiệp, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Ngọc Thảo.

Vụ án hình sự tại công ty TNHH Ngọc Thảo cũng kết thúc với mức án cao nhất dành cho giám đốc công ty. Tuy nhiên, không có cơ sở pháp lý rõ ràng nào để xác định pháp nhân công ty cũng đã không còn.

5. Công ty TNHH thương mại Bảo Sơn

Thành lập với 4 thành viên, đăng ký kinh doanh tháng 11/1996, vốn điều lệ 600.000.000 đồng, ngành nghề chính là kinh doanh thương mại.

Tháng 1/1999 Công ty TNHH Bảo Sơn nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Ngày 10/02/1999 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty.

Công nợ được xác định như sau:

Tổng số nợ phải trả là 8.697.362.232 đồng

Tổng số nợ phải thu 68.375.430 đồng

Tổng giá trị tài sản 58.874.490 đồng

Mất khả năng thanh toán 8.569.912.312 đồng

Hội nghị chủ nợ họp ngày 12/10/1999 đã phải hoãn do vắng mặt chỉ một chủ nợ, nhưng là chủ nợ lớn nhất, chiếm gần 50% tổng số nợ.

Mặc dù đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập hội nghị chủ nợ, nhưng hội nghị lần hai ngày 11/10/1999 cũng không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm nên hội nghị chủ nợ không thành. Theo quy định tại Điều 31 Luật phá sản doanh nghiệp, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Bảo Sơn.

Hiện nay Công ty TNHH Bảo Sơn tiếp tục nộp đơn (lần thứ hai) yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp vì trên thực tế công ty không hoạt động, vẫn trong tình trạng thua lỗ và không có phương án tổ chức lại doanh nghiệp. Tuy nhiên đơn yêu cầu chưa được thụ lý vì có ý kiến cho rằng không có quy định hoặc hướng dẫn nào chỉ rõ Tòa án được thụ lý lại việc yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp sau khi đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của chính doanh nghiệp đó.

6. Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 10/1992, Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương là doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chức năng chính là sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm đông lạnh.

Tuy có mặt bằng rộng lớn và nhiều thiết bị sản xuất chế biến thực phẩm nhưng làm ăn không hiệu quả nhiều năm, giám đốc cũ của công ty dính líu trong một vụ án hình sự và bị truy tố trước pháp luật.

Tháng 5/1998 Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Ngày 20/6/1998 Chánh Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 225.395.657.790 đồng

Tổng số nợ phải thu 1.867.329.793 đồng

Tổng giá trị tài sản 11.444.461.895 đồng

Mất khả năng thanh toán 202.540.804.052 đồng

Tuy nhiên, tài sản về nhà xưởng của công ty có một giá trị tiềm tàng nếu được hợp thức hoá quyền sở hữu.

Đồng thời với việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Công ty cũng xây dựng phương án hòa giải với các chủ nợ và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngày 28/10/1998 Hội nghị chủ nợ đã họp. Sau khi phân tích, đánh giá các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của công ty, toàn thề chủ nợ đã nhất trí thông qua phương án hòa giải.

Ngày 1/11/1998 Tòa án đã ra quyết định công nhận biên bản hòa giải thành và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương, tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Sau hai năm thực hiện các giải pháp tổ chức lại sản xuất, ngày 14/11/2000 Công ty Chế biến Thực phẩm Xuất khẩu Hùng Vương đã có báo cáo về tình hình hai năm thực hiện phương án hòa giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TPHCM cũng đã xác nhận việc Công ty đã ngăn chặn được tình hình thua lỗ, tình hình tài chính đã được lành mạnh hóa, không phát sinh công nợ mới quá hạn, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, , xây dựng được phương hướng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2001 và những năm sau, có nhiều triển vọng thu hút đầu tư, thực hiện các dự án liên doanh, mở ra khả năng giải quyết các tồn đọng để công ty tiếp tục phát triển.

Trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hội nghị chủ nợ thông qua phương án hòa giải (từ 28/10/1998 đến 28/10/2000) Tòaa 1n cũng không nhận được bất kỳ khiếu nại nào của các chủ nợ yêu cầu tòa án tiếp tục giải quyết việc tuyên bố phá sản Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương. Do đó theo đề nghị của giám đốc Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương và giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TPHCM, ngày 29/12/2000 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty.

Cho đến nay, tháng 2/2004 Công ty Chế biến Thực phẩm Xuất khẩu Hùng Vương thực sự đã hoạt động bình thường.

7. Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 6/1993, Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ nhưng Quận uỷ quận 10 trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh thực phẩm chế biến, nông lâm hải sản, bao bì, dịch vụ du lịch, xuất nhập khẩu.

Tháng 4/1999 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 5/1999, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 8.102.673.569 đồng

Tổng số nợ phải thu 3.635.801.738 đồng

Tổng giá trị tài sản 3.312.397.017 đồng

Mất khả năng thanh toán 1.154.474.814 đồng

Tùài sản của công ty tuy được định giá hơn 3 tỷ đồng nhưng giá trị thương mại rất thấp vì là những dây chuyền sản xuất nước giải khát với thiết bị lạc hậu, khả năng thu hồi nợ phải thu rất thấp.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên tại Hội nghị chủ nợ họp ngày 15/02/2001 các chủ nợ đã nhất trí việc tuyên bố phá sản công ty và thông qua phương án phân chia tài sản.

Tháng 9/2001 việc bàn giao tài sản giữa Tổ Quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga đã tiến hành, kết thúc việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản tại Tòa án, bắt đầu việc thi hành việc phân chia tài sản cho các chủ nợ.

8. Xí nghiệp Nấm

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 10/1992, Xí nghiệp Nấm là doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chức năng chính là nghiên cứu thử nghiệm, sản xuất meo nấm và nấm.

Tháng 9/1999 Xí nghiệp nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản và được Tòa án thụ lý ngày 30/10/1999.

Ngày 15/10/1999 TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Xí nghiệp Nấm.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 2.743.528.689 đồng VN và

21.335 USD

Tổng số nợ phải thu 222.452.754 đồng

Tổng giá trị tài sản 1.776.870.804 đồng

Mất khả năng thanh toán 976.657.885 đồng và

21.335 USD

Theo chủ trương của cơ quan chủ quản về việc chấm dứt hoạt động, Xí nghiệp không xây dựng các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Hội nghị chủ nợ (lần thứ nhất) họp ngày 15/01/2001 đã phải hoãn do không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm.

Ngày 10/ 10/2001 Hội nghị chủ nợ (lần thứ hai) đã được tiến hành.

Ngày 04/02/2001 Tòa án nhân dân thành phố đã ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Xí nghiệp Nấm.

9. Công ty thương mại Bình Tây

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 6/1993, Công ty thương mại Bình Tây là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ nhưng Quận uỷ quận 6 trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh thực phẩm chế biến, nông lâm hải sản, bao bì, dịch vụ du lịch, xuất nhập khẩu.

Tháng 4/1999 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 5/1999, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty thương mại Bình Tây.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 20.539.714.654 đồng

Tổng số nợ phải thu 24.641.055.373 đồng

Tổng giá trị tài sản 2.544.634.333 đồng

Với số liệu như trên thì doanh nghiệp không mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trong số nợ phải thu có những khoản nợ rất khó khả năng thu hồi.

Hội nghị chủ nợ (lần thứ nhất) dự kiến họp ngày 26/8/2002 đã phải hoãn do không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm.

Ngày 25/9/2002 Hội nghị chủ nợ (lần thứ hai) cũng đã phải hoãn do không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm.

Căn cứ khoản 1 Điều 30 và khoản 2 Điều 31 Luật phá sản doanh nghiệp, ngày 01/10/2002 Tòa án nhân dân thành phố đã ra quyết định đình chỉ giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty thương mại Bình Tây.

10. Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 12/1992, Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ là doanh nghiệp thuộc UBND huyện Cần Giờ trực tiếp quản lý, có ngành nghề sản xuất kinh doanh tổng hợp, dịch vụ du lịch, xuất nhập khẩu và đầu tư.

Ngay từ những năm 1993-1996 Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ đã gặp những khó khăn về tài chính do không phát triển được sản xuất, vốn đầu tư nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản không thu hồi được.

Tháng 6/1999 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 7/1999, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ.

Theo tài liệu do Công ty báo cáo thì số liệu công nợ như sau:

Tổng số nợ phải trả là 19.050.273.821 đồng

Tổng số nợ phải thu 8.913.375.827 đồng

Mất khả năng thanh toán 10.136.897.994 đồng

Tuy nhiên, tài sản của công ty hầu như không còn giá trị sử dụng, nợ phải thu không có khả năng thu hồi nên theo nhận định của Công ty, số mất cân đối có thể còn cao hơn nhiều.

Việc định giá các tài sản rất khó khăn do nhiều công trình nhà xưởng nằm trong khu quy hoạch và không có hồ sơ giao đất rõ ràng.

11. Công ty Sài Gòn kỹ nghệ nông cơ (SAKYNO)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 5/1993, Công ty Sài gòn kỹ nghệ nông cơ là doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở Công nghiệp TPHCM, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh các mặt hàng công nghiệp và xuất nhập khẩu.

Thực hiện chủ trương của UBND và Sở Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh về việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, chấm dứt hoạt động của một số doanh nghiệp, Công ty SAKYNO nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 10/2000 Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty Sài gòn kỹ nghệ nông cơ.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 47.650.330.792 đồng

Tổng số nợ phải thu 10.283.107.390 đồng

Và 11.128 USD

Tổng giá trị tài sản 51.948.740.460 đồng

Nếu theo số liệu nói trên thì Công ty không mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trong số giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp nói trên có quyền sử dụng đất mà Công ty được giao và đang cho doanh nghiệp khác thuê lại. Có khả năng khu đất này sẽ bị thu hồi mà không được đền bù theo giá trị như đã dự kiến. Đây là vấn đề phức tạp cần được xem xét để thống nhất cách xử lý.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Hiện nay (2/2004) việc triệu tập Hội nghị chủ nợ đang được chuẩn bị.

12. Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 6/1993, Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO) là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ TPHCM nhưng giao cho Quận uỉy quận 3 trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu.

Thời gian những năm 1993-1995 trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, giám đốc Công ty đã làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, làm cho Công ty đứng trên bờ vực phá sản.

Sau khi vụ án hình sự tại GESEBCO kết thúc, tháng 10/2001 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp để chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại về mặt pháp lý. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 2/2002 Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO).

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 12.634.247.006 đồng

Tổng số nợ phải thu 140.253.834 đồng

Tổng giá trị tài sản (không)

Mất khả năng thanh toán 12.493.993.172 đồng

Tùài sản của công ty hầu như không còn gì ngoài một số phế liệu và bàn ghế cũ nát không có giá trị sử dụng , nợ phải thu thì khả năng thu hồi cũng rất thấp.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên tại Hội nghị chủ nợ họp ngày 31/12/2002 các chủ nợ đã nhất trí việc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định tuyên bố phá sản Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO).

13. Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò vấp

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 10/1992, Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp là doanh nghiệp nhà nước do UBND quận trực tiếp quản lý.

Tháng Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản và được Tòa án thụ lý ngày 30/10/1999.

Ngày 17/12/2003 TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp.

Theo báo cáo của Công ty thì số liệu công nợ như sau:

Tổng số nợ phải trả là 11.188.108.610 đồng

Tổng số nợ phải thu 29.902.962.761 đồng

Tổng giá trị tài sản 18.789.169.097 đồng

Mất khả năng thanh toán 9.188.108.610 đồng

Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp đang vào giai đoạn cuối, dự kiến đến đầu tháng 4/2004 sẽ niêm yết danh sách chủ nợ. Việc triệu tập Hội nghị chủ nợ và ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp sẽ thực hiện trong tháng 4 hoặc tháng 5/2004.

14. Công ty Lam Sơn (quận Phú Nhuận TPHCM)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 12/1992, Công ty Lam Sơn (được nhiều người biết đến với tên Sơn mài Lam Sơn) là doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND quận Phú Nhuận quản lý, chức năng chính là sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu và tiêu thụ nội địa các mặt hàng sơn mài, gốm sứ, đồ gỗ, may mặc, da, cao su, nông lâm hải sản, các loại vật tư, nhiên liệu, kiều hối, dịch vụ du lịch, địa ốc,…

Nay từ năm 1993 Công ty Lam Sơn đã gặp những khó khăn về tài chính. Phần lớn vốn vay bị đóng băng vào địa ốc, bị chiếm dụng. Đến năm 1994 Công ty đã bị lỗ gần 15 tỷ đồng.

Liên tục trong những năm 1996-1997 Công ty xin các chủ nợ ngân hàng khoanh nợ nhưng chỉ đến năm 1998 theo đề nghị của UBND thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ mới cho phép khoanh nợ trong thời hạn 5 năm và thí điểm việc chuyển quyền sử dụng đất.

Tình hình tài chính của Công ty vẫn vô cùng khó khăn. Đến thời điểm 1999 mất cân đối 60 tỷ đồng.

Tháng 8/2003 Công ty đã làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Tuy nhiên, do cần hổ túc và hoàn thiện hồ sơ nên đến ngày 04/12/2003 Tòa án có mới quyết định thụ lý.

Ngày 25/12/2003 TAND thành phố Hồ Chí Minh chính htực ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty Lam Sơn.

Theo báo cáo của Công ty thì số liệu công nợ tính đến 31/12/2002 như sau:

Tổng số nợ phải trả 38.736.751.726 đồng

Tổng số nợ phải thu 11.518.111.546 đồng

Tổng giá trị tài sản 6.276.083.252 đồng

Mất khả năng thanh toán 20.942.556.928 đồng

Tuy nhiên, nhờ áp dụng những biện pháp khắc phục một cách tích cực như bán hàng tồn kho, bán các tài sản có giá trị lớn nên đến cuối năm 2003, tình hình tài chính đã có chuyển biến rất khả quan. Cũng theo báo cáo của Công ty thì tính đến 31/12/2003, số liệu công nợ như sau:

Tổng số nợ phải trả 21.992.310.271 đồng

Tổng số nợ phải thu 6.460.314.972 đồng

Tổng giá trị tài sản 6.276.083.252 đồng

Mất khả năng thanh toán 9.255.912.047 đồng

(Số mất cân đối có thể còn cao hơn vì nhiều khoản nợ phải thu nhưng không có khả năng thu hồi và giá trị tài sản nếu tính theo giá thị trường sẽ thấp hơn nhiều).

Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty Lam Sơn đang vào giai đoạn cuối, dự kiến đến cuối tháng 3/2004 sẽ niêm yết danh sách chủ nợ. Việc triệu tập Hội nghị chủ nợ và ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp sẽ thực hiện trong tháng 4/2004.

II. VƯỚNG MẮC TRONG TỐ TỤNG PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP TRƯỚC MẮT

Luật phá sản doanh nghiệp hiện hành có 52 điều, bao gồm một số điều khoản về nội dung, một số điều khoản về thủ tục tố tụng tại Tòa án và một số điều khoản về thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Cách thiết kế này có khác so với nhiều luật và bộ luật trong các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, trong hình sự, dân sự hay kinh tế, hành chính và lao động. Chúng ta có Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự là bộ luật về nội dung. Ngoài ra có Bộ luật về tố tụng hình sự và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự riêng. Cũng tương tự như vậy, chúng ta có pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động.

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có 88 điều; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế có 90 điều; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động có 106 điều. Trong khi đó, các điều khoản về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong Luật Phá sản doanh nghiệp chỉ có chưa đến 50 điều.

Có lẽ do sự quá đơn giản của Luật phá sản và sự ít ỏi của văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật phá sản đã gây khó khăn và lúng túng cho các Tòa án và doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện. Trong khi đó, như mọi người biết, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp luôn luôn là việc phức tạp vì cùng lúc phải giải quyết cả các quan hệ về kinh tế, về dân sự và lao động của doanh nghiệp. Mặt khác, có nhiều vấn đề được quy định trong Luật phá sản doanh nghiệp nhưng đã không rõ ràng, nhiều vướng mắc không được tháo gỡ.

Đã qua gần 10 năm tồn tại nhưng hình như Luật phá sản doanh nghiệp chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được vai trò nổi bật trong việc quản lý nhà nước về kinh tế, chưa thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Tuy nhiên, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn được tiến hành theo yêu cầu của doanh nghiệp, các thủ tục được tiến hành đầy đủ, đúng trình tự theo quy định và nói chung là có kết quả. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều vấn đề vướng mắc. Sau đây là một số vấn đề cụ thể:

1. Đương sự trong thủ tục phá sản

Tại Điều 3 Luật phá sản doanh nghiệp có nêu một số khái niệm như “Chủ nợ có bảo đảm”, “Chủ nợ có bảo đảm một phần”, “Chủ nợ không có bảo đảm”, “Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp”… Chúng tôi hiểu đây là các đương sự tham gia tố tụng trong phá sản doanh nghiệp.

Tuy nhiên, còn nhiều các đương sự khác như “Người mắc nợ doanh nghiệp” với những khoản nợ phải thu, “Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tài sản của doanh nghiệp, v.v… đã không được xác định rõ nên trong nhiều quan hệ trong lúc giải quyết phá sản doanh nghiệp đã không đề cập đến họ, họ không được tham gia tố tụng, dẫn đến quyền lợi chính đáng của họ có thể không được bảo đảm.

Ví dụ: Trong việc niêm yết, Điều 22 Luật phá sản doanh nghiệp chỉ nói đến niêm yết danh sách chủ nợ và quyền khiếu nại của chủ nợ. Ngoài ra, không có điều khoản nào nói đến việc niêm yết danh sách nợ phải thu và quyền khiếu nại của những người mắc nợ doanh nghiệp.

Trong thực tiễn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản tại TAND thành phố Hồ Chí Minh, các Tổ QLTS niêm yết tất cả mọi danh sách và Thẩm phán đã giải quyết mọi khiếu nại, kể cả những người mắc nợ doanh nghiệp.

2. Sự tham gia của đương sự trong các giai đoạn giải quyết phá sản

Trong một số giai đoạn của quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chủ nợ và đại diện của doanh nghiệp phải cử người đại diện tham gia làm việc (ví dụ Tổ Quản lý tài sản, Tổ thanh toán tài sản.

Trong trường hợp chủ doanh nghiệp không uỷ quyền, không cử người đại diện thì Tòa án hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (UBND, Sở KHĐT) nhất thiết và có thể chỉ định người đại diện hay không? Có thể giải quyết vắng mặt họ được không?

3. Tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân

Điều 5 Luật phá sản doanh nghiệp nói về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay không thấy có hướng dẫn cụ thể về việc tiến hành hay tham gia tố tụng như thế nào. Kiểm sát viên tham gia các công việc của Tổ quản lý tài sản ra sao? Có dự hội nghị chủ nợ không và nếu dự thì vai trò, quyền hạn như thế nào? Tòa án có phải làm giấy mời đến dự hay không?

Theo chúng tôi, cũng như trong tố tụng giải quyết các vụ án kinh tế, Kiểm sát viên có quyền tham gia bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Tòa án có trách nhiệm gửi tất cả các quyết định đã ban hành cho Viện kiểm sát để Viện thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định chung của pháp luật.

4. Chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ

Điều 7 quy định khi nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chủ nợ phải chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Việc này là không thực tế vì chủ nợ chỉ biết là doanh nghiệp mắc nợ đã không chịu trả nợ cho mình, không thể khẳng định nguyên nhân việc không trả nợ và khả năng tài chính của doanh nghiệp còn hay mất.

Điều 8 quy định đại diện công đoàn người lao động yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Hồ sơ của chủ nợ và của công đoàn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải có báo cáo quyết toán tài chính 2 năm cuối cùng được cơ quan kiểm toán xác nhận là điều kiện không thể đáp ứng. Nhiều doanh nghiệp do bị thất lạc đã không còn đủ sổ sách kế toán, không đủ tiền để thuê kiểm toán (tốn phí khoảng 35-45 triệu đồng), không còn tiền để tạm ứng lệ phí và chi phí phá sản doanh nghiệp (10 triệu đồng đăng báo trung ương và địa phương 3 số liên tiếp về quyết định mở thủ tục, 10 triệu đồng quyết định tuyên bố đình chỉ hoaặc tuyên bố phá sản doanh nghiệp).

5. Người có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Người có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp là chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần (Điều 7 Luật PSDN), đại diện công đoàn hoặc đại diện ngưòi lao động (Điều 8), chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (Điều 9).

Theo chúng tôi, cần bổ sung người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp là các cơ quan quản lý nhà nước (UBND tỉnh, thành phố và Bộ hoặc Sở Kế hoạch đầu tư) và cũng có thể cả các cơ quan bảo vệ pháp luật.

6. Toà án thông báo cho các chủ nợ

Điều 10 Luật phá sản doanh nghiệp quy định: Trong khi giải quyết các vụ án có liên quan đến doanh nghiệp, nếu phát hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì Toà án thông báo cho các chủ nợ, doanh nghiệp đó biết để nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Các vụ án nói ở đây gồm những vụ án gì? Có bao gồm cả dân sự hoặc hình sự mà có xét xử trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp hay không?

Nếu Toà án đã thông báo mà các chủ nợ không nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì xử lý thế nào?

7. Gửi báo cáo về khả năng thanh toán nợ

Điều 12 Luật phá sản doanh nghiệp quy định: Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày thụ lý đơn (của chủ nợ, đơn của người lao động), Toà án phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp mắc nợ biết, có bản sao đơn và các tài liệu liên quan kèm theo.

Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, doanh nghiệp bị yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản phải gửi cho Toà án báo cáo về khả năng thanh toán nợ. Trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, thì doanh nghiệp phải gửi đến Toà án các báo cáo và các tài liệu như quy định tại điểm b và c, khoản 2 Điều 9 của Luật này.

Vấn đề ở chỗ: Nếu đã được thông báo nhưng doanh nghiệp không chịu gửi đến Toà án các báo cáo và các tài liệu như quy định nói trên thì Tòa án làm gì?

Có thể có hai cách đặt vấn đề và hai cách xử lý:

– Với lý do không có báo cáo của doanh nghiệp, coi như không có đủ hồ sơ tài liệu nên không đủ căn cứ ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Điều 14 Luật phá sản doanh nghiệp?

Trường hợp này vô hình trung làm mất quyền của chủ nợ và của công đoàn người lao động yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

– Doanh nghiệp không chịu gửi báo cáo, coi như chấp nhận yêu cầu của chủ nợ hoặc người lao động đề nghị Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

8. Giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản của doanh nghiệp

Điều 16 Luật phá sản quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán là giám sát và kiểm tra hoạt động của các nhân viên Tổ quản lý tài sản; Điều 17 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ quản lý tài sản, đặc biệt là giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản của doanh nghiệp.

Điều 18 quy định: Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lý tài sản.

Điều 23 quy định: Trong thời gian giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp được thanh toán dưới sự giám sát của Thẩm phán.

Trong thực tế, Tổ quản lý tài sản đã rất lúng túng trong việc giám sát như thế nào? Các khoản thu, chi quỹ tiền mặt, bảng trả lương có phải được Tổ QLTS và Thẩm phán “duyệt” hay không?

9. Lập danh sách chủ nợ và số nợ phải trả, danh sách người mắc nợ và số nợ phải thu

Điều 17 quy định nhiệm vụ của Tổ quản lý tài sản lập danh sách chủ nợ và số nợ phải trả, danh sách người mắc nợ và số nợ phải thu và toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.

Vấn đề vướng mắc ở chỗ: Nếu có tranh chấp trong việc xác định số nợ, tranh chấp về tài sản của doanh nghiệp thì giải quyết như thế nào?

Các vụ án kinh tế bị đình chỉ việc giải quyết khi có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì có phải đưa vào giải quyết luôn trong giai đoạn này không?

Nhiều ý kiến phân vân cho rằng không thể đưa vào giải quyết chung trong phá sản được. Nhưng tách giải quyết riêng thì cũng không xong!

Cần hướng dẫn rõ hơn về thủ tục, cách thức giải quyết tranh chấp công nợ phát sinh khi Tổ Quản lý tài sản niêm yết danh sách chủ nợ và số nợ phải trả, danh sách người mắc nợ và số nợ phải thu. Trình tự và thủ tục để Thẩm phán giải quyết khiếu nại như thế nào để bảo đảm việc giải quyết là chính xác.

10. Nợ mới phát sinh sau khi khoá sổ danh sách chủ nợ

Điều 27 quy định việc khoá sổ danh sách chủ nợ. Nếu có nợ phát sinh sau khi đã khoá sổ danh sách chủ nợ thì xem xét như thế nào? Có thể bổ sung danh sách chủ nợ được không?

11. Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp do hội nghị chủ nợ không thành

Điều 31 khoản 2 quy định: Nếu hội nghị chủ nợ không thành do không đủ số chủ nợ theo quy định, thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Trong trường hợp này phải chăng doanh nghiệp lại trở về hoạt động bình thường, không lâm vào tình trạng phá sản?

Sau thời gian bao lâu thì doanh nghiệp lại có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản (lần 2)?

12. Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo đề nghị của doanh nghiệp

Điều 35 quy định việc đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo đề nghị của doanh nghiệp sau thời hạn 2 năm.

Tuy nhiên, có trường hợp đã hết thời hạn tổ chức lại kinh doanh, doanh nghiệp không có báo cáo là kinh doanh có hiệu quả hay không, có thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo kế hoạch đã được hội nghị chủ nợ thông qua hay không, cũng không đề nghị Thẩm phán đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Chủ nợ cũng không ý kiến gì về việc doanh nghiệp thực hiện được hay không được các nghĩa vụ của mình theo kế hoạch đã được hội nghị chủ nợ thông qua. Phải chăng việc tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp cứ kéo dài vô thời hạn?

13. Thụ lý tranh chấp hợp đồng kinh tế sau khi Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Nếu việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp bị Tòa án ra quyết định đình chỉ thì việc thụ lý các vụ án tranh chấp hợp đồng kinh tế của doanh nghiệp tiến hành như thế nào?

Có thụ lý hay không đối với các tranh chấp mà:

– Trước đây Tòa án đã có quyết định đình chỉ việc giải quyết do đã mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp?

– Các tranh chấp phát sinh từ trước nhưng chưa ai khởi kiện. Trong quá trình giải quyết phá sản Tòa án đã xem xét và đưa vào danh sách chủ nợ hoặc doanh sách người mắc nợ?

Nếu thụ lý thì cách tính như thế nào về:

– Thời hiệu khởi kiện tính lại từ đầu sau khi có quyết định đình chỉ của Tòa án hay trừ thời gian Tòa án thụ lý giải quyết phá sản doanh nghiệp?

– Cách tính lãi các khoản nợ trong thời gian Tòa án giải quyết phá sản? Khoanh nợ tính từ ngày Tòa án ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ theo quyết định mở thủ tục, hay tính lãi phát sinh liên tục?

14. Tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Điều 20 quy định hết thời hạn 60 ngày, nếu không có phương án hoà giải thì Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Điều 36 quy định Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không có phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Có ý kiến cho rằng:

Căn cứ vào Điều 20 và Điều 36 nói trên Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Việc tổ chức hội nghị chủ nợ chỉ để bàn phương án phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng căn cứ vào Điều 20 và Điều 36 nói trên Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Việc tổ chức hội nghị chủ nợ chỉ để bàn phương án phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp.

Nếu đã tống đạt hợp lệ việc triệu tập hội nghị chủ nợ mà chủ nợ nào không đến dự thì coi như từ bỏ quyền biểu quyết tại hội nghị chủ nợ .

Nếu chấp nhận ý kiến này, cần sử đổi khoản 2 Điều 31 “Nếu hội nghị chủ nợ không thành do không đủ số chủ nợ theo quy định, thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp” theo hướng “Trong trường hợp doanh nghiệp mắc nợ không có phương án hòa giải, Hội nghị chủ nợ được triệu tập chỉ để thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật phá sản doanh nghiệp. Hội nghị chủ nợ vẫn được tiến hành nếu các chủ nợ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt”.

15. Thứ tự ưu tiên trong việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp

Điều 39 quy định việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp theo thứ tự ưu tiên như sau:

1- Các khoản lệ phí, các chi phí theo quy định của pháp luật cho việc giải quyết phá sản của doanh nghiệp;

2- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

3- Các khoản nợ thuế;

4- Các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ.

Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong trường hợp: Nếu doanh nghiệp đang phải thi hành một hoặc nhiều bản án về trách nhiệm dân sự hay kinh tế của mình thì thứ tự ưu tiên này có còn ý nghĩa nữa hay không?

16. Thi hành án khi Tòa án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Trong thời gian Tòa án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp phải thi hành bản án kinh tế, dân sự hoặc dân sự trong hình sự về trả nợ thì xử lý thế nào:

– Có đưa người được thi hành án vào danh sách chủ nợ không và họ có phải là chủ nợ có bảo đảm không, có được ưu tiên gì không?

– Việc thi hành bản án về thanh toán nợ của doanh nghiệp vẫn được tiến hành bình thường (riêng rẽ với phân chia tài sản của doanh nghiệp thủ tục phá sản doanh nghiệp) hay cần hoãn lại để thi hành chung trong quá trình phân chia tài sản của doanh nghiệp theo thủ tục phá sản doanh nghiệp?

17. Khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Điều 40 quy định các chủ nợ và doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản có quyền gửi đơn khiếu nại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Nếu nội dung khiếu nại hoặc kháng nghị chỉ liên quan đến một khoản nợ trong việc xác định công nợ hoặc một tài sản trong việc phân chia tài sản thì các phần khác của quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có bị ảnh hưởng không?

18. Thời điểm doanh nghiệp mất quyền quản lý tài sản

Do quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có thể bị chủ nợ khiếu nại, bị Viện kiểm sát kháng nghị (qui định tại Điều 40 Luật phá sản doanh nghiệp) nên quyết định chưa có hiệu lực thi hành. Nếu qui định thời điểm doanh nghiệp mất quyền quản lý tài sản kể từ thời điểm Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì không phù hợp.

Đề nghị qui định thời điểm doanh nghiệp mất quyền quản lý tài sản là kể từ thời điểm quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có hiệu lực pháp luật, thay vì kể từ thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp như đã qui định tại Điều 23 Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp.

19. Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp có liên quan đến cá nhân, tổ chức nước ngoài

Điều 51 quy định việc giải quyết phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam có liên quan đến cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có một số doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Chủ doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp đều là người nước ngoài. Do làm ăn thua lỗ nên đều bỏ về nước. Không còn ai ở Việt Nam được coi là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp. Xử lý thế nào?

Cần có hướng dẫn cụ thể về việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với đặc thù của loại doanh nghiệp này.

Đề nghị quy định:

Trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải có mặt tại Việt Nam để thực hiện các thủ tục cần thiết.

Nếu chủ doanh nghiệp là người nước ngoài đã về nước thì họ phải trở lại Việt Nam để thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật. Nếu chủ doanh nghiệp không có điều kiện hoặc không muốn trở lại Việt Nam thì họ phải uỷ quyền hợp pháp cho người khác đại diện tại Việt Nam để thực hiện các thủ tục và tham gia việc quản lý tài sản của doanh nghiệp.

Nếu chủ doanh nghiệp không trở lại Việt Nam, cũng không uỷ quyền hợp pháp cho người khác đại diện thì cơ quan cấp phép đầu tư chỉ định người quản lý tài sản của doanh nghiệp và là đại diện để thực hiện các thủ tục cần thiết. UBND, Sở KHĐT với chức năng là cơ quan nhà nước về quản lý đầu tư có thẩm quyền chỉ định người đại diện để thực hiện các thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

TỐ TỤNG PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

Như chúng ta đã biết, mục đích của việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và những người có liên quan, nhất là người lao động; xác định trách nhiệm của doanh nghiệp mắc nợ khi giải quyết việc phá sản doanh nghiệp; góp phần thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội.

Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, hiện tượng một số doanh nghiệp không đứng vững, gặp khó khăn về tài chính, làm ăn thua lỗ, lâm vào tình trạng phá sản không nằm ngoài quy luật tất yếu.

Để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về phá sản doanh nghiệp, chúng ta phải quán triệt các quan điểm đổi mới về cải cách kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, cần sắp xếp, đổi mới, và phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, tạo lập khung pháp luật bảo đảm sự quản lý và giám sát của nhà nước.

1. Có quan điểm đúng về phá sản doanh nghiệp

Nghiên cứu, quán triệt để có quan điểm đúng về phá sản doanh nghiệp, phải coi đây là biện pháp quan trọng trong việc phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong việc sắp xếp, cơ cấu lại và đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Theo thống kê không đầy đủ thì chỉ có 40% DNNN là kinh doanh có hiệu quả. Số còn lại hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ. Các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cũng không khả quan hơn DNNN. Cần phải có cơ chế và biện pháp thích hợp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gặp khó khăn thua lỗ có cơ hội rút ra khỏi thương trường một cách trật tự.

2. Cơ chế kiểm tra, kiểm soát doanh nghiệp

Cần xây dựng cơ chế kiểm tra, kiểm soát doanh nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả, nhất là về tài chính kế toán để kịp thời phát hiện sớm doanh nghiệp có khó khăn về tài chính để có biện pháp hỗ trợ, tổ chức lại, phục hồi hoạt động của doanh nghiệp. Nếu đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không khắc phục được thì có cách xử lý thích hợp đối với số doanh nghiệp này, làm “trong sạch môi trường” sản xuất kinh doanh.

3. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn ở các địa phương, nhất là ở các thành phố lớn và các tỉnh có nhiều quan hệ kinh tế để tìm ra những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung Luật phá sản. Các luật về doanh nghiệp hiện hành (Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,…) đã có nhiều nội dung thay đổi so với các luật đã ban hành vào thời điểm xây dựng Luật phá sản doanh nghiệp 1984 (như Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân (1984). Do đó việc sửa đổi, bổ sung Luật phá sản 1994 cho phù hợp tình hình hiện nay là tất yếu, để luật thực sự đi vào cuộc sống, thực sự trở thành công cụ đắc lực trong quản lý nhà nước, cho chủ đầu tư trong việc tổ chức lại hoặc thanh lý doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn thua lỗ, cần chuyển quyền kiểm soát tài sản của doanh nghiệp mắc nợ sang cho các chủ nợ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn, từ đó xem xét và quyết định việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh, phục hồi doanh nghiệp hay thanh toán tài sản doanh nghiệp khi chưa quá muộn.

Trên cơ sở phân tích kết quả đã thực hiện và áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp trong thời gian qua, khắc phục và giải đáp những vướng mắc như nói ở trên, cần ban hành các Thông tư liên tịch Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, v.v… hướng dẫn thực hiện và triển khai đồng bộ Luật phá sản doanh nghiệp sau khi được bổ sung sửa đổi.

Cần xây dựng và ban hành mẫu biểu áp dụng thống nhất trong tố tụng phá sản. Định kỳ và thường xuyên mở các lớp tập huấn, trao đổi rút kinh nghiệm trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

4. Một số định hướng sửa đổi Luật phá sản doanh nghiệp

– Luật phá sản doanh nghiệp không chỉ quy định về phá sản. Cần quy định các điều kiện cụ thể và các thủ tục cho việc phục hồi doanh nghiệp một cách chủ động và tích cực theo phương châm “còn nước còn tát”, thủ tục thanh toán tài sản để bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ và thủ tục tuyên bố phá sản một khi thấy rõ ràng không còn cơ hội gì cho các thủ tục khác để nhanh chóng kết thúc doanh nghiệp. Cần có quy định về thủ tục rút gọn trong việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong một số trường hợp đặc biệt.

– Quy định cụ thể và rõ ràng hơn tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo hướng cần xác định “càng sớm càng tốt” để còn có nhiều cơ hội cho việc phục hồi doanh nghiệp, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chủ nợ theo hướng doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không trả được nợ .

– Cần quy định về thành phần và chế độ làm việc của Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản doanh nghiệp một cách gọn nhẹ và hiệu quả hơn. Đại diện công đoàn, đại diện các cơ quan chuyên môn như tài chính, ngân hàng chỉ tham gia khi cần thiết (theo quyết định của Tòa án mở thủ tục), không bắt buộc như hiện nay.

– Để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, cần có những quy định để đề phòng và chống việc doanh nghiệp tẩu tán tài sản, thanh toán nợ một cách không công bằng cho các chủ nợ, đồng thời cần có quy định tạm đình chỉ việc thi hành tất cả các bản án, các quyết định của Tòa án và tạm đình chỉ giải quyết tất cả các loại án có liên quan đến tài sản doanh nghiệp mà để lại giải quyết chung theo thủ tục phá sản doanh nghiệp.

– Cần quy định và hướng dẫn rõ ràng thủ tục và trình tự xác định tài sản của doanh nghiệp, kể cả nợ phải thu, nợ phải trả, các loại hợp đồng hoặc công nợ có tranh chấp theo hướng trao quyền cho Thẩm phán (hoặc tập thể Thẩm phán) quyết định theo chứng cứ, hồ sơ hiện có. Nếu co khiếu nại thì Tòa án trên một cấp xem xét và quyết định (tương tự như phúc thẩm).

– Quy định hợp lý hơn thứ tự ưu tiên phân chia tài sản, nên coi nợ thuế (chủ nợ là cơ quan thuế) cũng bình đẳng như các chủ nợ khác.

Tháng 3-2004 Phạm Xuân Thọ – Chánh Tòa Kinh tế – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: KHI CÁC BÊN LỰA CHỌN ÁP DỤNG – SO SÁNH PHÁP VÀ VIỆT NAM

Chuyên đề 4

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ KHI CÁC BÊN LỰA CHỌN ÁP DỤNG

UCP thừa nhận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia.

Theo giáo sư Stoufflet, « việc UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ không ngăn cản các bên loại trừ những quy định của UCP mà họ cảm thấy không phù hợp với lợi ích của mình. UCP đã quy định rõ ràng như vậy ». Do đó, các bên hoàn toàn có quyền không áp dụng UCP để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình. Pháp luật của Pháp (Phân đoạn I) và pháp luật Việt Nam (Phân đoạn II) có thừa nhận quyền lựa chọn này hay không ? Chúng ta cùng tìm câu trả lời.

I – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Pháp

Khả năng lựa chọn.

Theo Công ước Rome, « hợp đồng do pháp luật mà các bên lựa chọn điều chỉnh » và việc lựa chọn luật áp dụng « phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng » (điều 3, khoản 1). Do vậy, có thể khẳng định rằng các bên có quyền chọn luật áp dụng. Lựa chọn này phải được tôn trọng. Như chúng ta đã đề cập, thư tín dụng thực chất là một hợp đồng, các quy định trên của Công ước Rome cũng được áp dụng đối với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, các bên có quyền chọn lựa một hệ thống pháp luật phù hợp với quan hệ hợp đồng và ở đây « khi tồn tại điều khoản về chọn luật áp dụng, sự lựa chọn này là bắt buộc ». Cần lưu ý rằng điều khoản này của Công ước thừa nhận các bên có quyền lựa chọn luật điều chỉnh cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng.

Hiệu lực bắt buộc.

Khi các bên lựa chọn luật áp dụng thì lựa chọn đó trở thành một bộ phận của hợp đồng. Các hành vi vi phạm luật điều chỉnh tức là vi phạm hợp đồng. Thẩm phán và các bên liên quan đều chịu sự ràng buộc của luật điều chỉnh hợp đồng. Theo một số học giả, « trong hoạt động phát hành thư tín dụng, các ngân hàng thường đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP nhưng không hề nhắc đến luật quốc gia điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ ». Trong thực tế, việc lựa chọn pháp luật áp dụng vẫn chưa phổ biến. Chúng tôi không tìm thấy bản án nào của Pháp liên quan đến thư tín dụng chứa đựng điều khoản về dẫn chiếu luật áp dụng.

II – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Việt Nam

Tự do lựa chọn.

Theo điều 769, khoản 1, Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ». Trong trường hợp các bên xác định luật áp dụng thì có thể kết luận rằng các bên đã có thỏa thuận khác. Do vậy, pháp luật do các bên lựa chọn sẽ được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng của họ. Các văn bản pháp luật khác của Việt Nam cũng thừa nhận quyền lựa chọn luật điều chỉnh.

Có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, các văn bản trên lại không quy định rõ ràng thời điểm các bên thực hiện quyền lựa chọn. Theo quan điểm của chúng tôi, các bên có thể lựa chọn luật điều chỉnh trong quá trình xác lập hợp đồng hoặc một thời gian sau đó, ví dụ khi phát sinh tranh chấp tại tòa án.

Thực tế.

Vào thời điểm hiện tại, các thư tín dụng do ngân hàng ở Việt Nam phát hành chỉ chứa đựng duy nhất điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP mà không đề cập đến luật điều chỉnh thư tín dụng. Dường như các ngân hàng không quan tâm đến khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia mà cho rằng mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng đều được quy định trong UCP. Đó là một sai lầm bởi như chúng ta đã phân tích ở trên, có nhiều tình huống mà việc áp dụng pháp luật quốc gia là cần thiết, nhất là trong trường hợp gian lận.

Nhận xét so sánh.

Pháp luật của Pháp và Việt Nam đều cho phép các bên trong hợp đồng lựa chọn luật áp dụng. Nhận thức rõ về những khó khăn trong việc xác định luật áp dụng khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh, nên chăng các bên thỏa thuận trước về vấn đề này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, việc đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng không đơn giản. Lựa chọn luật áp dụng giúp bảo đảm tính an toàn về pháp lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp bởi các bên liên quan đã tìm hiểu về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên việc đưa ra vấn đề chọn luật từ thời điểm xác lập thư tín dụng có thể gây ra sự hiểu lầm giữa các đối tác. Nếu các bên quyết định lựa chọn luật áp dụng cho giao dịch tín dụng chứng từ thì họ có thể bổ sung vào thư tín dụng điều khoản dẫn chiếu như sau : « Đối với mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng này mà không được quy định trong Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất thì sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm thực chất của pháp luật quốc gia nơi ngân hành phát hành có trụ sở », bởi như chúng ta đã nghiên cứu, đối với hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát hành là chủ thể thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Kết luận

Theo quan điểm của chúng tôi, sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với giao dịch tín dụng chứng từ là cần thiết vì những lý do mà giáo sư Legeais đã nêu. Trong đó, trường hợp gian lận có tầm quan trọng nhất bởi các vấn đề liên quan đến gian lận không được UCP quy định.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp phát sinh, các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng bằng cách đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu về luật áp dụng. Các bên liên quan cũng có quyền loại trừ việc áp dụng toàn bộ hoặc một số quy định của UCP mà họ cho rằng không có lợi cho quan hệ hợp đồng.

Nên chăng các cơ quan lập pháp của Pháp và Việt Nam ban hành văn bản pháp luật về giao dịch tín dụng chứng từ. Các văn bản này sẽ quy định cụ thể các vấn đề không được đề cập trong UCP.

Kết luận chung

Phần hai tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ. Có một số điểm giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia cho dù các bên có lựa chọn hay không. Tuy nhiên, khi không có điều khoản dẫn chiếu trong hợp đồng, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng cho tranh chấp thư tín dụng.

Một điểm tương đồng nữa cần lưu ý, đó là khi các bên trong giao dịch thư tín dụng không lựa chọn luật áp dụng thì việc giải quyết tranh chấp tại tòa án sẽ khá phức tạp. Do đó, các bên liên quan nên dự trù luật điều chỉnh trong quá trình xác lập thư tín dụng.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam. Thẩm phán của hai nước xác định luật áp dụng trên cơ sở những tiêu chí khác nhau. Ở Pháp, đó là nguyên tắc hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nước có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù. Ở Việt Nam, hợp đồng lại chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nên chăng pháp luật Việt Nam quy định cụ thể nơi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, chẳng hạn như là địa điểm thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Xuân Quỳnh
Khoa Quốc tế ĐH Luật TPHCM
Tháng 4-2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

Sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ: SO SÁNH PHÁP VÀ VIỆT NAM

PHẠM XUÂN QUỲNH – Khoa Pháp luật Quốc tế, Đại học Luật TP.HCM

Giới thiệu

Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ (UCP) không có tính chất áp dụng bắt buộc. Nó chỉ được áp dụng trong quan hệ thư tín dụng khi các bên lựa chọn hay với vai trò là tập quán quốc tế. Tuy nhiên, bản quy tắc này đã bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thương mại. Do đó, các chủ thể trong quan hệ tín dụng chứng từ có ý định vận dụng quy định của luật quốc gia trong lĩnh vực này.

Theo giáo sư Legeais, “bên cạnh UCP, việc áp dụng các quy định khác chỉ xảy ra trong ba trường hợp; Thứ nhất, vấn đề cần điều chỉnh không được UCP quy định. Ví dụ như gian lận. Ttrong trường hợp có nhiều bất đồng ý kiến về định nghĩa thế nào là gian lận thì việc xác định luật áp dụng rất quan trọng vì thẩm phán sẽ xem xét hành vi gian lận trên cơ sở luật áp dụng đối với quan hệ thư tín dụng; Thứ hai, thư tín dụng hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh của UCP; Thứ ba, các bên loại trừ việc áp dụng một số quy định cụ thể của UCP trong thư tín dụng”.

Một tác giả khác cũng ủng hộ quan điểm của giáo sư Legeais “mặc dù UCP đã quy định khá chi tiết về tín dụng chứng từ, việc dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia vẫn rất cần thiết”. Tuy nhiên, việc xác định luật áp dụng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của các quan hệ pháp lý trong giao dịch thư tín dụng.

Khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh thư tín dụng (Chương I), thẩm phán sẽ áp dụng quy phạm xung đột pháp luật để xác định hệ thống pháp luật phù hợp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thẩm phán mất nhiều thời gian và công sức trong việc xác định luật điều chỉnh. Vì thế, một câu hỏi đặt ra rằng liệu các bên có nên thỏa thuận trong hợp đồng về luật áp dụng để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình hay không (Chương II).

CHƯƠNG I. Sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ khi các bên không lựa chọn luật áp dụng

Trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng lưu thông trong thương mại quốc tế đều không có điều khoản dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia. Trong trường hợp đó, luật áp dụng sẽ được xác định căn cứ vào quy phạm xung đột pháp luật trong các công ước quốc tế hoặc trong pháp luật quốc gia. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu việc xác định luật điều chỉnh trong theo pháp luật của Pháp và theo pháp luật Việt Nam.

I. Việc xác định luật áp dụng tại Pháp

Tiêu chí

Thư tín dụng thực chất là một dạng hợp đồng tín dụng. Do đó, chắc chắn thư tín dụng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Rome về luật áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng[3]. Khi các bên có liên quan không lựa chọn luật áp dụng theo các quy định của Công ước Rome thì hợp đồng sẽ do pháp luật của nước mà hợp đồng đó có « mối liên hệ mật thiết nhất » điều chỉnh.

Nghĩa vụ đặc thù.

Khi các bên không lựa chọn luật áp dụng thì theo Công ước Rome, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất (Điều 4, khoản 1). Bên cạnh đó, Công ước Rome cũng quy định rằng hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính (Điều 4, khoản 2). Vì thế, theo Công ước Rome, luật áp dụng đối với hợp đồng là luật của nước mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính. Như vậy, phải xác định chủ thể nào thực hiện “nghĩa vụ đặc thù” của hợp đồng. Đối với giao dịch tín dụng chứng từ, để xác định nghĩa vụ đặc thù thì trước tiên phải tìm ra mối quan hệ giữa các bên.

1. Trường hợp có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Ngân hàng phát hành và người thụ hưởng.

Theo giáo sư Legeais, “khi chỉ có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng thì sẽ có hai lựa chọn cho luật áp dụng : luật của ngân hàng phát hành và luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng. Lựa chọn thứ hai tỏ ra có lợi cho người thụ hưởng và cũng được nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tín dụng chứng từ ủng hộ. Tuy nhiên, một số ý kiến khác[4] lại cho rằng nếu áp dụng luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng thì điều đó không phù hợp với quy định của Điều 4, khoản 2, Công ước Rome. Do đó, áp dụng luật của ngân hàng phát hành hợp lý hơn”. Các thẩm phán Pháp nghiêng về quan điểm này. Bản án của Tòa phúc thẩm Versailles dưới đây là tranh chấp đầu tiên ở Pháp liên quan đến xung đột pháp luật trong giao dịch thư tín dụng dự phòng.

Án lệ

Trong vụ việc này, Egyptair đã bán cho một công ty Ai-len mười bốn chiếc máy bay. Các bên thỏa thuận giao hàng trong hai năm. Bên cạnh đó, nhà nhập khẩu Ai-len phải ký quỹ một khoản là 15 008 000 USD, tức là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay. Việc hoàn trả khoản tiền này được đảm bảo trong trường hợp hàng hóa giao không phù hợp thỏa thuận, bởi một thư tín dụng dự phòng do Union des Banques Arabes et Françaises, ở Paris phát hành theo yêu cầu của Egyptair. Trong trường hợp này, mục đích của thư tín dụng nhằm đảm bảo việc hoàn trả khoản tiền ký quỹ trên và người yêu cầu mở thư tín dụng là công ty Egyptair. Các bên thỏa thuận rằng thư tín dụng này do UCP điều chỉnh. Người mua Ai-len có quyền yêu cầu trả vào một tài khoản tại New York, một khoản tiền là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay, với điều kiện xuất trình một hối phiếu trả ngay và bằng chứng cho thấy rằng Egyptair đã không giao máy bay đúng theo điều kiện của hợp đồng. Nhà nhập khẩu Ai-len khẳng định rằng luật điều chỉnh quan hệ này là luật của bang New York, cụ thể là Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform commercial code), phần V về thư tín dụng. Việc áp dụng luật của bang New York sẽ mang lại lợi ích cho nhà nhập khẩu Ai-len vì Điều 5-114 quy định rằng ngân hàng phát hành phải thanh toán thư tín dụng trong trường hợp phát hiện gian lận trong khi đó theo Tòa án Pháp thì có dấu hiệu lạm dụng, lừa dối.

Đối với tranh chấp này, Tòa phúc thẩm Versailles phải giải quyết hai vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phân tích lập luận của của thẩm phán liên quan đến luật áp dụng đối với tranh chấp có sự tham gia của các công ty có trụ sở tại nhiều quốc gia. Ba lựa chọn được đặt ra : luật của bang New York có thể được áp dụng bởi đó là luật của nước nơi thư tín dụng được thanh toán ; luật của Ai Cập là nơi người yêu cầu mở thư tín dụng có trụ sở (công ty Egyptair); luật của Pháp là nơi ngân hàng phát hành có trụ sở. Tuy nhiên, Tòa án nhận định rằng “các bên đã thỏa thuận chọn UCP để điều chỉnh thư tín dụng, do đó phải áp dụng luật của Pháp, là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng (tức là hành động từ chối hoặc chấp nhận thanh toán của ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra chứng từ, không phải là hành động chuyển tiền “thực chất” vào tài khoản). Hơn nữa, Pháp cũng đồng thời là nơi đóng trụ sở của ngân hàng phát hành và là nơi ký kết hợp đồng. Việc áp dụng luật của Mỹ, nơi thanh toán thư tín dụng là không hợp lý vì thư tín dụng được thanh toán bằng đô la Mỹ nên số tiền của thư tín dụng được chuyển vào một tài khoản ở Mỹ”[6]. Các thẩm phán cho rằng Pháp là nước có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, luật của Pháp, nơi ngân hàng phát hành có trụ sở, sẽ được áp dụng. Hơn nữa, việc áp dụng luật của Pháp sẽ dẫn đến việc áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất và giúp bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch ngân hàng trong lĩnh vực này.

Ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng.

Để bảo vệ tốt hơn lợi ích của mình, người thụ hưởng luôn mong muốn một ngân hàng khác xác nhận thư tín dụng. Thông thường ngân hàng thông báo đồng thời là ngân hàng xác nhận. Trong trường hợp đó, ngân hàng này sẽ cam kết thanh toán trực tiếp và độc lập cho người thụ hưởng. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng giống như quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng. Do vậy, việc xác định luật áp dụng sẽ tương tự như quan hệ trên. Trên thực tế, khi ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch thư tín dụng thì luật điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng và người thụ hưởng sẽ là luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở.

Theo một phán quyết của Tòa án liên bang Thụy Sỹ, “cam kết của ngân hàng xác nhận dành cho người thụ hưởng tương tự như cam kết của ngân hàng phát hành. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở”. Các thẩm phán của Anh cũng tuân theo nguyên tắc này với nhận định rằng “luật áp dụng trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến cam kết của ngân hàng xác nhận thư tín dụng quốc tế là luật của nước nơi thư tín dụng được thực hiện”.

Ở Pháp, chúng tôi không tìm thấy án lệ về vấn đề này. Tuy nhiên các học giả của Pháp cũng ủng hộ quan điểm của các thẩm phán Anh và Thụy Sỹ với quan điểm rằng “đối với giao dịch tín dụng chứng từ, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở, nếu không có thỏa thuận khác”. Giáo sư Vasseur cho cho rằng “đối với việc xác nhận thư tín dụng, luật áp dụng là luật của nước nơi ngân hàng xác nhận có trụ sở”.

2. Trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Giới thiệu

Vấn đề về luật áp dụng trở nên phức tạp hơn khi có sự tham gia của nhiều ngân hàng vào giao dịch tín dụng chứng từ. Chúng ta có thể nghĩ đến một giải pháp duy nhất và áp dụng luật của nước nơi ngân hàng phát hành có trụ sở cho tất cả mối quan hệ phát sinh từ thư tín dụng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại cho rằng mỗi quan hệ cần phải chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng. Trên thực tế có rất nhiều tranh chấp về thư tín dụng có sự liên quan của nhiều ngân hàng ở các quốc gia khác nhau. Phán quyết của tòa án Anh sau đây là một ví dụ.

Án lệ. Phán quyết này của thẩm phán Justice Mance liên quan đến luật điều chỉnh thư tín dụng thương mại theo Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980. Tuy đây là một bản án của Anh nhưng vì nó áp dụng Công ước Rome và Pháp cũng là thành viên của Công ước này nên việc nghiên cứu phán quyết của thẩm phán Anh sẽ giúp chúng ta tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu.

Một ngân hàng tại Ấn Độ, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu Ấn Độ, đã phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng là một công ty có trụ sở tại London (Anh) nhằm thanh toán hợp đồng mua bán sản phẩm luyện kim. Thư tín dụng được xác nhận bởi một ngân hàng Ấn Độ, chi nhánh tại London. Ngân hàng xác nhận đã thanh toán khoản tiền theo thư tín dụng. Sau đó, ngân hàng phát hành phát hiện ra rằng các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình là giả mạo và do đó từ chối trả tiền cho ngân hàng xác nhận. Tranh chấp này sẽ do pháp luật quốc gia nào điều chỉnh ? Vì có nhiều mối quan hệ phát sinh trong giao dịch tín dụng chứng từ trên nên sẽ có nhiều giả thiết về luật áp dụng được đặt ra.

Quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận là hợp đồng đại diện với nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng là việc xác nhận thư tín dụng. Đó là mục đích mà ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch này. Luật áp dụng là luật của Anh bởi vì chi nhánh ngân hàng tại Anh cam kết xác nhận thư tín dụng. Theo thẩm phán Mance, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng do luật của Anh điều chỉnh căn cứ vào Điều 4, khoản 2, Công ước Rome.

Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành tại Ấn Độ và người thụ hưởng tại Anh sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia nào? Theo Điều 4, khoản 2, luật áp dụng là luật của Ấn Độ. Do vậy, có thể nhận định rằng một quan hệ tín dụng chứng từ có thể do hai hệ thống pháp luật khác nhau điều chỉnh, tùy thuộc vào việc người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận thanh toán. Theo thẩm phán Mance, giải pháp này sẽ gặp nhiều bất cập. Trên thực tế, ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người thụ hưởng và yêu cầu ngân hàng phát hành trả tiền lại cho mình, tranh chấp này sẽ do luật của Anh điều chỉnh. Nhưng nếu người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành tại Ấn Độ thanh toán thi tranh chấp này do luật của Ấn Độ điều chỉnh.

Để vụ việc sáng tỏ hơn, thẩm phán Mance căn cứ vào điều 4, khoản 5 của Công ước Rome theo đó : “Các quy định tại khoản 2, 3 và 4 sẽ không được áp dụng trong trường hợp hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với một nước khác”. Do đó, trong trường hợp thư tín dụng được xác nhận theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thì mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ do luật của Anh điều chỉnh vì hợp đồng tín dụng đó có mối liên hệ mật thiết nhất với London, nơi có trụ sở của ngân hàng xác nhận.

Án lệ (tiếp).

Năm 1992, Tòa thương mại Paris cũng giải quyết một vụ việc phức tạp tương tự. Công ty Total (Liban) ký hợp đồng mua một tàu chở dầu với một công ty của Panama, thanh toán bằng thư tín dụng do một ngân hàng tại Liban phát hành. Khoản tiền của thư tín dụng được thanh toán tại tại Geneva (Thụy Sỹ). Ngân hàng Liban yêu cầu ngân hàng Saradar (Pháp) xác nhận thư tín dụng và ngân hàng Bruxelles-Lambert đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo vừa là ngân hàng xác nhận. Như vậy, có hai ngân hàng tại Pháp và Thụy Sỹ xác nhận thư tín dụng trên.

Ngày 24 tháng 10, người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng Bruxelles-Lambert và ngày 29 tháng 10, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng các chứng từ hoàn toàn phù hợp và họ đồng ý thanh toán lại cho ngân hàng Thụy Sỹ vào ngày 16 tháng 12. Do đó, ngân hàng Bruxelles-Lambert đã thanh toán khoản tiền của thư tín dụng cho người thụ hưởng. Về phía người yêu cầu mở thư tín dụng, sau khi nhận được các chứng từ, công ty Total (Liban) nhận lô hàng vào ngày 5 tháng 12.

Đến ngày 12 tháng 12, tức là đã vượt quá “thời hạn hợp lý” để từ chối chứng từ theo quy định của UCP, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng phát hiện điểm bất hợp lệ trong bộ chứng từ và từ chối thanh toán. Ngân hàng Thụy Sỹ khởi kiện ra Tòa thương mại Paris và ngân hàng của Pháp buộc phải thanh toán cho ngân hàng Thụy Sỹ. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là luật quốc gia nào sẽ áp dụng cho tranh chấp giữa hai ngân hàng này ?

Ngân hàng Bruxelles-Lambert cho rằng luật áp dụng là luật Thụy Sỹ vì “nghĩa vụ đặc thù trong giao dịch tín dụng chứng từ là việc thanh toán thư tín dụng, được thực hiện tại Thụy Sỹ”. Hơn nữa, các quy định của luật Thụy Sỹ về thư tín dụng sẽ có lợi cho ngân hàng Bruxelles-Lambert hơn là luật của Pháp. Tòa án Pháp nhận định rằng, trong mối quan hệ giữa ngân hàng Bruxelles-Lambert (Thụy Sỹ) và ngân hàng Saradar (Pháp), ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đặc thù là ngân hàng Saradar vì đó là “nghĩa vụ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán sau khi kiểm tra bộ chứng từ hoặc từ chối nếu chứng từ không phù hợp”. Trong vụ việc này, ngân hàng Saradar có nghĩa vụ thanh toán lại cho ngân hàng Bruxelles-Lambert khoản tiền mà ngân hàng này đã trả cho người thụ hưởng.

Nhận xét. Công ước Rome có vai trò rất quan trọng trong việc xác định luật áp dụng trong các tranh chấp tại Pháp. Nó thay thế hoàn toàn cho các quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia. Hơn nữa, do sự phức tạp của những mối quan hệ hợp đồng phát sinh từ giao dịch thư tín dụng, các tiêu chí của Công ước cần phải được vận dụng một cách riêng biệt. Cần lưu ý rằng việc áp dụng những tiêu chí này có thể dẫn đến áp dụng một hệ thống luật cho nhiều quan hệ.

II. Việc xác định luật áp dụng tại Việt Nam

Văn bản pháp luật

Theo pháp luật Việt Nam, khi các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng.

Do đó, cần xác định nơi thực hiện thư tín dụng. Điều này quả thật không dễ dàng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng hoặc giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận/ngân hàng chiết khấu, nơi thực hiện hợp đồng ở địa điểm nào? Các quan hệ hợp đồng giữa các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ là khác nhau, vì thế nơi thực hiện hợp đồng tín dụng cũng sẽ khác nhau.

Bên cạnh đó, trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Điều 284, khoản 2(b) của Bộ luật Dân sự quy định rằng trong trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.

Bản án

Để hiểu rõ hơn về những khó khăn trong việc xác định nơi thực hiện thư tín dụng, chúng ta cùng lấy một ví dụ, đó là tranh chấp do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết liên quan đến thư tín dụng giữa các công ty Việt Nam và Hàn Quốc.

Công ty L.G. (Hàn Quốc) và công ty C&T (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán dây đồng. Hợp đồng có điều khoản quy định về việc mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ hưởng là công ty L.G. Ngân hàng V.H. phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của công ty C&T. Ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul là ngân hàng thông báo. Thư tín dụng hết hiệu lực vào ngày 20 tháng 8 năm 1996 tại Hàn Quốc.

Theo các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng, thư tín dụng có thời hạn 360 ngày, thanh toán bằng hối phiếu tại ngân hàng V.H. Người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành và nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt là phù hợp thì ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng khi đến hạn. Như chúng ta đã tìm hiểu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một cam kết mà ngân hàng phát hành dành cho người thụ hưởng và người thụ hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán cho mình số tiền trong thư tín dụng với điều kiện chứng từ phù hợp. Theo điều 284, khoản 2(b), Bộ luật dân sự, địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi có trụ sở của bên có quyền, tức là tại nơi có trụ sở của công ty Hàn Quốc.

Tuy nhiên về các vụ việc có yếu tố tương tự do tòa án Singapore giải quyết, thẩm phán Singapore lại nhận định rằng « trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì luật áp dụng là luật của nước có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nơi thanh toán thư tín dụng. Do đó, quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật nơi thực hiện việc thanh toán ». Thẩm phán cho rằng người thụ hưởng có nghĩa vụ xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành bởi thư tín dụng chỉ được thanh toán khi ngân hàng phát hành chấp nhận hối phiếu. Nếu nhìn nhận vụ việc trên theo quan điểm của các thẩm phán Singapore, nơi thực hiện hợp đồng tín dụng sẽ là Việt Nam, vì thế luật Việt Nam sẽ được áp dụng.

Xem xét các yếu tố khác của thư tín dụng cho thấy ngân hàng thông báo được phép chiết khấu thư tín dụng. Do vậy, ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul có thể tham gia với tư cách ngân hàng thông báo và ngân hàng chiết khấu. Nó có quyền chiết khấu bộ chứng từ nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng. Giả sử người thụ hưởng Hàn Quốc không xuất trình chứng từ tại ngân hàng phát hành Việt Nam mà xuất trình tại ngân hàng ABN-AMRO. Sau khi kiểm tra, ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ và thanh toán cho người thụ hưởng. Sau đó, ABN-AMRO có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành hoàn trả lại số tiền đã thanh toán. Trong trường hợp này, theo điều 284, khoản 2(b), nơi thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc.

Tuy nhiên, trên thực tế, ngân hàng Korea Exchange Bank đã chiết khấu chứng từ. Các học giả cho rằng « cho dù thư tín dụng được phép chiết khấu bởi ngân hàng thông báo hoặc bởi bất kỳ ngân hàng nào thì luật áp dụng cho quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu không có gì thay đổi ». Nếu thư tín dụng được tự do chiết khấu tại bất kỳ ngân hàng nào tại Hàn Quốc thì luật của Hàn Quốc vẫn được áp dụng.

Do ngân hàng Việt Nam không có khả năng thanh toán nợ đến hạn, ngân hàng chiết khấu Hàn Quốc đã kiện ngân hàng Việt Nam tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Theo phân tích trên đây, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giữa ngân hàng Việt Nam và Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, thẩm phán đã áp dụng pháp luật Việt Nam mà không có bất kỳ giải thích, lập luận nào.

Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, “để giúp các bên và tòa án trong việc xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng, chúng ta cần có những quy định cụ thể về nơi thực hiện hợp đồng”. Chẳng hạn, chúng ta có thể quy định nơi thực hiện hợp đồng là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng, tức là nơi đóng trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù đó. Mặt khác, cần đưa ra một danh sách nghĩa vụ đặc thù của những hợp đồng thông dụng như đối với hợp đồng mua bán là nghĩa vụ của người bán, hợp đồng ủy thác là nghĩa vụ của người nhận ủy thác, v.v… Cần lưu ý rằng trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành. Nếu các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng thì ngân hàng phải thanh toán khi đến hạn. Do đó, nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng là nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành, luật áp dụng là luật của Việt Nam. Trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu, nghĩa vụ đặc thù do ngân hàng chiết khấu thực hiện, luật áp dụng là luật của Hàn Quốc.

Nhận xét. Qua những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng quan điểm của thẩm phán mỗi nước có ý nghĩa quyết định đối với luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong giao dịch tín dụng chứng từ. Do tính chất phức tạp của các quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng nên có thể dẫn đến nhiều luật áp dụng cho một quan hệ hoặc mỗi quan hệ lại do một hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh. Vì thế, nên chăng các bên thỏa thuận rõ ràng, cụ thể nơi thực hiện hợp đồng trong giao dịch tín dụng thư?

Nhận xét so sánh

Hai hệ thống pháp luật đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài đối với giao dịch tín dụng chứng từ khi các bên không thỏa thuận về luật áp điều chỉnh. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, thẩm phán sẽ căn cứ vào quy phạm xung đột để xác định luật điều chỉnh.

Trong luật của Pháp, các quy phạm xung đột được quy định trong Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980, theo đó hợp đồng chịu sự điều chỉnh của luật của quốc gia mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất. Theo tinh thần của Công ước Rome, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia có nơi cư trú hoặc trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù vào thời điểm xác lập hợp đồng.

Căn cứ vào quy phạm xung đột của pháp luật Việt Nam, được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự, quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Do vậy, với những tiêu chí khác nhau, một quan hệ có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống luật khác nhau, tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia.

Tuy nhiên, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam đều phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình xác định nghĩa vụ đặc thù và nơi thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng, đặc biệt trong trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia vào giao dịch tín dụng chứng từ.

Kết luận

Qua việc nghiên cứu các vấn đề trong Chương I, chúng ta nhận thấy rằng số lượng các bản án liên quan đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực thư tín dụng còn rất hạn chế, trong khi đó, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được sử dụng khá phổ biến trong thương mại quốc tế, những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tại nhiều quốc gia khác nhau có thể dẫn đến các vấn đề xung đột pháp luật phức tạp.

Mỗi quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng biệt. Luật áp dụng cho hợp đồng thương mại không thể được áp dụng đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận với người thụ hưởng. Để xác định luật điều chỉnh phù hợp cho từng quan hệ, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố.

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng thẩm phán gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng đối với giao dịch thư tín dụng do các bên liên quan thường bất đồng về vấn đề này, luôn muốn tòa án áp dụng hệ thống luật có lợi cho mình. Từ đó, nên chăng đưa vào thư tín dụng một điều khoản về luật áp dụng ? Chúng ta hãy tìm hiểu khả năng này trong chương tiếp theo.

CHƯƠNG II. Sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ khi các bên lựa chọn áp dụng

UCP thừa nhận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia.

Theo giáo sư Stoufflet, “việc UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ không ngăn cản các bên loại trừ những quy định của UCP mà họ cảm thấy không phù hợp với lợi ích của mình. UCP đã quy định rõ ràng như vậy”. Do đó, các bên hoàn toàn có quyền không áp dụng UCP để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình. Pháp luật của Pháp (Phân đoạn I) và pháp luật Việt Nam (Phân đoạn II) có thừa nhận quyền lựa chọn này hay không ? Chúng ta cùng tìm câu trả lời.

I. Việc lựa chọn luật áp dụng tại Pháp

Khả năng lựa chọn

Theo Công ước Rome, “hợp đồng do pháp luật mà các bên lựa chọn điều chỉnh” và việc lựa chọn luật áp dụng “phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng” (Điều 3, khoản 1). Do vậy, có thể khẳng định rằng các bên có quyền chọn luật áp dụng. Lựa chọn này phải được tôn trọng. Như chúng ta đã đề cập, thư tín dụng thực chất là một hợp đồng, các quy định trên của Công ước Rome cũng được áp dụng đối với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, các bên có quyền chọn lựa một hệ thống pháp luật phù hợp với quan hệ hợp đồng và ở đây “khi tồn tại điều khoản về chọn luật áp dụng, sự lựa chọn này là bắt buộc”. Cần lưu ý rằng điều khoản này của Công ước thừa nhận các bên có quyền lựa chọn luật điều chỉnh cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng.

Hiệu lực bắt buộc

Khi các bên lựa chọn luật áp dụng thì lựa chọn đó trở thành một bộ phận của hợp đồng. Các hành vi vi phạm luật điều chỉnh tức là vi phạm hợp đồng. Thẩm phán và các bên liên quan đều chịu sự ràng buộc của luật điều chỉnh hợp đồng. Theo một số học giả, “trong hoạt động phát hành thư tín dụng, các ngân hàng thường đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP nhưng không hề nhắc đến luật quốc gia điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ”. Trong thực tế, việc lựa chọn pháp luật áp dụng vẫn chưa phổ biến. Chúng tôi không tìm thấy bản án nào của Pháp liên quan đến thư tín dụng chứa đựng điều khoản về dẫn chiếu luật áp dụng.

II. Việc lựa chọn luật áp dụng tại Việt Nam

Tự do lựa chọn

Theo Điều 769, khoản 1, Bộ luật Dân sự, “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. Trong trường hợp các bên xác định luật áp dụng thì có thể kết luận rằng các bên đã có thỏa thuận khác. Do vậy, pháp luật do các bên lựa chọn sẽ được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng của họ. Các văn bản pháp luật khác của Việt Nam cũng thừa nhận quyền lựa chọn luật điều chỉnh.

Có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, các văn bản trên lại không quy định rõ ràng thời điểm các bên thực hiện quyền lựa chọn. Theo quan điểm của chúng tôi, các bên có thể lựa chọn luật điều chỉnh trong quá trình xác lập hợp đồng hoặc một thời gian sau đó, ví dụ khi phát sinh tranh chấp tại tòa án.

Thực tế

Vào thời điểm hiện tại, các thư tín dụng do ngân hàng ở Việt Nam phát hành chỉ chứa đựng duy nhất điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP mà không đề cập đến luật điều chỉnh thư tín dụng. Dường như các ngân hàng không quan tâm đến khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia mà cho rằng mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng đều được quy định trong UCP. Đó là một sai lầm bởi như chúng ta đã phân tích ở trên, có nhiều tình huống mà việc áp dụng pháp luật quốc gia là cần thiết, nhất là trong trường hợp gian lận.

Nhận xét so sánh

Pháp luật của Pháp và Việt Nam đều cho phép các bên trong hợp đồng lựa chọn luật áp dụng. Nhận thức rõ về những khó khăn trong việc xác định luật áp dụng khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh, nên chăng các bên thỏa thuận trước về vấn đề này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, việc đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng không đơn giản. Lựa chọn luật áp dụng giúp bảo đảm tính an toàn về pháp lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp bởi các bên liên quan đã tìm hiểu về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên việc đưa ra vấn đề chọn luật từ thời điểm xác lập thư tín dụng có thể gây ra sự hiểu lầm giữa các đối tác. Nếu các bên quyết định lựa chọn luật áp dụng cho giao dịch tín dụng chứng từ thì họ có thể bổ sung vào thư tín dụng điều khoản dẫn chiếu như sau: “Đối với mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng này mà không được quy định trong Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất thì sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm thực chất của pháp luật quốc gia nơi ngân hành phát hành có trụ sở”, bởi như chúng ta đã nghiên cứu, đối với hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát hành là chủ thể thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Kết luận

Theo quan điểm của chúng tôi, sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với giao dịch tín dụng chứng từ là cần thiết vì những lý do mà giáo sư Legeais đã nêu. Trong đó, trường hợp gian lận có tầm quan trọng nhất bởi các vấn đề liên quan đến gian lận không được UCP quy định.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp phát sinh, các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng bằng cách đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu về luật áp dụng. Các bên liên quan cũng có quyền loại trừ việc áp dụng toàn bộ hoặc một số quy định của UCP mà họ cho rằng không có lợi cho quan hệ hợp đồng.

Nên chăng các cơ quan lập pháp của Pháp và Việt Nam ban hành văn bản pháp luật về giao dịch tín dụng chứng từ. Các văn bản này sẽ quy định cụ thể các vấn đề không được đề cập trong UCP.

Kết luận chung

Phần hai tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ. Có một số điểm giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia cho dù các bên có lựa chọn hay không. Tuy nhiên, khi không có điều khoản dẫn chiếu trong hợp đồng, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng cho tranh chấp thư tín dụng.

Một điểm tương đồng nữa cần lưu ý, đó là khi các bên trong giao dịch thư tín dụng không lựa chọn luật áp dụng thì việc giải quyết tranh chấp tại tòa án sẽ khá phức tạp. Do đó, các bên liên quan nên dự trù luật điều chỉnh trong quá trình xác lập thư tín dụng.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam. Thẩm phán của hai nước xác định luật áp dụng trên cơ sở những tiêu chí khác nhau. Ở Pháp, đó là nguyên tắc hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nước có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù. Ở Việt Nam, hợp đồng lại chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nên chăng pháp luật Việt Nam quy định cụ thể nơi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, chẳng hạn như là địa điểm thực hiện nghĩa vụ đặc thù.


SOURCE: Trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (tand.hochiminhcity.gov.vn)

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: SO SÁNH PHÁP VÀ VIỆT NAM

Chuyên đề 3

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ – So sánh Pháp và Việt Nam

Giới thiệu

Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ (UCP) không có tính chất áp dụng bắt buộc. Nó chỉ được áp dụng trong quan hệ thư tín dụng khi các bên lựa chọn hay với vai trò là tập quán quốc tế. Tuy nhiên, bản quy tắc này đã bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thương mại. Do đó, các chủ thể trong quan hệ tín dụng chứng từ có ý định vận dụng quy định của luật quốc gia trong lĩnh vực này.

Theo giáo sư Legeais, « bên cạnh UCP, việc áp dụng các quy định khác chỉ xảy ra trong ba trường hợp. Thứ nhất, vấn đề cần điều chỉnh không được UCP quy định. Ví dụ như gian lận. Ttrong trường hợp có nhiều bất đồng ý kiến về định nghĩa thế nào là gian lận thì việc xác định luật áp dụng rất quan trọng vì thẩm phán sẽ xem xét hành vi gian lận trên cơ sở luật áp dụng đối với quan hệ thư tín dụng. Thứ hai, thư tín dụng hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh của UCP. Thứ ba, các bên loại trừ việc áp dụng một số quy định cụ thể của UCP trong thư tín dụng ».

Một tác giả khác cũng ủng hộ quan điểm của giáo sư Legeais « mặc dù UCP đã quy định khá chi tiết về tín dụng chứng từ, việc dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia vẫn rất cần thiết ». Tuy nhiên, việc xác định luật áp dụng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của các quan hệ pháp lý trong giao dịch thư tín dụng.

Khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh thư tín dụng (Chương I), thẩm phán sẽ áp dụng quy phạm xung đột pháp luật để xác định hệ thống pháp luật phù hợp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thẩm phán mất nhiều thời gian và công sức trong việc xác định luật điều chỉnh. Vì thế, một câu hỏi đặt ra rằng liệu các bên có nên thỏa thuận trong hợp đồng về luật áp dụng để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình hay không (Chương II).

CHƯƠNG I

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA

ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

KHI CÁC BÊN KHÔNG LỰA CHỌN LUẬT ÁP DỤNG

Trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng lưu thông trong thương mại quốc tế đều không có điều khoản dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia. Trong trường hợp đó, luật áp dụng sẽ được xác định căn cứ vào quy phạm xung đột pháp luật trong các công ước quốc tế hoặc trong pháp luật quốc gia. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu việc xác định luật điều chỉnh trong theo pháp luật của Pháp và theo pháp luật Việt Nam.

I – Việc xác định luật áp dụng tại Pháp

Tiêu chí.

Thư tín dụng thực chất là một dạng hợp đồng tín dụng. Do đó, chắc chắn thư tín dụng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Rome về luật áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng[3]. Khi các bên có liên quan không lựa chọn luật áp dụng theo các quy định của Công ước Rome thì hợp đồng sẽ do pháp luật của nước mà hợp đồng đó có « mối liên hệ mật thiết nhất » điều chỉnh.

Nghĩa vụ đặc thù.

Khi các bên không lựa chọn luật áp dụng thì theo Công ước Rome, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất (điều 4, khoản 1). Bên cạnh đó, Công ước Rome cũng quy định rằng hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính (điều 4, khoản 2). Vì thế, theo Công ước Rome, luật áp dụng đối với hợp đồng là luật của nước mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính. Như vậy, phải xác định chủ thể nào thực hiện « nghĩa vụ đặc thù » của hợp đồng. Đối với giao dịch tín dụng chứng từ, để xác định nghĩa vụ đặc thù thì trước tiên phải tìm ra mối quan hệ giữa các bên.

1- Trường hợp có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Ngân hàng phát hành và người thụ hưởng.

Theo giáo sư Legeais, « khi chỉ có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng thì sẽ có hai lựa chọn cho luật áp dụng : luật của ngân hàng phát hành và luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng. Lựa chọn thứ hai tỏ ra có lợi cho người thụ hưởng và cũng được nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tín dụng chứng từ ủng hộ. Tuy nhiên, một số ý kiến khác[4] lại cho rằng nếu áp dụng luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng thì điều đó không phù hợp với quy định của điều 4, khoản 2, Công ước Rome. Do đó, áp dụng luật của ngân hàng phát hành hợp lý hơn ». Các thẩm phán Pháp nghiêng về quan điểm này. Bản án của Tòa phúc thẩm Versailles dưới đây là tranh chấp đầu tiên ở Pháp liên quan đến xung đột pháp luật trong giao dịch thư tín dụng dự phòng.

Án lệ.

Trong vụ việc này, Egyptair đã bán cho một công ty Ai-len mười bốn chiếc máy bay. Các bên thỏa thuận giao hàng trong hai năm. Bên cạnh đó, nhà nhập khẩu Ai-len phải ký quỹ một khoản là 15 008 000 USD, tức là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay. Việc hoàn trả khoản tiền này được đảm bảo trong trường hợp hàng hóa giao không phù hợp thỏa thuận, bởi một thư tín dụng dự phòng do Union des Banques Arabes et Françaises, ở Paris phát hành theo yêu cầu của Egyptair. Trong trường hợp này, mục đích của thư tín dụng nhằm đảm bảo việc hoàn trả khoản tiền ký quỹ trên và người yêu cầu mở thư tín dụng là công ty Egyptair. Các bên thỏa thuận rằng thư tín dụng này do UCP điều chỉnh. Người mua Ai-len có quyền yêu cầu trả vào một tài khoản tại New York, một khoản tiền là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay, với điều kiện xuất trình một hối phiếu trả ngay và bằng chứng cho thấy rằng Egyptair đã không giao máy bay đúng theo điều kiện của hợp đồng. Nhà nhập khẩu Ai-len khẳng định rằng luật điều chỉnh quan hệ này là luật của bang New York, cụ thể là Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform commercial code), phần V về thư tín dụng. Việc áp dụng luật của bang New York sẽ mang lại lợi ích cho nhà nhập khẩu Ai-len vì điều 5-114 quy định rằng ngân hàng phát hành phải thanh toán thư tín dụng trong trường hợp phát hiện gian lận trong khi đó theo Tòa án Pháp thì có dấu hiệu lạm dụng, lừa dối.

Đối với tranh chấp này, Tòa phúc thẩm Versailles phải giải quyết hai vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phân tích lập luận của của thẩm phán liên quan đến luật áp dụng đối với tranh chấp có sự tham gia của các công ty có trụ sở tại nhiều quốc gia. Ba lựa chọn được đặt ra : luật của bang New York có thể được áp dụng bởi đó là luật của nước nơi thư tín dụng được thanh toán ; luật của Ai Cập là nơi người yêu cầu mở thư tín dụng có trụ sở (công ty Egyptair) ; luật của Pháp là nơi ngân hàng phát hành có trụ sở. Tuy nhiên, Tòa án nhận định rằng « các bên đã thỏa thuận chọn UCP để điều chỉnh thư tín dụng, do đó phải áp dụng luật của Pháp, là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng (tức là hành động từ chối hoặc chấp nhận thanh toán của ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra chứng từ, không phải là hành động chuyển tiền « thực chất » vào tài khoản). Hơn nữa, Pháp cũng đồng thời là nơi đóng trụ sở của ngân hàng phát hành và là nơi ký kết hợp đồng. Việc áp dụng luật của Mỹ, nơi thanh toán thư tín dụng là không hợp lý vì thư tín dụng được thanh toán bằng đô la Mỹ nên số tiền của thư tín dụng được chuyển vào một tài khoản ở Mỹ »[6]. Các thẩm phán cho rằng Pháp là nước có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, luật của Pháp, nơi ngân hàng phát hành có trụ sở, sẽ được áp dụng. Hơn nữa, việc áp dụng luật của Pháp sẽ dẫn đến việc áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất và giúp bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch ngân hàng trong lĩnh vực này.

Ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng.

Để bảo vệ tốt hơn lợi ích của mình, người thụ hưởng luôn mong muốn một ngân hàng khác xác nhận thư tín dụng. Thông thường ngân hàng thông báo đồng thời là ngân hàng xác nhận. Trong trường hợp đó, ngân hàng này sẽ cam kết thanh toán trực tiếp và độc lập cho người thụ hưởng. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng giống như quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng. Do vậy, việc xác định luật áp dụng sẽ tương tự như quan hệ trên. Trên thực tế, khi ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch thư tín dụng thì luật điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng và người thụ hưởng sẽ là luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở.

Theo một phán quyết của Tòa án liên bang Thụy Sỹ, « cam kết của ngân hàng xác nhận dành cho người thụ hưởng tương tự như cam kết của ngân hàng phát hành. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở ». Các thẩm phán của Anh cũng tuân theo nguyên tắc này với nhận định rằng « luật áp dụng trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến cam kết của ngân hàng xác nhận thư tín dụng quốc tế là luật của nước nơi thư tín dụng được thực hiện ».

Ở Pháp, chúng tôi không tìm thấy án lệ về vấn đề này. Tuy nhiên các học giả của Pháp cũng ủng hộ quan điểm của các thẩm phán Anh và Thụy Sỹ với quan điểm rằng « đối với giao dịch tín dụng chứng từ, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở, nếu không có thỏa thuận khác ». Giáo sư Vasseur cho cho rằng « đối với việc xác nhận thư tín dụng, luật áp dụng là luật của nước nơi ngân hàng xác nhận có trụ sở ».

2- Trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Giới thiệu.

Vấn đề về luật áp dụng trở nên phức tạp hơn khi có sự tham gia của nhiều ngân hàng vào giao dịch tín dụng chứng từ. Chúng ta có thể nghĩ đến một giải pháp duy nhất và áp dụng luật của nước nơi ngân hàng phát hành có trụ sở cho tất cả mối quan hệ phát sinh từ thư tín dụng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại cho rằng mỗi quan hệ cần phải chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng. Trên thực tế có rất nhiều tranh chấp về thư tín dụng có sự liên quan của nhiều ngân hàng ở các quốc gia khác nhau. Phán quyết của tòa án Anh sau đây là một ví dụ.

Án lệ. Phán quyết này của thẩm phán Justice Mance liên quan đến luật điều chỉnh thư tín dụng thương mại theo Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980. Tuy đây là một bản án của Anh nhưng vì nó áp dụng Công ước Rome và Pháp cũng là thành viên của Công ước này nên việc nghiên cứu phán quyết của thẩm phán Anh sẽ giúp chúng ta tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu.

Một ngân hàng tại Ấn Độ, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu Ấn Độ, đã phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng là một công ty có trụ sở tại London (Anh) nhằm thanh toán hợp đồng mua bán sản phẩm luyện kim. Thư tín dụng được xác nhận bởi một ngân hàng Ấn Độ, chi nhánh tại London. Ngân hàng xác nhận đã thanh toán khoản tiền theo thư tín dụng. Sau đó, ngân hàng phát hành phát hiện ra rằng các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình là giả mạo và do đó từ chối trả tiền cho ngân hàng xác nhận. Tranh chấp này sẽ do pháp luật quốc gia nào điều chỉnh ? Vì có nhiều mối quan hệ phát sinh trong giao dịch tín dụng chứng từ trên nên sẽ có nhiều giả thiết về luật áp dụng được đặt ra.

Quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận là hợp đồng đại diện với nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng là việc xác nhận thư tín dụng. Đó là mục đích mà ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch này. Luật áp dụng là luật của Anh bởi vì chi nhánh ngân hàng tại Anh cam kết xác nhận thư tín dụng. Theo thẩm phán Mance, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng do luật của Anh điều chỉnh căn cứ vào điều 4, khoản 2, Công ước Rome.

Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành tại Ấn Độ và người thụ hưởng tại Anh sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia nào? Theo điều 4, khoản 2, luật áp dụng là luật của Ấn Độ. Do vậy, có thể nhận định rằng một quan hệ tín dụng chứng từ có thể do hai hệ thống pháp luật khác nhau điều chỉnh, tùy thuộc vào việc người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận thanh toán. Theo thẩm phán Mance, giải pháp này sẽ gặp nhiều bất cập. Trên thực tế, ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người thụ hưởng và yêu cầu ngân hàng phát hành trả tiền lại cho mình, tranh chấp này sẽ do luật của Anh điều chỉnh. Nhưng nếu người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành tại Ấn Độ thanh toán thi tranh chấp này do luật của Ấn Độ điều chỉnh.

Để vụ việc sáng tỏ hơn, thẩm phán Mance căn cứ vào điều 4, khoản 5 của Công ước Rome theo đó : « Các quy định tại khoản 2, 3 và 4 sẽ không được áp dụng trong trường hợp hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với một nước khác ». Do đó, trong trường hợp thư tín dụng được xác nhận theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thì mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ do luật của Anh điều chỉnh vì hợp đồng tín dụng đó có mối liên hệ mật thiết nhất với London, nơi có trụ sở của ngân hàng xác nhận.

Án lệ (tiếp).

Năm 1992, Tòa thương mại Paris cũng giải quyết một vụ việc phức tạp tương tự. Công ty Total (Liban) ký hợp đồng mua một tàu chở dầu với một công ty của Panama, thanh toán bằng thư tín dụng do một ngân hàng tại Liban phát hành. Khoản tiền của thư tín dụng được thanh toán tại tại Geneva (Thụy Sỹ). Ngân hàng Liban yêu cầu ngân hàng Saradar (Pháp) xác nhận thư tín dụng và ngân hàng Bruxelles-Lambert đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo vừa là ngân hàng xác nhận. Như vậy, có hai ngân hàng tại Pháp và Thụy Sỹ xác nhận thư tín dụng trên.

Ngày 24 tháng 10, người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng Bruxelles-Lambert và ngày 29 tháng 10, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng các chứng từ hoàn toàn phù hợp và họ đồng ý thanh toán lại cho ngân hàng Thụy Sỹ vào ngày 16 tháng 12. Do đó, ngân hàng Bruxelles-Lambert đã thanh toán khoản tiền của thư tín dụng cho người thụ hưởng. Về phía người yêu cầu mở thư tín dụng, sau khi nhận được các chứng từ, công ty Total (Liban) nhận lô hàng vào ngày 5 tháng 12.

Đến ngày 12 tháng 12, tức là đã vượt quá « thời hạn hợp lý » để từ chối chứng từ theo quy định của UCP, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng phát hiện điểm bất hợp lệ trong bộ chứng từ và từ chối thanh toán. Ngân hàng Thụy Sỹ khởi kiện ra Tòa thương mại Paris và ngân hàng của Pháp buộc phải thanh toán cho ngân hàng Thụy Sỹ. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là luật quốc gia nào sẽ áp dụng cho tranh chấp giữa hai ngân hàng này ?

Ngân hàng Bruxelles-Lambert cho rằng luật áp dụng là luật Thụy Sỹ vì « nghĩa vụ đặc thù trong giao dịch tín dụng chứng từ là việc thanh toán thư tín dụng, được thực hiện tại Thụy Sỹ ». Hơn nữa, các quy định của luật Thụy Sỹ về thư tín dụng sẽ có lợi cho ngân hàng Bruxelles-Lambert hơn là luật của Pháp. Tòa án Pháp nhận định rằng, trong mối quan hệ giữa ngân hàng Bruxelles-Lambert (Thụy Sỹ) và ngân hàng Saradar (Pháp), ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đặc thù là ngân hàng Saradar vì đó là « nghĩa vụ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán sau khi kiểm tra bộ chứng từ hoặc từ chối nếu chứng từ không phù hợp ». Trong vụ việc này, ngân hàng Saradar có nghĩa vụ thanh toán lại cho ngân hàng Bruxelles-Lambert khoản tiền mà ngân hàng này đã trả cho người thụ hưởng.

Nhận xét. Công ước Rome có vai trò rất quan trọng trong việc xác định luật áp dụng trong các tranh chấp tại Pháp. Nó thay thế hoàn toàn cho các quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia. Hơn nữa, do sự phức tạp của những mối quan hệ hợp đồng phát sinh từ giao dịch thư tín dụng, các tiêu chí của Công ước cần phải được vận dụng một cách riêng biệt. Cần lưu ý rằng việc áp dụng những tiêu chí này có thể dẫn đến áp dụng một hệ thống luật cho nhiều quan hệ.

II – Việc xác định luật áp dụng tại Việt Nam

Văn bản pháp luật.

Theo pháp luật Việt Nam, khi các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng.

Do đó, cần xác định nơi thực hiện thư tín dụng. Điều này quả thật không dễ dàng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng hoặc giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận/ngân hàng chiết khấu, nơi thực hiện hợp đồng ở địa điểm nào ? Các quan hệ hợp đồng giữa các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ là khác nhau, vì thế nơi thực hiện hợp đồng tín dụng cũng sẽ khác nhau.

Bên cạnh đó, trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Điều 284, khoản 2(b) của Bộ luật dân sự quy định rằng trong trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.

Bản án.

Để hiểu rõ hơn về những khó khăn trong việc xác định nơi thực hiện thư tín dụng, chúng ta cùng lấy một ví dụ, đó là tranh chấp do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết liên quan đến thư tín dụng giữa các công ty Việt Nam và Hàn Quốc.

Công ty L.G. (Hàn Quốc) và công ty C&T (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán dây đồng. Hợp đồng có điều khoản quy định về việc mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ hưởng là công ty L.G. Ngân hàng V.H. phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của công ty C&T. Ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul là ngân hàng thông báo. Thư tín dụng hết hiệu lực vào ngày 20 tháng 8 năm 1996 tại Hàn Quốc.

Theo các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng, thư tín dụng có thời hạn 360 ngày, thanh toán bằng hối phiếu tại ngân hàng V.H. Người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành và nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt là phù hợp thì ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng khi đến hạn. Như chúng ta đã tìm hiểu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một cam kết mà ngân hàng phát hành dành cho người thụ hưởng và người thụ hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán cho mình số tiền trong thư tín dụng với điều kiện chứng từ phù hợp. Theo điều 284, khoản 2(b), Bộ luật dân sự, địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi có trụ sở của bên có quyền, tức là tại nơi có trụ sở của công ty Hàn Quốc.

Tuy nhiên về các vụ việc có yếu tố tương tự do tòa án Singapore giải quyết, thẩm phán Singapore lại nhận định rằng « trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì luật áp dụng là luật của nước có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nơi thanh toán thư tín dụng. Do đó, quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật nơi thực hiện việc thanh toán ». Thẩm phán cho rằng người thụ hưởng có nghĩa vụ xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành bởi thư tín dụng chỉ được thanh toán khi ngân hàng phát hành chấp nhận hối phiếu. Nếu nhìn nhận vụ việc trên theo quan điểm của các thẩm phán Singapore, nơi thực hiện hợp đồng tín dụng sẽ là Việt Nam, vì thế luật Việt Nam sẽ được áp dụng.

Xem xét các yếu tố khác của thư tín dụng cho thấy ngân hàng thông báo được phép chiết khấu thư tín dụng. Do vậy, ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul có thể tham gia với tư cách ngân hàng thông báo và ngân hàng chiết khấu. Nó có quyền chiết khấu bộ chứng từ nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng. Giả sử người thụ hưởng Hàn Quốc không xuất trình chứng từ tại ngân hàng phát hành Việt Nam mà xuất trình tại ngân hàng ABN-AMRO. Sau khi kiểm tra, ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ và thanh toán cho người thụ hưởng. Sau đó, ABN-AMRO có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành hoàn trả lại số tiền đã thanh toán. Trong trường hợp này, theo điều 284, khoản 2(b), nơi thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc.

Tuy nhiên, trên thực tế, ngân hàng Korea Exchange Bank đã chiết khấu chứng từ. Các học giả cho rằng « cho dù thư tín dụng được phép chiết khấu bởi ngân hàng thông báo hoặc bởi bất kỳ ngân hàng nào thì luật áp dụng cho quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu không có gì thay đổi ». Nếu thư tín dụng được tự do chiết khấu tại bất kỳ ngân hàng nào tại Hàn Quốc thì luật của Hàn Quốc vẫn được áp dụng.

Do ngân hàng Việt Nam không có khả năng thanh toán nợ đến hạn, ngân hàng chiết khấu Hàn Quốc đã kiện ngân hàng Việt Nam tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Theo phân tích trên đây, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giữa ngân hàng Việt Nam và Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, thẩm phán đã áp dụng pháp luật Việt Nam mà không có bất kỳ giải thích, lập luận nào.

Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, « để giúp các bên và tòa án trong việc xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng, chúng ta cần có những quy định cụ thể về nơi thực hiện hợp đồng ». Chẳng hạn, chúng ta có thể quy định nơi thực hiện hợp đồng là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng, tức là nơi đóng trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù đó. Mặt khác, cần đưa ra một danh sách nghĩa vụ đặc thù của những hợp đồng thông dụng như đối với hợp đồng mua bán là nghĩa vụ của người bán, hợp đồng ủy thác là nghĩa vụ của người nhận ủy thác, v.v… Cần lưu ý rằng trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành. Nếu các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng thì ngân hàng phải thanh toán khi đến hạn. Do đó, nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng là nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành, luật áp dụng là luật của Việt Nam. Trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu, nghĩa vụ đặc thù do ngân hàng chiết khấu thực hiện, luật áp dụng là luật của Hàn Quốc.

Nhận xét. Qua những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng quan điểm của thẩm phán mỗi nước có ý nghĩa quyết định đối với luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong giao dịch tín dụng chứng từ. Do tính chất phức tạp của các quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng nên có thể dẫn đến nhiều luật áp dụng cho một quan hệ hoặc mỗi quan hệ lại do một hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh. Vì thế, nên chăng các bên thỏa thuận rõ ràng, cụ thể nơi thực hiện hợp đồng trong giao dịch tín dụng thư ?

Nhận xét so sánh.

Hai hệ thống pháp luật đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài đối với giao dịch tín dụng chứng từ khi các bên không thỏa thuận về luật áp điều chỉnh. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, thẩm phán sẽ căn cứ vào quy phạm xung đột để xác định luật điều chỉnh.

Trong luật của Pháp, các quy phạm xung đột được quy định trong Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980, theo đó hợp đồng chịu sự điều chỉnh của luật của quốc gia mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất. Theo tinh thần của Công ước Rome, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia có nơi cư trú hoặc trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù vào thời điểm xác lập hợp đồng.

Căn cứ vào quy phạm xung đột của pháp luật Việt Nam, được cụ thể hóa trong Bộ luật dân sự, quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Do vậy, với những tiêu chí khác nhau, một quan hệ có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống luật khác nhau, tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia.

Tuy nhiên, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam đều phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình xác định nghĩa vụ đặc thù và nơi thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng, đặc biệt trong trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia vào giao dịch tín dụng chứng từ.

Kết luận

Qua việc nghiên cứu các vấn đề trong chương I, chúng ta nhận thấy rằng số lượng các bản án liên quan đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực thư tín dụng còn rất hạn chế, trong khi đó, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được sử dụng khá phổ biến trong thương mại quốc tế, những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tại nhiều quốc gia khác nhau có thể dẫn đến các vấn đề xung đột pháp luật phức tạp.

Mỗi quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng biệt. Luật áp dụng cho hợp đồng thương mại không thể được áp dụng đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận với người thụ hưởng. Để xác định luật điều chỉnh phù hợp cho từng quan hệ, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố.

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng thẩm phán gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng đối với giao dịch thư tín dụng do các bên liên quan thường bất đồng về vấn đề này, luôn muốn tòa án áp dụng hệ thống luật có lợi cho mình. Từ đó, nên chăng đưa vào thư tín dụng một điều khoản về luật áp dụng ? Chúng ta hãy tìm hiểu khả năng này trong chương tiếp theo.

CHƯƠNG II

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA

ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

KHI CÁC BÊN LỰA CHỌN ÁP DỤNG

UCP thừa nhận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia.

Theo giáo sư Stoufflet, « việc UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ không ngăn cản các bên loại trừ những quy định của UCP mà họ cảm thấy không phù hợp với lợi ích của mình. UCP đã quy định rõ ràng như vậy ». Do đó, các bên hoàn toàn có quyền không áp dụng UCP để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình. Pháp luật của Pháp (Phân đoạn I) và pháp luật Việt Nam (Phân đoạn II) có thừa nhận quyền lựa chọn này hay không ? Chúng ta cùng tìm câu trả lời.

I – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Pháp

Khả năng lựa chọn.

Theo Công ước Rome, « hợp đồng do pháp luật mà các bên lựa chọn điều chỉnh » và việc lựa chọn luật áp dụng « phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng » (điều 3, khoản 1). Do vậy, có thể khẳng định rằng các bên có quyền chọn luật áp dụng. Lựa chọn này phải được tôn trọng. Như chúng ta đã đề cập, thư tín dụng thực chất là một hợp đồng, các quy định trên của Công ước Rome cũng được áp dụng đối với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, các bên có quyền chọn lựa một hệ thống pháp luật phù hợp với quan hệ hợp đồng và ở đây « khi tồn tại điều khoản về chọn luật áp dụng, sự lựa chọn này là bắt buộc ». Cần lưu ý rằng điều khoản này của Công ước thừa nhận các bên có quyền lựa chọn luật điều chỉnh cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng.

Hiệu lực bắt buộc.

Khi các bên lựa chọn luật áp dụng thì lựa chọn đó trở thành một bộ phận của hợp đồng. Các hành vi vi phạm luật điều chỉnh tức là vi phạm hợp đồng. Thẩm phán và các bên liên quan đều chịu sự ràng buộc của luật điều chỉnh hợp đồng. Theo một số học giả, « trong hoạt động phát hành thư tín dụng, các ngân hàng thường đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP nhưng không hề nhắc đến luật quốc gia điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ ». Trong thực tế, việc lựa chọn pháp luật áp dụng vẫn chưa phổ biến. Chúng tôi không tìm thấy bản án nào của Pháp liên quan đến thư tín dụng chứa đựng điều khoản về dẫn chiếu luật áp dụng.

II – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Việt Nam

Tự do lựa chọn.

Theo điều 769, khoản 1, Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ». Trong trường hợp các bên xác định luật áp dụng thì có thể kết luận rằng các bên đã có thỏa thuận khác. Do vậy, pháp luật do các bên lựa chọn sẽ được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng của họ. Các văn bản pháp luật khác của Việt Nam cũng thừa nhận quyền lựa chọn luật điều chỉnh.

Có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, các văn bản trên lại không quy định rõ ràng thời điểm các bên thực hiện quyền lựa chọn. Theo quan điểm của chúng tôi, các bên có thể lựa chọn luật điều chỉnh trong quá trình xác lập hợp đồng hoặc một thời gian sau đó, ví dụ khi phát sinh tranh chấp tại tòa án.

Thực tế.

Vào thời điểm hiện tại, các thư tín dụng do ngân hàng ở Việt Nam phát hành chỉ chứa đựng duy nhất điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP mà không đề cập đến luật điều chỉnh thư tín dụng. Dường như các ngân hàng không quan tâm đến khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia mà cho rằng mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng đều được quy định trong UCP. Đó là một sai lầm bởi như chúng ta đã phân tích ở trên, có nhiều tình huống mà việc áp dụng pháp luật quốc gia là cần thiết, nhất là trong trường hợp gian lận.

Nhận xét so sánh.

Pháp luật của Pháp và Việt Nam đều cho phép các bên trong hợp đồng lựa chọn luật áp dụng. Nhận thức rõ về những khó khăn trong việc xác định luật áp dụng khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh, nên chăng các bên thỏa thuận trước về vấn đề này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, việc đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng không đơn giản. Lựa chọn luật áp dụng giúp bảo đảm tính an toàn về pháp lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp bởi các bên liên quan đã tìm hiểu về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên việc đưa ra vấn đề chọn luật từ thời điểm xác lập thư tín dụng có thể gây ra sự hiểu lầm giữa các đối tác. Nếu các bên quyết định lựa chọn luật áp dụng cho giao dịch tín dụng chứng từ thì họ có thể bổ sung vào thư tín dụng điều khoản dẫn chiếu như sau : « Đối với mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng này mà không được quy định trong Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất thì sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm thực chất của pháp luật quốc gia nơi ngân hành phát hành có trụ sở », bởi như chúng ta đã nghiên cứu, đối với hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát hành là chủ thể thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Kết luận

Theo quan điểm của chúng tôi, sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với giao dịch tín dụng chứng từ là cần thiết vì những lý do mà giáo sư Legeais đã nêu. Trong đó, trường hợp gian lận có tầm quan trọng nhất bởi các vấn đề liên quan đến gian lận không được UCP quy định.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp phát sinh, các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng bằng cách đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu về luật áp dụng. Các bên liên quan cũng có quyền loại trừ việc áp dụng toàn bộ hoặc một số quy định của UCP mà họ cho rằng không có lợi cho quan hệ hợp đồng.

Nên chăng các cơ quan lập pháp của Pháp và Việt Nam ban hành văn bản pháp luật về giao dịch tín dụng chứng từ. Các văn bản này sẽ quy định cụ thể các vấn đề không được đề cập trong UCP.

Kết luận chung

Phần hai tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ. Có một số điểm giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia cho dù các bên có lựa chọn hay không. Tuy nhiên, khi không có điều khoản dẫn chiếu trong hợp đồng, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng cho tranh chấp thư tín dụng.

Một điểm tương đồng nữa cần lưu ý, đó là khi các bên trong giao dịch thư tín dụng không lựa chọn luật áp dụng thì việc giải quyết tranh chấp tại tòa án sẽ khá phức tạp. Do đó, các bên liên quan nên dự trù luật điều chỉnh trong quá trình xác lập thư tín dụng.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam. Thẩm phán của hai nước xác định luật áp dụng trên cơ sở những tiêu chí khác nhau. Ở Pháp, đó là nguyên tắc hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nước có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù. Ở Việt Nam, hợp đồng lại chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nên chăng pháp luật Việt Nam quy định cụ thể nơi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, chẳng hạn như là địa điểm thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Xuân Quỳnh
Khoa Quốc tế ĐH Luật TPHCM
Tháng 4-2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP

PHẠM XUÂN QUỲNH – ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Chuyên đề 2

KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA UCP ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Bản Quy tắc và Thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (Uniformes Customs and Pratice for Documentary Credits -UCP) là kết quả của việc tập hợp những tập quán được hình thành bởi các chủ thể hoạt động trong thương mại quốc tế. Nó không có giá trị ràng buộc đối với Tòa án vì đó không phải là luật quốc gia mà cũng không phải là điều ước quốc tế. Do vậy, việc áp dụng những nguyên tắc này không đương nhiên. Phân tích từ góc độ pháp lý thì UCP được áp dụng để điều chỉnh thư tín dụng khi có sự lựa chọn của các bên về việc áp dụng những quy định này hoặc do tính chất tập quán của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên.

I. Khả năng áp dụng của UCP khi có sự lựa chọn của các bên

Lựa chọn

Học lý của Pháp thống nhất rằng UCP có tính chất như một hợp đồng mẫu. Như vậy, đối với các quy định của hợp đồng mẫu thì các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ có thể lựa chọn các quy định để điều chỉnh mối quan hệ của họ. Một tác giả nêu quan điểm rằng, « trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng phát hành trên thế giới đều chứa đựng một điều khoản áp dụng UCP, quy định này đồng thời cũng được nêu rõ trong hợp đồng mua bán ».

Trong rất nhiều vụ việc, chúng ta có thể thấy rằng các bên quyết định áp dụng UCP để điều chỉnh quan hệ của họ. Ví dụ, trong một tranh chấp do Tòa phúc thẩm Tunis giải quyết ngày 9 tháng 4 năm 2001, có sự tồn tại của « một thỏa thuận giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành, giao dịch này do Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ do Phòng Thương Mại Quốc Tế ấn hành ».

Trên thực tế, các bên có thể lựa chọn UCP để điều chỉnh mối quan hệ của họ ngay từ thời điểm mở thư tín dụng hoặc sau thời điểm đó. Ví dụ, khi phát sinh tranh chấp, nếu một bên muốn áp dụng các quy định của UCP và bên kia không phản đối thì UCP sẽ được áp dụng. Trong trường hợp này, chúng ta hiểu rằng các bên đã « ngầm » lựa chọn UCP. Vấn đề cần làm sáng tỏ thêm, đó là liệu việc các bên lựa chọn UCP có được thừa nhận ở Pháp và Việt Nam không.

Sự thừa nhận lựa chọn của các bên trong luật Pháp

Giá trị của việc lựa chọn

Khi các bên lựa chọn UCP thì các quy định của nó sẽ trở thành một bộ phận của hợp đồng. Vi phạm các quy định này tức là vi phạm hợp đồng. Theo luật của Pháp, cụ thể là điều 1134 Bộ luật dân sự, hợp đồng là « luật của các bên ». Nó có giá trị ràng buộc đối với các bên cũng như đối với thẩm phán giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng đó. Trên thực tế, khi các bên lựa chọn UCP để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ, Tòa án tối cao của Pháp cũng thừa nhận UCP có giá trị như hợp đồng và thẩm phán không được vi phạm những quy định này.

Ví dụ. Theo yêu cầu của công ty Rodier, ngân hàng Natexis Banques Populaires đã phát hành tám thư tín dụng cho người hưởng lợi là các nhà cung cấp hàng hóa nước ngoài. Không bên nào phản đối việc áp dụng UCP. Tòa án tối cao Pháp đã hủy bản án của Tòa phúc thẩm Douai căn cứ vào các điều 9, 13, 14 và 42 của UCP 500 và Điều 1134 BLDS Pháp. Cụ thể, bản án này liên quan đến tranh chấp giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành do ngân hàng từ chối bộ chứng từ bất hợp lệ. Người yêu cầu mở thư tín dụng, công ty Rodier phản đối Natexis Banques Populaires từ chối bộ chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. Rodier thông báo với ngân hàng rằng mình đồng ý thanh toán mặc dù có sai sót trong bộ chứng từ. Tòa phúc thẩm Douai nhận định rằng ngân hàng phát hành phải tuân theo quyết định của người yêu cầu mở thư tín dụng và do đó, tòa án đã buộc ngân hàng thanh toán khoản tiền trong thư tín dụng. Tuy nhiên quyết định này không nhận được sự đồng thuận của các thẩm phán Tòa án tối cao, họ cho rằng « ngân hàng phát hành không bị ràng buộc bởi các giao dịch trước đó với khách hàng, hoàn toàn có quyền từ chối chấp nhận các điểm bất hợp lệ và từ chối thanh toán, mặc dù đã tham khảo ý kiến của người yêu cầu mở thư tín dụng và được sự đồng ý của họ chấp thuận bỏ qua các điểm bất hợp lệ. Do đó, Tòa án tối cao nhận định rằng ngân hàng phát hành không bị ràng buộc bởi quyết định của khách hàng. Ví dụ trên cho thấy rằng khi các bên lựa chọn UCP thì thẩm phán phải tôn trọng các quy định của UCP như là luật điều chỉnh hợp đồng.

Sự thừa nhận lựa chọn của các bên trong luật Việt Nam

Thừa nhận rõ ràng

Việc thừa nhận UCP là tập quán cũng được đề cập trong các tài liệu chuyên ngành ở Việt Nam. Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ « đây là những tập quán, thông lệ quốc tế được Phòng thương mại quốc tế (Paris) pháp điển hóa ». Sự thừa nhận UCP như những tập quán thương mại quốc tế có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam cho phép các bên lựa chọn tập quán quốc tế để điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Căn cứ vào các văn bản này, các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế. Vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng các quy định của pháp luật Việt Nam thừa nhận sự lựa chọn của các bên liên quan đến việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế. Do UCP được thừa nhận như là tập quán quốc tế, các bên đều có quyền chọn lựa UCP để điều chỉnh quan hệ hợp đồng của họ.

Thừa nhận « ngầm »

Theo điều 769, khoản 1 Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theoo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ».

Căn cứ vào Bộ luật dân sự, luật áp dụng cho hợp đồng là luật của nước nơi thực hiện hợp đồng nếu các bên « không có thỏa thuận khác ». Khi các bên quyết định lựa chọn UCP tức là các bên đã có một thỏa thuận khác về luật áp dụng. Do đó, luật của nước nơi thực hiện hợp đồng sẽ không được áp dụng để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ. Chúng ta phải tôn trọng lựa chọn của các bên. Điều đó cho thấy nếu Bộ luật dân sự không cho phép rõ ràng các bên lựa chọn tập quán quốc tế thì nó cũng « ngầm » thừa nhận sự lựa chọn này.

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam thừa nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp lựa chọn áp dụng UCP của các bên tham gia giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng.

Ngoại lệ.

Trong trường hợp có sự khác biệt giữa luật quốc gia và tập quán quốc tế thì luật quốc gia phải được tuân thủ. Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, việc lựa chọn áp dụng tập quán chỉ được chấp nhận khi thỏa mãn một số điều kiện. Ví dụ như việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Nguyên tắc này cũng nhận được sự đồng thuận của các nhà soạn thảo UCP, « sự áp dụng của UCP đối với tín dụng chứng từ không ngăn cản việc Tòa án áp dụng pháp luật quốc gia. UCP không quy định về những khác biệt giữa UCP và luật quốc gia. Những tranh chấp phát sinh sẽ do Tòa án giải quyết ».

Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng, chúng tôi không tìm thấy bất cứ văn bản nào liên quan đến việc phát hành thư tín dụng cũng như những hoạt động của ngân hàng Việt Nam tham gia vào giao dịch tín dụng chứng từ. Do không có văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thư tín dụng và do sự phổ biến của UCP trong thương mại quốc tế, chúng ta có thể suy luận rằng các quy định của UCP không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Theo ông Nguyễn Trọng Thùy, « trên thực tế, không có khác biệt giữa tập quán quốc tế và pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng ».

Do đó, các bên tham gia vào hoạt động ngân hàng hoàn toàn có thể thỏa thuận áp dụng Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương Mại Quốc Tế. Theo quan điểm của nhiều tác giả, « tập quán do các bên lựa chọn là một bộ phận của hợp đồng. Vì thế, tuân thủ tập quán đó cũng là tuân thủ hợp đồng ». Ông Đỗ Tất Ngọc, chuyên gia về thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết : « UCP không được tự động áp dụng để điều chỉnh giao dịch thư tín dụng mà mang tính pháp lý tùy ý. Nghĩa là các bên tham gia có quyền lựa chọn áp dụng hay không áp dụng. Nhưng một khi đã đồng ý áp dụng thì các quy tắc sẽ ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên ».

Vướng mắc

Trên thực tế, trong nhiều thư tín dụng có một điều khoản nêu rằng « Trừ khi có quy định khác, thư tín dụng này căn cứ theo Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ, bản sửa đổi …, ấn bản ICC số… ». Liệu điều khoản này có được xem là một « lựa chọn rõ ràng » của các bên áp dụng UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng thư hay không ? Như chúng ta đã biết, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm sự cam kết của ngân hàng đối với người thụ hưởng. Tuy nhiên, còn có sự tham gia của nhiều chủ thể khác trong giao dịch này. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, điều khoản trên trong thư tín dụng có được xem như lựa chọn áp dụng UCP điều chỉnh quan hệ giữa các bên hay không ? Câu trả lời thật không đơn giản và chúng tôi cũng không tìm thấy ví dụ trong thực tiễn xét xử của tòa án.

Nhận xét so sánh

Được xem như những quy định của hợp đồng mẫu, các bên có thể lựa chọn UCP để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ. Lựa chọn này có thể được thực hiện ngay khi phát hành thư tín dụng hoặc sau một thời gian. Luật của Pháp và luật Việt Nam đều thừa nhận rằng một khi các bên đã lựa chọn UCP thì các quy định của nó là một phần cấu thành của hợp đồng. Do đó, tuân thủ UCP cũng là tuân thủ hợp đồng. Án lệ của Pháp đã khẳng định cụ thể nguyên tắc này. Ở Việt Nam, nhiều văn bản pháp luật (luật, nghị định) thừa nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyền lựa chọn áp dụng tập quán quốc tế của các bên, bao gồm cả UCP. Tuy nhiên, không phải lúc nào các bên cũng thể hiện rõ ràng sự lựa chọn áp dụng UCP. Trong trường hợp đó, UCP có được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ không ? Chúng ta hãy tìm câu trả lời trong phân đoạn sau.

II – Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên

Giới thiệu.

Đối với một thư tín dụng không có điều khoản nào liên quan đến việc áp dụng UCP thì thư tín dụng đó có chịu sự điều chỉnh của bản quy tắc này không ? Chúng ta sẽ nghiên cứu vấn đề này trong pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên theo pháp luật của Pháp

Học lý

Liên quan đến khả năng áp dụng của UCP trong trường hợp các bên không lựa chọn rõ ràng bản quy tắc, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Theo giáo sư Jean Stoufflet, khoa Luật và Khoa học chính trị của trường đại học Clermont-Ferrand, « UCP sẽ chắc chắn áp dụng đối với thư tín dụng có chứa đựng điều khoản về áp dụng UCP. Tuy nhiên trong trường hợp thư tín dụng không có dẫn chiếu đến UCP thì nó có được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ không ? Câu trả lời là không bởi vì bản quy tắc này vốn là một hợp đồng mẫu và chỉ được áp dụng khi các bên thể hiện sự lựa chọn trong hợp đồng ». Tuy nhiên, giáo sư Mohamed Salah, khoa Luật của trường đại học Nice, lại nêu quan điểm trái ngược, theo đó « khi các bên trong hợp đồng không lựa chọn UCP thì nó có áp dụng cho quan hệ thư tín dụng với tính chất là một tập quán được thừa nhận rộng rãi hay không, câu trả lời sẽ là .

Án lệ

Cả học lý và án lệ đều thừa nhận UCP là một tập quán thương mại quốc tế. Theo Marie Tilche, « bản quy tắc này có giá trị như tập quán »[15]. Tương tự, chúng ta có thể thấy rõ quan điểm này cũng được thể hiện trong các án lệ của Pháp. Ví dụ, Tòa phúc thẩm Versailles nhận định rằng « Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất và tín dụng chứng từ do ICC ấn hành năm 1993 có giá trị như luật tập quán »[16]. Với tính chất tập quán, UCP hoàn toàn có thể được áp dụng mặc dù không có sự lựa chọn của chủ thể tham gia quan hệ. Marie Tilche cho rằng, « trong trường hợp không có thỏa thuận giữa các bên, những nguyên tắc này đương nhiên được áp dụng »[17].

Án lệ (tiếp).

Ví dụ, công ty V.T.N. đặt hàng công ty G.F. gia công và cung ứng hàng may mặc. Người bán dự định giao hàng trong hai đợt. Ngân hàng B.F.C.C. đã phát hành thư tín dụng không hủy ngang cho người hưởng lợi là công ty G.F., thư tín dụng có hiệu lực đến ngày 20 tháng 4 năm 1998. Ngân hàng B.N.P. đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo, vừa là ngân hàng xác nhận. Tuy nhiên, lô hàng thứ hai được giao sau khi thư tín dụng đã hết hiệu lực và do đó, ngân hàng B.F.C.C. từ chối thanh toán cho người bán. Công ty G.F. đã khởi kiện ngân hàng B.F.C.C. tại Tòa thương mại Nanterre đòi thanh toán số tiền theo giá trị của thư tín dụng cùng với các khoản bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên tòa đã bác yêu cầu của G.F. Công ty này kháng án với lý lẽ « vì bất kỳ nguyên nhân nào, ngân hàng B.F.C.C. đã có lỗi trong việc không cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy theo điều 12 UCP 500 ».

Tòa phúc thẩm Versailles đã thừa nhận rằng giao dịch tín dụng chứng từ giữa công ty G.F. và ngân hàng B.F.C.C. chịu sự điều chỉnh của UCP. Cụ thể, Tòa nêu quan điểm rằng « do không có văn bản điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nên Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ do ICC ấn hành năm 1993 có giá trị như luật tập quán và được áp dụng khi không có thỏa thuận trái ngược của các bên tham gia về việc loại trừ một hoặc nhiều điểm cụ thể của Bản Quy Tắc, nhưng trong trường hợp này thì các bên không có thỏa thuận trái ngược nào ». Sau khi thừa nhận khả năng áp dụng của UCP, Tòa phúc thẩm đã vận dụng các quy định của UCP, bác yêu cầu của công ty G.F. theo điều 42, UCP 500, liên quan đến việc dự trù thời hạn hiệu lực của thư tín dụng[20] : « Việc gia hạn thời hạn hiệu lực của thư tín dụng phải được sự đồng ý của tất cả các bên liên quan như người mua, người bán, ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận. Mặt khác, thỏa thuận này phải được thể hiện rõ ràng trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng ».

Ví dụ trên cho thấy khi các bên không lựa chọn UCP để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ thì bản quy tắc này vẫn có thể được áp dụng với giá trị tập quán. Một nhà bình luận nêu quan điểm, « vì là một tập quán, UCP phải được áp dụng mặc dù các bên không thỏa thuận về việc áp dụng đó. Thực tiễn phong phú của thương mại quốc tế đã chứng minh vai trò không thể thiếu của tập quán ». Tòa thương mại Paris cũng đã thừa nhận hiệu lực bắt buộc của UCP với vai trò tập quán trong quá trình giải quyết một tranh chấp trong đó một bên tham gia cho rằng UCP chỉ là « những quy định mang tính chất gợi ý ». Tòa án đã bác bỏ lập luận này và nhận định rằng bản quy tắc « là tập hợp những tập quán hình thành từ thực tiễn thương mại quốc tế. Mặc dù không có sự lựa chọn của các bên, UCP vẫn là một nguồn luật điều chỉnh giao dịch nếu các bên không loại trừ việc áp dụng các quy định của nó ».

Nhận xét.

Chúng ta vừa nghiên cứu vai trò tập quán của UCP, theo đó, mặc dù không có sự thỏa thuận trước, các bên vẫn có thể áp dụng bản quy tắc này.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng UCP được áp dụng khi thỏa mãn một số điều kiện. Theo quan điểm của án lệ, người ta áp dụng UCP « khi không có văn bản khác điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ » và « bản quy tắc được áp dụng nếu các bên tham gia giao dịch « không loại trừ việc áp dụng các quy định của UCP ».

Nhận xét cuối cùng, đó là sự thừa nhận giá trị tập quán thương mại quốc tế của UCP không được thể hiện trong các văn bản pháp luật mà được hình thành từ các phán quyết của tòa án tại Pháp.

Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên theo pháp luật Việt Nam

Văn bản pháp luật.

Chúng ta có thể nhận thấy sự tương đồng giữa quan điểm của các thẩm phán Pháp và các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Theo đó, việc áp dụng tập quán quốc tế phải thỏa mãn một số điều kiện. Cụ thể quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật dân sự, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh, đồng thời việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Do đó, chúng ta kết luận rằng, với một số điều kiện nhất định, « tập quán quốc tế vẫn được áp dụng khi các bên không thỏa thuận ».

Ví dụ.

Hãy cùng nghiên cứu một ví dụ để làm sáng tỏ kết luận nêu trên. Đây là một tranh chấp do thẩm phán Việt Nam giải quyết căn cứ vào tập quán quốc tế mặc dù các bên không thỏa thuận việc áp dụng tập quán điều chỉnh trong hợp đồng.

Công ty Kolon International Corp. (Hàn Quốc) và công ty Vinafood (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán phân bón nhập từ Mỹ. Hợp đồng có điều khoản về mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ hưởng là công ty Kolon. Ngân hàng Vietcombank đã phát hành theo yêu cầu của công ty Vinafood. Sau khi nhận bộ chứng từ do ngân hàng Cho Hung (Hàn Quốc) chuyển đến, Vietcombank kiểm tra và phát hiện các điểm bất hợp lệ. Sau đó ngân hàng phát hành thông báo cho người yêu cầu mở thư tín dụng về sai sót trong bộ chứng từ. Công ty Vinafood không chấp nhận các sai sót này. Do đó, Vietcombank từ chối thanh toán cho người thụ hưởng với lý do miêu tả trong các chứng từ không phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng. Người thụ hưởng Hàn Quốc không đồng ý với quyết định trên và cho rằng các điểm mà ngân hàng phát hành xem là không phù hợp không được quy định trong thư tín dụng. Công ty Kolon kiện Vietcombank tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để đòi bồi thanh toán khoản tiền của thư tín dụng.

Tuy nhiên, căn cứ vào các điều 29(b.ii), 37(c), 13(a) của UCP 500, Tòa án bác yêu cầu của Kolon. Các thẩm phán đã áp dụng bản quy tắc này đối với giao dịch tín dụng chứng từ nói trên trong khi không có yếu tố nào của bản án cho thấy các bên đã chọn UCP điều chỉnh quan hệ của họ. Nói cách khác, thực tiễn xét xử của tòa án Việt Nam cũng thừa nhận việc áp dụng UCP trong trường hợp không có sự lựa chọn của các bên.

Nhận xét so sánh.

Tại Pháp và Việt Nam, khi các bên không thể hiện rõ ràng sự lựa chọn UCP để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ thì bản quy tắc này vẫn được áp dụng với tính chất là tập quán thương mại quốc tế.

Điều kiện áp dụng UCP ở Pháp và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng. Ở Pháp, UCP được áp dụng « khi không có văn bản khác điều chỉnh giao dịch thư tín dụng » và « khi các bên không loại trừ việc áp dụng UCP ». Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự quy định rằng việc áp dụng tập quán quốc tế không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Hạn chế này không được ghi nhận trong án lệ của Pháp. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, UCP không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam do bản quy tắc này được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế.

Lưu ý rằng pháp luật của Pháp và Việt Nam thừa nhận các điều kiện áp dụng của UCP theo hai cách khác nhau. Ở Pháp, các điều kiện này được hình thành từ các phán quyết tòa án trong khi đó, ở Việt Nam, chúng được quy định trong các văn bản của Quốc hội hoặc Chính phủ. Một điểm khác biệt nữa cần nhắc đến, đó là trong quá trình giải quyết tranh chấp, các thẩm phán của Pháp đều giải thích tại sao bản quy tắc này được áp dụng. Còn thẩm phán Việt Nam thường thiếu sự giải thích quan trọng trên. Trong bản án mà chúng tôi vừa phân tích cũng như trong một bản án sẽ tìm hiểu dưới đây, tòa án Việt Nam đã áp dụng các quy định của UCP mà không trình bày lý do tại sao UCP được áp dụng. Điều đó cho thấy rằng thẩm phán Việt Nam dường như không cẩn trọng trong công việc xét xử như thẩm phán của Pháp. Theo chúng tôi, đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, trước tiên các thẩm phán nên giải thích cặn kẽ tại sao văn bản này được áp dụng đối với vụ việc đó rồi mới bắt đầu vận dụng các quy định để giải quyết, bởi vì như chúng ta đã đề cập, bản thân các nguyên tắc UCP không ràng buộc Tòa án Việt Nam, việc áp dụng chúng không đương nhiên.

Kết luận

Nghiên cứu về khả năng áp dụng của UCP đối với giao dịch tín dụng chứng từ cho chúng ta thấy những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận việc áp dụng UCP khi các bên tham gia giao dịch lựa chọn bản quy tắc này. Trong trường hợp các bên không lựa chọn thì UCP vẫn được áp dụng với tính chất tập quán quốc tế. Tuy nhiên các nhà làm luật ở Pháp và Việt Nam quy định các điều kiện áp dụng UCP thông qua các cách thức khác nhau.

Phạm Xuân Quỳnh
Khoa Luật Quốc tế
Đại học Luật TPHCM

(Tháng 2/2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN PHỔ BIẾN NHẤT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

PHẠM XUÂN QUỲNH – ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Chuyên đề 1

BẢN CHẤT, LỢI ÍCH, CÁC HÌNH THỨC
VÀ QUY TRÌNH VẬN HÀNH CỦA TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

Quá trình tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức. Sau gần một thập niên duy trì nền kinh tế bao cấp, Việt Nam đang nỗ lực để bắt kịp trình độ phát triển chung của thế giới và đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ trong lĩnh vực kinh tế. Trong xu hướng hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài. Sau khi gia nhập ASEAN vào năm 1995 và AFTA vào năm 1996, Việt Nam đã trở thành thành viên của APEC năm 1998. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, sau quá trình đàm phán kéo dài và căng thẳng, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Việt Nam luôn khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu. Chính phủ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thúc đẩu quá trình sản xuất hàng hóa phục vụ cho mục đích xuất khẩu, mang tính cạnh tranh cao, phát triển việc xuất khẩu các dịch vụ thương mại. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị hiện đại, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm phát triển hoạt động sản xuất trong nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế cũng như ngoại thương phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên gắn liền với sự phát triển đó là nhiều khó khăn, thách thức mà Việt Nam phải vượt qua. Cần phải thực hiện sửa đổi, ban hành văn bản pháp luật phù hợp với xu thế mới cũng như tăng cường hiểu biết pháp luật của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh của họ. Một điều phải thừa nhận rằng các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những dịch vụ thanh toán đa dạng, góp phần phát triển hoạt động giao dịch giữa các công ty Việt Nam và nước ngoài. Nhận thức được tầm quan trọng của việc thanh toán trong hợp đồng ngoại thương, các bên ký kết hợp đồng luôn chọn lựa phương thức thanh toán thích hợp nhằm bảo vệ lợi ích của mình trong trường hợp phát sinh tranh chấp.

Hiện nay, có nhiều phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế như nhờ thu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ, v.v… Trong số đó, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất. Khoảng 11-15% giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng trị giá hàng năm là một nghìn tỷ đô la Mỹ.

Khái niệm phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Theo giáo sư Dominique Legeais, khoa Luật, trường Đại học René Descartes (Paris V), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình tại ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng.

Điều 2 trong UCP 500 của Phòng Thương Mại Quốc Tế đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh hơn, theo đó, tín dụng chứng từ là : Bất cứ thỏa thuận được gọi hoặc miêu tả như thế nào, theo đó ngân hàng (« ngân hàng phát hành ») hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách hàng (« người yêu cầu mở thư tín dụng ») hoặc đại diện cho chính bản thân mình :

· – thanh toán cho, hoặc theo lệnh của người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người thụ hưởng ký phát ; hoặc

· – ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu ; hoặc

· – cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong thư tín dụng, với điều kiện chúng phù hợp với tất cả điều khoản và điều kiện của thư tín dụng.

Bản chất của tín dụng chứng từ

Trước tiên, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán liên quan đến việc xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. Người bán sẽ được bảo đảm thanh toán nếu xuất trình tại ngân hàng bộ chứng từ phù hợp với những quy định đề ra. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cũng có thể hiểu như là một khoản tạm ứng mà ngân hàng dành cho nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu. Từ tính chất của thư tín dụng có thể suy ra : Thứ nhất, chỉ có những tổ chức tín dụng mới có quyền thực hiện các giao dịch này. Thứ hai, do tính độc quyền của hoạt động ngân hàng, giao dịch thanh toán này chỉ có thể được thực hiện thường xuyên bởi các tổ chức tín dụng.

Lợi ích của tín dụng chứng từ

Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng. Đó là hình thức thanh toán linh hoạt, bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch thương mại quốc tế. Trên thực tế, tín dụng chứng từ bắt đầu phát triển từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Các nhà xuất khẩu ở Bắc Mỹ, do khoảng cách địa lý xa xôi, đã yêu cầu đối tác ở châu Âu mở thư tín dụng để bảo đảm khả năng thanh toán.

Tín dụng chứng từ được nhiều công ty, ngân hàng ưu tiên lựa chọn vì nó đáp ứng được những yêu cầu chủ yếu của thương mại quốc tế. Thứ nhất, do các đối tác ký kết hợp đồng thường có trụ sở ở những quốc gia khác nhau nên giữa các bên vẫn tồn tại sự thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng chứng từ giúp loại bỏ rào cản đó. Thứ hai, trong giao dịch tín dụng chứng từ, luôn có sự hiện diện của các ngân hàng đại diện của hai bên đối tác, cùng với những yêu cầu khắt khe về bộ chứng từ, những yếu tố đó sẽ dung hòa lợi ích đối nghịch giữa các bên trong hợp đồng.

Các hình thức thư tín dụng

Có nhiều loại hình thư tín dụng. Cách phân biệt chủ yếu dựa trên tính chất cam kết của các ngân hàng.

Thư tín dụng thông báo là thư tín dụng được chuyển đến người thụ hưởng thông qua ngân hàng thông báo mà không có bất kỳ cam kết thanh toán từ phía ngân hàng này. Đối với thư tín dụng có xác nhận, ngân hàng thông báo cam kết thanh toán cho người thụ hưởng với điều kiện bộ chứng từ được xuất trình hợp lệ. Sự xác nhận này phải được sự cho phép của ngân hàng phát hành và thể hiện rõ trong thư tín dụng.

Thư tín dụng có thể là thư tín dụng hủy ngang hoặc không hủy ngang. Loại thứ nhất là thư tín dụng mà bất cứ chủ thể nào cũng có thể hủy bỏ. Tuy nhiên, hình thức thư tín dụng này bị xem là trái ngược với tính an toàn của phương thức tín dụng chứng từ bởi nó không đem lại bất kỳ bảo đảm thanh toán nào. Vì lý do đó, hiện nay phần lớn thư tín dụng trên thế giới là không hủy ngang. UCP 600 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2007 đã loại trừ khái niệm thư tín dụng hủy ngang.

Đối với thư tín dụng không hủy ngang, ngân hàng phát hành không thể hủy bỏ cam kết thanh toán dành cho người thụ hưởng. Đây là cam kết hoàn toàn độc lập với quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người yêu cầu mở thư tín dụng.

Quy trình vận hành của tín dụng chứng từ

Các bước trong giao dịch tín dụng chứng từ có thể được trình bày như sau :

Người thụ hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Nếu các bên thỏa thuận chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thì theo yêu cầu của bên phải thanh toán mà thông thường là người mua, ngân hàng phát hành thư tín dụng đồng thời chỉ định ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận.

Ngân hàng được chỉ định sẽ thông báo việc mở thư tín dụng cho người thụ hưởng và đồng ý xác nhận hoặc không xác nhận thư tín dụng này. Nếu đồng ý xác nhận thì ngân hàng thông báo sẽ thanh toán cho người bán với điều kiện bộ chứng từ được xuất trình phù hợp trong thời hạn quy định. Nếu từ chối xác nhận thì ngân hàng thông báo phải lập tức điện báo cho ngân hàng phát hành.

Trên cơ sở những điều kiện và thời hạn gửi hàng quy định trong thư tín dụng, người bán (nhà xuất khẩu) tiến hành việc gửi hàng theo phương thức vận chuyển và điều kiện Incoterms như đã quy định trong hợp đồng thương mại và thư tín dụng. Người thụ hưởng chuẩn bị các chứng từ cần thiết theo yêu cầu của thư tín dụng và xuất trình tại ngân hàng thông báo và/hoặc ngân hàng xác nhận.

Nếu các chứng từ thể hiện phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng, và các thời hạn quy định trong thư tín dụng được tuân thủ, ngân hàng xác nhận sẽ thanh toán cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo và/hoặc ngân hàng xác nhận gửi bộ chứng từ đến ngân hàng phát hành.

Ngân hàng thông báo được hoàn lại số tiền đã thanh toán cho người thụ hưởng (bằng cách khấu trừ tài khoản của ngân hàng phát hành ở chính ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng khác). Ngân hàng phát hành chấp nhận bộ chứng từ và gửi cho nhà nhập khẩu (người yêu cầu mở thư tín dụng). Ngân hàng khấu trừ tài khoản của người yêu cầu mở thư tín dụng bằng số tiền ghi trong thư tín dụng, có cộng thêm các chi phí dịch vụ. Nhà nhập khẩu nhận được bộ chứng từ và nắm quyền sở hữu hàng hóa.

Phạm Xuân Quỳnh
Đại học Luật TPHCM
(1-2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

CHUYÊN ĐỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng 6 năm 2004

Trong những năm gần đây, số lượng các vụ án dân sự – hôn nhân và gia đình có liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất luôn luôn tăng; thực tiễn xét xử của Toà án các cấp cũng cho thấy đây là loại án khó giải quyết, từ việc áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ, cũng như do tính chất tranh chấp giữa các bên trong vụ án, dẫn đến việc giải quyết còn kéo dài, khó khăn, lúng túng và không thống nhất.

Để góp phần củng cố nâng cao nhận thức và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức buổi hội thảo chuyên đề : “Giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân”.

I/ Số liệu thống kê :

Số lượng án thụ lý và giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất trong các năm 2001, 2002, 2003 và 4 tháng đầu năm 2004.

(Đính kèm các thống kê).

II/ Thực tiễn xét xử :

Vụ 1:

Ngyên đơn : Nguyễn Văn A

Bị đơn : Phạm Thị B

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Ông Trần Văn C (chồng bà B)

Bà Trần Thị D

Nội dung : Ông A cho rằng nag2y 17/12/1992 bà B có chuyển nhượng cho ông A phần đất có diện tích 1000 m2 với giá 40 lượng vàng SJC, chỉ làm giấy tay, ông đã đưa cho bà B 30 lượng vàng, nhưng bà B chưa giao đất mà cũng chưa thực hiện các thủ tục chuyển nhượng đất. Hiện ông được biết đất nằm trong quy hoạch giải toả nên hợp đồng không thực hiện được, ông yêu cầu bà B phải trả lại cho ông 30 lượng vàng. Bà B xác nhận phần đất trên bà chuyển nhượng lại của bà Trần Thị D, sau đó vợ chồng bà chuyển nhượng lại cho ông A với giá 40 lượng vàng SJC. Vợ chồng bà đang làm thủ tục đến huyện thì ông A yêu cầu mua để làm đường đi. Bà đã nhận của ông A 30 lượng vàng Sau đó bà biết đất này nằm dưới đường dây điện 500 kw, chính ông A cũng biết, thực tế bà đã giao đất từ đó. Nay ông A đòi lại tiền cọc 30 lượng vàng bà không đồng ý vì vợ chồng bà không vi phạm hợp đồng, ông A không mua thì phải mất cọc. Bà không đồng ý trả lại vàng vì thời hiệu khởi kiện đã hết.

– Bà D xác nhận tháng 6/1992 bà có chuyển nhượng cho vợ chồng bà B ông C 1.000 m2 đất theo giấy quyết định tạm giao đất mang tên bà. Hai bên đã giao đất giao vàng, thủ tục bên ông C bà B lo, bà đã bán không có tranh chấp gì.

– Ông C đồng ý với lời khai và yêu cầu của bà B. Tòa án nhân dân huyện thụ lý vụ án ngày 01/11/2000 xử ngày 30/6/2001 đã nhận định : Khi ký hợp đồng ông A đặt cọc 5 lượng, sau đưa thêm 25 lượng, bà B chuyển nhượng đất của bà D chưa hoàn tất do Nhà nước không cho phép vì đất nằm dưới đường dây điện 500 kw (bà D được Ủy ban nhân dân huyện cấp quyết định tạm giao đất). Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông A với vợ chồng bà B ông C không tuân thủ quy định, vi phạm điểm 707 Bộ luật dân sự và điều 31 Luật đất đai, bà B cũng không được phép chuyển nhượng đất vì đất vẫn thuộc quyền sử dụng của bà D, do đó hợp đồng vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo điều 419 Bộ luật dân sự. Việc ông A đòi lại 30 lượng vàng là có cơ sở, nhưng hợp đồng đã khá lâu gần 10 năm mà ông A không khiếu nại, đất hiện đang đền bù giải toả do đó cần xác định lỗi các bên để xác định mức thiệt hại. Ông A biết đất không được phép sang nhượng nhưng vẫn cố tình mua, lại không có ý kiến gì suốt một thời gian dài cho đến nay mới kiện. Đất hiện đền bù chỉ có giá 110.000.000 đồng, còn đất theo hợp đồng 30 lượng, tính thành tiền là 150.000.000 đồng, do vậy thiệt hại là 40.000.000 đồng cả hai bên cũng có lỗi, mỗi bên chịu thiệt hại là 20.000.000 đồng (tương đương 4 lượng vàng), do đó bà B phải trả lại ông A là 26 lượng vàng. Bà B và bà D được nhận tiền đền bù của Nhà nước, nên đã xử : Huỷ hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông A và vợ chồng B,C; buộc bà B trả lại ông A 26 lượng vàng….

Hai bên cũng kháng cáo án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhận định :

Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông A và bà B thực hiện ngày 17/12/1992, giấy giao vàng đợt 2 thực hiện ngày 15/01/1993. Ông A khởi kiện xin huỷ hợp đồng vào ngày 17/8/2000, nên căn cứ điểm 4 mục II Thông tư liên ngành số 03 (10/8/1996) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, áp dụng pháp luật theo nghị quyết về việc thi hành Bộ luật dân sự của Quốc hội : “Các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất đai xác lập trước ngày 15/10/1993 theo tinh thần quy định của Hiến pháp năm 1980 (đất đai thuộc sở hữu toàn dân). Áp dụng các quy định của Luật đất đai năm 1987 và Thông tư liên ngành 04/TTLN (03/5/1990) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng cục quản lý ruộng đất để giải quyết. Khi thụ lý các tranh chấp này, hết ngày 15/10/1996, các đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án, giải quyết các tranh chấp phát sinh trước ngày 15/10/1993 nữa” nên việc ông A khởi kiện ngày 17/8/2000 là đã quá thời hiệu khởi kiện.

Nên đã quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đã thụ lý vì đã hết thời hiệu khởi kiện, trả lại đơn kiện cho ông A, trả lại tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, dân sự phúc thẩm cho các đương sự.

Ngày 23/10/2002 Tòa án nhân dân Tối cao đã kháng nghị với nhận định : Ngày 05/3/1993 bà B yêu cầu ông A đưa nốt 10 lượng vàng, nhưng ông A không đưa vì nghe về đường dây điện. Sau đó ông A thương lượng với bà B để hủy hợp đồng lấy lại vàng nhưng bà B không đồng ý, ngày 25/01/1994 kiến trúc sư trưởng Thành phố trả lời bà B là đất của bà thuộc khu quy hoạch chung. Ngày 28/3/1997 Công ty của ông A do ông A làm giám đốc gửi công văn đến Ủy ban nhân dân huyện báo cáo việc mua đất của bà B và nhờ giúp để giải quyết. Tháng 8/2000 ông A kiện. Tòa án nhân dân Tối cao cho rằng : Dù hợp đồng xác lập năm 1992, nhưng từ năm 1992 đến năm 1997 hai bên vẫn tìm mọi biện pháp để thực hiện hợp đồng đến cuối tháng 3/1997 hợp đồng không thực hiện được mới xảy ra tranh chấp. Do vậy thời hiệu phải được tính từ khi vi phạm tức là năm 1997 chứ không phải từ khi hai bên thiết lập hợp đồng. Mặt khác, ông A yêu cầu bà B trả lại 30 lượng vàng do không chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứ không liên quan gì đến quyền sử dụng đất, nên phải xử trả 30 lượng, chứ đình chỉ là sai. Ngoài ra quyết định đình chỉ lại không tuyên huỷ án sơ thẩm là sai.

Tại quyết định giám đốc Thẩm của Toà Dân sự Tòa án nhân dân Tối cao (28/01/2003) cùng với nhận định là sau khi ký hợp đồng hai bên tìm mọi cách để thực hiện hợp đồng, đến tháng 3/1997 mới xảy ra tranh chấp, do vậy thời hiệu phải được tính từ khi vi phạm là năm 1997 chứ không phải từ khi thiết lập hợp đồng đất đến nay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay lại giải toả, nên không thể thực hiện do vậy, đã huỷ quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xử lại phúc thẩm.

Vụ 2 : Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn : Bà Phạm Thị D

Bị đơn : Bà Nguyễn Thị S

Ông Nguyễn Văn X

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

: Bà Lê Thị K

Ông Nguyễn N

Nội dung : Thửa đất 300 (4.000 m2) thuộc quyền sử dụng của hộ ông Nguyễn Văn Lý và bà D, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 22/02/1993. Theo bà D : Năm 1995 vợ chồng bị đơn tự ý đào ao đắp nền nhà trên đất của bà – thửa 300, diện tích bị chiếm 160 m2, bà đòi nhưng bị đơn không trả, còn cất nhà và bán cho người khác.

Bị đơn : Năm 1985 phía trước nhà có cánh đồng phèn không thấy canh tác nên gia đình ông tự trồng rau, năm 1996 đắp một nền nhà và cất nhà ở diện tích 160 m2. Con ông là N đã bán nhà cho người khác 60 m2, còn 100 m2 vẫn sử dụng không đồng ý trả.

Ông N : Ông được cha mẹ cho nền nhà năm 1991, sau đó ông tự cất nhà. Năm 1998 ông bán nhà 60 m2 cho bà K giá 20 chỉ vàng,nếu bà D muốn lấy lại đất thì trả vàng cho bà K.

Bà K : Mua nhà của ông N năm 1998 giá 20 chỉ, chỉ làm giấy tay, mua xong đã sửa chữa muốn lấy lại nhà trả đất cho chủ cũ, thì ông N bồi thường cho bà 04 lượng vàng.

Toà sơ thẩm nhận định : Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lý có cơ sở xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ bà D (ông Lý là chồng bà D đã chết năm 1996). Yêu cầu đòi đất của nguyên đơn là đúng pháp luật nên chấp nhận, việc mua bán nhà giữa bà K và ông N là trái pháp luật vô hiệu, hai bên trả lại nhà, đất và vàng cho nhau, ông N dỡ nhà trả lại quyền sử dụng đất cho bà D.

Bà K, ông N kháng cáo.

Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh nhận định :

Nguyên đơn kiện tranh chấp quyền sử dụng một phần diện tích đất do bị đơn chiếm dụng, không tranh chấp các tài sản khác trên đất này, án sơ thẩm xác định tranh chấp quyền sử dụng đất là đúng.

Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện là cấp cho ông Lý, ông Lý chết năm 1996. Bà D căn cứ vào giấy này để kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn, ngoài ra không có giấy chứng nhận nào khác. Căn cứ khoản 2 điều 38 Luật đất đai năm 1993, Thông tư liên tịch 02 (28/7/1997) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng cục địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 điều 38 Luật đất đai năm 1993, công văn 92/KNXX (08/8/1997) của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành thông tư liên tịch số 02, thì các tranh chấp quyền sử dụng đất… nếu đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật đất đai năm 1993, thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân. Trên đất có các tài sản nhưng nguyên đơn không tranh chấp các tài sản này mà chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất và đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai năm 1993, thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân. Toà án quận thụ lý xét xử là sai, nên huỷ án sơ thẩm, chuyển toàn bộ hồ sơ sang Ủy ban nhân dân giải quyết theo thẩm quyền – nên đã quyết định : đình chỉ việc giải quyết vụ án, huỷ toàn bộ án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Ủy ban nhân dân tiếp tục giải quyết tranh chấp theo thẩm quyền; Hoàn trả tạm ứng án phí.

Vụ 3: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất .

Nguyên đơn: Ông Trần M và ông Trần N

Bị đơn: Ông bà Trương S.

Nội dung : 4000 m2 đất tại quận X thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông S theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998.

Ngày 10/10/1998 vợ chồng bị đơn ký hợp đồng chuyển nhượng đất nói trên cho các nguyên đơn 3600m2 với giá 300.000đồng/m2, hai bên thỏa thuận bên mua có trách nhiệm hoàn thành mọi thủ tục giấy tờ, bên chuyển nhượng có trách nhiệm giao giấy tờ liên quan đến đất, các giấy tờ cần thiết cho thủtụcchuyển nhượng. Ngày 10/10/1998 bên mua đã giao trước 100.000.000đồng, hai bên đã ký hợp đồng. Ngày 27/10/1998 bên bán sẽ giao cho bên mua giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtvà giao đất để cắm cọc ximăng, thỏa thuận đợi hai vào ngày 6/12/1998 bên mua giao thêm 400.000.000đồng (bốn trăm triệu). (Linh động ngày 15/11/1998 giao 200.000.000 đồng (giao hai trăm triệu), còn 200.000.000đồng (hai trăm triệu) đến 6/12/1998 sẽ giao) Tới ngày 6/12/1998 hai bên sẽ đo đất thực tế tính tiền. Lúc này bên bán cho bên mua tạm mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính).

Đợt 3: ngày 15/2/1999 giao tiếp 200.000.000đồng (hai trăm triệu).

Đợt 4: 15/3/1999 giao hết tiềnh còn lại. Nếu bên mua không mua thì mất tiền đã giao 100.000.000đồng (một trăm triệu). Nếu bên bán thay đổi không bán thì sẽ bồi thường gấp hai, ba lần số tiền 100.000.000đồng (một trăm triệu). Hai bên đã giao nhận 100.000.000 đồng (một trăm triệu) tiền cọc vào ngày 10/10/1998.

Theo lời trình bày của nguyên đơn thì bên bị đơn không giao các giấy tờ chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất để làm thủ tục mà đòi sửa hợp đồng đưa thêm 1.000.000.000đồng (một tỷ) và giao trong 1 tháng. Ngày 15/10/1998 bên bán yêu cầu sửa hợp đồng vì đất nằm trong qui hoạch, ngày 29/10/1998 bên bán có đơn gửi Ủy ban Nhân dân phường xin hủy hợp đồng, qua tìm hiểu các nguyên đơn biết cùng trong ngày 10/10/1998 Ủy ban Nhân dân phường đã giải quyết việc mua bán lô đất này giữa bị đơn với ông Nguyễn Văn H, bị đơn đã chuyển nhượng đất cho H và nhận 50.000.000đồng (năm chục triệu) tiền cọc. Khi ông H biết đất qui hoạch đã đòi lại 50.000.000đồng (năm chục triệu) bị đơn đã trả lại tiền cho ông H, nhưng cùng ngày bị đơn lại ký giấy bán đất cho nguyên đơn và còn cam kết đất không nằm trong qui hoạch. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cọc và bồi thường thiệt hại. bị đơn không đồng ý trả cọc, vì đất không nằm trong diện qui hoạch.

Toà sơ thẩm đã xử:

Chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng sang nhượng đất, buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn 200.000.000đồng (hai trăm triệu). Bị đơn kháng cáo.

Toà Phúc thẩm:

Hủy hợp đồng sang nhượng đất, xác định hợp đồng này bị vô hiệu, Bị đơn trả nguyên đơn số tiền 100.000đồng (một trăm triệu), bác yêu cầu đòi bồi thường 100.000.000đồng (một trăm triệu) của nguyên đơn.

Tòa án Nhân dân Tối cao đã kháng nghị án phúc thẩm. Tại quyết định giám đốc thẩm, Tòa án Nhân dân Tối cao đã nhận định :

Đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông S, theo Điều 693 Bộ luật dân sự thì bị đơn có đủ điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng ký 10/10/1998 hoàn toàn tự gnuyện, không trái đạo đức và pháp luật, bị đơn không giao đủ giấy tờ cần thiết cho nguyên đơn, lại còn tự đưa ra những điều kiện mới trái với thỏa thuận đã ký, không được thì lại tự ý xin hủy hợp đồng. Như vậy bị đơn đã vi phạm hợp đồng, phải bồi thường cọc theo quy định tại Điều 363 Bộ luật Dân sự, nên đã xử hủy án phúc thẩm, giữnguyên hiệu lực của án sơ thẩm.

Vụ 4: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A

Bị đơn: Bà Trần Hoàng B

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Hoàng C

Ông Trần Tử D

Ông Trần Tử Đ

Ông Trần Tử E.

Ngày 01/04/1997 bà B ký hợp đồng chuyển nhượng 2000m2 đất ở huyện O cho ông A bà C với giá 200.000 lượng vàng SJC. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua đã giao cho bên bán 80 lượng vàng. Sau đó 2 bên thỏa thuận số tiền đã giao tương đương 800m2 đất, có lập biên bản ngày 01/01/2002, nhưng do chưa có sự đồng ý của các con bà B, nên chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, trước đó ngày 28/12/1999, Ủy ban Nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2200m2 cho hộ gia đình bà B. Do phía bà B không đồng ý chuyển nhượng đất nữa nên ông A bà C kiện yêu cầu giao 800m2 đất theo thỏa thuận.

Tòa sơ thẩm nhận định: ngày 01/04/1997 bà C cùng các con ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông A, bà C, khi đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/12/1999, thì ngày 1/1/2002 bà B, ông A, bà C đã ký thỏa thuận chuyển nhượng 800m2 đất, nên chấp nhận. Án có kháng cáo.

Tòa phúc thẩm nhận định: Điều 30 luật đất đai năm 1993 quy định đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp là một trong trường hợp không được chuyển nhượng và Điều 693 Bộ luật Dân sự cũng quy định một trong những điều kiện chuyển quyền sử dụng đất là phải giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó hợp đồng ngày 01/04/1997 vô hiệu từ thời điểm ký kết. Toà sơ thẩm không giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu này là không đúng quy định. Đối với thỏa thuận ngày 01/01/2002, xét đất 2200m2 là cấp cho hộ gia đình bà B chứ không phải cấp cho cá nhân bà B, do đó 1 mình bà B đứng ra thỏa thuận chuyển nhượng là sai, tòa sơ thẩm công nhận hợp đồng là không đúng. Do tòa sơ thẩm chưa điều tra giải quyết các thiệt hại của hợp đồng, nên tòa phúc thẩm xử huỷ án sơ thẩm.

Vụ 5: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa:

Nguyên đơn: Ông 1 bà 2

Bị đơn: Ông 3

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp, ký ngày 31/5/2000 giữa ông 1 và bà 2 với ông 3 khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên nhận chuyển nhượng sử dụng đất cũng không có nhu cầu sử dụng đất, lại còn chuyển nhượng lại cho người khác là ông 4, ông 5. Toà sơ thẩm xử hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông 1, bà 2, ông 3, mà không triệu tập ông 4, ông 5 tham gia tố tụng là có thiếu sót. Mặt khác khi giao vàng cho ông 1, bà 2, không phải là ông 3, mà là ông 6, bà 2 xác định không biết ông 3 là ai, nhưng tòa sơ thẩm cũng không triệu tập ông 6 tham gia tố tụng là có thiếu sót nên huỷ án.

Vụ 6: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn: Ông Trần A

Bị đơn: Ông Nguyễn B

Bà Lê C

Bà A là vợ của ông D (C 1986), ông D và ông B là anh em ruột.

Năm 1997 mẹ chồng bà A lập tờ tương phân chia đất và nhà cho bà A và ông B, mỗi người 4000m2 đất ruộng. Đất được chia cho bà A đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban Nhân dân cấp năm 1995 cho mẹ chồng bà A đứng tên. Thực tế gia đình A và các con sử dụng từ nhiều năm nay. Ngày 01/10/1998 mẹ chồng bà A lại ký giấy bán cho bà A 1000m2 đất mà trước đây đã giao cho bà A trong giấy tương phân. Nhưng sau đó mẹ chồng bà A lại ký giấy bán cho bà C con ông B 3000m2 đất (đã chia cho bà A). Năm 1999 mẹ chồng bà A chết.

Sau đó cha con ông B bà C đã cản trở việc đã cản trở việc sử dụng 4000m2 đất của gia đình bà A. Bà A cho rằng việc mẹchồng bà ký giấy bán đất cho bà C là do sự …..ép của ông B và mẹ chồng bà đã 87 tuổi. Bà A tranh chấp quyền sử dụng 4000m2 đất với ông B bà C và cả hợp đồng mua bán đất giữa mẹ chồng bà với bà C.

Bà C và ông B yêu cầu được công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa mẹ ông B với bà C và yêu cầu gia đình bà A trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Toà sơ thẩm đã nhận định:

Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận cho bà được quyền sử dụng đất và các bị đơn không tranh chấp quyền sử dụng đất.

Căn Cứ khoản 4 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, đã đình chỉ việc giải quyết vụ án đã thụ lý.

Nguyên đơn kháng cáo

Tòa phúc thẩm cho rằng:

Bà A có yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất đối với 4000m2 đất đã có giấy nhận quyền sử dụng đất đứng tên mẹ chồng bà, đồng thời tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất của mẹ chồng bà với bà C. Bị đơn có yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa mà chồng bà A với bà C. Như vậy không thể nói rằng các đương sự không có tranh chấp quyền sử dụng đất, căn cứ điểm 1, 1.1,1.2,1.3 của Thông tư liên tịch số 01/TTLT (31/1/2002) vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên đã hủy quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự của Toà sơ thẩm.

Vụ 7 : “Yêu cầu huỷ hợp đồng sang nhượng đất” giữa :

Nguyên đơn : Bà Nguyễn Thị C

Bị đơn : Bà Hồ Thị D

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Ông Hồ T

Ông Hồ K

Ông Hồ M

Ông Trần X

Nguyên đơn :Nguồn gốc nhà đất ở quận U do vợ chồng bà mua bằng giấy tay năm 1979 nhà 150 m2 đất 4.000 m2. Năm 1981 sở quản lý nhà đất cấp giấy phép mua bán nhà cho chồng bà. Sau khi mua nhà thì chồng bà và con gái bà là bà Hồ thị D về ở. Năm 1982 chồng bà đăng ký sử dụng đất theo chỉ thị 299/TTg với diện tích 4.000 m2, năm 1986 chồng bà chết không để lại di chúc. Năm 1988 bà đồng ý để bà D cất nhà ở trong khuôn nhà đất nói trên, đã có chủ quyền nhà mang số riêng; Năm 1997 bà D tự ý làm giấy tay bán 500 m2 đất cho ông X không có sự đồng ý của bà và các con khác. Bà không yêu cầu chia thừa kế nhà đất của chồng bà, chỉ yêu cầu huỷ hợp đồng trái pháp luật giữa bà D và ông X.

Bị đơn : Thừa nhận lời khai của bà C là đúng, bà bán cho ông X 500 m2 đất giá 300 lượng vàng, bà đã nhận đủ vàng và giao đất cho ông X làm nhà. Việc mua bán bằng giấy tay, bà C không biết.

Nay bà biết việc mua bán là sai, đồng ý trả vàng cho X để lấy lại đất trả cho bà C.

Ông X cho rằng mua diện tích 800 m2 của bà D, sau đó bà C biết và không đồng ý, ông đã mua của bà C 300 m2, còn lại 500 m2 mua của bà D giá 300 lượng vàng, khi mua ông có hỏi địa phương nhưng chưa làm được thủ tục vì bà C tranh chấp. Nay ông yêu cầu toà công nhận hợp đồng mua bán đất giữa ông và bà D, nếu phải huỷ hợp đồng thì yêu cầu giải quyết đường đi 200 m2 trong phần đất bà D bán, mua theo thời giá, còn lại tính sau; Yêu cầu bà D trả 300 lượng vàng ngay.

Các đương sự khác đồng ý với ý kiến, yêu cầu của bà C.

Toà sơ thẩm đã xử : Huỷ hợp đồng sang nhượng đất giữa bà D ông X, bà D trả lại ông X 300 lượng vàng, ông X được sử dụng 200 m2 đất… làm đường đi, ông X trả bà C tiền sử dụng đất 2 tỷ, ông X trả bà C 300 m2 đất, ông X tháo dỡ nhà khi trả đất cho C.

Hai bên đều kháng cáo.

Toà phúc thẩm nhận định :

Căn cứ tờ mua bán nhà năm 1981 thì vợ chồng bà C là chủ nhà đã mua 150 m2, không thể hiện việc mua bán 4.000 m2 đất. Năm 1982 chồng bà C đăng ký 4.000 m2 đất theo chỉ thị 299 và kê khai nhà 150 m2, chồng bà C và bà D ở đây. Chồng bà C chết, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến nay bà C cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo điều 3 Luật đất đai năm 1993 bà C chưa được Nhà nước giao đất cho đến nay. Bà D ở với chồng bà C tại nhà đất này, có hộ khẩu từ lúc mua đến nay, bà C ở nơi khác. Năm 1986 bà D kê khai đất và được Nhà nước cho xây nhà, được địa chính xã đo và sử dụng 800 m2, bà D đóng thuế đất từ năm 1993 đến nay, tuy vậy bà D cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông tư liên tịch 01 (03/01/2002) quy định tại mục 3.1 nếu tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất đó thì do Ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết do vậy quyết định số của ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí MInh, (4/2002) cho rằng “Diện tích 800m2 đất bà Đ đang sử dụng nằm trong khuôn viên 4.000m2, đất trên đó có căn nhà 150m2 có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà C. Chồng bà C (chết), nên tài sản nêu trên là di sản thừa kế vì vậy việc tranh chấp diện tích 800m2 đất giữa bà D và bà C là tranh chấp di sản thừa kế, không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân mà thuộc tòa án nhân dân là sai.

Án sơ thẩm đã nhầm, cho rằng 4.000m2 đất do chồng bà C kê khai theo chỉ thị 229 là đã thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà C, nên đã chấp nhận yêu cầu của bà C là sai thẩm quyền, do vậy cần hủy án sơ thẩm, trả đơn kiện cho bà C, căn cứ điều 738 Bộ luật dân sự, điều 38 khoản 2 Luật Đất đại 2001, điều 5 khoản 4 Luật đất đai 2003. Hủy án sơ thẩm, trả đơn kiện cho bà C (không có luật đất đai năm 2001 và 2003 khi Toà phúc thẩm xử ! ! !).

III/ NHỮNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.

-Hiến Pháp 1980 :

-Hiến Pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến Pháp năm 1992 :

Điều 17 : “Đất đai, rừng núi, sông hồ … cùng các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.

Điều 18 : “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân… được chuyển quyền sử dụng đất được nhà nước giao theo qui định của pháp luật”.

-BỘ LUẬT DÂN SỰ

Điều 181 Bất động sản và động sản.

Bất động sản là các tài sản không di, dời được, bao gồm :

a/ Đất đai

b/ Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai….

c/ Các tài sản khác gắn liền với đất đai.

Điều 205 : Tài sản thuộc sở hữu toàn dân : “Đất đai … cùng các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.

Điều 206 Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 346 : Thế chấp tài sản.

“Khoản 1 thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền.

Khoản 4 việc thế chấp quyền sử dụng đất được qui định tại các điều từ điều 727 đến điếu 737 của Bộ luật này”.

Điều 637 Di sản.

“Khoản 2 quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo qui định tại phần thứ năm của Bộ luật này .

Điều 648 Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

“Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”

PHẦN THỨ NĂM

NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.

Gồm 6 chương, từ điều 590 đến điều 744 = 55 điều

Chương 1 : Những quy định chung :

(Từ điều 690 – điều 698) = 9 điều

Chương 2 : hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.

(Từ điều 699 đến điều 704) = 6 điều

Chương 3 : hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

(Từ điều 705 – điều 713) = 9 điều

Chương 4 Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

(từ điều 714 đến điều 726) = 13 điều

Chương 5 : hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

(từ điều 727 đến điều 737) = 11 điều

Chương 6 thừa kế quyền sử dụng đất

(Từ điều 738 đến điều 744) = 7 điều.

– Luật đất đai năm 1987

– Luật đất đai năm 1993 và luật sửa đổi, bổ sung (1998, 2001) một số điều của Luật đất đai năm 1993 (1998, 2001) :

Điều 1 : “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý.

Nhà nước giao đất cho các tổ chức … hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất …. Nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất,”

Điều 2 khoản 1 “người sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…”

Điều 2 khoản 2 Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chính phủ cách mạng ……….và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3 khoản 1 nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Khoản 2 hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Các quyền nói trên, chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất và đúng mục đích sử dụng của đất được giao theo qui định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.

Điều 6 nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, hủy hoại đất.

Điều 13 khoản 7 : quản lý Nhà nước về đất đai :

“Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.

Điều 30 không được chuyển quyền sử dụng đất trong những trường hợp sau đây :

-Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp.

-Đất giao cho các tổ chức mà pháp luật qui định không được chuyển quyền sử dụng.

-Đất đang có tranh chấp.

Điều 31 khoản 1 thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại Ủy ban nhân dân xã; ở đô thị tại Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Khoản 2 thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại Ủy ban nhân dân huyện, ở đô thị làm tại Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Điều 38 khoản 3 các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó, thì do tòa án giải quyết.

Luật đất đai năm 2003 (Hiệu lực từ 01/7/2004) gồm 7 chương 146 điều.

– Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994 và luật sửa đổi bổ sung luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1999. Quyết định 201/CP (01/7/1980) của HĐCP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác qủan lý ruộng đất trong cả nước.

– Nghị định 60/CP (05/7/1994) về quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở tại đô thị.

– Nghị định 22/1998/NĐ-CP (24/4/1998) của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng , an ninh, lợi ích quốc gia, lợi công cộng.

– Nghị định 17/1999/NĐ-CP (29/3/1999) của chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp , góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.

-Nghị định 176/1999/NĐ -CP (21/12/1999) của Chính phủ về lệ phí trước bạ.

-Nghị định 19/2000/NĐ-CP (8/6/2000) của Chính phủ quy định chi tiết luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất.

-Nghị định 38/2000/NĐ-CP (23/8/2000) của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất

-Nghị định 79/2001/NĐ -CP (01/11/2001) của Chính phủ sửa đổi ; bổ sung 1 số điều của Nghị định 17.

-Nghị định 81/2001/NĐ-CP (05/11/2001) của Chí nh phủ về việc Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam.

-Quyết định 189/2000/QĐ-BTC (24/11/2000) của Bộ Trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành qui định về tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển áp dụng đối với các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

-Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC (30/11/2001) Tổng cục địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

-Công văn 92/2000/ KHXX (21/7/2000) của Tòa án nhân dân Tối cao về việc xác định giá quyền sử dụng đất.

-Nghị quyết Quốc hội về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991 (26/11/2003), có hiệu lực từ ngày 01/7/2004, khẳng định : “Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách về việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01/7/1991. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất. Hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với loại nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng, trong quá trình thực hiện các chính sách cải tạo nhà đất cho thuê cải tạo CTNTB, tư doanh có liên quan trực tiếp đến nhà đất, quản lý nhà đất cùng các tổ chức, các cá nhân diện 2/IV ở các tỉnh, thành phố phía Nam sau 30/4/1975; quản lý nhà đất vắng chủ, quản lý nhà đất trong từng thời điểm nhất định, và nhà đất của các đoàn, hội, tôn giáo, quản lý nhà đất của những người di sản, chuyển vùng hoặc ra nước ngoài.

Nghị quyết, không qui định các trường hợp được xem xét trả lại nhà đất mà giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội căn cứ vào nghị quyết này của Quốc hội và đề nghị của Chính phủ qui định việc giải quyết đối với 1 số trường hợp cụ thể bảo đảm lợi ích hợp pháp của công dân và phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.

Những trường hợp chủ sở hữu có nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng, nay thực sự có khó khăn về nhà ở thì nhà nước có chính sách tạo điều kiện để họ cải thiện nhà ở.

-Nghị định 165/1999/NĐ-CP (19/11/1999) của Chính phủ về giao dịch có bảo đảm.

-Nghị định 8/2000/NĐ-CP (10/3/2000) của chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.

-Thông tư liên tịch 03/2001/TTLT-NHNN- Bộ Tư pháp – Bộ công an – Bộ Tài chính – Tổng cục địa chính (23/4/2001) hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng.

-Thông tư liên tịch 772/2001/TTLT-TCĐC -HHNN (21/5/2001) của Tổng cục địa chính, Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thủ tục thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai tại tổ chức tín dụng.

IV/ NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

A/ Thời hiệu

1/ Thời hiệu khởi kiện :

Các văn bản pháp luật : 1/ Nghị quyết Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự : 5/ những qui định của Bộ luật dân sựvề chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực áp dụng kể từ ngày Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực 6/ . Việc áp dụng các qui định pháp luật về thời hiệu được qui định như sau:

a/ Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây có qui định về thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện thì áp dụng các qui định về thợi hiệu của văn bản pháp luật đó.

b/ Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây không qui định về thời hiệu khởi kiện, thì áp dụng các qui định của Bộ luật dân sự về thời hiệu và thời điểm bắt đầu thời hiệu được tính từ ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực.

2/ Thông tư liên ngành số 03 – TTLN (10/8/1996) của Tòa án nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát Tối cao – hướng dẫn áp dụng pháp luật theo nghị quyết Quốc hội về thi hành Bộ luật dân sự có hướng dẫn tại phần I.1.C: “theo qui định tại khoản 5 nghị quyết thì những qui định của Bộ luật dân sự về chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực áp dụng kể từ ngày luật đất đai này có hiệu lực từ ngày 15/10/1993. Như vậy, khi có tranh chấp phát sinh từ việc chuyển quyền sử dụng đất thì cần xác định thời điểm xác lập việc chuyển quyền sử dụng được, nếu việc chuyển quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 15/10/1993 thì áp dụng các qui định của Bộ luật dân sự để giải quyết. Khi giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất xác lập trong giai đoạn từ 15/10/1993 đến hết 30/6/1996, cần chú ý là thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp này là 3 năm kể từ ngày có vi phạm theo qui định tại điều 56 Pháp lệnh hợp đồng dân sự

(điều 56 Pháp lệnh hợp đồng dân sự: thời hiệu khởi kiện:

1/ Trong thời hạn 3 năm, kể từ thời điểm xảy ra vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạmcó quyền khởi kiện trước tòa án, nếu pháp luật không có qui định khác. Qua thời hạn này, bên bị vi phạm mất quyền khởi kiện.

2/ Trong trường hợp có trở ngại khách quan mà không khởi kiện được trong thời hạn qui định tại khoản 1 điều này thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện.

3/ Đối với hợp đồng vi phạm trước ngày pháp lệnh này có hiệu lực mà pháp luật không qui định thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày pháp lệnh này có hiệu lực (01/7/1991)

Ví dụ: ngày 25/12/1993 A thuê đất của B. Ngày 20/02/1994 A vi phạm hợp đồng do không trả tiền thuê đất vì hai bên lập hợp đồng theo qui định của pháp lệnh hợp đồng dân sự , do đó bên B có quyền kiện A trong thời hạn 3 năm (từ ngày 20/02/1994 đến ngày 20/02/1997) và sau ngày 20/02/1997 B không còn quyền kiện A nữa.

Tại phần II. 4 TTLN 03 có qui định : “đối với các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất xác lập trước ngày 15/10/1993 thì theo tinh thần qui định của Hiến pháp năm 1980 (đất đai thuộc sở hữu toàn dân), áp dụng các qui định của Luật đất đai 1987 và Thông tư liên ngành số 04/TTLN (3/5/1990) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục quản lý ruộng đất (nay là Tổng cục địa chính) hướng dẫn giải quyết tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, để giải quyết khi thụ lý các tranh chấp này, cần chú ý là hết ngày 15/10/1996 các đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh trước ngày 15/10/1993 nữa.

Bộ luật dân sự không có qui định về thời hiệu khởi kiện đối với vi phạm hợp đồng dân sự do đó các hợp đồng dân sự được xác lập từ ngày 01/7/1996 mà có vi phạm thì bên bị vi phạm không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước tòa án, nếu pháp luật không có qui định khác (phần cuối điểm a phần III.1 TTLN 03 (10/8/1996) Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật theo nghị quyết của quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự).

Tóm lại: các tranh chấp dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất xác lập trước ngày 15/10/1993 thì đến hết ngày 15/10/1996 các đương sự không còn quyền khởi kiện.

Các giao dịch dân sự liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 15/10/1993 đến hết ngày 30/6/1996 thì thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày có vi phạm.

Các giao dịch dân sự liên quan đến hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 1/7/1996 không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước tòa án, nếu pháp luật không có qui định khác.

2/ Thời hiệu về thừa kế quyền sử dụng đất:

Tại điểm b khoản 1 phần III TTLN 03 (10/8/1996) hướng dẫn áp dụng pháp luật theo nghị quyết của quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự.

Theo qui định tại khoản 2 điều 36 pháp lệnh thừa kế thì trong 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, cá nhân cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản. Qui định này chỉ áp dụng đối với các trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996. Đối với các trường hợp thừa kế mở từ ngày 1/7/1996 thì người có quyền nói trên không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước tòa án, vì Bộ luật dân sự không có qui định, do đó họ có quyền khởi kiện bất cứ lúc nào sau thời điểm mở thừa kế, kể cả trường hợp di sản đã được chia, nếu pháp luật không có qui định khác.

Như vậy, nếu kiện đòi thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996 có di sản là quyền sử dụng đất, thì thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Tại điểm c khoản 1 phần III TTLN 03 (10/8/1996) có qui định: “Theo qui định tại khoản 4 điều 36 pháp lệnh thừa kế đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành pháp lệnh này, thì thời hạn 10 năm để người thừa kế thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác được tính từ ngày công bố pháp lệnh thừa kế (ngày 10/9/1990). Như vậy, các việc thừa kế đã mở trước ngày 30/8/1990 người thừa kế có quyền khởi kiện đến hết ngày 09/9/2000.

– Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật Dân sự: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

– Tại báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1999 (11/3/200) của Tòa án Nhân dân Tối cao, có hướng dẫn tại 4.4.5 về Điều 171 Bộ luật Dân sự quy định về: “Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện”.

Do Bộ luật Dân sự không quy định về thời hiệu khởi kiện nên các giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.

Đối với các giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.

Đối với các giao dịch được xác lập trước ngày bộ luật dân sự có hiệu lực, theo quy định tại điểm 3 nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ hộp thứ 8 về việc thi hành Bộ luật Dân sự thì vấn đề thời hiệu khởi kiện được giải quyết như sau:

Trường hợp 1: đối với các giao dịch dân sự xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực hiện vẫn đang được thự hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự thì áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự. Theo quy định này, thì nếu có tranh chấp xảy ra sẽ không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.

Trường hợp 2: đối với giao dịch dân sự được xác lập và thực hiện xong trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực mà có tranh chấp xảy ra, thì áp dụng Điều 56 pháp lệnh hợp đồng dân sự để giải quyết nếu đến ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực mà thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì không bị hạn chế về thời hiệu, nếu thời hiệu khởi kiện không còn thì đương sự không có quyền khởi kiện nữa.

Tại báo cáo tham luận của Toà dân sự Tòa án Nhân dân Tối cao tại Hội Nghị tổng kết nghành Tòa án năm 2003, đãcó ý kiến về báo cáo tổng kết năm 1999 về việc áp dụng Điều 71 Bộ luật Dân sự về: “Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện” cho rằng hướng dẫn của Tòa án Nhân dân Tối cao báo cáo năm 1999 về vấn đề trên là không đúng với quy định tại Điều 6 Nghị quyết Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự (đã trích dẫn ở phần trên)

Như vậy tất cả các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực (1/7/1996) mà các văn bản pháp luật trước đây có quy định về thời hiệu khởi kiện, khi có tranh chấp thì Tòa án phải áp dụng các quy định về thời hiệu của các văn bản pháp luật để xác định thời hiệu khởi kiện, không phụ thuộc vào việc giao dịch dân sự đã thực hiện xong hay vẫn đang thực hiện;

Kết luận: nếu thao quy định tại Điều 6 của nghị quyết Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự.

3 / Trường hợp di sản có cả đất và nhà, vụ án bị tạm đình chỉ theo các quy định của pháp luật đối với nhà ở thuộc sở hữu tư nhân thì khi thụ lý cần trừ đi các thời gian vụ án bị tạm đình chỉ;

4/Trường hợp tài sản chung (có đất) của vợ chồng, một bên (vợ hoặc chồng) chết trước và thời hiệu khởi kiện đối với các thừa kế của người chết đã hết, còn người chết sau, các thừa kế vẫn còn thời hiệu, thì chỉ giải quyết phần di sản của người chết sau. Tuy các quy định về thời hiệu là rất nhiều nhưng trong từng vụ án cụ thể chúng ta vẫn phải điều tra nhận định đánh giá đúng thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, thời gian không tính vào thời hiệu (điều 170 Bộ luật dân sự) và qui định tại điều 171 Bộ luật dân sự, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

“1/ Thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại trong trường hợp :

a/ Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện.

b/ Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mìnnh đối với người khởi kiện.

c/ Các bên đã tự hòa giải với nhau.

2/ Thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại, kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện qui định tại khoản 1 điều điều này”.

B. THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT:

3.1- Aùp dụng thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC (03/1/2002) hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất (gọi tắt là TTLT01).

– Khi xác định vụ việc không thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án nhân dân mà thuộc Ủy ban nhân dân, thì quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (hủy án sơ thẩm – nếu đã xử sơ thẩm), trả lại đơn kiện cho nguyên đơn, hướng dẫn đương sự liên hệ với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết (khoản 5 điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự), không có Toà án chuyển vụ án cho Ủy ban nhân dân giải quyết theo thẩm quyền quyết định chuyển đến Ủy ban nhân dân giải quyết.

Vậy quyết định chuyển đến Ủy ban nhân dân hay trả đơn và hướng dẫn đương sự.

– Trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên đơn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn thì Tòa án có thụ lý giải quyết không?

Tại điểm 1 phần I của Thông tư liên tịch số 01 (03/1/2002) đã xác định trường hợp đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc….thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chúng ta thấy thông tư xác định đối tượng tranh chấp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không xác định là chủ thể trong quan hệ tranh chấp là ai phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó trong trường hợp đất tranh chấp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Trường hợp A là thực tế sử dụng đất, nhưng B lại được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. A đã khiếu nại Ủy ban nhân dân về việc cấp giấy chứng nhận cho B, Ủy ban nhân dân đã ra quyết định giữ y quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho B, A không khiếu nại lên Ủy ban nhân dân cấp trên mà cũng không kiện ra tòa theo thủ tục tố tụng hành chính, quyết định hành chính đã có hiệu lực thi hành, nay A lại kiện ra toà dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất, thì Tòa án có thụ lý không? chúng tôi cho rằng không thụ lý vì các tranh chấp chỉ giải quyết bằng một phương pháp điều chỉnh.

– Điều 136 luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 có qui định: thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai : khoản 1 : tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ qui định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Khoản 2 : tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ qui định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 của luật này được giải quyết như sau :

a/ Trường hợp chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Ủy ban nhân dân, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

b/ Trường hợp chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

– Điều 138 Luật đất đai năm 2003 : giải quyết khiếu nại về đất đai :

1/ Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2/ Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau :

a/ Trường hợp khiếu nại hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

b/ Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

c/ Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là 30 ngày,kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính đó. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

3/ Việc giải quyết khiếu nại về đất đai qui định tại khoản 2 điều này không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai qui định tại khoản 2 điều 136 của luật này.

Như vậy luật đất đai năm 2003 qui định rõ ràng thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân đều qua hai cấp, cũng như qui định về việc giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai; thủ tục, thẩm quyền thời hạn giải quyết các khiếu nại về đất đai.

3.2- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất :

Nếu đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ qui định tại I1.1, I1.2 của TTLT01 đứng tên người để lại thừa kế quyền sử dụng đất hoặc đứng tên người đang quản lý, sử dụng đất đó, thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Nếu đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mục 1 phần I TTLT01, chỉ có một trong các giấy tờ qui định tiêu mục 2.1 mục 2 TTLT01 thì không thấy qui định việc giải quyết thừa kế đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay Ủy ban nhân dân.

Trong trường hợp này phải thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân, đây là quan hệ tranh chấp thừa kế, là quan hệ dân sự giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, Ủy ban nhân dân không có chức năng thẩm quyền này. Nhưng vấn đề là đất tranh chấp thừa kế chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có được xem là di sản dể chia thừa kế hay không nếu không có nhà trên đất, hoặc nguồn gốc nhà đất có công của người để lại di sản, nhưng đất hiện đứng tên người khác.

C/ Aùp dụng công văn 169/2002/KHXX (15/11/2002) của Tòa án nhân dân Tối cao về đường lối giải quyết các khiếu kiện, các tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.

Thực tế xét xử các vụ án đòi lại đất rất gay gắt, khó khăn, từ khi có công văn 169 làm cho việc xét xử của Tòa án thêm khó vì thực tiễn rất đa dạng so với các ví dụ của công văn 169 nêu ra, và việc xử lý theocông văn 169 đưa ra cũng không rõ ràng, cụ thể, mà tùy thuộc từng trường hợp cụ thể mà cho lấy lại hay không cho lấy lại, sẽ làm cho việc xét xử loại án này thêm khó khăn, không thống nhất về thủ tục, đường lối giải quyết. Cụ thể có trường hợp đất có nguồn gốc thuộc sở hữu của tư nhân, cho thuê trước giải phóng, sau giải phóng nhà nước không có quyết định thu hồi, quản lý đất được chuyển qua nhiều người sử dụng, cất nhà, và người đang ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở, có người chưa có giấy tờ sở hữu, sử dụng, nhưng đã sử dụng liên tục gần 30 năm, thì có coi đây là trường hợp cho lấy lại đất hoặc giá trị quyền sử dụng đất không?

Đề nghị cần có hướng dẫn đầy đủ cụ thể hơn về việc áp dụng công văn 169, chỉ nên áp dụng khi người đi đòi đã có các loại giấy tờ được nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam Việt Nam, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cấp, mà nhiều lý do đất bị người khác chiếm dụng.

D/ Aùp dụng nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP (16/4/2003) có hiệu lực từ ngày 04/6/2003, của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình. Nội dung chủ yếu nói đến việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở, vậy có áp dụng được cho việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng không? Tất nhiên là có vì đều là những giao dịch dân sự và áp dụng tương tự.

– Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất : theo qui định của pháp luật, ngoài các điều kiện phải có theo điều 131 Bộ luật dân sự, thì đất chuyển quyền phải hội đủ các điều kiện qui định tại điều 693 và tuân thủ các quy định về hình thức theo qui định tại điều 691 Bộ luật dân sự.

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

VẤN ĐỀ THỰC HIỆN THÔNG BÁO ĐÒI NHÀ THEO NGHỊ QUYẾT 1037/2006/NQ- UBTVQH11

Ngày 27/7/2006, Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành Nghị quyết 1037 quy định về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 01/9/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia. Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia giao dịch mà phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết vì đang chờ ban hành văn bản hướng dẫn trong suốt một thời gian khá dài thì đến nay họ đã có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình.

Tuy nhiên niềm vui mừng này của những người tham gia giao dịch mà phát sinh tranh chấp không được trọn vẹn vì có những quy định trong Nghị quyết 1037 đặt họ vào tình thế rất khó thực hiện.

Trong nghị quyết 1037 quy định, đối với trường hợp nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, nay muốn đòi lại nhà thì phải có thông báo đòi nhà theo thời hạn được quy định đối với từng trường hợp cụ thể. Nhưng theo thống kê thì hầu hết hồ sơ khởi kiện đối với vụ việc trên mà đương sự nộp tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh thì thông báo đòi nhà không phù hợp về hình thức.

Kể từ ngày Nghị quyết 1037 có hiệu lực, tức từ 01/9/2006 đến nay Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã nhận được 70 đơn khởi kiện đòi nhà nhưng đã trả lại 24 đơn vì đương sự không thông báo đòi nhà hoặc thông báo đòi nhà không đúng hình thức mà pháp luật quy định như: Thông báo đòi nhà gửi qua đường bưu điện; thông báo bằng văn bản; thông báo đòi nhà không được bên mượn, bên thuê, bên ở nhờ ký nhận hay không được đại diện tổ dân phố, thôn, xóm … xác nhận.

Để tìm hiểu rõ hình thức và cách thức thông báo đòi nhà các đương sự nên xem xét Công văn 51/1999/KHXX ngày 08/6/1999của Tòa án nhân dân tối cao giải thích việc thông báo đòi nhà. Trong Công văn 51 có nêu rõ: Bên cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà khi muốn lấy lại nhà phải gửi cho bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ thông báo đòi nhà bằng văn bản bằng giấy (viết tay hoặc in) trong đó yêu cầu bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ nhà phải trả nhà…việc thông báo này phải có xác nhận của bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ hoặc có chứng nhận của đại diện tổ dân phố, thôn xóm …nơi có nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ là việc thông báo đó đã được tiến hành hợp lệ hay bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ nhà ở đã nhận được thông báo đó.

Có rất nhiều đương sự khi đến Tòa án nộp đơn đã tâm sự: “bên mượn, bên thuê, bên ở nhờ nhà của chúng tôi có ý định chiếm nhà, họ không muốn trả nhà, thậm chí khi đến đòi nhà chúng tôi còn bị họ chửi bới, xua đuổi thì làm sao chúng tôi có thể buộc họ ký nhận vào thông báo đòi nhà được”. Tâm sự này của những người nguyên đơn đi nộp đơn là có thật, họ rất khó thậm chí không thể thực hiện việc thông báo đòi nhà như quy định.

Tuy nhiên pháp luật cũng đã mở ra một cách giải quyết thứ hai, đó là nguyên đơn được mời đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…xác nhận về việc đã thực hiện thông báo đòi nhà theo quy định. Mặc dù vậy đa số thông báo đòi nhà được đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…xác nhận đều không được chứng thực chữ ký của đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của chính mình, nguyên đơn khi thực hiện thông báo đòi nhà nên đề nghị đại diện tổ dân phố, thôn, xóm… ký xác nhận và tới Uy ban nhân dân phường xác nhận chữ ký của người đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…đó trong thông báo đòi nhà để thông báo này phù hợp về mặt pháp lý, tránh trường hợp giả mạo chữ ký để được thụ lý hồ sơ.

—————————————————-

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

KỸ NĂNG ĐẶC THÙ TRONG THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động)….Các kỹ năng bao gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS; điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác); Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…

Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể.

1.2.1. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng

Trước hết, cần nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định tính hợp pháp của đơn khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 164 BLTTDS hay chưa. Đơn khởi kiện phải trình bày cụ thể nội dung tranh chấp, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và thể hiện rõ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm hay tranh chấp như thế nào. Khi nghiên cứu đơn kiện cần đặc biệt lưu ý đến yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, yêu cầu hủy hợp đồng, yêu cầu phạt hợp đồng, tranh chấp về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng như đặc cọc, thế chấp, bảo lãnh….

Nguyên tắc chung khi xác định quyền khởi kiện của đương sự cần phải kiểm tra tư cách chủ thể kiện. Nếu là cá nhân, người khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nếu là pháp nhân, người khởi kiện phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác khởi kiện, Thẩm phán cần kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng ủy quyền về nội dung và hình thức theo quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền và Nghị định số 75/CP về công chứng chứng thực. Thẩm phán cũng cần có sự phân biệt việc ủy quyền giữa cá nhân, pháp nhân, ủy quyền thường xuyên hay ủy quyền theo vụ việc.

Ví dụ, A xác lập hợp đồng vay tiền ở Ngân hàng Công thương chi nhánh quận Đống Đa, Hà nội thời hạn vay tiền từ ngày 20/5/2006 đến ngày 20/7/2006. Đến hạn trả nợ ngày 20/7/2006 A không trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy giám đốc chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Đống Đa đã đại diện cho Ngân hàng làm đơn khởi kiện ra Tòa. Trong trường hợp này, khi kiểm tra điều kiện khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Ngân hàng chuyên doanh (ví dụ, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển…) thì các chi nhánh không có quyền tham gia tố tụng khi không có ủy quyền của Tổng giám đốc. Vì vậy, khi thụ lý giải quyết tranh chấp này Tòa án cần kiểm tra giám đốc chi nhánh Ngân hàng công thương quận Đống Đa có được ủy quyền hợp lệ của Tổng giám đốc Ngân hàng công thương tham gia tố tụng không.

Thẩm phán cũng cần kiểm tra hồ sơ khởi kiện, các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đối với loại vụ án tranh chấp hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến yêu cầu kiện của nguyên đơn thông thường bao gồm:

– Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện: Nếu là cá nhân thì giấy tờ thường là chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình; nếu là pháp nhân, tổ chức thì giấy tờ bao gồm quyết định thành lập pháp nhân, tổ chức; Giấy phép đầu tư; giấy đăng ký kinh doanh, điều lệ pháp nhân, ….

– Các giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản là đối tượng giao dịch của hợp đồng. Ví dụ, tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở thì đương sự phải nộp các giấy tờ về nguồn gốc nhà; Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đương sự phải nộp các giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất…

– Các bản hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến giao dịch. Ví dụ, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn phải xuất trình các giấy tờ chứng minh như hợp đồng vay, giấy biên nhận vay tiền, giấy khất nợ, tài liệu thừa nhận việc vay nợ, giấy xác nhận của người làm chứng chứng kiến việc cho vay…;

– Các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

Khi nghiên cứu về thẩm quyền theo lãnh thổ, trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản, khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của đương sự phải xác định rõ yêu cầu của đương sự là tranh chấp về bất động sản hay tranh chấp về các nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nguyên tắc chung, nếu tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản thuộc đối tượng của hợp đồng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản để giải quyết (điểm i khoản 1 Điều 36 BLTTDS). Thẩm phán cũng cần kiểm tra sự lựa chọn của nguyên đơn về Tòa án giải quyết tranh chấp, cụ thể là:

Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết” (điểm b, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

– Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết (điểm g, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

Khi nhận đơn khởi kiện, trong trường hợp nguyên đơn được lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Thẩm phán cần lưu ý hướng dẫn cho nguyên đơn cam kết trong đơn kiện chỉ khởi kiện ở Tòa án nguyên đơn đã lựa chọn mà không khởi kiện tại các Tòa án khác.

Xác định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng cần áp dụng quy định của pháp luật tương ứng với thời điểm xác lập hợp đồng. Vấn đề mấu chốt để xác định thời hiệu trước tiên phải xác định được tính chất của yêu cầu và thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Ví dụ, đương sự tranh chấp về việc chậm thực hiện nghĩa vụ, để xác định chính xác thời hiệu khởi kiện, Thẩm phán phải xác định chính xác thời điểm thực hiện nghĩa vụ.

Nguyên tắc chung khi xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, Thẩm phán phải nắm vững quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nội dung có quy định về thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật không quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện:

– Đối với tranh chấp hợp đồng dân sự xác lập trước ngày 1/7/1991. Thời điểm này không có quy định áp dụng thời hiệu khởi kiện, vì vậy thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Việc bắt đầu thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005 cũng được áp dụng cho việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng giao kết trước ngày 1/7/1996;

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1991 đến ngày 1/7/1996 áp dụng Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày “vi phạm hợp đồng”;

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005 được quy định cụ thể tại tiểu mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004, cụ thể là:

+ Nếu tranh chấp hợp đồng phát sinh trước ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày 1/1/2005;

+ Nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập kể từ ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 427 BLDS năm 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Thẩm phán cần lưu ý việc tính thời hiệu kể từ “ngày tranh chấp phát sinh” (theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC cũng chính là ngày ‘vi phạm hợp đồng” (Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự), “ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm” (điểm a, khoản 3, Điều 159 BLTTDS).

Trường hợp đương sự đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì thời hiệu phụ thuộc vào các quy định tương ứng của BLDS. Thẩm phán cần lưu ý trong việc áp dụng quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005 “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu’ để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

1.2.2. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Bên cạnh kiểm tra đơn khởi kiện theo nguyên tắc chung, Thẩm phán cần kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện, kiểm tra việc vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Thẩm phán cũng phải xác định rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì trên cơ sở đó xác định các điều kiện thụ lý cụ thể mang tính đặc thù riêng của từng quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng đất. Trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về quyền sử dụng đất của đương sự thông thường rơi vào một trong các dạng tranh chấp cơ bản sau:

– Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về đòi lại đất do người khác đang sử dụng;

– Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất.

Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất, Thẩm phán cần lưu ý kiểm tra việc khởi kiện có đủ điều kiện khởi kiện không. Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 các tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại cấp xã, phường trước khi đương sự khởi kiện đến Tòa án. Khi các bên có tranh chấp đất đai mà không tự hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. ủy ban nhân dân xã, phường, Thị trấn nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai.

Như vậy, Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, việc tổ chức hòa giải của UBND cấp xã, phường kết hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hay các tổ chức xã hội khác là điều kiện bắt buộc phải có trước khi Tòa án nhận đơn của đương sự. Nếu không có việc hòa giải của UBND cấp xã, phường thì các đương sự sẽ bị coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 168 BLTTDS.

Việc kiểm tra điều kiện về thẩm quyến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất cũng dựa trên cơ sở chung về xác định thẩm quyền tương tự như các loại vụ án dân sự khác (nguyên tắc xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án. Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ ưu tiên xác định Tòa án nơi có bất động sản và xác định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu trong trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương khác nhau.

Đặc trưng cơ bản khi xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Thẩm phán phải có sự phân biệt giữa thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của Tòa án và thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của các cơ quan hành chính (theo quy định của Luật đất đai năm 2003). Đồng thời để xác định chính xác thẩm quyền, Thẩm phán cũng phải phân biệt rõ tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự với các quan hệ khiếu kiện liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.

Cơ sở để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, trước tiên cần dựa trên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án thuộc loại tranh chấp đất đai nào. Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thuộc các quan hệ tranh chấp nằm một trong 3 nhóm tranh chấp quyền sử dụng đất sau:

Nhóm 1: Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất: Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến các giao dịch về đất. Về bản chất, khi giải quyết tranh chấp này Tòa án phải xác định chủ quyền đất thuộc về ai. Đối với loại tranh chấp này, điều kiện bắt buộc để xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đương sự phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;

Nhóm 2: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất (các giao dịch này có thể là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Chuyển đổi quyền sử dụng đất; Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất…). Thẩm phán cần lưu ý trong mọi trường hợp yêu cầu của đương sự thuộc loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 2 này, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án không cần điều kiện đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 hay không;

– Nhóm 3: Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 những tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đều do Tòa án nhân dân giải quyết. Khi thụ lý giải quyết dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, Thẩm phán cần xác định các tài sản tranh chấp có thể là một trong các tài sản sau: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây hàng rào gắn với nhà ở; Các công trình xây dựng trên đất được giao hoặc được thuê để sản xuất kinh doanh (nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới tiêu, chuồng trại chăn nuôi) hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, các cây lâu năm khác gắn với việc sử dụng đất.

Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Khi có đơn khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án căn cứ vào các quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính Phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Điều 7, Điều 9 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ về án phí, lệ phí Tòa án, Điều 130 BLTTDS có thể tham khảo thêm ý kiến của cơ quan tài chính vật giá và các cơ quan chức năng khác để tạm xác định giá quyền sử dụng đất có tranh chấp và trên cơ sở đó tính tiền tạm ứng án phí của vụ án để thông báo về việc nộp tạm ứng án phí cho đương sự.

Một số trường hợp cần tham khảo các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao khi tính tạm ứng án phí: Những vụ án tranh chấp đòi nhà cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê thì là vụ án không có giá ngạch (Công văn số 451/KHXX ngày 20/7/1994 của Tòa án nhân dân tối cao;. Những vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất là vụ án có giá ngạch (điểm 9 mục IV Công số số 16/1999/KHXX ngày 1/2/1999 của Tòa án nhân dân tối cao).

1.2.3. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp về thừa kế

Thẩm phán kiểm tra đơn kiện, tư cách chủ thể kiện, xác định các loại tranh chấp về thừa kế thuộc dạng tranh chấp nào:

– Tranh chấp về quyền thừa kế: Quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác;

– Tranh chấp thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật;

– Tranh chấp về di sản thừa kế nhà ở, quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

Xác định các giấy tờ cần thiết mà người khởi kiện phải xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình (căn cứ theo quy định tại Điều 165 BLTTDS): Di chúc (nếu có), giấy chứng tử, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ chứng minh di sản…

Thẩm phán cần xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự, xác định thời điểm mở thừa kế – thời điểm người có tài sản chết để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

* Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế: Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được xác định là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với các vụ án có thời điểm mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1991 (khoản 1, Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1991; Điều 648 BLDS 1995; Điều 645 BLDS 2005);

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý một số các quy định khác về thời hiệu được quy định trong BLDS, đặc biệt là những trường hợp không tính vào thời hiệu khởi kiện. Cụ thể là:

– Vụ án có rơi vào trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 161 BLDS 2005: Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu; Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết;

– Thẩm phán cần lưu ý các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005;

– Quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990). Việc xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trên thực tế cũng tương đối phức tạp liên quan đến khá nhiều các văn bản khác nhau và việc xác định thời điểm mở thừa kế. Đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (ngày 30/8/1990), theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện đến hết ngày 9/9/2000. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 58/UBTVQH10 ngày 25/8/1998 của Uỷ ban thường vụ quốc hội từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/1998 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1/7/1991. Do vậy, thời hiệu khởi kiện loại việc này được tính đến ngày 9/3/2003. Bắt đầu từ ngày 10/3/2003 đương sự không còn quyền khởi kiện đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990.

Đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 1/7/1991 đây cũng là loại vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết do đợi Nghị quyết 58/1998, thời gian từ 1/7/1996 đến 31/1/21998 cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện, do vậy những vụ án thừa kế có thời hiệu khởi kiện trong khoảng thời gian từ 10/9/1990 đến ngày 30/6/1991 đến 1/1/2004 mới hết thời hiệu khởi kiện.

Ngoài ra, khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý quy định về “không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế’ được hướng dẫn tại Mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”.

Hướng dẫn này cho thấy có sự chuyển hóa về quan hệ giữa yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Khi đương sự có yêu cầu chia tài sản chung ở thời điểm hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết khi có tài liệu thể hiện các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế, và có đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản:

– Đối với việc mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ ngày banh hành Pháp lệnh thừa kế (khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990) thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005: áp dụng thời hiệu khởi kiện 2 năm quy định tại Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản (do tại Điều 648 BLDS 1996 không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu này);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/1/2006 thời hiệu khởi kiện về về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được xác định là 3 năm kể từ ngày người có di sản thừa kế chết (Điều 645 BLDS 2005)

Về thẩm quyền giải quyết, trường hợp vụ án có tranh chấp di sản là bất động sản, khi xác định thẩm quyền theo lãnh thổ lưu ý áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS. Nếu di sản thừa kế là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bất động sản giải quyết. Việc xác định thẩm quyền này dựa trên cơ sở điểm i, khoản 1 Điều 36 BLTTDS.

Thẩm phán cũng cần xem xét trường hợp vợ góa hoặc chồng góa có quyền yêu cầu chưa chia di sản nếu trong thời hạn nhất định (không quá 3 năm) việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ (khoản 3 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

1.2.4. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Khi kiểm tra đơn khởi kiện Thẩm phán cần lưu ý nghiên cứu kỹ nội dung đơn kiện xem xét các dấu hiệu pháp lý nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của đương sự và bản chất pháp lý của yêu cầu để Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nào:

– Bồi thường thiệt hại về tài sản do hành vi xây dựng trái pháp luật gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín;

– Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do người của Pháp nhân gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do xúc vật gây ra…

Thẩm phán cần có sự phân biệt quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (đặc biệt là loại hợp đồng dịch vụ).

Các giấy tờ cần thiết mà đương sự phải nộp để chứng minh cho yêu cầu của mình trong loại vụ án này là: Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện; các chứng cứ chứng minh thiệt hại; các văn bản, tài liệu giải quyết của các cơ quan chức năng (nếu có)…

Xuất phát từ đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải lúc nào người gây thiệt hại cũng là người phải trực tiếp bồi thường, khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán cần hướng dẫn cho đương sự (nguyên đơn) khởi kiện đúng đối tượng trong những trường hợp người gây thiệt hại là vị thành niên và trong những trường hợp người có trách nhiệm bồi thường không phải là người trực tiếp gây thiệt hại (trường hợp thiệt hại do người của pháp nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước gây ra hoặc do tài sản của chủ sở hữu gây ra…).

Ví dụ: A là lái xe của pháp nhân B, trên đường đi thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân B giao, A đâm vào C gây tai nạn cho C. Trong trường hợp này C có quyền yêu cầu pháp nhân B phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định tại Điều 618 BLDS. Tuy nhiên nếu C không kiện pháp nhân B mà chỉ kiện A, trong trường hợp này Tòa án nên hướng dẫn C khởi kiện đúng đối tượng là pháp nhân B. Nếu C vẫn không khởi kiện pháp nhân B, thì vẫn phải xác định A là bị đơn – người bị nguyên đơn khởi kiện cho rằng đã xâm phạm lợi ích của họ. Tòa án cần đưa pháp nhân B (người có trách nhiệm bồi thường – theo quy định tại Điều 618 BLDS 2005) tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Khi kiểm tra tư cách chủ thể kiện, Thẩm phán cần đặc biệt lưu ý xác định tư cách chủ thể khởi kiện, xác đinh người đại diện cho đương sự tham gia tố tụng, các trường hợp ủy quyền và ủy quyền lại;

Thực tiễn xét xử nhiều trường hợp vụ án bồi thường thiệt hại được chuyển đến Tòa án từ cơ quan điều tra hình sự. Trong những trường hợp này, Thẩm phán cần lưu ý phải hướng dẫn cho nguyên đơn làm đơn khởi kiện theo đúng quy định của BLTTDS.

Về thẩm quyền giải quyết, trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 36 BLTTDS: Tòa án nơi nguyên đơn cư trú; Tòa án nơi nguyên đơn làm việc; Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở; Tòa án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết

Khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý giải thích cho nguyên đơn biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ án để họ lựa chọn.

Khi kiểm tra thời hiệu giải quyết, nguyên tắc chung Thẩm phán phải xác định ngày tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm theo quy định tại Điều 159 BLTTDS trong các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm trước ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm kể từ ngày 1/1/2006 áp dụng quy định tại Điều 607 BLDS năm 2005 thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được xác định là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

Ngoài ra, theo quy định chung điều kiện để Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác. Tuy nhiên, một số vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mặc dù đã được Tòa án giải quyết và đang thi hành thì Tòa án vẫn được quyền thụ lý giải quyết vụ án mới nếu người bị thiệt hại khởi kiện lại cho rằng mức bồi thường đang thi hành không còn phù hợp nữa.

Vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì Tòa án không yêu cầu người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí (Điều 13 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án.

1.2.5. Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xác định rõ yêu cầu của đương sự thể hiện trong đơn, kiểm tra các điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn để xác định quan hệ hôn nhân của đương sự là hợp pháp, hôn nhân trái pháp luật hay không phải là quan hệ hôn nhân. Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, Thẩm phán phải làm rõ trong trường hợp nào họ được coi là vợ chồng, trường hợp nào không được coi là vợ chồng để xác định quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng (việc hôn nhân gia đình hay án hôn nhân gia đình) để vào sổ thụ lý giải quyết.

Thẩm phán cần căn cứ theo yêu cầu của đương sự và các chứng cứ mà đương sự xuất trình để áp dụng các căn cứ pháp lý sau khi xác định quan hệ pháp luật:

Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

– Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Khi xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán cần phải xác định các vấn đề về hôn nhân, tài sản và con cái có được các đương sự thỏa thuận giải quyết không, thỏa thuận cụ thể của đương sự là gì, vấn đề gì đương sự không thỏa thuận được. Việc khởi kiện vụ án ly hôn phải do chính các đương sự khởi kiện không được ủy quyền cho người khác thay mình, trừ các vấn đề tranh chấp về tài sản và con (khoản 3 Điều 73 BLTTDS);

Thẩm phán cần kiểm tra các giấy cần cần thiết kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn: Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con, các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; giấy vay, nợ (nếu có)…

Thẩm phán cần tiến hành kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện. Xác định người khởi kiện có thuộc trường hợp hạn chế quyền khởi kiện đối với trường hợp người chồng xin ly hôn mà vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng (căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS);

Khi người vợ đang thuộc một trong các trong các trường hợp đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (không phân biệt có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), người chồng có yêu cầu xin ly hôn Tòa án trả lại đơn kiện cho người nộp đơn (mục 6 hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).

Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn thì đương sự không được kiện lại trong thời hạn 1 năm. Sau một năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người có đơn xin ly hôn mà bị Tòa án bác đơn xin ly hôn mới được quyền kiện lại (mục c, điểm 10 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Thẩm quyền theo vụ việc được xác định theo ý chí của các đương sự (thuận tình hay ly hôn do một bên yêu cầu…) thể hiện trong đơn và tính chất của quan hệ hôn nhân. Nếu việc ly hôn do một bên yêu cầu thì đó là vụ án dân sự, được thụ lý theo khoản 1 Điều 27 BLTTDS. Nếu thuận tình ly hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật thì đó là việc dân sự, được thụ lý theo khoản 2, khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án tương tự như các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình khác. Lưu ý hướng dẫn tại mục 4 “về khoản 3 Điều 33 BLTTDS, phần I “Thẩm quyền của Tòa án” Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS năm 2004” thì vụ án có đương sự ở nước ngoài; tài sản ở nước ngoài; Cần ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nhưng vụ án có đương sự là nước ngoài, hiện đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Đối với yêu cầu giải quyết việc ly hôn, giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam (khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2000);

Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ nguyên tắc chung được xác định theo nơi cư trú hoặc làm việc của bị đơn (điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Khi kiểm tra điều kiện về thẩm quyền, Thẩm phán cần lưu ý về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:

– Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc cuối cùng (điểm a, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

– Nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam (điểm c, khoản 1 Điều 36 BLTTDS;

Về việc nộp tạm ứng án phí, về nguyên tắc, khi đương sự có yêu cầu ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu), đương sự chỉ phải nộp tạm ứng án phí của vụ án không có giá ngạch là 50.000 đồng (khoản 1 Điều 7 Nghị định 70 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS). Trường hợp có tranh chấp về tài sản thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo tỷ lệ của giá trị tài sản tranh chấp (khoản 3 Điều 7 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS) Nếu các bên có thỏa thuận được về tài sản thì tạm ứng án phí chỉ là 50.000 đồng (Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về việc giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng…)

———————————————-

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN